Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

Câu chuyện biển Đông & quan hệ Việt-Trung: tại sao?

Source: Blog trương duy nhất: http://truongduynhat.org/

Câu chuyện biển Đông & quan hệ Việt-Trung: tại sao?

INTER-2011-23-Mer de Chine Tôi luôn thắc mắc mãi một điều tại sao người Việt và người Hoa không thích nhau? Tại sao làn sóng bài Hoa ngày càng mạnh? Tại sao ngày càng nhiều người Việt ghét Tàu? Tại sao sau cuộc chiến, người Việt dễ “cho qua”, dễ bắt tay choàng ôm những cựu binh Pháp- Mỹ, nhưng với người Tàu lại khó “ôm” đến vậy?
          Tại sao ta vẫn luôn nhắc mãi tội ác “thực dân Pháp” với “đế quốc Mỹ” nhưng quan hệ Việt – Pháp, Việt – Mỹ vẫn nồng ấm. Tại sao đến mấy chiếc tàu Trung Quốc đâm bắn ngư dân Việt cũng phải gọi tránh là “tàu lạ”, đến mấy chữ “quân Trung Quốc” trong tấm bảng di tích “sư đoàn 337 đánh bại và chặn đứng quân Trung Quốc xâm lược” cũng bị đục bỏ, đến mức những người lính hi sinh trong chiến tranh biên giới 1979 cũng không được gọi là liệt sĩ chống quân Trung Quốc xâm lược, đến mức người dân xuống đường biểu tình, mặc mấy chiếc áo in biểu ngữ “Hoàng Sa- Trường Sa” cũng khiến chính phủ sợ ảnh hưởng làm phật lòng “người bạn 16 chữ vàng” mà tình “đồng chí” Việt – Trung vẫn không thắm nồng?
          Câu chuyện biển Đông dường như chưa bao giờ nguội. Cố lắng được dăm bảy năm lại kéo tàu gây hấn. Chiến tranh thì không thể, bởi thế giới giờ đâu phải thích là đánh, mạnh là thắng. Đối thoại và ngoại giao ư? “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây” chẳng lẽ vẫn chưa đủ cho người Việt nhận ra “đứa” nào dễ bắt tay cho qua còn “thằng” nào thì chớ dại dây vào?
          Thế cục biển Đông không thể thắng bằng đối thoại ngoại giao kiểu “16 chữ vàng”. Cũng không thể hô xung phong tòng quân mà thắng được. Lòng dân thì không thiếu, ngọn lửa hừng hực ấy luôn âm ỉ trong mọi con dân Việt, cho dù ở đâu, dù dưới sắc cờ nào, không cần phải thổi cũng sẵn sàng bùng cháy, miễn là đừng bưng thau nước lạnh hắt tạt vào.
          Câu chuyện biển Đông cũng như anh nhà quê bị hàng xóm ăn hiếp. Yếu thế mà vung dao thì chỉ thiệt thân. Đối thoại kiểu van xin thì cho dù có 16 hay vạn tỉ chữ vàng cũng chỉ… mất thêm vàng mà thôi! Càng bị hiếp càng hãi, đến mức con cái trong nhà nổi giận văng vài câu tỏ sự bất bình cũng bị bịt miệng trói tay, bị bố cho ăn tát vì sợ cái thằng hàng xóm nó nghe thấy.
          Muốn trị thằng hàng xóm phải tìm kiếm cho mình một người bạn lớn, lớn mạnh hơn cái thằng hàng xóm ấy. Khi đó người bạn ấy cho dù chẳng cần làm gì, chỉ khoanh tay đứng cạnh thì thằng hàng xóm đã vãi ra quần không dám ho he hăm dọa ta nữa.
          Cho dù chủ trương ngoại giao “muốn làm bạn với tất cả các nước”, nhưng lâu nay Việt Nam vẫn thiếu một người bạn lớn. Một người bạn lớn đủ làm thằng hàng xóm khiếp sợ. Người bạn lớn không chỉ là chìa khóa cho thế cuộc biển Đông, mà còn là điểm tựa cho nhiều thế cuộc khác.
          Sẽ hình dung ra sao nếu suốt cuộc đời không tìm nổi cho mình một người bạn lớn. Ngay cả đến khi có được chai rượu ngon cũng không gặp bạn, phải ngồi nhậu với thằng hàng xóm chuyên gây sự thì quả là… bi kịch!
          Câu chuyện biển Đông và quan hệ Việt – Trung chỉ được giải quyết ổn thỏa trên một khái niệm láng giềng khác, một người bạn khác, một cách thắng khác.

bài viết liên quan:

Khi Nước Toàn Có Lậu - khi nước Tàu có loạn

Source: http://www.anonasurf.com/browse.php?u=Oi8vd3d3LnZpZXRiYW8uY29tL0RfMS0yXzItNjdfNC0xNzYyMzJfMTUtMi8=&b=13
Khi Nước Toàn Có Lậu
(06/17/2011) (Xem: 2469)
Tác giả : Nguyễn Xuân Nghĩa
Khi Nước Toàn Có Lậu

Nguyễn Xuân Nghĩa

Là khi nước Tầu có loạn....

Sau những biến động ngoài Đông hải và trước những cuộc thử lửa sắp tới, chúng ta đừng nên giận dữ lãnh đạo Bắc Kinh. Mà nên thương họ! Họ đáng thương lắm, xin độc giả dằn hỏa xuống để đọc tiếp....
Chẳng là suốt một tuần qua, Quảng Đông lại dậy mùi Tứ Xuyên. Khét lẹt.
Ngày mùng sáu Tháng Sáu, thị trấn Triều Châu của Quảng Đông có loạn vì một số dân công biểu tình phản đối về chuyện lương lậu và xô xát với lực lượng thành quản. "Dân công" là di dân từ nơi khác đến kiếm việc và kiếm ăn. "Thành quản" là bọn đầu gấu mặc đồng phục để bảo vệ trật tự của thành phố, nhưng hèn hơn cảnh sát, ác hơn công an và... mất dậy có đăng ký.
Đầu đuôi là có chú dân công 19 tuổi tự trói mình vào hàng rào để phản đối việc cha mẹ bị hãng xưởng quịt lương nên bị thành quản lên gối thấy tam tinh. Đám dân công bèn nổi đoá và tờ Global Times báo cáo là có 200 người nhập cuộc đánh lộn với thành quản. Tờ Dương Thành Vãn báo kể lại là có 40 xe hơi bị phá tan tành!
Bốn ngày sau, mùng 10, cũng tại Quảng Đông nhưng cách đó 400 cây số, ở thị trấn Tăng Thành trong khu vực phụ cận của thành phố Quảng Châu, một phụ nữ bán hàng rong bị thành quản đánh gần trụy thai. Chị ta cũng là gốc dân công. Vụ đàn áp đê tiện gây ra ba ngày hỗn loạn ở Tăng Thành.
Đầu đuôi chỉ vì lũ thành quản mẫn cán dẹp các gánh hàng rong đang kiếm chút bạc cắc ngoài lề một cửa hàng bách hóa. Dùng chữ mẫn cán là đúng vì chúng phang lên đầu lũ dân công những đòn nặng như cán búa. Ngẫu nhiên sao, đám dân công này đều là dân Tứ Xuyên.
Muốn hiểu tại sao lại là Tứ Xuyên, xin quý vị tìm đọc lại bài "Vịt Tứ Xuyên" có yết trên dainamax.org.
Bị khuyển ưng thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đám dân công Tứ Xuyên bèn gọi nhau ơi ới. Và biểu tình, rồi dàn trận với lũ thành quản. Cảnh sát bèn nhảy vào can cả đôi bên, cũng lại với cái cán, làm khách qua đường bèn nổi điên nhảy vào. Ta có bốn lực lượng lâm chiến là dân công, thành quản, cảnh sát, và khách vô can gốc Quảng Đông.
Ba ngày khói lửa tại Tăng Thành với cả ngàn dân công Tứ Xuyên từ các nơi khác tụ về, có nhiều người đến từ Triều Châu. Như vậy chúng ta có chuyện đồng hương đùm bọc lẫn nhau và tất nhiên là họ phải có hệ thống liên lạc giữa đám "tong xiang" này.
Tứ Xuyên là một vựa người, thưa rằng dân số là hơn 82 triệu - bằng cả nước Đức. Nhưng rất đông những người đói khát nơi đó phải tha phương cầu thực và nương tựa vào nhau chứ chẳng có cái tổ tam tam hay chi bộ chi đoàn nào cả. Họ lập ra "xã hội dân sự" con con, mini civil society qua một mạng lưới liên kết để giải quyết chuyện tương tế.
Trong lực lượng dân công lầm than toàn quốc - chừng 150 triệu người - dân Tứ Xuyên là một mũi nhọn. Nơi đất khách quê người, họ bị bọn chủ nhân trấn lột, bị địa phương trấn áp, nên đã đan lưới rất rộng và rất bền để đùm bọc lẫn nhau. Vì vậy, dù cách nhau 400 cây số và bốn ngày, trận chiến tại Triều Châu và Tăng Thành đã hòa làm một.
Để trở thành vấn đề địa phương, khiến trung ương phải giật mình.
Trung ương giật mình vì bọn dân công gốc Tây Xuyên đang tự tổ chức với cùng phương pháp của dân Tây Tạng, hay dân Hồi giáo Tân Cương, và dân Nội Mông! Ngày xưa, thực dân Pháp gọi trò liên lạc theo kiểu rỉ tai đó tại Đông Dương là "radio bambou" hay tại Bắc Phi là "radio Arabe".
Ngày nay, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc đã văn minh hơn, nên một số dân chúng đã có cell phone và internet. Họ cũng có mạng lưới xã hội kiểu social network chớ bộ!
Mà nói đến Tứ Xuyên - hoàn toàn không phải là tin vịt hay món vịt quay ròn tan - thì một dọc từ trên xuống gồm có đảng, nhà nước, mật vụ, công an võ trang, cảnh sát hay thành quản đều nhớ đến vụ nổi loạn của di dân Tây Tạng tại Tứ Xuyên năm 2008, trước Thế vận hội Bắc Kinh.
Rồi vụ nổi loạn của dân Tứ Xuyên sau trận động đất Vấn Xuyên ở nơi đây khiến năm triệu người lâm cảnh màn trời chiếu đất, ít ra là bảy vạn người chết, trong đó có chừng một vạn trẻ em. Lũ trẻ bị chôn vùi khi bảy ngàn lớp học của loại trường ốc xây theo lối kiến trúc tào hủ thoải mái sụp lên đầu.
Đảng và nhà nước khai báo là chỉ có năm ngàn nạn nhân trẻ nít thôi, nhưng dân Tứ Xuyên cũng biết đếm. Và còn biết chơi chữ: họ gọi loại dự án xây trường đó là "đậu phụ tra học hiệu" - trường học làm bằng bã đậu!
Khi nổi loạn và bị đàn áp tra tấn, họ gọi nhau lập chiến tuyến và xung đột  kéo dài từ Tháng Tám năm 2008 qua đến Tháng Chín! Chuyện lớn như vật thì thủ phủ Thành Đô rúng động, làm sao trung ương ở Bắc Kinh không biết?
Bây giờ, lũ thành quản đầu gấu lại chọc giận dân Tứ Xuyên khi mà nhiều thành phần dân chúng ở nơi khác cũng thấy ứa gan và gọi nhau đi làm loạn.
Lại còn học nhau đi làm loạn.
Khi bọn hải giám - một lũ thành quản có phao - chơi bạo ngoài khơi Vũng Tầu với tầu Viking II của Việt Nam vào ngày chín Tháng Sáu, thì trụ sở Công an của hai tỉnh bên trong bị đặt bom và trụ sở đảng tại Thiên Tân bị tấn công! Làm sao mà Bắc Kinh chẳng hốt hoảng, vì cái kiểu chơi bạo này không lạ mà quen: y hệt như vụ Phủ Châu của tỉnh Giang Tây vào ngày 26 Tháng Năm, ngày hải giám lập thành tích với tầu Bình Minh 02 của Việt Nam! Tội nghiệp.
Ngày 26 đó, ba địa điểm khác nhau bị đặt bom. Hung thủ chẳng là một tay khủng bố tự sát mà chỉ là một người dân phẫn nộ đến cùng quẫn nên cho nổ bom và tự giải thoát khỏi thiên đường cộng sản.
Hình như tấm gương đem thân làm đuốc soi đường kiểu đó đã khiến nhiều người noi theo. Hôm mùng chín Tháng Sáu mới có ba vụ... tập huấn chết người.
Đầu tiên là trụ sở Công An trên một cao ốc bốn tầng của địa khu Hoàng Thạch trong tỉnh Hồ Bắc bị đặt bom vào lúc nửa đêm. "Địa khu" là đơn vị hành chánh khá lớn, dưới cấp tỉnh mà trên cấp huyện và Hoàng Thạch có hơn hai triệu rưởi cư dân chứ không nhỏ. Cao ốc bốn tầng bị sạt mất sườn và đổ ụp như một bánh đậu phụ! Công an bèn báo cáo lên là gian thương trữ chất nổ và bị tai nạn, chứ không đến nỗi nào.
Gian thương mà lại trữ chất nổ trong trụ sở công an?
Hai giờ sau, cách đó hơn 900 cây số, hình như gian thương cũng lại... lỡ tay, và cũng tại một trụ sở Công An trong thủ phủ Trịnh Châu của tỉnh Hà Nam! Từ Hoàng Thạch mà... đi xe lửa cao tốc đến Trịnh Châu thì cũng mất năm tiếng nếu như có xe cao tốc. Gian thương Hoàng Thạch không thể là tác giả hay chủ mưu của vụ Trịnh Châu.
Có ai đó đã bắt chước ai và đặt bom làm loạn!
Hiển nhiên vậy vì chất nổ là loại có pha chế, đòi hỏi một trình độ nghiệp vụ mà gian thương buôn lậu không thể có. Ai đó đã lặng lẽ làm bom, dù là theo kiểu thủ công nghệ thì cũng là có công nghệ!
Mờ sáng hôm sau, đến lượt thành phố Thiên Tân được chiếu cố. Trụ sở đảng tại quận Hà Tây bỗng có pháo ran vì một người dân bất mãn ném liên tiếp năm quả bom tự chế vào trong. Theo đúng phép nêu cao chính nghĩa trước khi hài tội của văn hóa Trung Hoa, tay bất mãn này xưng danh Lưu Trường Hải và đưa thư ngỏ đả kích đảng Cộng sản Trung Quốc trước khi ném bom!
Đến chỗ này thì địa phương không thể lấp liếm báo cáo lên trên: "dạ thưa thủ trưởng, chỉ là bọn gian thương bất cẩn mà thôi"!
Tại Trung Quốc, người dân có chán vạn điều gây ra bất mãn. Đó là hoàn cảnh gọi là "nước toàn có lậu" vì bước ra khỏi nhà là có chuyện bất bình với đời sống và hệ thống cai trị. Mà ở trong nhà cũng chẳng yên, trong hãng cũng chẳng lành. Vì vậy, nơi nơi đều có những vụ phẫn nộ, đập phá - hoặc tự sát. Chuyện ấy đã thường.
Chuyện bất thường là ngày càng có những vụ phản ứng tập thể, tức là biểu tình, khiếu kiện và dàn trận với thành quản hay công an.Từ khoảng 60 ngàn vụ biểu tình vào năm 2006, nay đã lên gấp đôi! Và đám phản động này có trình độ nghiệp vụ cao hơn là chỉ đốt xe hay chế bom xăng.
Mà thành phần tham dự cũng ngày một "phức tạp", tức là đủ mọi loại người.
Từ đầu Tháng Sáu, Tứ Xuyên - lại Tứ Xuyên - có các vị sư Tây Tạng xuống đường và bị đánh, sau khi một vị đã tự thiêu gần hai tháng trước đó. Trước khi mất, cơ thể còn được công an chiếu cố cho thêm bấy nhầy. Qua  mùng tám thì có dân Mông Cổ tại Nội Mông nổi cơn mông muội với Thiên triều vì một tai nạn xảy ra mùng 10 tháng trước. Nội Mông bỗng khói lửa mịt mù.
Mà chẳng cứ dị tộc mông muỗi như Mông Cổ hay Tây Tạng, nhiều người thuộc tộc Hán đầy cao quý cũng nổi điên và theo nhau chế bom, bảo nhau liệng đá. Chưa nói đến đám sinh viên trí thức bị nhiễm độc vì hương hoa nhài mà cứ đòi dân chủ và nêu câu hỏi về Ngải Vị Vị, Lưu Hiểu Ba. Hai nghệ sĩ đó bị giam tại đâu, tội gì?
Kể ra không hết được những nỗi băn khoăn của lãnh đạo vì đảng gặp trăm mối ngổn ngang.
Khi nước toàn có lậu như vậy thì nước Tầu có loạn. Trung ương biết rõ hơn chúng ta và rút ra kết luận đó từ đã lâu. Kết luận rồi cũng chửa biết tính sao.
Vì, thưa đồng chí Ôn Tổng lý, tại Lợi Xuyên của Hà Bắc, bọn biểu tình lên tới gần hai vạn đứa. Cả thị xã hơn bảy vạn dân mà có tới hai vạn phản động! Chưa đáng sợ bằng nạn lạm phát, thua đồng chí! Dù là con số chính thức của ta thì vẫn vượt mức báo động! Có đồng chí báo cáo lên Chủ tịch Hồ Cẩm Đào rằng nhờ nạn hạn hán 50 năm mới có một lần nên mình bớt lo nạn lạm phát, nhưng thưa đồng chí, hạn hán làm đập Tam Hiệp đang rung rinh lại có thể bục! Mất bốn chục tỷ đô la và vài triệu dân chứ không ít...
Đúng lúc ấy, bong bóng bay qua: coi chừng bể bóng đầu tư!
Mà nào chỉ có vậy!
Tờ Forbes của bọn doanh gia phản động đã theo lời Mỹ đế mà tri hô rằng nhiều đảng viên cao cấp của ta bỏ đảng chạy lấy người và của. Đa số là các đồng chí phụ trách an ninh, và nạn tẩu tán tài sản lên đến hơn 123 tỷ đô la. Chuyện nhỏ, thưa đồng chí, các công ty đầu tư địa phương có khi còn bào thêm ngàn tỷ của ngân hàng vì những dự án tầu hủ....
Chung quanh các đồng chí lãnh đạo, mọi người cứ ào ào báo cáo như ong!
Cho nên, như cụ Cố Hồng của Vũ Trọng Phụng, lãnh đạo thở hắt: "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!..."
Hỏi có đáng thương không nào?
Người Việt ta đều thấm vào xương tủy cái câu "khi nước Tầu có loạn". Vì đấy là lúc dân ta vùng dậy bước ra khỏi trật tự Trung Quốc. Nhưng, nói chuyện đây đấy làm chi? Đấy là thời phong kiến, chứ đây là thời dân ta xây dựng xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa....
Bỗng muốn khóc òa!

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

Trung Quốc chỉ nghiên cứu đáy Biển Đông?

Trung Quốc chỉ nghiên cứu đáy Biển Đông?
Cập nhật lúc :3:42 PM, 17/06/2011
Trung Quốc khởi động dự án nghiên cứu độ sâu biển Đông nhằm củng cố vị thế ở vùng biển này.
Lịch sử cho thấy chủ nghĩa đế quốc và hải dương học thường đi đôi với nhau điển hình là hải quân Anh và các cuộc thám hiểm thế giới trong thế kỷ 18 và 19.

Các cuộc thám hiểm của người Anh không chỉ đem lại các kiến thức khoa học mà còn giúp cho các tàu chiến và tàu buôn của nước này dễ dàng thống trị những vùng đất mới.

Nhìn từ quan điểm đó, các nước láng giềng phía Nam của Trung Quốc có thể lo lắng về cuộc họp tập hợp các nhà hải dương học cả nước được Trung Quốc tổ chức ở Thượng Hải trong 2 ngày 26 và 27/1/2011.

Cuộc họp này được tổ chức nhằm thảo luận về một dự án có độ sâu biển "Nam Trung Hoa" để khám phá biển Đông, vùng biển có diện tích 3,5 triệu km2 và độ sâu tối đa 5,5 km vốn là vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền bất chấp phản đối từ các nước khác trong khu vực như Philippines, Việt Nam...
Các cuộc thám hiểm khoa học thường đem lại những lợi ích kinh tế to lớn.
Các nhà khoa học khẳng định dự án không có mục đích nào khác ngoài nâng cao hiểu biết của con người và cho biết dự án này tập trung vào các vấn đề khoa học cơ bản hơn là tìm kiếm các nguồn tài nguyên như dầu mỏ hay khoáng sản.

Tuy nhiên, khó có thể tin rằng những người đi nghiên cứu được thúc đẩy bởi một sự khao khát kiến thức thuần túy lại nhận được sự bảo trợ của Hải quân Trung Quốc.

Có thể giải thích đơn giản rằng, kiến thức cũng là sức mạnh. Nếu những nhà khoa học Trung Quốc là những người đầu tiên khám phá độ sâu nhất của biển Đông, những công ty Trung Quốc sẽ là lựa chọn tốt để các công ty khác trên thế giới hợp tác khai thác các giá trị thương mại cũng như Hải quân Trung Quốc sẽ có sức chiến đấu tốt hơn ở vùng biển này.

Dự án nghiên cứu đáy biển Đông đầy tham vọng

Dự án "Độ sâu của biển Đông" được giáo sư Vương Phẩm Tiên đảm trách. Giáo sư Vương là một chuyên gia đầu ngành hải dương học, làm việc tại ĐH Đồng Tế, Thượng Hải.

Dự kiến, giáo sư Vương Phẩm Tiên sẽ dùng Giao Long, mẫu tàu ngầm thám hiểm lặn sâu nhất của Trung Quốc chụp ảnh, thậm chí cắm cờ đánh dấu.
Giao Long được thiết kế để hoạt động ở độ sâu 7km dưới mực nước biển. Trong cuộc thử nghiệm tháng 7/2010, Giao Long hoạt động tốt ở độ sâu 3,8 km.
Dự án này học theo công trình nghiên cứu hệ thống các sống núi dưới Ấn Độ Dương, hình thành khi các mảng kiến tạo của vỏ trái đất tách giãn, tiến hành năm 2007, bằng tàu thám hiểm mang tên Dayang Yihao. Kết quả, các nhà nghiên cứu trên tàu Dayang Yihao đã định vị được những khu vực giàu đồng, chì, kẽm cũng như các miệng thủy nhiệt.

Tới khi Ủy ban đáy biển quốc tế chịu trách nhiệm giám sát những vấn đề này, ban hành quy định sửa đổi về việc khai thác các loại trầm tích tháng 5/2010, Trung Quốc đã nhanh chóng đệ đơn xin làm việc này tại đây với tư cách là phía có nhiều kinh nghiệm và dữ liệu khoa học. Điều đáng nói, đáy Biển Đông cũng có những vùng mà quá trình vận động địa chất tương tự khu vực trên.

Phần hai của dự án, một nghiên cứu trầm tích và khí hậu cổ đại sẽ nối tiếp các đánh giá kiểm tra ban đầu trong khu vực của Tiến sĩ Vương Phẩm thực hiện năm 1999, một phần của nỗ lực có tên Chương trình Khoan Đại dương.

Bất chấp mọi phủ nhận, chương trình trên vẫn đem lại nhiều lợi ích lớn cho ngành công nghiệp dầu khí. Ba hệ thống thoát nước lớn, Mekong, sông Hồng và mạng lưới tiểu vùng Châu Giang, mang khoảng 14.000 nghìn tỷ tấn trầm tích đổ vào Biển Đông trong 30 triệu năm qua tạo nên dầu mỏ và khí đốt.

Ngoài ra, lượng trầm tích này cũng giữ một lượng thông tin lớn về nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển trong quá khứ.

Ông Kiến Trí Mẫn và các cộng sự ở ĐH Đồng Tế hy vọng sử dụng thông tin này để làm sáng tỏ quá trình tiến hóa của khí hậu hiện đại, đặc biệt là của gió mùa châu Á đã cung cấp đủ lượng mưa cho nông nghiệp cũng như đảm bảo lương thực cho dân số châu lục.

Họ cũng điều tra trực tiếp khí hậu hiện đại với Sống núi phía đông của Biển Đông là một phần của khu vực gọi là Vùng bể ấm Tây Thái Bình Dương, với nhiệt độ trung bình là 29 độ C.

Phần thứ ba của dự án tập trung nghiên cứu hệ sinh thái của Biển Đông - đặc biệt là ở các vùng nước sâu, do nhà nghiên cứu Tiêu Niệm Chí thuộc ĐH Hạ Môn, Phúc Kiến và Thiên Kỳ Văn thuộc ĐH Hải dương Trung Quốc, Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông phụ trách. Nhóm này sẽ nghiên cứu việc cô lập carbon của vi sinh vật, khảo sát đời sống xung quanh các miệng phun ở đáy đại dương.

Kết luận

Ngân sách cho dự án Vùng Sâu Biển Đông là 22 triệu USD được Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia - tổ chức chính phủ có trụ sở tại Bắc Kinh - chi trả trong 8 năm.

Đây không phải là công trình hải dương học duy nhất của Trung Quốc. Nước này đang lên kế hoạch xây dựng Trung tâm công nghệ biển sâu ở Thanh Đảo có chi phí 50,6 triệu USD và một mạng lưới các đài quan sát đáy đại dương tương tự như chương trình Neptune của Canada hay Sáng kiến Các đài quan sát Hải dương của Mỹ có chi phí tới 205 triệu USD.

Không nghi ngờ gì, tiền sẽ được chi tiêu hợp lý, vì lợi ích nghiên cứu thuần túy. Tuy nhiên, như ông Trương Công Thành, thuộc Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc, nói trong cuộc họp: "Trữ lượng khí tự nhiên tại Biển Đông ước tính lên tới 200.000 tỷ mét khối. Nghiên cứu thuần túy là rất tốt, xong sẽ không phương hại gì nếu cùng một lúc để ý tới một số vấn đề khác".

>> Thái độ của Trung Quốc quyết định tình hình biển Đông
>> Trung Quốc chạy thử giàn khoan Marine Oil 981
>> Trung Quốc tăng cường gấp đôi lực lượng hải giám

Bằng chứng lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa

Bằng chứng lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa

Cuốn sách xưa nhất và ghi chép khá đầy đủ và cụ thể về các đội Hoàng Sa, Bắc Hải là Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn viết vào năm 1776.
Việt Nam có bờ biển dài, với vùng biển rộng. Biển và đảo suốt tiến trình lịch sử luôn luôn giữ vị trí trọng yếu trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Từ thời kỳ tiền sử cho đến ngày nay, con người ở các vùng nội địa Việt Nam liên tục tiến ra chiếm lĩnh, khai phá, sinh cơ lập nghiệp trên các đảo, quần đảo. Bắt đầu từ  các thời Lý - Trần - Lê, Biển Đông đã trở thành chiến lược phát triển của quốc gia Đại Việt. Con đường mở mang bờ cõi xuống phía nam của dân tộc Việt Nam cũng đồng thời là con đường tiến ra chiếm lĩnh biển, đảo. Đây chính là cơ sở hết sức quan trọng, một bước chuẩn bị thiết yếu để trong bối cảnh lịch sử mới, các chính quyền Đàng Trong đã thực hiện được kỳ tích tuyệt vời là xác lập và thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa.
1. TỔ CHỨC CÁC ĐỘI HOÀNG SA VÀ BẮC HẢI, HÌNH THỨC ĐỘC ĐÁO DUY NHẤT CỦA QUÁ TRÌNH XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN TRÊN CÁC VÙNG QUẦN ĐẢO NGOÀI BIỂN ĐÔNG TRONG CÁC THẾ KỶ XVII-XVIII
Cuốn sách xưa nhất và ghi chép khá đầy đủ và cụ thể về các đội Hoàng Sa, Bắc Hải là Phủ biên tạp lụccủa nhà bác học Lê Quý Đôn viết vào năm 1776. Sách chép: "Phủ Quảng Ngãi ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré...; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày 3 đêm thì mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải....
Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều.
Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về... Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản...
Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hoá nói rằng: năm Kiền Long thứ 18 (1753) có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh đội Cát Liềm (Cát Vàng?) huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu (Nguyễn Phúc Khoát?) sai cai bạ Thuận Hoá là Thức Lượng hầu làm thư trả lời" [1].
Như vậy, thông qua một hệ thống các tư liệu gốc, khách quan, xác thực và có giá trị sử liệu cao, Lê Quý Đôn đã giớí thiệu tương đối đầy đủ vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của hai đội Hoàng Sa, Bắc Hải. Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789) là bộ chính sử do Quốc sử viện thời Lê Trịnh biên soạn, trong đó đoạn ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa trên căn bản không khác ghi chép của Lê Quý Đôn. Ý nghĩa củaĐại Việt sử ký tục biên chính là nó đã biến ghi chép khoa học, khách quan của Lê Quý Đôn thành một nội dung của bộ Quốc sử, chuyển tinh thần cơ bản của bản chép tay của Lê Quý Đôn thành bản khắc in chính thức trên danh nghĩa quốc gia. Đại Nam thực lục Tiền biên là phần đầu bộ chính sử của triều Nguyễn được khởi soạn năm 1821, hoàn thành và khắc in năm 1844, có đoạn mô tả Vạn Lý Trường Sa và các đội Hoàng Sa, Bắc Hải không khácPhủ Biên tạp lục và Đại Việt sử ký tục biên.
Toản tập An Nam lộ của Đỗ Bá Công Đạo soạn năm 1686, phần bản đồ phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi phía ngoài biển có vẽ Bãi Cát Vàng và ghi chú rõ mỗi năm đến tháng cuối đông Chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền đến đó nhặt vàng bạc. Khoảng một thập kỷ sau, vị Hoà thượng Trung Quốc Thích Đại Sán sau khi sang Đàng Trong, trên đường trở về nước đã mô tả khá chi tiết về bãi cát Vạn Lý Trường Sa và cho biết: "các Quốc vương [Chúa Nguyễn] thời trước hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo các bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào"[2].
Thật ra từ thế kỷ XVI trở về trước, các nhà hằng hải phương Tây đã có nhiều ghi chép và bản đồ xác định vùng quần đảo giữa Biển Đông là Baixos de Chapar (Bãi đá ngầm Chămpa) hay Pulo Capaa (Đảo của Chămpa)[3] và đoạn bờ biển tương đương với khu vực từ cửa biển Đại Chiêm (Quảng Nam) đến cửa biển Sa Kỳ (Quảng Ngãi) được gọi là Costa da Pracel (Bờ biển Hoàng Sa)[4]. Như thế từ rất lâu đời các nhà hằng hải phương Tây đã coi các quần đảo giữa Biển Đông có quan hệ hữu cơ với vùng bờ biển Đàng Trong.
Bước sang thế kỷ XVII, số lượng tầu thuyền của người phương Tây đi đến vùng biển này thường xuyên hơn và nhận thức của họ về các quần đảo giữa Biển Đông cũng phong phú và chính xác hơn. Nhiều tư liệu chép đến các vụ đắm tầu ở Paracel được người Đàng Trong ra tận nơi cứu hộ rồi đưa các nạn nhân về Quảng Nam. Chính quyền Đàng Trong đã dành cho mình quyền giải quyết hậu quả và xử lý các hàng hoá tiền bạc trên các tầu bị đắm ở Hoàng Sa. Chính vì thế mà vào năm 1701, các giáo sĩ người Pháp trên tầu Amphitrite khẳng định: "Paracel là một quần đảo thuộc về vương quốc An Nam"[5].
Như thế các tư liệu đương đại của cả Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây thế kỷ XVII đều chép rất cụ thể, rõ ràng và thống nhất về sự hiện diện của đội Hoàng Sa.
Tuy nhiên cũng cần phải xác định rõ trong thế kỷ XVII, đội Hoàng Sa được đề cập đến sớm nhất vào thời điểm nào và trong nguồn sử liệu nào?
Sử sách nhà Nguyễn đều chép thống nhất đội Hoàng Sa được tổ chức ngay từ thuở quốc sơ,tức là từ thời các Chúa Nguyễn đầu tiên. Tuy nhiên sách cũng không xác định rõ là Nguyễn Hoàng hay Nguyễn Phúc Nguyên hoặc Nguyễn Phúc Lan...? Tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (thôn Tây xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) còn giữ được tờ đơn đề ngày 15/Giêng/1775, do Hà Liễu là Cai hợp phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh đứng tên xin chấn chỉnh lại đội Hoàng Sa. Đơn cho biết: "Nguyên xã chúng tôi xưa có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn xin tâu được lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và đội Quế Hương Hàm với số đinh 30 người...".
Tư liệu cho phép suy đoán lúc đầu chúa Nguyễn chỉ cho tổ chức một đội Hoàng Sa 70 suất, sau lập thêm đội Quế Hương và đến năm 1631 lại có thêm hai đội Đại Mạo Hải Ba và Quế Hương Hàm 30 suất nữa.Năm 1636, ng­uời Hà Lan đã đu­ợc phép mở một th­uơng điếm ở Hội An, d­ưới quyền điều hành của Abraham Duijcker. Ngày 6-3, tại Hội An chúa Thư­ợng Nguyễn Phúc Lan đã tiếp Duijcker và nhân đó, Duijcker khiếu nại việc "chiếc tàu mang tên Grootenbroeck bị đắm ở ngoài khơi bãi cát Paracels, đoàn thuỷ thủ đã đ­ược các ng­ười Việt xứ Đàng Trong cứu giúp, nh­ưng đồng thời cũng lấy đi tổng số tiền là 25.580 réaux". Ông có nhiệm vụ xin đ­ược bồi hoàn số tiền đó.
Chúa Nguyễn Phúc Lan cho rằng "những việc đó đã đ­ược xảy ra từ thời chúa tr­ước (tức chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên), không nên đề cập đến nữa, ng­ược lại, ng­ười Hà Lan từ nay sẽ đ­ược hoàn toàn tự do mang hàng hoá đến buôn bán, đ­ược miễn thuế, vả lại, sau này nếu có tàu Hà Lan bị đắm ở ngoài khơi thì sẽ không có chuyện tịch thu hàng hoá đ­ược cứu hộ nữa". Phải chăng những người Việt cứu giúp tầu Grootenbroeck bị đắm ở Hoàng Sa nói trên chính là người của đội Hoàng Sa, và như vậy càng có cơ sở để khẳng định đội Hoàng Sa chí ít đã xuất hiện từ đầu những năm 30 của thế kỷ XVII, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635).
Bước sang thế kỷ XVIII, hoạt động chủ quyền của chúa Nguyễn ở các vùng quần đảo giữa biển Đông càng trở nên nhộn nhịp thu hút sự chú ý nhiều người trong nước và nước ngoài. Tư liệu về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh các tài liệu chính thức của nhà nước, của các địa phương còn có những ghi chép của các thương nhân, giáo sĩ, các nhà quân sự, các phái bộ ngoại giao nước ngoài và các học giả trong ngoài và nước.
Cũng đúng vào năm 1776 khi Lê Quý Đôn viết sách Phủ biên tạp lục khảo tả rất cụ thể về vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa, cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của đội Hoàng Sa, thì ở quê hương của đội Hoàng Sa, dân phường Cù Lao Ré làm đơn nói rõ đội Hoàng Sa đã có lịch sử lâu đời và bên cạnh chức năng thu lượm hoá vật, hải vật còn có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ an toàn vùng biển đảo: "Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương... Bây giờ chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp..."[6].
Không chỉ thống nhất với các nguồn tư liệu chính thức của Nhà nước mà nguồn tư liệu này còn gắn liền với các di tích và truyền thuyết ở địa phương như miếu Hoàng Sa, những bến bãi đội Hoàng Sa xuất phát, thậm chí cả những ngôi mộ giả, những nghĩa địa giả với những nghi lễ hết sức đặc biệt của làng quê đưa tiễn những người con quả cảm của mình đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa, nguyện dấn thân vào cõi chết vì một vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc: "Hoàng Sa đi có về không; Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi".
Nguồn: Báo Giác Ngộ
2. TRIỂN KHAI HÀNG LOẠT CÁC HÌNH THỨC THỰC THI CHỦ QUYỀN Ở CẢ HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA TRONG GẦN TRỌN THẾ KỶ XIX
Dưới thời Nguyễn, những ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa phong phú, đa dạng với nhiều thông tin cụ thể trên cả hai khu vực tài liệu chính thức của vương triều và tài liệu của các học giả.Bộ sách đồ sộ và có nhiều thông tin hơn cả về Hoàng Sa, Trường Sa là bộ Đại Nam thực lục Chính biên. Trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XIX, vua Gia Long đã nhiều lần quan tâm đến việc kiểm tra, kiểm soát Hoàng Sa được sách ghi lại như: "sai mộ dân ngoại tịch lập làm đôi Hoàng Sa" năm 1803; "sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển" năm 1815 và năm 1816; nhận địa đồ đảo Hoàng Sa từ thuyền Mã Cao năm 1817...
Nhưng hoạt động thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam đã phát triển lên trình độ cao hơn dưới thời trị vì của vua Minh Mệnh. Năm 1833, ông lập kế hoạch phái người ra Hoàng Sa dựng miếu, lập bia và trồng cây. Các năm 1834, 1835, ông cho người ra dựng miếu, đền thờ thần, lập bia đá và xây bình phong ở khu vực toà miếu cổ. Năm 1836, ông quyết định hàng năm phái người ra Hoàng Sa xem xét, đo vẽ tỉ mỉ và lập thành bản đồ các đảo, hòn, bãi cát. Khi ra đo đạc ngoài Hoàng Sa đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đã mang theo 10 bài gỗ, trên mặt khắc dòng chữ "Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ".
Liên tục từ năm 1834 đến năm 1839 vua Minh Mệnh thưởng công cho những người đi vẽ bản đồ ở ngoài đảo Hoàng Sa về. Đối với những người không may gặp gió bão ngoài biển mà bảo toàn tính mạng trở về cũng có thưởng; còn những người không hoàn thành nhiệm vụ tuần phòng ngoài biển thì bị phạt nặng...Bên cạnh Đại Nam thực lục Chính biên, dưới thời Minh Mệnh, Quốc sử quán còn được giao nhiệm vụ biên soan bộ Minh Mệnh chính yếu, trong đó quyển 25 có chép nhiều vụ tầu đắm ở ngoài Biển Đông, trôi dạt vào bờ đã được cứu giúp chu đáo. Chẳng hạn vào năm 1836 thuyền buôn nước Anh gặp gió bão ở Hoàng Sa, tạm ghé vào hải phận tỉnh Bình Định, đã được nhà vua "sai quan tỉnh tuyên cáo chỉ dụ của triều đình cho họ nghe, đồng thời mở cuộc phát chẩn...".
Điều này không chỉ nói lên lòng nhân đạo cao cả của người Việt, mà quan trọng hơn chính là nghĩa vụ, trách nhiệm cứu hộ trên biển của Nhà nước và cư dân Việt Nam với tư cách là chủ nhân của vùng biển đảo  này.Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là bộ sách do triều thần nhà Nguyễn vâng mệnh vua ghi chép những việc làm của triều đình thuộc lục bộ về điển chương, pháp luật.... được hoàn thành trong khoảng thời gian từ năm 1843 đến năm 1851.
Trong sách có đoạn chép về việc lập miếu, dựng bia, trồng cây ở Hoàng Sa và khảo sát, đo vẽ bản đồ toàn bộ khu vực, về cơ bản không khác so với Đại Nam thực lục Chính biên. Quốc triều chính biên toát yếu là bộ sử trích các phần quan yếu của Đại Nam thực lục Chính biên, trong đó quyển III có các đoạn chép về việc xây miếu và dựng bia, đo vẽ bản đồ và việc cứu hộ tầu Anh bị mắc cạn ghé vào bãi biển Bình Định. Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú là bộ bách khoa thư lớn nhất của thế kỷ XIX, được hoàn thành vào năm 1821 có phần Dư địa chí chép về bãi Hoàng Sa và đội Hoàng Sa cũng giống như Phủ biên tạp lục.
Việt sử cương giám khảo lược là bộ sách địa lý lịch sử của Nguyễn Thông chép về Vạn Lý Trường Sa ngoài những đặc điểm địa lý, tự nhiên và dấu tích của người Việt Nam trên đảo Hoàng Sa, ông còn nói khá cụ thể về đội Hoàng Sa như việc tuyển đinh tráng các xã An Vĩnh, An Hải, thời gian tồn tại của đội Hoàng Sa... Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán thời Tự Đức biên soạn từ năm 1865 đến năm 1882. Hoàng Sa, Trường Sa được giới thiệu trong quyển 8 (tỉnh Quảng Ngãi) phỏng theo Phủ biên tạp lục và những tư liệu tập hợp được trong Đại Nam thực lục.
Riêng đoạn cuối sách cung cấp thêm: "Năm Minh Mệnh thứ 16, sai thuyền công chở gạch đá đến đây xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến hơn 2000 cân".Nhiều công trình chuyên khảo hay những ghi chép khách quan của các quan chức, học giả đương thời khác cũng cung cấp thêm những thông tin có giá trị. Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng cũng chép "đảo Hoàng Sa (ở giữa bể, thuộc huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), dài rộng vài nghìn dặm). "Bài thơ Vọng kiến Vạn Lý Trường Sa của Lý Văn Phức có một đoạn chú dài viết khá cụ thể về khu vực biển đảo mà chính tác giả suýt mắc nạn.
Theo nguồn tài liệu này thì ngay từ đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đã từng thuê các thuỷ thủ dày dạn kinh nghiệm và các phương tiện kỹ thuật hiện đại của phương Tây trực tiếp dẫn dắt một số con thuyền vượt Biển Đông. Điều này cũng góp phần giải thích bản đồ khu vực biển đảo của Việt Nam tuy vẫn giữ phong cách vẽ truyền thống, nhưng đã sớm cập nhật những thông tin mới và độ chính xác cao của bản đồ hằng hải các nước phương Tây đương đại. Cũng thuộc nguồn tài liệu thư tịch và có giá trị cao để khẳng định quá trình các Nhà nước Việt Nam dưới thời Nguyễn thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa là các Châu bản triều Nguyễn.
Qua nghiên cứu khảo sát 144 tập của hai triều Minh Mệnh và Thiệu Trị, chúng tôi tìm ra được một số tư liệu là bằng chứng rõ ràng về quá trình thực thi chủ quyền của các nhà nước phong kiến Việt Nam ở hai quần đảo này như bản dụ của vua Minh Mệnh (13/7/1835 và 13/7/1837) về các đoàn đi công vụ ở Hoàng Sa; các bản tấu của Thủ ngự Đà Nẵng về việc thuyền của Pháp mắc cạn ở Hoàng Sa (21/6/1830); các bản tấu của Bộ Công về việc phạt những người đi Hoàng Sa không lập xong bản đồ (13/7/1837), về việc phái đoàn công vụ lên đường ra Hoàng Sa nhưng do gặp gió lớn mà không xuất phát được... Đặc biệt có tờ tấu của Bộ Công (21/6 /1838) cho biết đoàn khảo sát Hoàng sa trở về báo cáo đã đến được 25 đảo (trong 3 sở), còn 1 sở hơi xa lại gặp gió lớn nên chưa tới được...
Dưới thời Nguyễn bên cạnh việc triển khai đo vẽ thực tế ở Hoàng Sa, Trường Sa là việc nhà nước cho hoàn thành nhiều bộ bản đồ quan trọng, trong đó tiêu biểu nhất là Đại Nam nhất thống toàn đồ hoàn thành trong khoảng từ năm 1838 đến năm 1840 dưới thời vua Minh Mệnh. Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong bản đồ được vẽ chung thành một cụm hình lưỡi dao kéo dài gồm khoảng ba chục đảo lớn, trong đó Hoàng Sa ở phía cực bắc được nối liền với Vạn Lý Trường Sa (tức Trường Sa) ở phía nam trong một chuỗi các đảo chưa có dấu hiệu phân tách.
Thật ra vào năm 1830 cũng đã xuất hiện tấm Bản đồ vẽ theo phong cách này, nhưng đang còn ở dạng bản thảo và sau này thời Thiệu Trị có Đại Nam toàn đồ, dưới thời Tự Đức có Đại Nam nhất thống toàn đồ (Nam Bắc kỳ hội đồ) là sự tiếp nối của phong cách vẽ bản đồ hiện đại.Xuất hiện trước và sau Đại Nam nhất thống toàn đồ có khá nhiều bản đồ khác vẽ Hoàng Sa, Trường Sa vẫn theo phương pháp tryền thống như Nam Việt bản đồ, Thiên tải nhàn đàm, An Nam dư địa chí, Khải đồng thuyết ước, Nam Việt địa dư trích lục, Nam Việt địa đồ cựu lục...
Các bản đồ này tuy không cung cấp thông tin mới, nhưng lại xác nhận một thực tế là suốt trong thế kỷ XIX, Hoàng Sa, Trường Sa đã được đưa vào sách giáo khoa dạy cho học sinh hay dùng làm sách phổ biến kiến thức để mọi người dân Việt Nam ghi nhớ phần lãnh thổ không thể tách rời của nước Việt Nam thống nhất. Ngay từ khi mới bắt đầu thiết lập Vương triều, Nguyễn Ánh tiếp tục công cuộc thám sát và phòng thủ biển nhằm củng cố chính quyền.
Một người Pháp trở thành một đại thần trong triều là Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) trong khi làm quan ở Huế xác nhận: "Xứ Đàng Trong mà Quốc vương ngày nay mang danh hiệu Hoàng đế bao gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc của Cao Miên, một vài đảo có người ở không xa bờ biển và quần đảo Hoàng Sa, gồm có những đảo nhỏ, bãi đá ngầm và mỏm đá không người ở. Chỉ đến năm 1816 thì nhà vua hiện nay mới chiếm hữu được quần đảo này". Các tác giả phương Tây lúc đó, trong các tác phẩm của mình, cũng đều công nhận chủ quyền pháp lý của các vua nhà Nguyễn đối với quần đảo Hoàng Sa.
Giám mục Jean Louis Taberd người Pháp, người nhiều năm truyền giáo ở Đàng Trong cho rằng: "Quần đảo Pracel... Vào năm 1816, nhà vua đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc là sẽ không có một ai sẽ tìm cách tranh giành với ông ta". Ông còn cho xuất bản cuốn Từ điển La Tinh An Nam và kèm theo tấm bản đồ An Nam đại quốc hoạ đồ, trong đó ở khoảng vĩ tuyến 170 bắc và kinh tuyến 1100 đông, bản đồ có vẽ một cụm các đảo nhỏ với dòng chữ ghi chú: Paracel Seu Cát Vàng.Tiến sĩ Gutzlaff, hội viên của Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn, biên soạn cuốn sách Geography of the Cochinchinese Empire cho biết: "Chính phủ An Nam nhận thấy lợi ích có thể đem lại được nếu như dựng lên một ngạch quan thuế và đã duy trì những thuyền đánh thuế và một đội quân nhỏ đồn trú ở tại chỗ để thu thuế đối với tất cả những ai đến đó, và để bảo vệ những dân chài của nước họ".
Năm 1850, M. A Dubois de Jancigny, cựu đại uý, phái viên của Chính phủ Pháp ở Trung Quốc và Đông Dương đã viết sách nói rõ: "Chúng tôi chỉ muốn nhận xét rằng đã từ 34 năm nay, (tức là từ 1816 đến 1850), quần đảo Paracels (mà những người An Nam gọi là Cát Vàng), thật là một chốn mê cung chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát thật sự đã làm những người đi biển kinh hãi và chỉ có thể kể đến trong số những địa điểm hoang vu cằn cỗi nhất của địa cầu, quần đảo do đã bị các người xứ Đàng Trong chiếm giữ. Chúng tôi không rõ họ đã có đặt một cơ sở nào không (có thể với mục đích là bảo vệ công việc đánh cá), nhưng chắc chắn rằng nhà vua Gia Long đã chủ tâm đính thêm đoá hoa độc nhất vô nhị đó vào chiếc vương miện của ông, bởi vì ông đã xét thấy cần thiết phải đi tới việc đích thân chiếm giữ lấy quần đảo đó, và chính vì thế mà năm 1816 ông đã long trọng kéo lá cờ xứ Đàng Trong lên mảnh đất đó".
Trong những thập kỷ cuối thế kỷ XIX, khi Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, triều đình Tự Đức không còn đủ sức chống lại đã lần lượt để mất chủ quyền về tay Thực dân Pháp, trong đó có cả chủ quyền các vùng biển đảo. Tuy nhiên vùng đất máu thịt của tổ tông vẫn là niềm thôi thúc các thế hệ con dân đất Việt đấu tranh đến cùng để giành lại chủ quyền bằng mọi giá.
Tư liệu về nguồn gốc, chức năng và hoạt động của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải (trong đó đặc biệt là đội Hoàng Sa) càng ngày càng được tập hợp phong phú hơn, đa dạng hơn. Chúng ta không chỉ biết về các đội Hoàng Sa Bắc Hải trong chủ trương thành lập và chỉ đạo hoạt động của các chúa Nguyễn, của vương triều Tây Sơn và các vua nhà Nguyễn, mà còn biết khá cụ thể các chủ trương ấy đã được chính quyền và nhân dân các địa phương tự giác chấp hành và thực hiện một cách đầy đủ và hết sức nghiêm chỉnh.
Đây không chỉ dừng lại ở những văn bản chính thức của Nhà nước và những hoạt động phong phú đa dạng ở các địa phương, mà còn được tập hợp trong những ghi chép của các học giả, các nhà chức trách Việt Nam, các thương nhân và giáo sĩ phương Tây, thậm chí đến cả nhà sư Trung Quốc đương đại, những người đã thông qua quan sát trực tiếp hay khảo cứu công phu từ những văn bản gốc về hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải mà ghi chép lại một cách khách quan, trung thực.
Tất nhiên các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác các vùng quần đảo xa giữa Biển Đông, cũng có lúc thiên về công việc khai thác, cũng có lúc thiên về công việc bảo vệ, nhưng dù là thiên về chức năng nào thì cũng không thể thay thế được các đội Thuỷ quân.
Vì thế trong lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, có những lúc hoạt động của đội Hoàng Sa rất nổi bật, nhưng cũng có những lúc bị lu mờ, thậm chí có khi bị ghép chung vào công việc của đôi Thuỷ quân. Chúng ta từng biết có triều đình đã từng quyết định bãi bỏ đội Hoàng Sa và chuyển công việc của đội Hoàng Sa cho đội Thuỷ quân, nhưng ngay sau đó họ lại phải tính chuyện tái lập trở lại... Các đội Hoàng Sa, Bắc Hải dù hoạt động độc lập hay phụ thuộc vào đội Thuỷ quân, thậm chí có là hoạt động dưới danh nghĩa của đội Thuỷ quân đi nữa, thì cứ vẫn là một tổ chức độc đáo của các Nhà nước Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII, XIX trong chủ trương khẳng định chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có được.
Đến giữa thế kỷ XIX trước cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, mặc dù dân các đảo Lý Sơn, Phú Quý, các xã An Vĩnh, An Hải, Bình An... vẫn tiếp tục đi ra Hoàng Sa, Trường Sa thu lượm hoá vật, hải sản dâng nộp cho triều đình Huế - nghĩa là vẫn thực hiện một chức năng của đội Hoàng Sa, Bắc Hải xưa, nhưng chức năng bảo vệ biển đảo đã chuyển hẳn cho các đội Thủy quân. Đến khi triều đình Huế thất thủ, không còn khả năng tổ chức lại quân đội, củng cố các đội Thuỷ quân để bảo vệ trực tiếp kinh thành Huế, thì đương nhiên họ cũng không còn khả năng khôi phục hoạt động của đội Hoàng Sa, Bắc Hải nữa. Sự chấm dứt hoạt động của đội Hoàng Sa, Bắc Hải tuyệt nhiên không phải là do Nhà nước phong kiến Việt Nam từ bỏ chủ quyền của mình trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông.
Tư liệu cho biết các Nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa dưới các hình thức và biện pháp khác nhau như vãng thám kiểm tra kiểm soát, khai thác các hoá vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết... Lực lượng ra làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa không chỉ có các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, các đội Thuỷ quân, biền binh, vệ giám thành mà cả binh đinh, dân phu.
Mỗi chuyến đi ra Hoàng Sa Trường Sa đều phải có quyết định của Nhà nước dưới hình thức "tờ sai để thi hành công vụ" và nhiều khi chính nhà vua trực tiếp chỉ đạo việc quyết định cho thuyền ra khơi hay tạm dừng lại. Sau khi kết thúc công việc họ phải chạy thuyền thẳng về Kinh đô để báo cáo tình hình, khai nộp hoá vật, hải vật. Nhà vua thông qua Bộ Công để kiểm tra, đánh giá và tuỳ mức độ đóng góp hay vi phạm mà luận công hay định tội, thưởng phạt công minh. Những người hoàn thành nhiệm vụ đều được Nhà nước cấp bằng xác nhận.
Công việc ở Hoàng Sa và Trường Sa là vô cùng gian nan nguy hiểm, nhiều trường hợp có đi mà không có về. Thậm chí có khi  người ta phải làm lễ truy điệu sống, làm đám tang trước để an ủi người đi. Ý thức được đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm với quê hương đất nước, nhiều người thản nhiên đi vào cái chết, tự giác coi đó là lẽ sống của chính mình. Trang lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa được viết bằng máu, được đánh đổi bằng cả cuộc đời của lớp lớp những con người như thế.
Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những trang đẹp nhất, bi hùng nhất của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ta, mà bất cứ người Việt Nam chân chính nào cũng cần phải biết trân trọng và gìn giữ, không chỉ cho hôm nay, mà còn cho muôn đời sau.
-----------
[1] Lê Quý Đôn: Toàn tập (Phủ Biên tạp  lục), T.1, Bản dịch Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr 116.
[2] Thích Đại Sán: Hải ngoại kỷ sự, Viện Đại học Huế tr.125.
[3] Bản đồ Thế giới của Mercator xuất bản tại Amsterdam (Hà Lan) 1606, in lại trong cuốn Asia in Maps from Ancient time to the Mid-19th Century, Lepzig, 1989. 
[4] Bản đồ Bartholomeu Lasso vẽ năm 1590 và 1592-1594, in trong cuốn sách Les Portugains sur les côtes du Vietnam et du Cămpa của P.Y.Manguin, Paris, 1972; Bản đồ Van Langren 1598, in trong cuốnIconographie Historique de l'Indochine của P.Boudet và  A.Masson, Paris, 1931.
[5] Jean.Yves Clayes: Journal de Voyage aux Paracels (Indochine No 45, 1941, tr.7).
[6] Đơn của phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh ngày 15 tháng Giêng năm 1776 (lưu tại nhà thờ họ Võ thôn Tây xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi).
  • Theo Tạp chí Xưa và nay

Nội xâm Posted on 02/06/2011 by xuanbinhfreelance|

LINK: Xuân Bình

Nội xâm

Pốt lại bài viết từ ngày 20-12-2007
Phim yêu quý, bài học thứ hai bố muốn dạy con có nội dung: Nội xâm.
Từ lần này bố muốn mẹ con và em Bút cùng học được chứ?
Những ngày qua, Mẹ thì biểu lộ tình cảm kín đáo hơn. Bút nhỏ quá chưa đi biểu tình được. Nhưng hơn lúc nào hết bố muốn trái tim mỗi thành viên trong gia đình mình cùng đập chung một nhịp yêu Tổ Quốc, cùng hồng hào gương mặt và vạm vỡ thân thể Việt Nam.
Đã bốn ngày sau cuộc biểu tình lần thứ hai. Cơ may hiếm hoi khi Tổ Quốc hiện lên trong mắt bố với biết bao hình thái sống động, yêu thương. Lá cờ Tổ Quốc, những gương mặt sinh viên đầy nhiệt huyết và cả hình ảnh của bố và Phim lại rực đỏ trên các mạng điện tử, blog…Nhiều cô chú tán tỉnh, bốc thơm Phim ra phết. Ghen tỵ.
Nhưng hào khí đó vẫn chưa đủ mạnh mẽ để xóa tan nỗi buồn trong bố. Biết bao thành viên cuộc biểu tình ngày 16-12 nhắc bố hãy viết bài thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, nhận định mới. Vậy mà sao bố chần chừ mãi không viết được?
Ngay khi hô vang Trường Sa- Hoàng Sa- Việt Nam, có gì giục bố lướt nhanh qua những cánh tay giơ cao, những ánh mắt hừng hực. Bên cạnh dòng người biểu tình rực đỏ đi trên đường Tôn Đức Thắng lại là dòng người đen đen, xam xám đi ngược chiều. Phía trước, vì khẩu trang bịt kín nên không ai rõ mặt họ. Phía sau chỉ thấy những cái mũ bảo hiểm trơ lì, nhẵn bóng, lạnh lùng. Không ai ngoảnh lại. Một vài người ghếch chân lên vỉa hè giống như thói quen khi đi chợ cóc và tò mò: biểu tình gì đấy? Tâm trạng chung là thờ ơ, xa lạ.
Bố tự hỏi những người đi đường kia đang suy nghĩ gì?
Tại sao chỉ cách đây mấy chục năm, cha ông họ những chàng trai Hà Nội ra đường mua thuốc lá, khi nghe tiếng súng nổ đã không ngần ngại bỏ nhà lên chiến khu? Vì sao khi bom rơi, đạn nổ tơi bời, bao chiến sỹ đã ngã xuống mà anh em họ vẫn cùng thanh niên cả nước hát vang bài ca: đường ra trận mùa này đẹp lắm? Vì sao ngày trước bị đàn áp dã man, bạn bè họ vẫn hừng hực lời ca: dậy mà đi đồng bào ơi, dậy mà đi hỡi đồng bào ơi?
Vậy mà hôm nay đây, khi Tổ Quốc một lần nữa tổn thương, vì sao người cựu binh đang bán nươc chè trên hè phố Giảng Võ vẫn ngơ ngác nhìn theo đoàn biểu tình và buông lửng một câu: “bọn trẻ rách việc”?
Khi đoàn biểu tình dừng lại ở phố Trần Huy Liệu, Phim hỏi: Bố đang tìm ai? Thực lòng bố muốn nhìn thấy bạn bố – nhà văn, nhà báo Trần Chiến. Bác ấy là con trai ông Trần Huy Liệu, người từng tham gia và viết lại lịch sử cuộc biểu tình hào hùng 19 tháng 8 năm 1945.
Bố cũng đang tìm bác Phạm Xuân Nguyên. Giá như lúc này bác ấy sang sảng đọc bài thơ của một chiến sỹ Trung đoàn Thủ Đô:
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương vấn vương cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Sau biểu tình, một người quen của bố, phó tổng biên tập một tòa báo, em trai nhà thơ Lưu Quang Vũ gọi điện tới, giọng nghe lạnh người: dạo này thêm nghề biểu tình à?
Lại cũng có rất nhiều bạn văn chương, báo chí nhắn tin: chủ nhật tới anh đừng đi biểu tình nữa. Không có lợi cho anh đâu…..
Điều này khiến bố càng thêm hoài nghi: trí thức VN đâu rồi? Thành chim quyên làm cảnh nhà quyền quý hay hóa ó đen bay lẫn hết vào núi đá rồi?
Ngoài việc lướt web sao không xuống đường sát cánh các sinh viên trẻ khích lệ họ biết quan tâm hơn tới những công to việc lớn của đất nước, có nhiều dũng khí khi biểu lộ chính kiến, đồng thời khuyên bảo họ đừng manh động, xô xát với cảnh sát, đối đầu với chính quyền.
Trong cuộc chiến chống ngoại xâm chúng ta cần có thêm nhiều lực lượng và đồng đội phía chiến hào của mình. Theo con chắc chúng ta còn cần có thêm nhiều siêu nhân áo đỏ, áo xanh, áo trắng, áo nâu …nữa đúng không?
Từ những lược ghi trên bố tạm thời chẩn đoán xã hội chúng ta đang mắc một căn bệnh trầm kha: nội xâm.
Virus nào đây? Liệt kháng? Vô cảm? Lãnh cảm? Bảo trọng? ly tán? Sợ hãi?
Điện não đồ thấy não trạng….đờ đớ đơ nằm chờ en tơ?
Điện tâm đồ kỹ hơn hình như trái tim Việt bây giờ có nhiều nhịp đập khác nhau quá? Dòng máu Việt loạn sắc tố rồi? Động mạch chủ thiếu máu trầm trọng, huyết áp tụt, hồng cầu uể oải đẩy ôxy? Máu đen, máu xanh, máu xam xám đầy ứ tĩnh mạch?
Sáng nay ngồi uống cà phê ở Nhà hát lớn, có người vẫn hỏi bố: biểu tình thì làm được gì? Tình hình sẽ tiến triển thế nào? Có người lại bàn rằng nội xâm đang khu trú ở đâu?
Việt Tân thì cho nội xâm là chính quyền. Bố lại nghĩ khác một chút. Cần phải cay đắng nhận thức rằng “Nội xâm” đang nằm sẵn trong mỗi người dân chúng ta. Cũng như các triều đại phong kiến, đảng chỉ nhất thời. Để trở thành một dân tộc lớn, cường tráng, bản thân mỗi chúng ta phải tự diệt hết virus Nội xâm. Với từng đảng viên cộng sản, công việc này chắc chắn còn nặng nề ghê gớm.
Cả gia đình bố là cộng sản. Cách đây hơn 20 năm trước khi tự từ bỏ hàng ngũ ấy bố đã hiểu: khó khăn lớn nhất với những người cộng sản là nhiều năm qua họ kiên trì xây dựng hệ thống cai trị, kiểm soát nhân dân chặt chẽ ở khắp nơi nhưng tiếc rằng lại không có nhiều cơ chế và công cụ để kiểm soát bản thân.
Cơ chế cai trị nhân dân như hiện nay chỉ liên tục làm tăng quỹ vốn sợ hãi của xã hội. Ngay trong gia đình mình, ông nội con một lão thành cách mạng, một sỹ quan cao cấp trong quân đội, cho đến nay vẫn chưa dám nhận bố đẻ của mình. Chữ “lý lịch” vẫn như lưỡi mác kề cổ ông con. Bố đau đớn vì chúng ta trở thành vô loài.
Không có cơ chế kiểm soát nội bộ, những người cộng sản mất đi những cơ hội để tìm kiếm những thủ lĩnh giỏi. Thời lập nghiệp, không ít người “hắc thế tâm” nhưng không thể phủ nhận rằng họ rất tài. Nhiều năm gần đây, giới lãnh đạo toàn những người tài thì nông, đức không mạnh. Có phải vận nước suy? Tuy nhiên bố nghĩ rằng lịch sử vẫn còn ưu ái giành cho những người cộng sản nhiều cơ hội để chứng tỏ rằng họ có thể xứng đáng với sự lựa chọn của nó.
Hai lần vừa rồi thời cuộc mượn những người biểu tình để nói toạc ra, đọc váng lên điều ấy. Nhưng thêm một lần nữa có nhiều người lại không hiểu và không thèm nắm bắt cơ hội này. Sinh viên và nhân dân đã chìa tay mà đảng không mặn mà.
Bởi thế chủ nhật này chúng ta sẽ không đi biểu tình nữa. Bố đang nghĩ đến những việc thiết thực hơn.
Bài học sau có tên: Ngoại xâm.

Bảo vệ chủ quyền Biển Đông: Xác định mục tiêu chiến lược hợp lý

Copy from: http://quy-blog.blogspot.com/2011/06/bao-ve-chu-quyen-bien-ong-xac-inh-muc.html

Bảo vệ chủ quyền Biển Đông: Xác định mục tiêu chiến lược hợp lý

Nguồn: SGTT.VN
 
SGTT.VN - Nếu thoả hiệp, e ngại trước sức ép của Trung Quốc và không hoạch định được một chiến lược hợp lý, Việt Nam sẽ luôn ở trong tình trạng bị động đối phó và dần dần sẽ mất chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, phần lớn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông. 

Theo phân tích của chủ nhiệm bộ môn luật Quốc tế, giám đốc trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế, khoa luật – đại học Quốc gia Hà Nội, một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay là xác định mục tiêu chiến lược để bảo vệ vững chắc chủ quyền ở Biển Đông.
Thực chất của việc bảo vệ thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Trong ảnh: câu cá thu để mưu sinh. Ảnh: Đoàn Đạt
Xác định được mục tiêu chiến lược hợp lý có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là định hướng cho việc hoạch định chiến lược và đề ra những biện pháp cần thiết trước mắt và trong những thập kỷ tới, góp phần làm phá sản tham vọng thôn tính Biển Đông của Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, góp phần giữ gìn hoà bình và an ninh trong khu vực và trên thế giới.

Trong bối cảnh hiện nay, mục tiêu chiến lược của chúng ta cần bao gồm bốn bộ phận cấu thành.

Thứ nhất, mục tiêu hàng đầu là bảo vệ bằng được thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Thực chất của nhiệm vụ này là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, trong đó tài nguyên dầu khí và tài nguyên cá. Đây là khu vực vực biển thuộc sổ đỏ quốc gia, là quyền đương nhiên của các quốc gia ven biển theo Công ước Luật biển 1982 của Liên hiệp quốc, không một ai có thể cướp đoạt được. Chúng ta phải kiên quyết bảo vệ thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý với bất cứ giá nào, không được nhân nhượng. Chỉ cần một nhân nhượng nhỏ là chúng ta sẽ mất tất cả.

Trọng tâm nhiệm vụ là ngăn chặn việc Trung Quốc cho tàu vào quấy phá các hoạt động thăm dò, khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của các phương tiện Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế; đồng thời ngăn chặn âm mưu của Trung Quốc đặt giàn khoan hay những cấu trúc nhân tạo đầu tiên trên thềm lục địa của Việt Nam. Chúng ta cần dồn toàn bộ lực lượng, mọi phương tiện và tiến hành mọi biện pháp chính trị, ngoại giao, pháp lý và quân sự cần thiết để đạt mục tiêu này với bất cứ giá nào. Hành vi gây hấn như đối với tàu Bình Minh 2 ngày 26.5 hay đối với tàu Viking II ngày 9.6 trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, nếu để tiếp tục tái diễn, sẽ tạo ra tiền lệ rất xấu và hết sức nguy hiểm. Một giàn khoan hay cấu trúc nhân tạo đầu tiên của Trung Quốc, nếu đặt được trên thềm lục địa của Việt Nam sẽ giống như một “lỗ thủng” trên tuyến đê phòng ngự thềm lục địa. Nếu để xảy ra sự cố này, toàn bộ tuyến đê phòng ngự có thể bị sụp đổ, không cứu vãn được.
Một giàn khoan hay cấu trúc nhân tạo đầu tiên của Trung Quốc, nếu đặt được trên thềm lục địa của Việt Nam sẽ giống như một “lỗ thủng” trên tuyến đê phòng ngự thềm lục địa. Nếu để xảy ra sự cố này, toàn bộ tuyến đê phòng ngự có thể bị sụp đổ, không cứu vãn được.
Thứ hai, kìm chân Trung Quốc trên các đảo ở quần đảo Hoàng Sa, không để Trung Quốc áp dụng điều 47 Công ước Luật biển năm 1982, lấy quần đảo Hoàng Sa làm các điểm cơ sở để xác lập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý trùm lên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Để đạt mục tiêu này, chúng ta cần sử dụng các căn cứ lịch sử và pháp lý vững chắc nhằm tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ hơn nữa để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này 

Có thể trong nhiều năm nữa, chúng ta chưa thể thu hồi được quần đảo Hoàng Sa, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta mất chủ quyền đối với quần đảo này. Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm quần đảo là một hành động vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hiệp quốc và Công ước Luật biển năm 1982, nên không có giá trị xác lập chủ quyền. Chính vì vậy, chúng ta phải đấu tranh bền bỉ, không được lùi bước, không được nhân nhượng. Chỉ cần chứng minh cho thế giới thấy rằng quần đảo Hoàng Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam với đầy đủ những căn cứ lịch sử và pháp lý, chúng ta cũng đã có thể bước đầu ngăn bước tiến của Trung Quốc vào khu vực thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Thứ ba, đồng thời với việc tiếp tục hoàn thiện bộ hồ sơ pháp lý với đầy đủ các chứng cứ và lập luận khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, trên thực tế, chúng ta cần đấu tranh giữ nguyên trạng tại khu vực quần đảo này. Để đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần liên kết với các nước khác là các bên tranh chấp để tạo ra đối trọng với Trung Quốc; đồng thời kìm chân Trung Quốc trên các điểm mà họ đang chiếm giữ trái phép, không để Trung Quốc lấy quần đảo Trường Sa làm điểm cơ sở (áp dụng điều 47 Công ước Luật biển năm 1982) để xác lập các vùng biển lấn sâu vào vùng biển phía Tây Nam của Việt Nam. Mục tiêu này hoàn toàn có thể đạt được vì giữ nguyên trạng Trường Sa cũng là mong muốn của các nước tranh chấp khác trong khu vực.

Cuối cùng, xác định phạm vi 12 hải lý cho các đảo ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên cơ sở vận dụng quy định của luật Biển quốc tế và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là điều 121 Công ước Luật biển 1982, theo đó những đảo không có điều kiện cho con người sinh tồn và không có đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Thực hiện được mục tiêu này sẽ giúp chúng ta thu hẹp đến hơn 95% diện tích của khu vực tranh chấp trên Biển Đông; đồng thời góp phần kìm chân Trung Quốc trên các đảo mà họ đang chiếm giữ ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

PGS.TS Nguyễn Bá Diến

------------------
*****


Đọc để biết Cù Huy Hà Vũ là ai Nguồn: Blog Nguyễn Trọng Tạo

Đọc để biết Cù Huy Hà Vũ là ai





Chủ tịch Lê Đức Anh tặng quà cho TS Cù Huy Hà Vũ
NTT: Những ngày tình hình biển Đông căng thẳng bởi Trung Quốc, tôi đọc lại lá thư của Ts. Cù Huy Hà Vũ gửi Đại tướng Lê Đức Anh – cựu Chủ tịch nước – cuối năm 2007. Một lá thư đầy trí tuệ và đầy tâm huyết với đất nước mình. Có ai dùng lá thư này để chống lại CHHV được không? Tôi nghĩ: Không, vạn lần không. À, có chứ, bọn TQ dã tâm bành trướng sẽ chống lại lá thư này – chống lại CHHV - vì họ bị vạch mặt chỉ tên. Và ai nữa? Những ai ủng hộ TQ xâm chiếm Việt Nam sẽ hận thù lá thư của CHHV.


Tôi là một người Việt Nam, tôi đọc, và cảm động đến rơi lệ, vì tôi đã không nghĩ được sâu sắc như anh đã nghĩ trong lá thư cách đây 3 năm trước. Xin đăng lại để thay lời cám ơn anh, và cầu mong anh sớm được trở về tiếp tục cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cùng nhân dân mình:






------------------
*****