Bài “Tái ngộ Mỹ-Việt” của Xavier Monthéard, được đăng trên nguyệt san
Le Monde Diplomatique, tháng Sáu 2011, đã bị kiểm duyệt tại Việt Nam.
RFI xin giới thiệu bản dịch.
36 năm sau chiến tranh: Tái ngộ Mỹ – Việt
Bản báo cáo bí mật mang tựa đề ‘‘Quan hệ Mỹ-Việt, 1945 – 1967’’,
vốn tiết lộ những lời giả dối của chính quyền Mỹ trong việc đưa quân
tham chiến Việt Nam, vừa được giải mật để cho công chúng được quyền tham
khảo. Về phía mình, chính quyền Hà Nội đã lật qua trang sử. Hơn thế
nữa, mùa hè vừa qua, các cuộc tập trận hỗn hợp Mỹ-Việt diễn ra ngay tại
nơi mà những người lính GI đầu tiên đã đổ bộ cách đây hơn 40 năm…
* *
Bán đảo Cam Ranh, ở miền trung Việt Nam (*). Trời gió lộng làm nhấp
nhô cụm sóng trên biển « Hoa Nam » mà người Việt gọi là « Biển Đông ».
Bị thu hẹp bởi hàng rào kẽm gai, một con đường ngoằn ngoèo dẫn đến căn
cứ hải không quân mà quân đội Hoa Kỳ đã dựng lên trong thời chiến tranh
Việt Nam. Các đồn lính cũ kỹ, tựa như một lớp áo, được khoác lên mảnh
đất khô cằn trơ trụi. Binh lính và nhân viên hải quan thơ thẩn qua lại.
Bến cảng quân sự không tiếp đón khách thăm viếng, mà họ có đến thì để
làm gì ? Từ nhiều năm qua, hoạt động ở vịnh Cam Ranh diễn ra chầm chậm.
Tháng 10 năm 2010, Cam Ranh như thể bừng tĩnh sau giấc ngủ uể oải :
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố mở cảng Cam Ranh để tiếp đón tàu
thuyền của tất cả các nước. Hoa Kỳ là ứng viên. Kể từ năm 2003, khoảng
một chục chiến hạm Mỹ đã ghé vào các cảng của quốc gia cựu thù. Lần này,
những người lính của Chú Sam, không vũ khí cũng như không hành trang,
đã thực sự trở lại xứ sở của Bác Hồ – với tư các là thượng khách. Mọi
chuyện diễn ra như thể những năm tháng chiến tranh, do 5 vị chủ nhân Nhà
Trắng (1) liên tục tiến hành không còn nằm trong ký ức Việt Nam. 20 năm
xung đột khốc liệt, ghê rợn kết thúc vào tháng Tư năm 1975 với việc
chiếm được Sài Gòn, như thể bị lãng quên, người ta dường như cũng quên
cả thái độ sau đó của chàng khổng lồ bị làm nhục, quyết tâm phong toả
viện trợ quốc tế đối với một chú lùn đã đánh bại mình và cấm vận thương
mại đã được duy trì cho đến năm 1994.
Khu trục hạm « USS John S. McCain » ghé cảng Đà Nẵng
Vào tháng 8 năm 2010, cuộc đối thoại quốc phòng Mỹ-Việt đầu tiên diễn
ra tại Hà Nội. Trong cùng tháng, ở ngoài khơi Đà Nẵng – ngay tại nơi mà
những người lính Mỹ đầu tiên đổ bộ vào năm 1965 – các sĩ quan cao cấp
của Việt Nam ra biển tham quan tàu Mỹ USS George Washington, biểu tượng
hàng đầu của hạm đội Bẩy và là một trong 11 hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ.
Trong khi đó, khu trục hạm USS John S. McCain thì thả neo ở Đà Nẵng. Tại
Hà Nội, tên của ông John McCain, ứng viên đảng Cộng Hoà ra tranh cử
tổng thống Mỹ năm 2008, không còn làm chói tai. Nguyên là phi công oanh
tạc cơ, và như vậy bị xem như là ‘‘một tội phạm chiến tranh’’, theo như
lời ông nói sau nay, ông John McCain đã bị cầm tù trong vòng 5 năm rưỡi
tại Việt Nam. Được trao tặng huân chương chiến công vì những nỗi thống
khổ phải chịu đựng trong lúc bị bắt, ông trở thành một vị anh hùng đối
với một bộ phận công luận Mỹ.
Tính chính đáng này đã giúp cho ông John McCain thuyết phục được phe
bảo thủ, giúp cho tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton tuyên bố bình
thường hoá quan hệ giữa hai nước. Không thù oán, phía Việt Nam quan tâm
đến giai đoạn sự nghiệp sau này của ông McCain. Và các bức ảnh chụp tổng
thống Bill Clinton nhân chuyến viếng thăm Việt Nam lần đầu tiên vẫn
được treo tại cửa hàng bán thức ăn nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh…Còn
giờ đây, vợ của vị tổng thống này, bà Ngoại trưởng Hillary Clinton thì
hoan nghênh về chặng đường mà hai nước đã trải qua: « Thay vì là cựu
thù, chúng ta đã biết coi nhau như là những đối tác, đồng nghiệp và bạn
hữu. Chính quyền Obama sẵn sàng nâng quan hệ Mỹ-Việt lên một tầm mức cao
hơn (2) ».
Nhìn từ phía Hà Nội, việc xích lại gần Hoa Kỳ trước hết là theo logic
kinh tế. Từ khi hiệp định thương mại song phương có hiệu lực vào năm
2001, trao đổi mậu dịch giữa hai nước gia tăng đều đặn. Vào năm 2000,
trao đổi thương mại ở mức 1 tỷ đô la, đến năm 2010, thì đã lên đến 18,3
tỷ đô la. Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam, bà Jocelyn Trần,
nhắm tới mục tiêu 35 tỷ đô la từ đây cho đến năm 2020 (3). Cán cân
thương mại nghiêng hẳn về phía Hà Nội, các xuất khẩu sang Hoa Kỳ, – chủ
yếu là hàng may mặc và giầy dép – mang về cho Việt Nam 14,8 tỷ đô la năm
2010, tương đương hơn một phần năm tổng thu nhập từ bên ngoài.
Mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với Washington giúp cho Việt Nam hội
nhập vào hệ thống thương mại quốc tế. Vào năm 2007, Việt Nam trở thành
thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Từ đó trở đi,
mức bình quân thu nhập hàng năm tính theo đầu người vượt qua ngưỡng một
ngàn đô la. Theo cách tính của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được xếp vào
danh sách các quốc gia có mức thu nhập trung bình.
Cái giá phải trả của sự khởi đầu phồn thịnh này là cần phải lật qua
trang sử với 3 triệu người chết trong chiến tranh, các khu vực đất đai
bị tàn phá, các gia đình bị tan nát. Để làm việc này, cần phải suy nghĩ
kỹ và viết lại ký ức. Theo nhà sử học Wynn W. Gadkar-Wilcox, « Sau năm
1990, các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu giảm nhẹ tầm quan trọng của
thời kỳ 1954-1975, trong quan hệ với Mỹ, và ưu tiên đề cập đến giai đoạn
1941-1945. Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ đã hợp tác với Việt Minh, và
nhiều thành viên của cơ quan tình báo OSS (Office of Strategic Services,
tiền thân của CIA) đã có quan hệ gắn bó cá nhân với ông Hồ Chí Minh.
(…) Dựa vào các tập nghiên cứu của ông Robert Hopkins, mang tựa đề Hoa
Kỳ và Việt Nam, 1787-1941, chuyên gia Phạm Xanh đã nhấn mạnh đến sự quan
tâm của tổng thống Mỹ Thomas Jefferson (1801-1809) đối với các vụ lúa
tại miền nam Việt Nam, cũng như nhiều cuộc thám hiểm mà Mỹ đã thực hiện
tại Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XIX (4). »
Một nửa dân số Việt Nam dưới 26 tuổi. Quá khứ chiến tranh đối với họ
rất xa vời và hình ảnh của Hoa Kỳ tạo trong tâm trí của họ niềm say mê.
Sức quyến rũ đó không chỉ xuất phát từ đồng đô la xanh, mà còn nảy sinh
từ « Giấc mơ kiểu Mỹ »: ai cũng có thể làm giàu nếu chịu khó và quyết
tâm làm việc. 13 ngàn du học sinh – một kỷ lục đối với các nước Đông Nam
Á – đã ghi tên vào một trường đại học ở phía bên kia bờ Thái Bình
Dương.
Thỏa thuận đang thai nghén trong lĩnh vực hạt nhân dân sự
Miền nam Việt Nam, do lịch sử, rất sẵn sàng đón tiếp các đầu tư bằng
đô la. Việc tập đoàn khổng lồ Intel chuyên sản xuất mạch vi xử lý đặt
một nhà máy ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh (trước kia là Sài Gòn) có
giá trị biểu tượng : đó là cơ sở lắp ráp và kiểm tra lớn nhất của tập
đoàn này trên thế giới, với tổng đầu tư ước tính 1 tỷ đô la. Trên một
blog của website thuộc doanh nghiệp này, ngay từ tháng 9 năm 2009, người
ta có thể đọc thấy hàng chữ « We are back in Saigon ! » (« Chúng tôi
trở lại Sài Gòn »)…
Mối diễm tình này không có nghĩa là không còn một vài tỵ hiềm, bởi vì
Hoa Kỳ ngay lập tức đã tự coi mình là những người bảo vệ nhân quyền.
Trong năm 2010, 80 người đã bị bắt – trong số này 14 người bị kết án –
vì đã bày tỏ quan điểm trái ngược với đường lối của đảng Cộng sản. Nhiều
nhà báo và viết blog nằm trong số này. Trong một cuộc họp báo được tổ
chức tại Hà Nội, ngày 10/12/2010, đại sứ Mỹ Michael W. Michalak đã nhẹ
nhàng tuyên bố « rất tiếc, trong ba năm nhiệm kỳ của tôi, những tiến bộ
trong lĩnh vực nhân quyền còn không đồng đều ».
Ở mặt đối lập, kỷ niệm sống động về sự dính líu của các tổ chức Mỹ
trong các « cuộc cách mạng mầu » tại Đông Âu, nuôi dưỡng sự nghi kỵ.
Phải chăng chính quyền Mỹ sẽ không khuyến khích một kịch bản « diễn biến
hòa bình », mà đối với Hà Nội, đồng nghĩa với ý đồ gạt bỏ chế độ và bản
sắc văn hóa Việt Nam ?
Thế nhưng, những đụng chạm này chỉ là một sự phản ánh nhạt nhòa những
thù hận trong quá khứ. Thậm chí, năm 2011 có thể sẽ chứng kiến hai nước
thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Một thỏa thuận hợp tác trong lĩnh
vực hạt nhân dân sự đang được hoàn tất. Bản thỏa thuận liên quan đến
việc chuyển giao công nghệ và phát triển các cơ sở hạ tầng, mở cửa cho
các doanh nghiệp Mỹ tiếp cận với một thị trường hứa hẹn : Việt Nam mong
muốn xây dựng 13 nhà máy điện hạt nhân, với tổng công suất là 16 000 MW,
trong 20 năm tới. Các điều khoản của bản thỏa thuận không cấm việc làm
giàu uranium – cho phép, về mặt lý thuyết, thực hiện một chương trình
hạt nhân quân sự – trong khi Hoa Kỳ thường xuyên gây sức ép buộc các
nước khác từ bỏ quyền được làm giàu uranium như vậy. Nhiều nhà bình luận
đã so sánh các điều khoản này, có lợi cho Việt Nam, với các điều khoản
của bản thỏa thuận Ấn Độ – Hoa Kỳ về hạt nhân năm 2007 (5).
Tuy nhiên, ông Brahma Chellaney (6), giám đốc Trung tâm Nghiên cứu
Chính trị New Delhi cũng giảm thiểu những điểm đồng nhau này : « Do Ấn
Độ không phải là thành viên hiệp ước không phổ biến hạt nhân (TNP), nước
này phải chịu nhiều hạn chế đặc biệt chiếu theo luật lệ của Mỹ. Do vậy,
chính phủ Mỹ cần phải có được một sự miễn trừ đặc biệt từ phía Quốc
hội. Trong trường hợp của Việt Nam, nước ký kết TNP, một sự đòi hỏi như
vậy không cần thiết. Vả lại, vì Ấn Độ là một quốc gia có vũ khí nguyên
tử, thỏa thuận song phương cần phải được xây dựng một cách chuyên biệt. »
Như vậy, hai thỏa thuận này gần giống nhau là do mục đích của chúng
chứ không phải do bản chất. Ông Chellaney thẩm định : « Hoa Kỳ sử dụng
các thỏa thuận hạt nhân ký với Ấn Độ và Việt Nam như một công cụ chiến
lược để xây dựng một sự hợp tác thân thiết ». Do đó, Việt Nam chắc chắn
sẽ có được một thỏa thuận tốt nhất trong nhóm « các quốc gia hạt nhân
trỗi dậy », đó là những nước vừa mới bắt đầu thực hiện một chương trình
hạt nhân dân sự. Ngược lại với trường hợp Tiểu vương quốc Ả Rập Thống
nhất, ví dụ thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
năm 2009 ghi rõ Tiểu vương quốc này từ bỏ quyền làm giàu uranium trên
lãnh thổ của mình. Phải chăng « nhất bên trọng, nhất bên khinh ? » Khi
còn là phát ngôn viên bộ Ngoại giao, ông Philip J.Crowley đành phải nói
rằng « Hoa Kỳ đàm phán những hiệp định như vậy theo từng trường hợp, đối
với từng nước, từng vùng (7) ».
« Một hoàn cảnh mong manh như vỏ trứng »
Đối với Washington, việc củng cố các quan hệ quân sự và hợp tác hạt
nhân có một mục tiêu : đó là duy trì sự ưu thế của Mỹ tại Thái Bình
Dương. Do vậy, trong năm 2010, Hoa Kỳ đã bán 6 tỷ đô la thiết bị quân sự
cho Đài Loan ; thông báo nối lại mối quan hệ với lực lượng đặc biệt
Indonesia (Kopassus), cho dù lực lượng này có dính líu đến những vụ tàn
sát ở Timor, Aceh và Papua ; bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Đông và
coi đây là lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, theo lời bà Ngoại trưởng
Clinton ; tiến hành các hoạt động quân sự chung với Hàn Quốc ở Hoàng Hải
; khi xẩy ra va chạm tại vùng quần đảo Điều Ngư/Senkaku mà Trung Quốc
và Nhật Bản đều coi thuộc chủ quyền của mình, Hoa Kỳ đã nhắc lại rằng
Nhật Bản sẽ được hậu thuẫn nếu cần thiết, theo tinh thần hiệp ước phòng
thủ chung.
Đa số các biện pháp này, nếu không nói là tất cả, đều nhằm đối phó
với sự lớn mạnh của Trung Quốc : sự bật dậy của đế chế Trung Hoa tất
đương nhiên dẫn đến việc Hoa Kỳ nâng cao giá trị chiến lược của các quốc
gia láng giềng với Trung Quốc. Tạp chí Mỹ về Quốc phòng 2010, bốn năm
ra một lần (US Quadrennial Defense Review 2010) nói đến Indonesia,
Malaysia và Việt Nam như là những đối tác tiềm tàng trong lĩnh vực an
ninh. Ông Kurt Campbell, trợ lý Ngọai trưởng phụ trách Đông Á và Thái
Bình Dương còn nói rõ hơn : « Khi nhìn vào tất cả những quốc gia bạn bè
của chúng ta ở Đông Nam Á, tôi nghĩ rằng chính với Việt Nam mà chúng ta
sẽ có những triển vọng tốt đẹp nhất » (8). Đối với cường quốc Hoa Kỳ,
lại một lần nữa, đất nước này là một con tốt cần thiết, nhưng lần này,
không phải để chống chủ nghĩa cộng sản, mà chống lại cái gọi là chủ
nghĩa bành trướng Trung Quốc.
Mối ám ảnh này có được sự đồng thanh. Từ nhiều thế kỷ qua, Việt Nam
xoay trong quỹ đạo của đế chế Trung Hoa đồng thời tìm cách thoát ra khỏi
sức hút của nó. Sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam vẫn còn rất lớn –
nhập khẩu từ láng giềng phương Bắc chiếm một tỷ lệ cực kỳ cao. Do vậy,
ông Carlyle Thayer, giáo sư danh dự tại đại học Souh New Wales,
Canberra, chuyên gia về Việt Nam, đánh giá rằng « không một nước nào có
thể tự tin và có ảnh hưởng như Trung Quốc trong quan hệ với Hà Nội (9)
». Về cơ bản, ngoại giao Việt Nam tìm cách hòa thuận với càng nhiều nước
càng tốt để thoát ra khỏi Bắc Kinh, nhưng đồng thời lại muốn duy trì
quan hệ ưu tiên với nước láng giềng lớn – đây là mối bận tâm mà ngoại
giao Việt Nam chia sẻ với nhiều nước Đông Nam Á. Cựu đại sứ Đinh Hoàng
Thắng không coi nhẹ những khó khăn : « Nếu Việt Nam có thể thuyết phục
được Trung Quốc rằng việc cải thiện quan hệ Mỹ-Việt sẽ không ảnh hưởng
đến các quyền lợi của nựớc thứ ba, thì đó sẽ là một thành công lớn (10)
».
Công việc này cũng không phải là dễ dàng đối với Mỹ. Ông Brantly
Womack, giáo sư Quan hệ Quốc tế tại đại học Virginia Hoa Kỳ (11) nhắc
lại rằng « sự xa cách giữa Hoa Kỳ và châu Á và mối quan hệ song song của
Mỹ vừa với Trung Quốc vừa với Việt Nam tiếp tục làm biến dạng sự hiểu
biết về mối quan hệ song phương này ». Phía Trung Quốc cũng đưa ra những
mệnh lệnh đôi khi mạnh mẽ : « Việt Nam phải hiểu rằng, bị kẹp giữa hai
cường quốc, họ đang chơi một trò chơi nguy hiểm, với hoàn cảnh vừa bấp
bênh vừa mong manh như vỏ trứng », người ta có thể đọc thấy những dòng
này trên Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung
Quốc (…) « Nếu Trung Quốc và Việt Nam thực sự dẫn đến đối đầu quân sự
với nhau, thì không có một tàu chở sân bay nào, của bất kỳ một nước nào,
có thể bảo đảm an ninh cho Việt Nam ».(12)
Một cuộc tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông liên quan đến quần đảo
Hoàng Sa – Paracels và Trường Sa – Spratleys đã tích tụ vào cuối thế kỷ
XX (13). Cho dù vừa qua đã củng cố hạm đội của mình, Hà Nội không thể
tranh đua với hải quân Trung Quốc. Do vậy, theo phân tích của ông
Richard Bitzinger, chuyên gia về các vấn đề quốc phòng tại châu Á-Thái
Bình Dương, « Việt Nam muốn thấy có nhiều quốc gia hơn nữa can thiệp vào
Biển Đông. Đối với Việt Nam, đây sẽ là một sự bảo vệ. Việt Nam cũng
muốn nhận được sự hỗ trợ để mở rộng và hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng
của cảng trong vịnh Cam Ranh. Tôi nghĩ rằng hải quân Mỹ sẽ tranh thủ vị
trí chiến lược này, hải quân các nước khác cũng sẽ làm như vậy – đương
nhiên, chỉ có hải quân Trung Quốc là sẽ vắng mặt !»
Cuộc xung đột 1979 với Bắc Kinh bị bỏ qua
Liệu một ngày nào đó, người ta sẽ thấy Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam chống
lại đế chế Trung Hoa ? Quả sẽ là trớ trêu quá mức, nếu như người ta nhớ
lại rằng sau khi tuyên bố độc lập ngày 2/09/1945, Trung Quốc của Mao
Trạch Đông là nước đầu tiên công nhận nền dân chủ cộng hòa non trẻ này,
vào tháng Giêng năm 1950, trước Liên Xô khoảng 12 ngày… Giữ cân bằng
giữa hai nước bảo trợ cộng sản, mà 2 nước này sau đó lại trở thành đối
thủ của nhau, là một phương trình mà Hồ Chí Minh và những người kế tục
ông đã giải quyết thành công trong 25 năm. Viện trợ của Liên Xô đã biến
mất khi chiến tranh lạnh kết thúc. Cuộc xung đột công khai giữa Việt Nam
và Trung Quốc vào cuối những năm 1970, đã trở thành vấn đề húy kỵ nhất
trong chính sách đối ngoại. Hơn 30 năm sau khi xẩy ra cuộc xung đột, vẫn
không thể nào nói đến cuộc chiến tranh ngắn ngủi trong tháng Hai tháng
Ba năm 1979 đã làm hàng chục ngàn người thiệt mạng. Báo chí cũng như
sách giáo khoa không nói đến cuộc chiến tranh này. Về mặt chính thức,
tất cả mọi việc đều tốt đẹp với Bắc Kinh.
Lịch sử đã cho thấy những nguy hiểm đối với Việt Nam khi nước này rơi
vào những tính toán địa-chính trị của những siêu cường láng giềng. Ỏ Hà
Nội, liệu có ai sẽ quên điều này ? Nhà ngoại giao Hoàng Anh Tuấn vừa
nhắc lại rằng Việt Nam « là nước duy nhất trên thế giới đã tiến hành
những cuộc đàm phán dồn dập và kéo dài với Hoa Kỳ (…) Cho dù lòng tin và
sự hiểu biết lẫn nhau đã có những tiến triển đáng kể, nhưng không có gì
bảo đảm là những hiểu nhầm chiến lược lại không xuất hiện (…) Do vậy,
quan hệ song phương chỉ có thể được thiết lập một cách bền vững trên cơ
sở bình đẳng nếu như mối bang giao này được xây dựng nhằm phục vụ các
lợi ích quốc gia của Việt Nam cũng như của Hoa Kỳ, chứ không chỉ nhằm
phục vụ các lợi ích địa – chính trị của một bên.(14) ». Hiện nay, có
nhiều điềm tốt. Thế nhưng « sự hung dữ của vị trí địa lý (15) » có thể
vẫn chưa thôi định hướng số phận quốc gia Việt Nam.
* *
Chú thích
(*) Trong bài, tác giả viết là Cam Ranh ở miền nam Việt Nam
(1) Dwight Eisenhower (giữa 1954 và 1961), John F. Kennedy
(1961-1963), Lyndon B. Johnson (1963-1969), Richard Nixon (1969-1974) et
Gerald Ford (giữa 08/1974 và 04/1975).
(2) Diễn văn đọc tại Hà Nội, ngày 21/07/2010 bên lề cuộc gặp lần thứ 43 cấp Ngoại trưởng Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN.
(3) Báo Tuổi Trẻ, Hà Nội, 20/12/2010.
(4) Wynn W. Gadkar-Wilcox, « Mối quan hệ không rõ ràng : Những ấn
tượng về Hoa Kỳ trong giảng dậy lịch sử tại Việt Nam 1989 – 2009 – An
ambiguous relationship : Impressions of the United States in Vietnamese
historical scholarship, 1986-2009 », World History Connected, tập 7, n°
3, Washington, DC, 10/2010.
(5) Đọc Siddharth Varadarajan, « Ấn Độ khao khát được thừa nhận », Le Monde diplomatique, 11/ 2008.
(6) Tác giả của cuốn « Sức mạnh châu Á: Sự vươn lên của Trung
Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản », HarperCollins, New York, 2006. Ngoại trừ có
chỉ dẫn ngược lại, tất cả những trích dẫn của các nhà phân tích đều xuất
phát từ các cuộc trao đổi.
(7) Được trích dẫn trong bài của Daniel Ten Kate và Nicole
Gaouette, « Hoa Kỳ, Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán về công nghệ
hạt nhân như là những đối tác tranh giành hợp đồng », Bloomberg,
06/08/2010.
(8) Agence France-Presse, 07/2010.
(9) Carlyle Thayer, « Quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Hoa
Kỳ », hội thảo được tổ chức tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà
Nội, 10/12/2010.
(10) Phỏng vấn dành cho VietNamNet (ấn bản điện tử), 17/02/2010.
(11) Brantly Womack, « Hoa Kỳ và mối quan hệ Trung-Việt », The Asia-Pacific Journal: Japan Focus (ấn bản điện tử), 2008.
(12) Lý Hồng Mai, “Khuyên Việt Nam không nên đùa với lửa », Nhân dân nhật báo, Bắc Kinh, 17/08/2010.
(13) Trung Quốc dùng quân đội chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ
tháng Giêng 1974 nhưng Việt Nam và Đài Loan vẫn đòi hỏi chủ quyền của
mình ở đây. Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Đài Loan
chiếm đóng các đảo khác nhau trong quần đảo Trường Sa (Brunei có đòi hỏi
chủ quyền nhưng không đưa quân đội đến đây). Phân tích về các vấn đề
chính trị và tìm kiếm giải pháp, xem Stein Tønnesson, trong « Những thay
đổi sắp tới của Trung Quốc tại biển Hoa Nam », Harvard Asia Quarterly,
Cambridge (Massachusetts), 12/2010
(14) Hoàng Anh Tuấn, « Sự nhích lại gần nhau giữa Việt Nam và Hoa
Kỳ : Một câu trả lời », Contemporary Southeast Asia, tập. 32, n° 3,
Singapour, 2010.
(15) Carlyle Thayer, « Sự hung dữ của vị trí địa lý : Những chiến
lược của Việt Nam nhằm kiềm chế Trung Quốc tại biển Hoa Nam»,
International Studies Association, Montréal, 03/2011.
@rfi