Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011

Việt Nam cần làm gì trước hành động "ném đá dò sông" của Trung Quốc? (phần kết)

Việt Nam cần làm gì trước hành động "ném đá dò sông" của Trung Quốc? (phần kết)

Phạm Viết Đào
2. “Kịch bản” nào sẽ xảy đến sau hành sau hành động “ ném đá dò sông “?

Có 3 kịch bản:

“Kịch bản” 1:
Trước thái độ quyết liệt, sẵn sàng đáp trả của quân và dân Việt Nam; trước thái độ  ủng hộ, sẵn sàng đứng về phía Việt Nam của các quốc gia trong khu vực ASEAN và thế giới trong đó có cả Nga và Mỹ nên Trung Quốc thấy không thể thách thức, không thể dấn lên làm càn ?!

Trung Quốc quay sang đấu dịu, tìm giải pháp thương lượng để Trung Quốc cùng Việt Nam và các nước trong khu vực Biển Đông bắt tay cùng khai thác, phân chia hợp lý quyền lợi trên biển theo thông lệ và luật pháp quốc tế…

“ Kịch bản “ 2:

Trung Quốc dấn lên, tạo ra vài cớ để phát động một cuộc chiến tranh tổng lực hoặc cục bộ để thôn tính, bẻ gãy từng quốc gia một; Trước tiên Trung Quốc dồn toàn bộ hải quân, không quân đánh chiếm những hòn đảo còn lại của khu vực Hoàng Sa và xâm chiếm Trường Sa của Việt Nam…

Sau khi hạ được Việt Nam, Trung Quốc quay sang đánh chiếm các hòn đảo đang thuộc quyền kiểm soát của Philipin, Malaixia, Indonezia…

“ Kịch bản “ 3:

Tiếp tục giữ thế gây rối, cò cưa; thỉnh thoảng cho tàu chiến bắt giữ, xua đuổi ngư dân Việt Nam; cho tàu hải giám xâm phạm lãnh hải của Việt Nam và cản trở các hoạt động thăm dò, khai thác của các doanh nghiệp của Việt Nam trong vùng lãnh hải của mình…

Song song với các hành động “ đành hanh “ này, Trung Quốc cho tàu khoan dầu xông vào vùng lãnh hải Việt Nam của Việt Nam, nằm ăn vạ không chịu rút ra, “ở lâu cứt trâu hóa bùn” …

Trước 3 “kịch bản” đã nêu, Việt Nam cần phải có hành động, đối sách gì ?

Về “ kịch bản " 1 “:

- Trường hợp này ít xảy ra vì khó lòng chúng ta có thể tìm cách “hạ nhiệt” được tham vọng bành trướng lãnh hải, lãnh thổ vốn đã ăn sâu trong tiềm thức, trong máu của những kẻ theo tư tưởng bành trướng Đại Hán…Cho dù Việt Nam có hợp tung được các lực lượng ủng hộ, khả năng dùng áp lực quốc tế và nội lực của bản thân Việt Nam để buộc Trung Quốc biết điều hơn, không chơi xấu với mình là điều khó có thể xảy ra…

Về “kịch bản” 2:

Về vấn đề này, hiện nay do không có đủ các dữ liệu thông tin về tương quan lực quốc phòng của phía Việt Nam và phía Trung Quốc do đó khó lòng đưa ra được một đáp án có cơ sở xác đáng…

Theo người viết bài này, khả năng Trung Quốc phát động một cuộc chiến tranh tổng lực trên Biển Đông cho dù chỉ với Việt Nam thôi thì cũng sẽ gây ra cho Trung Quốc nhiều điều bất lợi hơn là có lợi kể cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng…

Thế giới ngày nay không ai chấp nhận, ủng hộ, đồng cảm với việc sử dụng vũ lực để áp đặt chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, áp đặt ý chí chính trị…Trong khi đó Trung Quốc đang nuôi tham vọng mở rộng phạm vi ảnh hưởng chính trị ra phạm vi toàn thể giới để phục vụ cho nền công nghiệp xuất khẩu…

Vả lại cuộc chiến trên Biển Đông cho dù chỉ với Việt Nam thôi, cho dù tương quan về khí tài, Trung Quốc có thể được trang bị mạnh hơn Việt Nam; Trong chiến tranh, quyết định cuối cùng lại không thể dựa vào không quân, hải quân…

Hiện nay, những hòn đảo trên Biển Đông, hòn lớn nhất đó là Hoàng Sa đang do Trung Quốc giữ, còn khu vực Trường Sa, hòn đảo lớn nhất là hòn đảo Sinh Tồn có diện tích tương đương với một sân vận động bóng đá; còn những hòn đảo khác nhỏ hơn, đôi khi chỉ nhô lên như một cái lôcốt trên biển…

Nếu Trung Quốc có khả năng hủy diệt các lực lượng đang chốt giữ trên đảo Sinh Tồn và các đảo khác thì Việt Nam cũng có đầy đủ khả năng đáp trả, nếu chẳng may bị Trung Quốc tạm thời đánh chiếm. Nếu Trung Quốc hủy diệt đảo Sinh Tồn của Việt Nam thì Việt Nam cũng có khả năng đáp trả đối với đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đang giữ…

Về mặt địa lý, Hoàng Sa và khu vực Trường Sa gần Việt Nam hơn; chưa kể nếu xảy ra chiến tranh tổng lực trên Biển Đông thì Việt Nam chắc chắc sẽ được hỗ trợ về mặt khí tài từ các nước khác; mà những vũ khí hiện đại giao tranh trên biển, Trung Quốc chưa phải là quốc gia có ưu thế nhất, cho dù Trung Quốc có nhiều tiền hơn Việt Nam…

Vấn đề quan trọng hơn: Không ai đánh nhau để mà đánh nhau cả; đánh nhau để thu lại lợi lộc gì về kinh tế; trước mắt và lâu dài, nếu Trung Quốc tuyên chiến, phát động chiến tranh đánh chiếm các hòn đảo của Việt Nam trong khu vực Hoàng Sa và Trường Sa thì Trung Quốc cũng sẽ bị “chảy máy “ nội tạng dẫn tới các con bệnh “ung thư” máu…

Do đó nếu là một cái đầu tỉnh táo và không vì một động cơ chính trị điên rồ, nhất thời nào đó thúc bách, Trung Quốc sẽ không ngu gì phát động một cuộc chiến tranh tổng lực trên Biển Đông vào thời điểm hiện nay…Bởi cho dù tiềm lực, trang thiết bị quân sự của Việt Nam trước mắt có thể chưa bằng Trung Quốc, nhưng lẽ đời ai biết được chữ ngờ…Cùng tắc biến ?!

Chưa kể nếu xảy ra chiến tranh Việt-Trung trên biển, lưu thông hành hóa hai nước sẽ bị đình trệ; hiện nay Trung Quốc đang xuất siêu sang Việt Nam; Hàng vạn công dân Trung Quốc đang sang làm ăn sinh sống tại Việt Nam phải tìm cách chuồn về nước, khó lòng bám trụ ở lại sinh cơ lập nghiệp tại Việt Nam…Trung Quốc không thể không tính tới các hệ lụy này để rồi nổ súng chỉ để nổ súng để cốt lấy oai, để khuyếch trương sĩ diện, chứng tỏ ta đây là đại ca trong khu vực…

“Kịch bản” thứ 3:

Đây là kịch bản dễ xảy ra nhất trong tình hình hiện nay và rất có khả năng Trung Quốc sẽ giở cái trò bầy hầy này ra đối với Việt Nam. Bởi Việt Nam chưa đủ mạnh như hải quân Nhật Bản, sẵn sàng tìm cách bắt sống tàu Trung Quốc khi xâm phạm lãnh hải của mình; bắt sống trước, thương lượng trao trả sau…

Chúng ta đặt giả thuyết: Trung Quốc cho tàu khoan dầu lớn xông bừa vào khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chúng ta có dám dùng pháo hạm đánh chìm tàu khoan dầu của Trung Quốc không ?

Hay ta cũng lại tìm cách cắt cáp thông tin, chọc thủng, là hư hại một số thiết bị trên tàu để buộc Trung Quốc phải rút về, nếu ở lại cũng không sống nổi, không làm ăn gì được…

Theo quý vị Việt Nam nên làm gì ? Đánh chìm hay lại áp dụng lại cách làm của Trung Quốc trong việc ứng xử với ngư dân và tàu thăm dò của Việt Nam ?

Đây là một đáp án chắc chắn chúng ta cũng phải lập trình sẵn. Ở đây có lẽ chúng ta phải vận dụng lại bài học của Lê Lợi, Nguyễn Trãi trong trận vây hãm thành Đông Quan khi xưa ?!

Có điều chúng ta có đủ thực lực làm được không ? Nếu chưa đủ thực lực thì phải phấn đầu nâng thế và lực để đáp trả các hành động bầy hầy, chơi bẩn của ông bạn “16 chữ vàng” Trung Quốc ?!
P.V.Đ.

------------------
*****

Phản ứng của Việt Nam so với các nước về hành động bắt nạt của Trung Quốc

Phản ứng của Việt Nam so với các nước về hành động bắt nạt của Trung Quốc

2011-06-02
Những năm gần đây, Trung Quốc liên tục có hành động khiêu khích và bắt nạt các nước trên biển. Ngoài Việt Nam, các nước như Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, và Philippines…cũng đã từng bị Trung Quốc quấy nhiễu trong thời gian qua.
AFP
Bộ ngoại giao Phillipines cho phổ biến ảnh tàu Trung Quốc xâm phạm vùng biển đặc quyền kinh tế gần đảo chính Palawan của nước này hôm và 24 tháng 5, 2011.
Cùng bị Trung Quốc bắt nạt, nhưng phản ứng của các nước trong khu vực đối với hành động hiếu chiến của Trung Quốc hoàn toàn khác, so với phản ứng của chính phủ Việt Nam. Thông tín viên Ngọc Trân tổng hợp và tường trình.

Việt Nam: chỉ “đánh võ mồm”!

Rạng sáng ngày 26 tháng 5 vừa qua, ba tàu hải giám của Trung Quốc đã ngang nhiên cắt cáp, phá hoại thiết bị thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh 02, thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, khi con tàu này đang hoạt động trong khu vực thuộc phạm vi thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam.
Hành động của các tàu Trung Quốc này, ngoài việc xâm phạm lãnh hải Việt Nam, vi phạm các công ước quốc tế mà Trung Quốc đã ký và cam kết từ trước tới nay, còn thể hiện cách hành xử kém văn minh của một nước lớn, đối với một nước láng giềng trong khu vực. Hành động này đi ngược lại chủ trương của giới lãnh đạo Trung Quốc, mà ba ngày trước đó, ông Lương Quang Liệt, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, đã lên tiếng kêu gọi các nước trong khu vực tự kềm chế, tránh xung đột trên biển Đông.
Sau khi xâm phạm và quấy nhiễu lãnh hải Việt Nam hồi tuần qua, Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn ra thông cáo, nói rằng, đó là vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc, và Trung Quốc đang “hoạt động bình thường trong vùng biển chủ quyền” của mình.
Phản đối lại hành động xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, cũng như bao lần trước, ở cấp cao nhất phía Việt Nam vẫn chỉ là phát ngôn Bộ Ngoại giao. Lần này cũng vậy, sau khi gặp đại diện sứ quán Trung Quốc để trao công hàm phản đối hành động của Bắc Kinh, ba ngày sau sự kiện nói trên xảy ra, bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, đã tổ chức họp báo, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt vi phạm chủ quyền và bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam.

Malaysia: phản đối bằng chiến đấu cơ và tàu chiến rượt đuổi

Tàu Bình Minh 02 của Việt Nam.Source Petro Vietnam PVN
Tàu Bình Minh 02 của Việt Nam.Source Petro Vietnam PVN
Khác với Việt Nam, khi bị Trung Quốc quấy nhiễu, các nước trong khu vực đã có thái độ và hành động khá cứng rắn. Mặc dù mức độ và tần suất vi phạm lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc là nghiêm trọng hơn so với các nước khác, mặc dù các tàu Trung Quốc  chỉ ở mức độ khiêu khích đối với các nước trong khu vực, chứ chưa có hành động phá hoại như đã cắt cáp thăm dò dầu khí mà họ đã làm đối với tàu Bình Minh 02 của Việt Nam, thế nhưng Trung Quốc đã từng bị tàu chiến và máy bay của các nước rượt đuổi.
Báo chí Trung Quốc cho biết, cuối tháng 4 năm ngoái, các tàu ngư chính của họ đã phải đối đầu căng thẳng với tàu chiến và chiến đấu cơ của Malaysia khi vi phạm lãnh hải nước này. Các tàu ngư chính của Trung Quốc đã bị tàu chiến Malaysia rượt đuổi liên tục trong khoảng thời gian 17 tiếng đồng hồ
Tháng 4 năm ngoái, nhằm phô trương sức mạnh quân sự trên biển, Bắc Kinh đã điều các tàu ngư chính đến tuần tra trên vùng biển Trường Sa. Trong đợt tuần tra này, Bắc Kinh đã gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ của Malaysia khi tàu tuần tra Trung Quốc đi vào vùng biển của nước này.
Báo chí Trung Quốc cho biết, cuối tháng 4 năm ngoái, các tàu ngư chính của họ đã phải đối đầu căng thẳng với tàu chiến và chiến đấu cơ của Malaysia khi vi phạm lãnh hải nước này. Các tàu ngư chính của Trung Quốc đã bị tàu chiến Malaysia rượt đuổi liên tục trong khoảng thời gian 17 tiếng đồng hồ vào một ngày cuối tháng 4 năm 2010, khi tuần tra ở vùng biển Malaysia.
Tin tức còn cho biết thêm, khi tàu ngư chính Trung Quốc đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, tàu chiến Malaysia được trang bị tên lửa đạn đạo, đã tiến vào tàu ngư chính Trung Quốc, chĩa pháo hạm vào những con tàu này, trong khi các binh lính trên tàu Malaysia trong tư thế sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ chủ quyền. Cùng lúc, Malaysia đã cho máy bay chiến đấu bay lượn trên bầu trời, nơi bên dưới là tàu Trung Quốc, với mục đích cảnh cáo Bắc Kinh xâm phạm lãnh hải của Malaysia.

Indonesia: bắt giữ tàu Trung Quốc và phản đối lên LHQ

Không lâu sau đó, Bắc Kinh cũng đã gặp phải phản ứng mạnh mẽ của Indonesia khi đưa các tàu ngư chính có trang bị vũ khí, hộ tống các tàu đánh cá Trung Quốc, đánh bắt cá ở khu vực gần quần đảo Natura, thuộc Indonesia.
các tàu đánh cá và thuyền viên Trung Quốc đã từng bị tàu hải quân Indonesia bắt giữ khi ngang nhiên đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia. Báo Tân Hoa xã của Trung Quốc cũng đã xác nhận tin này
Báo Mainichi của Nhật, dẫn lời một viên chức chính phủ Indonesia, cho biết, khoảng giữa năm ngoái, các tàu đánh cá và thuyền viên Trung Quốc đã từng bị tàu hải quân Indonesia bắt giữ khi ngang nhiên đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia. Báo Tân Hoa xã của Trung Quốc cũng đã xác nhận tin này và cho biết thêm, các thủy thủ và tàu đánh cá Trung Quốc đó chỉ được thả sau các cuộc đàm phán giữa hai bên.
Ngoài việc bắt giữ tàu và thủy thủ Trung Quốc, hai tuần sau sự cố nói trên, Indonesia đã gửi công hàm lên Liên Hiệp quốc, phản đối việc đòi chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông là vô căn cứ. Trong công hàm đệ trình lên Liên Hiệp quốc hồi tháng 7 năm ngoái, Indonesia cho biết, họ không tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, mà chỉ đứng ở vai trò trung gian, phản đối việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên gần như
Trung Quốc không ngưng phô trương lực lượng trên biển Đông
Trung Quốc không ngưng phô trương lực lượng trên biển Đông trong những lần tập trận. AFP
toàn bộ Biển Đông, là thiếu cơ sở pháp lý và xâm phạm lợi ích chính đáng của cộng đồng quốc tế.
Indonesia cũng đã yêu cầu Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc chuyển bức thư đó tới tất cả các thành viên của Ủy ban Thềm lục địa và các nước thành viên đã ký Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, cùng tất cả các thành viên Liên Hiệp Quốc, để tố cáo hành động bá quyền của Bắc Kinh.

Nhật: bắt giữ thuyền trưởng tàu Trung Quốc

Sau khi bắt nạt hai nước Malaysia và Indonesia trên biển Đông, Trung Quốc chuyển sang biển Hoa Đông để thử phản ứng của Nhật Bản. Đầu tháng 9 năm ngoái, được sự ủng hộ của Trung Quốc, tàu đánh cá Mân Tấn Ngư của nước này đã đâm vào hai tàu tuần duyên Nhật Bản, gần quần đảo Senkaku mà phía Trung Quốc gọi là Điếu Ngư đài. Ngay lập tức, Nhật Bản đã bắt giữ ông Chiêm Kỳ Hùng, thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Quốc, cùng thủy thủ đoàn trên chiếc tàu này.
Phía Trung Quốc đã liên tục triệu tập đại sứ Nhật Bản đến để phản đối việc bắt giữ thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Quốc. Kế đến là người đứng đầu Bộ Ngoại giao Trung Quốc, cùng cùng thủ tướng nước này cũng đã lên tiếng răn đe Nhật, rằng Bắc Kinh sẽ có biện pháp mạnh nếu Tokyo không thả thuyền trưởng tàu Mân Tấn Ngư. Vài ngày sau tuyên bố của ông Ôn Gia Bảo, Trung Quốc cũng đã trả đũa kinh tế đối với Nhật Bản, bằng cách ngưng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật để gây áp lực, buộc chính phủ Nhật thả thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Quốc.
Khác với cách giải quyết vấn đề của Việt Nam, Nhật Bản đã tỏ ra cứng rắn hơn. Họ giữ tàu và bắt thủy thủ đoàn Trung Quốc ngay lập tức để điều tra. Đã hai lần phía Nhật gia hạn thêm thời gian tạm giam đối với thuyền trưởng tàu Trung Quốc, bất kể điều đó có thể ảnh hưởng đến quan hệ Nhật-Trung
Mặt dù vụ bắt giữ này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ Trung-Nhật, thế nhưng Tokyo đã không chùn bước trước những áp lực của Bắc Kinh. Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc đã so sánh phản ứng của chính phủ Nhật với chính phủ Việt Nam như sau: “Khác với cách giải quyết vấn đề của Việt Nam, Nhật Bản đã tỏ ra cứng rắn hơn. Họ giữ tàu và bắt thủy thủ đoàn Trung Quốc ngay lập tức để điều tra. Đã hai lần phía Nhật gia hạn thêm thời gian tạm giam đối với thuyền trưởng tàu Trung Quốc, bất kể điều đó có thể ảnh hưởng đến quan hệ Nhật-Trung”.

Philippines: cho chiến đấu cơ rượt đuổi và phản đối lên LHQ

Đầu tháng 3 năm nay, Trung Quốc cũng đã gặp phải phản ứng mạnh mẽ của Manila khi các tàu Trung Quốc quấy nhiễu tàu Philippines ở khu vực gần phía Tây Palawan. Ngay lập tức, Philippines điều hai máy bay
Bản đồ khu vực tranh chấp trên biển Đông. AFP GRAPHIC.
Bản đồ khu vực tranh chấp trên biển Đông. AFP GRAPHIC.
chiến đấu đến hiện trường, để đuổi tàu tuần tra của Trung Quốc ra khỏi khu vực.
Trung Quốc cũng đã gặp phải phản ứng mạnh mẽ của Manila khi các tàu Trung Quốc quấy nhiễu tàu Philippines ở khu vực gần phía Tây Palawan. Ngay lập tức, Philippines điều hai máy bay chiến đấu đến hiện trường, để đuổi tàu tuần tra của Trung Quốc ra khỏi khu vực
Cùng lúc, ông Albert Del Rosario, Ngoại trưởng Philippines lên tiếng phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc giải thích hành động này. Ông Rosario cho biết: "Có một sự chạm trán giữa một con tàu Philippines với hai tàu Trung Quốc, ở khu vực phía Tây Palawan, làm cho tàu Philippines chuyển hướng. Chúng tôi đang yêu cầu Trung Quốc giải thích về những gì đã xảy ra và chúng tôi đang đối thoại với họ".
Một ngày sau sự cố xảy ra, phái đoàn thường trực của Philippines tại Liên Hiệp quốc đã gửi công hàm tới Tổng Thư ký LHQ để phản đối Trung Quốc, bác bỏ yêu sách "đường lưỡi bò" của Bắc Kinh. Philippines cho rằng, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông không tuân theo luật pháp quốc tế.
Trở lại vấn đề Việt Nam, những năm gần đây, các tàu tuần tra Trung Quốc cố tình vi phạm lãnh hải Việt Nam khi tuần tra trên vùng biển nước ta, hoặc hộ tống các tàu Trung Quốc, đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Lịch sử Việt Nam có nhiều bài để học. Vấn đề là học như thế nào và hành ra sao để ngăn chặn được nguy cơ không chỉ riêng cho dân tộc mà còn là nguy cơ đối với đảng cầm quyền và những người lãnh đạo đất nước
So với các nước trong khu vực, mức độ vi phạm lãnh hải của Trung Quốc đối với Việt Nam là nghiêm trọng, trong khi phản ứng của chính phủ Việt Nam không đủ mạnh, nên không thể ngăn các hành động của Trung Quốc quấy nhiễu lãnh hải nước ta. Phản ứng yếu ớt của chính phủ Việt Nam càng làm cho Trung Quốc tin rằng, Việt Nam rất dễ bị bắt nạt, và thực tế cho thấy Trung Quốc ngày càng leo thang trong việc bắt nạt Việt Nam.
Để kết thúc, chúng tôi xin mượn lời của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc: “Khi đã có một Đặng Tiểu Bình tuyên bố biển Đông là ‘chủ quyền thuộc ngã’ và khi Trung Quốc tuyên bố biển Đông là khu vực ‘lợi ích cốt lõi’ của họ, thì khó dùng tinh thần hiếu hòa của người Việt để ngăn chặn tham vọng của phương Bắc. Lịch sử Việt Nam có nhiều bài để học. Vấn đề là học như thế nào và hành ra sao để ngăn chặn được nguy cơ không chỉ riêng cho dân tộc mà còn là nguy cơ đối với đảng cầm quyền và những người lãnh đạo đất nước”.

Ý kiến của Bạn

Click here to add your own comment

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

Bong bóng bất động sản có vỡ không?

Bong bóng bất động sản có vỡ không?

(VEF.VN) - Gần hai mươi năm qua, đường biểu diễn thị giá BĐS của Việt Nam đã liên tục diễn biến theo cách đỉnh sau cao hơn đỉnh trước qua mỗi chu kỳ sốt nóng. Bong bóng BĐS vì thế cũng đã thành hình thành khối.
LTS: Gần đây dư luận xôn xao và e ngại liệu thị trường bất động sản (BĐS) Việt Nam đã hình thành "bong bóng" hay chưa, và khi nào thì quả bóng này sẽ nổ? Các chuyên gia cũng đã mổ xẻ vấn đề này, đa số đều cho rằng trong một vài năm tới, chưa có chuyện thị trường vỡ mà chỉ có thể là quả bóng xì hơi cho bớt căng.
VEF.VN trân trọng giới thiệu bài viết của TS. Phạm Chí Dũng với cái nhìn toàn cảnh về thị trường này cũng như sự hình thành, khả năng "nổ" của bong bóng BĐS. Mọi ý kiến tranh luận xin gửi về: vef@vietnamnet.vn hoặc phần thảo luận phía dưới.
Quá trình tích lũy của bong bóng BĐS
Từ tháng 4/2011 đến nay, một hiện tượng khá lạ là xuất hiện ngày càng nhiều những bài viết trên mặt báo chí cảnh báo về tình trạng bong bóng bất động sản (BĐS) ở Việt Nam. Tần suất thông tin như vậy chỉ có thể so sánh với thời kỳ "đen tối" của thị trường BĐS vào năm 2008 và đầu năm 2009. Nhưng trong thời gian con sóng lớn tăng giá đất nền diễn ra ở Hà Nội từ giữa năm 2009 đến đầu năm 2011 với mặt bằng giá được đẩy lên gấp gần ba lần, khá ngạc nhiên là những thông tin cảnh báo thẳng thừng về bong bóng BĐS lại khá ít ỏi.
Thực ra vấn đề bong bóng BĐS không phải là chủ đề mới mẻ gì. Cứ vào mỗi đợt sốt đất, vấn đề này lại được nêu ra. Chỉ có điều nếu xem xét kỹ, thường thì chủ đề này chỉ được nêu ra vào cuối sóng, nghĩa là khi mọi việc đã được giới đầu cơ gần như hoàn tất.
Trong 4 con sóng lớn của thị trường BĐS trong gần hai mươi năm trở lại đây (con sóng thứ tư thuộc về thị trường BĐS Hà Nội và Đà Nẵng mà chưa lan đến khu vực phía Nam), có lẽ vấn đề bong bóng BĐS chỉ được đề cập khá nhiều sau đợt sóng lớn thứ hai diễn biến từ năm 2000 đến năm 2001.
Trong suốt gần 5 năm sau đó, từ năm 2002 đến 2006, người ta đã không chứng kiến một sự sụt giảm mạnh về mặt bằng giá nhà đất, nhưng thay vào đó là tình trạng đóng băng của đa số các phân khúc, đặc biệt là phân khúc đất nền.
Khi đó, loại phân khúc căn hộ cao cấp chưa hình thành nhiều về số lượng nên trong lĩnh vực học thuật BĐS cũng chưa có khái niệm hoàn chỉnh về sự đóng băng của căn hộ cao cấp. Nhưng đến thời kỳ đóng băng thị trường từ đầu năm 2008 đến gần giữa năm 2009, người ta mới chứng kiến sự sụt giảm khá mạnh - trung bình đến 40% - giá đất nền và căn hộ cao cấp. Mức sụt giảm đó đã cho thấy trong những điều kiện xấu về kinh tế (như xảy ra khủng hoảng kinh tế), thị trường BĐS thường lộ rõ nhất cái phần ảo của nó, và hệ quả tương xứng của mất mát kinh tế là cái ảo phải trở về gần sát giá trị thực của nó.
Liệu thị trường bất động sản (BĐS) Việt Nam đã hình thành "bong bóng" hay chưa, và khi nào thì quả bóng này sẽ nổ? (Ảnh: DDDN)
Tuy nhiên, những người dân ít tiền chờ đợi mặt bằng giá BĐS giảm mạnh hơn nữa đã phải thất vọng. Ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng, giá BĐS ở một số khu vực trước đó đã tăng quá nóng giảm mạnh nhất cũng chỉ đến 50-60% giá đỉnh sốt của nó chứ không mất đến 70-80% giá trị như cổ phiếu chứng khoán. Điều đó cũng cho thấy trong điều kiện nền kinh tế vận hành bình thường, cho dù mặt bằng giá nhà đất có tăng gấp 4-5 lần thì mức độ sụt giảm của nó cũng chỉ ở khoảng 20-30% là đã kích thích nguồn tiền tiêu dùng và đầu cơ.
Gần hai mươi năm qua, đường biểu diễn thị giá BĐS của Việt Nam đã liên tục diễn biến theo cách đỉnh sau cao hơn đỉnh trước qua mỗi chu kỳ sốt nóng. Bong bóng BĐS vì thế cũng đã thành hình thành khối.
BĐS Trung Quốc và BĐS Hà Nội
Có một mối liên quan nhất định giữa vận động của thị trường BĐS Việt Nam với thị trường BĐS Trung Quốc, cũng như tình trạng bong bóng BĐS của hai thị trường này.
Cũng như Việt Nam, BĐS Trung Quốc đã có những bước tăng trưởng quá mạnh mẽ từ năm 2005 đến nay. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, một chi tiết đáng chú ý là thị trường BĐS Trung Quốc phục hồi vào quý II/2009, cùng thời gian với thị trường BĐS Hà Nội. Kể từ đó, giá nhà đất liên tục tăng trên 70 thành phố của quốc gia này. Tuy nhiên vào thời gian đó tại Trung Quốc duy trì chính sách lãi suất thấp nên nguồn tiền đổ vào BĐS rất lớn.
Hơn nữa, hiện tượng dòng tiền nóng từ bên ngoài đổ vào Trung Quốc để kích thị trường chứng khoán và thị trường BĐS đã được ghi nhận. Vì thế, sự luân chuyển dòng tiền giữa hai thị trường chứng khoán và thị trường BĐS ở Trung Quốc diễn ra nhịp nhàng trrong sự điều phối của các nhóm đầu cơ. Vào tháng 8/2009, khi thị trường chứng khoán đã tạo đỉnh sau cú tăng ngoạn mục gấp hai lần từ đáy khủng hoảng, thị trường BĐS Trung Quốc càng có cớ để tăng mạnh và kéo dài suốt đến cuối năm 2010.
So với thời điểm năm 2007, mặt bằng giá nhà bình quân ở Trung Quốc đã tăng 140%, riêng tại Bắc Kinh tăng đến 800%. Đó là một tỷ lệ tăng trưởng vượt quá xa mức thu nhập thực tế của giới có thu nhập trung bình tại đất nước này khiến cả thế giới phải quan tâm. Dựa trên những tác động đáng kể mà kinh tế Trung Quốc có thể tạo ra cho các thị trường quốc tế, "tiến sĩ tận thế" Roubini cũng đã cảnh báo về bong bóng BĐS Trung Quốc đang phình lớn và có thể nổ tung bất cứ lúc nào.
Lời cảnh báo của ông, cũng như nhiều cảnh báo của các tổ chức tài chính lớn của thế giới như Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới được đưa ra từ giữa năm 2010, thậm chí có tổ chức còn dự báo đến cuối năm 2010 Trung Quốc sẽ vỡ bong bóng BĐS. Thế nhưng điều lạ lùng là mãi cho đến giờ cái bong bóng ấy vẫn chưa nổ, mặt bằng giá nhà đất chỉ giảm ở mức độ vừa phải và vẫn có sức mua vào.
Vào đầu năm 2011, đã xuất hiện những thông tin nhận định mới hơn và có tính cách điều chỉnh đối với thị trường BĐS Trung Quốc. Theo đó, năm 2011 thị trường BĐS quốc gia này có thể giảm 30% giá trị đỉnh của nó (nhưng vẫn chưa phải là vỡ bong bóng). Cho đến tháng tháng 5/2011, sau khi kiểm nghiệm tốc độ đi xuống chậm chạp của mặt bằng giá BĐS của Trung Quốc, một số chuyên gia quốc tế lại thừa nhận chỉ số BĐS của nước này có thể chỉ giảm 10% trong năm 2011.
Bong bóng BĐS đang hình thành tại Hà Nội?
Trong năm 2009, thị trường BĐS Hà Nội phục hồi trong thế khó khăn hơn nhiều so với bối cảnh cùng thời gian ở Trung Quốc. Cho tới quý IV/2009, mặt bằng lãi suất ở Việt Nam vẫn khá cao, trong khi nguồn cung tín dụng BĐS gần như bằng không. Tuy vậy, thị trường BĐS Hà Nội vẫn làm được điều mà thị trường nhà đất Trung Quốc làm: mặt bằng giá đất nền tăng từ 2,5-3 lần.
Với đợt tăng này, thị trường BĐS Hà Nội đã hoàn thành đợt tăng trưởng lớn thứ tư trong gần hai mươi năm nay (tính từ thời điểm năm 1993 khi diễn ra cơn sốt BĐS đầu tiên sau thời mở cửa).
Vấn đề đặt ra là sau gần hai mươi năm, liệu thị trường BĐS Hà Nội có đang đứng trước một nguy cơ bong bóng. Hoặc xét theo quy luật vận động tự nhiên, liệu thị trường này có đang phải đối mặt với một chu kỳ điều chỉnh giảm bình thường? Những khả năng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố chứ không phải tự thân thị trường BĐS hay nền kinh tế Việt Nam có thể tự quyết định được.
Theo một số chuyên gia, bong bóng BĐS chỉ bị vỡ khi nó hội tụ đủ các yếu tố về thu nhập của người dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ trên nền tảng bất động sản quá sớm, và bất động sản phải là nền tảng của hệ thống tín dụng.
Trong các yếu tố hội tụ này, có lẽ điều quan trọng hơn là giá trị BĐS phải là một cấu thành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nếu giá trị này chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống tài chính quốc dân, việc bong bóng BĐS vỡ sẽ ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển kinh tế, giống như hiện trạng và những nguy cơ mà chính phủ Trung Quốc luôn cảnh báo khi xem xét đến sự phát triển quá nóng thị trường BĐS của họ.
Hiện nay, số nợ vay BĐS ở nước ta là 235.000 tỷ đồng, trong đó riêng địa bàn TP.HCM đã chiếm đến phân nửa con số này, trong khi Hà Nội chỉ đại diện khoảng 20%. Số nợ vay này tuy khá nhiều nhưng vẫn chưa được xem là gây tác động mạnh đến huyết mạch tài chính quốc gia.
Do đó, có một luồng suy luận cho rằng dù thị trường BĐS đang hình thành bong bóng và có khả năng vỡ, nền kinh tế quốc dân vẫn chẳng bị ảnh hưởng gì mấy. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng nghiêm trọng sẽ đến với nhiều ngân hàng, trong đó đa phần là ngân hàng thương mại cổ phần, những địa chỉ đã từ lâu có mối quan hệ "môi hở răng lạnh" với các doanh nghiệp BĐS, hoặc như có chuyên gia nhận xét thì những ngân hàng này trong suốt thời gian khó khăn qua đã nuôi các doanh nghiệp BĐS, giúp cho những doanh nghiệp này thu xếp được những khoản nợ đã tới kỳ đáo hạn với ngân hàng, gia hạn các hợp đồng vay đến 3-4 lần và nuôi dưỡng kỳ vọng vào khả năng thanh toán được nợ của doanh nghiệp.
(Còn nữa)
Kỳ II: Số phận bong bóng BĐS phụ thuộc giới tài phiệt

"THẰNG NÀO ĐÁNH TAO, TAO SẼ..."

"THẰNG NÀO ĐÁNH TAO, TAO SẼ..."

Mai Thanh Hải Blog - Một cách nhìn tổng quát về thái độ của một số quốc gia trên thế giới trước nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh. Không nặng nề, không đi sâu phân tích - bình luận, bài viết vui nhưng cũng rất sâu sắc. Bài viết đăng trên Blog của Nhà báo Thu Hồng. 
-------------------------------------







"THẰNG NÀO ĐÁNH TAO, TAO SẼ..."


1. MỸ: "Tao muốn đánh thằng nào, là tao đánh thằng đó. Ngoài ra, tao bao tiền súng!" 

2. NATO: "Mỹ đánh thằng nào, tao đánh thằng đó!".

3. NGA:  "Thằng nào bật tao, tao cắt dầu lửa!".

4. ISRAEL: "thằng nào ngấm ngầm muốn đánh tao, tao đánh thằng đó!".

5. NHẬT: "thằng nào đánh tao, tao sẽ bảo Mỹ đánh thằng đó. Nếu chúng mày không ngừng tấn công, tao cho Maria Ozawa nghỉ việc!".

6. TRUNG QUỐC: "Thằng nào gần tao, tao đánh thằng đó!".

7. ĐÀI LOAN: "Thằng nào đòi đánh tao, tao bảo báo chí chửi thằng đó!".

8. NAM HÀN: "Thằng nào định đánh tao, tao tập trận với thằng Mỹ!".

9. BẮC HÀN: "Thằng nào làm tao bực, tao sẽ đánh thằng Nam Hàn!".

10. Berlusconi (ITALIA): "Thằng nào oánh tao, tao... ngủ với vợ thằng đó!".

11. SINGAPORE : "Thằng nào đánh tao? ĐM! Chắc không thằng nào rảnh loz mà đi đánh tao!".

12. IRAQ : "Thằng nào đánh tao thì cứ đánh cho đã, chừng nào mệt thì tự động về!".

13. ARAP SAUDI : "Thằng nào đánh tao, tao mua thằng đó!"

14. Billaden: "Thằng nào đánh tao, tao khủng bố thằng Mỹ!".

15. Liên Hiệp Quốc: "Tao dán cái mác... vùng cấm bay lên thằng nào, chúng mày úp sọt thằng đấy cho tao!".

16. CUBA : "Thằng nào oánh tao, tao cho Việt Nam một mình canh giữ thế giới!".

17. VIỆT NAM:  "Chỗ nào có oánh nhau, tao bày tỏ quan ngại sâu sắc. Còn thằng nào oánh tao, tao tuyên bố chủ quyền, tao cắt điện luân phiên, sau đó tao... cực lực lên án!".

Kinh tế VN ‘đã chạm đáy bất ổn’

Kinh tế VN ‘đã chạm đáy bất ổn’

Lạm phát tại Việt Nam tăng ở mức gần 20% trong tháng Năm và vẫn đang tăng.
Kinh tế gia trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam bình luận rằng Việt Nam đã vượt qua được giai đoạn tồi tệ nhất của sự bất ổn vĩ mô, phóng viên Ben Bland của Financial Times đưa tin trênBấm blog ngày 02/06.
Tuy nhiên Kinh tế gia Trưởng Deepak Mishra từ Ngân hàng Thế giới có văn phòng tại Hà Nội cũng lưu ý lạm phát tại Việt Nam đã tăng tới mức 20% và vẫn còn tăng, nhập siêu vẫn tăng, và bắt đầu có một số dấu hiệu về thực trạng khó khăn trong thanh toán tại khu vực bất động sản.
Ngân hàng Thế giới nhận định đã có sự phục hồi niềm tin thông qua điều được mô tả là việc thực hiện thành công các biện pháp giải quyết khủng hoảng.
Các biện pháp này bao gồm chính sách thắt chặt tài chính và tiền tệ cũng như chống đôla hóa nền kinh tế theo Nghị quyết 11.
Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là liệu chính phủ Việt Nam có khả năng thực hiện triệt các biện pháp nhằm bình ổn kinh tế hay không.
Ông Mishra cũng cảnh báo còn quá sớm để ăn mừng thắng lợi trong cuộc chiến chống bất ổn vĩ mô.
Một số nhà đầu tư đã nói với Financial Times rằng một khi có các ghế bộ trưởng mới (dự kiến cuối tháng Bảy đầu tháng Tám) thì họ trông đợi những vị này sẽ đưa ra hành động cho một loạt các vấn đề quan trọng từ việc cải thiện thị trường chứng khoán có tính thanh khoản kém hay nợ xấu của tập đoàn nhà nước bên bờ phá sản Bấm Vinashin.
Hôm 22/05 phóng viên Ben Bland có bài blog nhận định điều nhà báo này gọi là Bấm Cuộc chiến 'giả tạo' trong nền kinh tế Việt Nam.
Bài viết vào lúc đó phản ánh về các quan ngại đối với thực trạng chính phủ Việt Nam thường ban hành các nghị định mà hiệu quả thực hiện các nghị định là kém.
Bài viết này cho thấy sự lo lắng của giới đầu tư cho đến khi họ thấy bằng chứng rõ ràng hơn về việc chính phủ thực hiện triệt để và có kết quả đối với Nghị quyết 11 nhằm bình ổn kinh tế.
Vào tuần cuối cùng của tháng Năm thị trường chứng khoán Việt Nam chứng kiến sự sụt điểm mạnh do có việc Bấm bán cổ phiếu ra ồ ạt từ giới đầu tư trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài, với VN Index có lúc xuống ngưỡng 380 điểm.
Tuy nhiên hiện chỉ số VN Index đã tăng trở lại trong khoảng một tuần qua.
Nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam có tổng giá trị vốn hóa trên thị trường chưa tới một phần ba GDP, được coi là còn nhỏ và chưa được xem là "nhiệt kế" của nền kinh tế.

Kế hoạch bá chủ về kinh tế của Trung Quốc

Kế hoạch bá chủ về kinh tế của Trung Quốc

Giới lãnh đạo Trung Quốc đã tiết lộ một chiến lược nhằm dẫn đầu thế giới trong 7 ngành công nghiệp quan trọng nhất.
Trong vài tháng qua, Bắc Kinh đã tiết lộ một số kế hoạch cho thấy tầm nhìn cho tương lai kinh tế của Trung Quốc. Bản Kế hoạch 5 năm lần thứ 12, thông qua hồi tháng Ba, và bản kế hoạch tiếp theo được Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia (DNRC) công bố cuối tháng trước cho thấy một chiến lược quốc gia có thể khiến các tập đoàn đa quốc gia phải cảnh giác và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với sự cạnh tranh vũ bão này.
Kế hoạch chi tiết về kinh tế tập trung vào bảy "ngành công nghiệp đang nổi mang tính chiến lược" mà Bắc Kinh muốn chế ngự trên quy mô toàn cầu. Đó là năng lượng thay thế, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin thế hệ mới, sản xuất trang thiết bị đầu cuối, vật liệu tân tiến, xe ô tô sạch và các công nghệ năng lượng mới. Các công ty toàn cầu cạnh tranh mọi mặt hàng, từ thủy điện đến công nghệ màn hình phẳng, sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh hơn của Trung Quốc. Và đối với những quốc gia như Nhật Bản và Hàn Quốc, luôn hy vọng các công ty trong nước mình đi đầu trong các ngành công nghiệp này, thì các kế hoạch mới của Trung Quốc có thể khiến họ phải đưa ra những sửa đổi cần thiết về chính sách hỗ trợ cho các tập đoàn.
Theo các bản kế hoạch trên, để hỗ trợ các ngành công nghiệp chiến lược, Bắc Kinh dự định đưa ra các chính sách tài chính, thuê khóa và tiền tệ mềm dẻo, đồng thời "định hướng các công ty sáp nhập hoặc mua lại tăng cường tập trung sản xuất công nghiệp. Kế hoạch này bao gồm khoảng 1.500 tỷ USD chi tiêu công (chiếm gần 5% GDP) mỗi năm nhằm tăng phần đóng góp của các ngành công nghiệp chiến lược vào tăng trưởng của Trung Quốc từ mức dưới 5% hiện nay lên 15% vào năm 2020. Nói cách khác, Trung Quốc có kế hoạch tăng gấp ba lần vai trò của các ngành công nghệ cao này trong nền kinh tế. Đến năm 2020, Standart Chartered hy vọng, nền kinh tế Trung Quốc sẽ đạt 25.000 tỷ USD. Ở mức này, Trung Quốc dự định 3.750 tỷ USD, tương đương GDP hàng năm của Đức, sẽ do các ngành công nghiệp chiến lược đóng góp.
Ảnh: David Gray/ Reuters
Đa số thành phàn tăng trưởng sẽ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu trong nước ngày càng tăng, nhưng Trung Quốc sẽ không thể tiêu thụ tất cả những gì mình sản xuất ra. Như vậy xuất khẩu công nghệ cao sẽ chắc chắn trở thành một thành phần quan trọng trong các kế hoạch của họ. Ví dụ, sản xuất xe hơi của Trung Quốc dự kiến tăng gấp ba lần, đạt 40 triệu chiếc/năm từ năm 2020. Trong khi đó, chính phủ hiện nay đang hạn chế số giấy phép sở hữu xe mới nhằm giải quyết vấn đề giao thông quốc gia. Trung Quốc sẽ cần các thị trường nước ngoài để tiêu thụ lượng sản phẩm dư thừa của mình.
Các công ty đa quốc gia và các chính phủ nước ngoài không nên nghĩ rằng kế hoạch này là không thể thực hiện được, vì Trung Quốc có một kỷ lục đạt các mục tiêu kinh tế của mình. Theo các con số của Chính phủ Trung Quốc, Bắc Kinh đã đạt hoặc vượt hơn 80% các mục tiêu đề ra trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 11, thậm chí vượt mục tiêu tăng trưởng GDP 7,5% và giảm các chất thải gây hiệu ứng nhà kính như sulfur dioxide...
5 năm trước, Bắc Kinh cũng thông báo Kế hoạch Quốc gia trung và dài hạn về Phát triển Khoa học và Công nghệ (MLP), đặt ra một chiến lược quốc gia nhằm tăng trưởng kinh tế dựa trên các ngành công nghiệp khoa học và công nghệ. Kể từ đó, lĩnh vực năng lượng mặt trời được chính quyền trung ương trợ cấp mạnh đã nổi lên vị trí đi đầu thế giới về sản xuất tấm quang điện, chiếm tới hơn 40% thị phần toàn cầu.
Trung Quốc có cơ sở để thực hiện nhanh chóng kế hoạch của mình: một thiện chí chính trị vững vàng với các chính sách phối hợp từ trung ương, một hệ thống pháp lý và tài chính có lợi cho các sáng kiến kinh tế của chính phủ, và các nguồn lực tài chính vô cùng phong phú. Thêm vào đó, quyền sở hữu trí tuệ không được giám sát chặt đã giúp các ngành công nghiệp Trung Quốc tránh được những chi phí tốn kém cho nghiên cứu và phát triển. Theo Phòng Thương mại Mỹ, nhiều công ty đa quốc gia gọi MLP của Trung Quốc là "bản kế hoạch chi tiết cho việc ăn trộm công nghệ trên quy mô lớn mà thế giới chưa từng biết đến".
Nền kinh tế và các kế hoạch của Trung Quốc cũng phải đối mặt với những thách thức lớn: sự bố trí nguồn lực không hiệu quả, lương tăng, thiếu năng lượng, lạm phát và tình trạng quan liêu nặng nề - chẳng hạn có ít nhất 10 cơ quan khác nhau cùng giám sát thực thi các sáng kiến năng lượng. Bên cạnh đó, quá trình chuyển giao chính trị vào năm 2012 tới đây có thể dẫn tới việc thực thi chính sách không đều khi các ứng cử viên tranh giành quyền lực. Tuy nhiên, kinh tế giảm tốc sẽ khiến Bắc Kinh thúc đẩy xuất khẩu mạnh hơn.
Các kế hoạch kinh tế này không hẳn đặt dấu chấm hết cho lĩnh vực sản xuất công nghệ cao ở các nước bị cạnh tranh. Chất lượng sản phẩm là mối quan tâm lớn ở Trung Quốc. Chẳng hạn, nước này mới đây đã giảm tốc độ cho phép tối đa trên đường sắt cao tốc để đảm bảo an toàn. Một tai nạn trong hệ thống đường sắt được tán dương của Trung Quốc sẽ làm phức tạp thêm các nỗ lực của họ nhằm xuất khẩu cơ sở hạ tầng này ra các thị trường nước ngoài.
Tuy nhiên, trước đó, Trung Quốc đã an toàn vượt qua nhiều vấn đề. Ba năm trước, dù rất nhiều nước bị nhiễm độc trong thuốc pha loãng máu heparin của Trung Quốc, nhưng xuất khẩu dược phẩm của nước này vẫn bật nảy tốt. Trung Quốc giờ sản xuất hơn 70% lượng penicillin và 50% lượng aspirin bán trên toàn thế giới.
Nếu các công ty toàn cầu phải cạnh tranh với Trung Quốc trong các lĩnh vực chiến lược này, họ sẽ phải nỗ lực rất nhiều để sản xuất các sản phẩm đáng tin cậy, tiếp tục cải tiến, và duy trì bảo vệ các công nghệ độc quyền. Vì bất chấp lời kêu gọi "cải tiến bản địa", Trung Quốc sản xuất một số sản phẩm mới - như phim hay mạch công nghệ cao - và vẫn dựa vào xuất khẩu và công nghệ nước ngoài. Chính việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không chặt chẽ và mục tiêu tập trung vào sao chép của Trung Quốc đang triệt tiêu các ý tưởng sáng tạo, khiến các công ty trong nước thường bị tụt lùi vài bước.
Trong khi đó, các chính phủ nước ngoài sẽ cần đưa ra các chính sách hỗ trợ mới cho các công ty trong nước, như Washington đã làm hồi tháng Giêng, khi cho General Electric vay 437 triệu USD để đảm bảo vị trí đầu tàu bán hàng ở Pakistan. Họ cũng nên hỗ trợ quỹ nghiên cứu và phát triển và tiếp tục khuyến khích sự phối hợp giữa giới học viện, chính phủ và doanh nghiệp. Các kế hoạch của Trung Quốc không chỉ là một lời kêu gọi tập hợp các ngành công nghiệp trong nước hướng ra nước ngoài. Đây là một lời cảnh báo đối với các công ty đa quốc gia. Trung Quốc không dừng lại ở những chiếc T-shirt hay những tấm năng lượng mặt trời. Thế giới cần phải sẵn sàng.
Châu Giang

Thái Bình Dương dậy sóng và cuộc đối đầu Mỹ-Trung

Thái Bình Dương dậy sóng và cuộc đối đầu Mỹ-Trung

Mạnh Kim

Reuters / Google Map
Reuters / Google Map
Có thể hiểu như thế nào về tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton rằng “chúng tôi đã trở lại” (tại Bangkok ngày 21-7-2010) và tiếp đó là khẳng định Mỹ có “quyền lợi quốc gia” tại Biển Đông cũng như việc “Hoa Kỳ ủng hộ Tuyên bố ứng xử về Biển Đông của ASEAN-Trung Quốc 2002” (tại Hà Nội ngày 23-7-2010)? Còn gì nữa, nếu đó không là thái độ tiếp cận mới của Mỹ tại châu Á đối với chính sách bành trướng của Trung Quốc? Hung hăng coi thiên hạ tại Biển Đông chẳng ra cái đinh gì, Trung Quốc khiến Mỹ bắt đầu thấy ngứa mắt và bắt đầu đối đầu trực diện hơn với Bắc Kinh sau một thập niên gần như vắng bóng ở châu Á-Thái Bình Dương…
Xin cho thôi một chữ “hòa hài”!
Một tuần sau khi tại Hà Nội Hillary Clinton tuyên bố “gây hấn” đầy tính “tấn công trực tiếp Trung Quốc” với “mục đích quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông, người phát ngôn Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA), đại tá Cảnh Nhạn Sanh, đã giận dữ tái khẳng định rằng Trung Quốc có “chủ quyền không thể tranh cãi” tại Biển Đông với diện tích 3.367.000 km2, cùng “đầy đủ tài liệu lịch sử và pháp lý hỗ trợ”, và rằng Mỹ đừng có mà lý này cớ nọ “can thiệp nội bộ” Đông Nam Á, cũng như đừng có dựng đứng chuyện Trung Quốc muốn thao túng Biển Đông để mà kích động gây chia rẽ tình đoàn kết các nước láng giềng. Nói cách khác, Mỹ khôn hồn đừng dây vào các cuộc tranh chấp pháp lý về chủ quyền biển đảo khu vực Biển Đông với Trung Quốc, kẻo mang họa chứ chẳng đùa. Mỹ không thấy PLA lớn mạnh từng ngày hay sao? Mỹ thiển cận đến mức cứ nghĩ hải quân Trung Quốc của thế kỷ 21, dù vẫn chưa tự đóng nổi một hàng không mẫu hạm để có dịp so với những chiếc mẫu hạm của Nhật thời thập niên 1930, vẫn còn chèo thuyền chiến ra trận như thời Tam Quốc hay sao? Mỹ ấu trĩ ngộ nhận rằng Trung Quốc không đủ sức chế tạo chiến đấu cơ tàng hình (dù động cơ máy bay phải mua của Nga) à? Thế thì nghe này…
Trong 8 năm tính đến 2002, Trung Quốc đã mua 12 tàu ngầm Kilo của Nga đồng thời liên tiếp nâng cấp thiết kế để dàn tàu ngầm hải quân PLA có khả năng chiến đấu xa bờ cũng như mang đầu đạn hạt nhân. Hải quân PLA hiện có 66 tàu ngầm, nhiều nhất thế giới, chỉ sau Mỹ; và đến năm 2030, theo Tổ chức Kokoda (cơ quan nghiên cứu độc lập của Úc), Trung Quốc có thể có đến 85-100 tàu ngầm (so với 71 hiện nay của Mỹ). Năm 2007, một tên lửa đạn đạo phóng từ Trung tâm không gian Tây Xương (Tứ Xuyên) đã làm nổ tung một vệ tinh thời tiết như ngọn pháo hoa hân hoan chào đón một cột mốc thăng thiên của kỹ thuật quân sự Trung Quốc. Và theo Trung tâm đánh giá ngân sách và chiến lược (một viện nghiên cứu Mỹ), hỏa lực Trung Quốc hoàn toàn có thể đe dọa các căn cứ quân sự Mỹ tại châu Á. Quân đoàn hai pháo binh (“Đệ nhị pháo binh bộ đội”), nơi kiểm soát các đơn vị tên lửa chiến lược Trung Quốc, có thể dạy cho Mỹ một bài học đích đáng bằng khả năng dập tơi tả toàn bộ hệ thống phòng không, đường băng cũng như dàn máy bay chiến đấu và tàu chiến của Mỹ tại khu vực. Nhật đang nằm gọn trong tầm bắn tên lửa Trung Quốc và không lâu sau nữa sẽ là Guam. Còn về năng lực hải chiến? Hệ thống tên lửa hành trình chống tàu ngầm của hải quân PLA bây giờ đã đủ khả năng đe dọa hàng không mẫu hạm Mỹ, có thể bắn hạ mẫu hạm địch từ khoảng cách 1.600km (dù cho đến nay trên thế giới chưa có kỹ thuật quân sự tiên tiến nào được biết có thể làm được điều này)… (1). Tất cả thành tích trên có được nhờ sự quan tâm đúng mực của Đảng và Nhà nước Trung Quốc, với hầu bao cho ngân sách quốc phòng tăng dần (tăng 12,7% năm 2011, lên 601 tỉ tệ, tức 91,5 tỉ USD – Tân Hoa Xã 4-3-2011).
Năm 2009, một báo cáo của RAND (Research ANd Development – tổ chức nghiên cứu độc lập uy tín nhất nhì Mỹ) cho biết, vào trước năm 2020, Mỹ sẽ không còn có thể bảo vệ nổi Đài Loan nếu Trung Quốc tấn công (chết chửa!). Nghiên cứu viết rằng, Trung Quốc, thời điểm đó, hoàn toàn có thể đánh gục Mỹ trong một cuộc chiến tại eo biển Đài Loan, ngay cả khi Mỹ có chiến đấu cơ F-22, hai hàng không mẫu hạm và vẫn có thể được viện binh từ căn cứ không quân Kadena (Okinawa) ào ạt đến ứng cứu! Trung Quốc có lợi điểm là chỉ cách Đài Loan 160km trong khi nguồn cung cấp hỏa lực Mỹ cách xa họ đến nửa vòng Trái đất… Tóm lại, Trung Quốc bây giờ không chỉ là cường quốc kinh tế (hạng hai thế giới chứ ít gì!) mà còn là siêu cường về quân sự, với những khả năng và tiềm lực không thể ngờ có thể gây khiếp đảm kể cả đối với “đế quốc Mỹ”. Và như vậy, nếu muốn rắn, Trung Quốc sẵn sàng chơi rắn và đến lúc đó đừng trách là không báo trước! Dù thế, Trung Quốc, trong chính sách ngoại giao thế kỷ 21, luôn thể hiện họ là một quốc gia luôn chủ trương “hòa hài thế giới” (和谐世界 – thế giới thuận hòa), lấy tiêu chí tinh thần hòa khí với bàn tay giang rộng “tứ hải giai huynh đệ” làm đường lối chủ đạo, xuyên suốt và nhất quán, như được thể hiện trong nhiều diễn văn đó đây của giới lãnh đạo Bắc Kinh. Chỉ kẻ hạ lưu mới cần đến nắm đấm. Trung Quốc thì chẳng cần! Và Trung Quốc cũng không vì sự lớn mạnh “vượt trội” mà ngạo mạn nói rằng mình có thể đối đầu Mỹ về quân sự – như phát biểu đầy nhún nhường của Tổng tham mưu trưởng PLA Trần Bỉnh Đức trong chuyến công du Mỹ trung tuần tháng 5-2011.
Thế nhưng chú Sam vẫn trở lại…
Vấn đề ở chỗ, thái độ “ngôn hành bất nhất” khiến mức độ khả tín của Trung Quốc đối với giới ngoại giao thế giới đã và tiếp tục bị đặt dấu hỏi. Người ta nghi ngờ. Người ta lo ngại. Và người ta hành động. Chưa bao giờ mà khu vực châu Á-Thái Bình Dương trở nên sôi sùng sục cuộc chiến chạy đua vũ trang bằng lúc này, với cường độ mạnh nhất kể từ sau Chiến tranh lạnh, trong nỗ lực cân bằng quyền lực quân sự. Súng ống bắt đầu khua động. Với Mỹ, họ đã thay đổi quan điểm 180o, bằng một chính sách tiếp cận mới đối với châu Á-Thái Bình Dương, trái với tuyên bố ban đầu khi mới nhậm chức tổng thống của Barack Obama rằng, Mỹ tôn trọng quyền “tự xử” của các nước châu Á và không can thiệp các cuộc tranh chấp chủ quyền. Mỹ bắt đầu thiết kế chương trình cho “phiên bản châu Á kiểu Obama”, như một cách khẳng định lại lời nhắc nhở của cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu tại cuộc hội đàm Nhà trắng cuối năm 2009, rằng: “Nếu không đặt chân vào Thái Bình Dương, các anh không thể được xem là lãnh đạo thế giới” (2). Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James Steinberg bắt đầu lên tiếng: “Chúng tôi đã thật sự nhận thấy điều này – vai trò chúng tôi tại Đông Á – sẽ là tối quan trọng đối với tương lai chúng tôi”. Vậy là chuyến kinh lý đầu tiên của Hillary Clinton với tư cách ngoại trưởng là đến Đông Nam Á. Sự trở lại của Mỹ có thể thấy rất rõ ở sân khấu ngoại giao. Tại cuộc họp thượng đỉnh ASEAN (ngày 7 và 8-5-2011) ở Jakarta, Mỹ đã lần đầu tiên cho “chào sân” vị đại sứ ASEAN Hoa Kỳ đầu tiên, David Lee Carden (Tổng thống Obama thành lập Văn phòng đại sứ ASEAN Hoa Kỳ vào tháng 11-2010). Trước đó, sau cuộc họp giữa Ngoại trưởng Hillary Clinton với đồng cấp các nước hạ Mekong (Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam) tổ chức tại Phuket ngày 23-7-2009, Washington cũng giúp thành lập Sáng kiến hạ Mekong – động thái mà báo chí Trung Quốc diễn giải là một phương án tiếp cận của Mỹ nhằm mục đích can thiệp sâu nội bộ khu vực để Đông Nam Á giảm bớt ảnh hưởng Trung Quốc…
Viết trên Wall Street Journal (3), Daniel Blumenthal (nguyên viên chức Phòng an ninh quốc tế thuộc Bộ quốc phòng Mỹ) nói thẳng rằng Trung Quốc không hề chơi đúng luật đối với vấn đề Biển Đông, bằng thái độ “bắt nạt” nước nhỏ, và “Washington đang đặt dấu chấm hết cho chiến lược chia cắt-chinh phục của Trung Quốc tại Đông Nam Á”; khi “Mỹ không thể nói Trung Quốc hành xử có trách nhiệm khi để những vụ quấy nhiễu Việt Nam xảy ra mà không lên tiếng”. Rõ ràng, chuyển động phản ngược với tinh thần “hòa hài thế giới” của Trung Quốc đã, một phần, gián tiếp mở cửa đưa Mỹ trở lại khu vực, sau một thập niên chính sách ngoại giao bỏ ngỏ châu Á của George W. Bush bởi chiến lược sai lầm trong việc nhận dạng bạn-thù trong cuộc chiến chống khủng bố. Nước Mỹ của Obama bắt đầu nói nhiều đến vai trò Trung Quốc hơn, có khi chẳng bằng ngôn ngữ đẩy đưa mà huỵch toẹt hẳn, rằng Trung Quốc đã là cường quốc thì cần phải hành xử cho ra tư cách đàng hoàng, rằng vấn đề Biển Đông cần phải được giải quyết trên tinh thần đàm phán chứ không phải đe nẹt, rằng Mỹ cực lực phản đối sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực tại Biển Đông – như tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 31-5-2011 trước câu trả lời của phóng viên TTXVN tại Mỹ về sự kiện tàu hải giám Trung Quốc đột nhập hải phận Việt Nam và làm “nhiệm vụ” cắt cáp tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam.
Song song hiện diện ngoại giao, Mỹ cũng bắt đầu tăng cường quân sự tại Thái Bình Dương. Các cuộc tập trận giữa Mỹ với Hàn Quốc, Nhật, Malaysia… rộn rịp tiến hành vài năm gần đây (có khi vài tháng một vụ) hẳn nhiên không phải là những cuộc lau chùi để súng ống khỏi han gỉ. Vài cuộc tập trận còn được bắn đạn thật để anh em binh sĩ lên tinh thần! Dấu hiệu tăng cường khả năng tác chiến của lực lượng Hạm đội 7 Hoa Kỳ ngày một đậm đặc. Tướng tư lệnh trưởng Hạm đội 7 Scott Van Buskirk thậm chí có lúc đã “tế nhị” gửi một “tin nhắn” đến Bắc Kinh qua “tổng đài” (hãng tin) AP, khi “tiết lộ” kế hoạch trang bị dàn máy bay không người lái chuyên dụng cho mẫu hạm hoạt động ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương (4). Cần biết, Hạm đội 7, với “siêu hàng không mẫu hạm” (super carrier) USS George Washington (từng cập gần cảng Đà Nẵng và đón phái đoàn viên chức Việt Nam tham quan tháng 8-2010), là hạm đội mạnh nhất hải quân Mỹ. Luôn đi cùng USS George Washington là khoảng 60 tàu chiến, 80 chiến đấu cơ và lực lượng thủy thủ-binh sĩ chừng 4.000 người…
PLA đã đủ mạnh để quét sạch Mỹ khỏi Biển Đông?
“Với chiến thuật hải quân đang thay đổi, chúng ta sẽ đi từ việc bảo vệ bờ biển (“duyên hải phòng ngự”) chuyển sang bảo vệ vùng biển xa (“viễn dương phòng ngự”)” – tướng Trương Hoa Thần, hạm đội phó hạm đội Đông Hải, nói với Tân Hoa Xã vào năm 2010 (5). Tháng 4-2010, hạm đội Đông Hải – binh đoàn hải quân chịu trách nhiệm bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc tại Biển Đông – đã tổ chức tập trận rầm rộ, với tổng cộng 10 tàu chiến và tàu ngầm trong đó có khu trục hạm được trang bị tên lửa Sovremenny. Đông Hải đã làm dậy sóng Biển Đông với màn tập trận trên diện rộng từ khu vực Nam Trung Quốc đến quần đảo Okinawa và eo Miyako rồi ra ngoài khơi quần đảo Okinotori (điểm cực Nam của Nhật). Cuộc diễu võ của hạm đội Đông Hải là một sự cụ thể hóa chiến lược ba bước của hải quân PLA, như được nêu trong Sách trắng 2008 (“Trung Quốc quốc phòng bạch bì thư”). Đó là: 1/ Phát triển lực lượng hải quân hiện đại có khả năng hoạt động trong phạm vi chuỗi đảo thứ nhất (第一岛链, đệ nhất đảo liên), tức dãy đảo kéo dài từ bán đảo Triều Tiên, quần đảo Kuril (Nga), Nhật đến Đài Loan rồi Philippines; 2/ Phát triển lực lượng hải quân ở tầm khu vực có thể hoạt động vượt khỏi chuỗi đảo thứ nhất để vào hải phận “đệ nhị đảo liên” gồm Guam, Indonesia và Úc; và bước 3 là phát triển lực lượng hải quân rộng khắp toàn cầu vào giữa thế kỷ 21.
Tuy nhiên, cái gọi là bức tường “đệ nhất đảo liên” của Trung Quốc, theo cách nói của James Holmes và Toshi Yoshihara thuộc Đại học chiến tranh hải quân Hoa Kỳ, thật ra chẳng khác gì một “Vạn Lý Trường Thành lộn ngược”, bởi chuỗi dài các nước đồng minh Mỹ trong khu vực (Nhật, Hàn Quốc, Úc, Philippines…) đã trở thành một thứ tháp canh giám sát và khi cần có thể chặn đứng ngõ vào Thái Bình Dương của Trung Quốc (6). Và một trong những điểm canh chắc chắn nhất của Mỹ không thể không đề cập là Đài Loan, như tướng Mỹ Douglas MacArthur từng nhận định: “Đài Loan là một hàng không mẫu hạm không thể bị đánh chìm”. Ngoài ra, “chốt biên phòng” cực kỳ quan trọng đối với Mỹ còn là Guam, nơi cách Bắc Triều Tiên bốn giờ bay và cách Đài Loan hai ngày hải hành. Căn cứ không quân Andersen của Mỹ tại Guam hiện là đồn tiền trạm chỉ huy quan trọng bậc nhất đối với tất cả chiến dịch động binh của Mỹ tại bất kỳ nơi nào thế giới. Với 100.000 quả bom và tên lửa cùng kho xăng 249,8 triệu lít nhiên liệu phản lực, Guam là trạm tiếp nhiên liệu chiến lược lớn nhất của không quân Mỹ. Những hàng dài vận tải cơ C-17 Globemaster và chiến đấu cơ F/A-18 Hornet luôn đậu kín các đường băng Guam. Guam cũng là nơi đồn trú của hạm đội tàu ngầm Mỹ và đang được mở rộng để thành một căn cứ hải quân. Tính toàn cầu, Mỹ hiện có hơn 1.000 căn cứ quân sự đặt tại hơn 46 quốc gia, từ châu Âu, châu Phi đến châu Á (7), từ đất liền đến biển xa…
Giới tình báo quân sự Trung Quốc hẳn còn biết nhiều hơn về sức mạnh quân sự Hoa Kỳ so với những gì báo chí biết được (8). Việc có thể hạ gục Mỹ hay không, ít nhất ở thời điểm này, trong bất kỳ cuộc chiến qui ước nào, từ hải chiến, không chiến đến địa chiến, họ hẳn hiểu rõ hơn ai hết, nếu không kể các “chiến lược gia” diều hâu quá khích mắc phải chứng hoang tưởng đặc biệt trầm trọng!
M. K.
Chú thích:
(1) A special report on China’s place in the world, The Economist (2-12-2010)
(2) U.S. is reaching out to East Asia’s powerful nations, John Pomfret, Washington Post (7-11-2009)
(3) The U.S. Stands Up to China’s Bullying, Daniel Blumenthal, Wall Street Journal (27-7-2010)
(4) US Navy drones: Coming to a carrier near China?, Eric Talmadge, AP (16-5-2011)
(5) PLAN East Sea Fleet Moves Beyond First Island Chain, Russell Hsiao, China Brief (29-4-2010)
(6) The Geography of Chinese Power, Robert Kaplan, Foreign Affairs (May/June 2010)
(7) Bring War Dollars Home by Closing Down Bases, Christine Ahn và Sukjong Hong, Foreign Policy In Focus (31-3-2011)
(8) Để biết thêm về nội lực thật sự của quân đội Trung Quốc, xin xem lại hồ sơ thực lực sức mạnh quân sự Trung Quốc dài 5 kỳ, khởi đăng trên Năng Lượng Mới từ ngày 21-3-2011; hoặc xem website Anh Ba Sam hay Dan Luan.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.