Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

Đài Loan cảnh báo về lợi thế quân sự ngày càng gia tăng của TQ


Trung Quốc, với trên 1.000 phi đạn nhắm vào Đài Loan, loan báo chi tiêu quốc phòng 77 tỉ đôla hồi năm ngoái và, trong thực tế có thể là đã chi hơn 200 tỉ

Hình: REUTERS
Trung Quốc, với trên 1.000 phi đạn nhắm vào Đài Loan, loan báo chi tiêu quốc phòng 77 tỉ đôla hồi năm ngoái và, trong thực tế có thể là đã chi hơn 200 tỉ
Đài Loan cho biết họ kém xa trong cuộc chạy đua để bắt kịp khả năng quân sự bành trướng nhanh chóng của Trung Quốc.

Trong bạch thư phổ biến 2 năm một lần công bố hôm nay, Đài Loan cho biết Trung Quốc có khả năng mở một cuộc phong tỏa bằng hải quân quanh đảo Đài Loan và chiếm quyền kiểm soát những hòn đảo ngoài khơi của đảo quốc này.

Bạch thư nói rằng thế quân bình quyền lực dự kiến sẽ tiếp tục nghiêng về phía Trung Quốc trong những năm sắp tới.

Bạch thư cho biết Trung Quốc, với trên 1.000 phi đạn nhắm vào Đài Loan, đã loan báo chi tiêu quốc phòng 77 tỉ đôla hồi năm ngoái và trong thực tế có thể là hơn 200 tỉ.

So với ngân sách quốc phòng của Đài Loan chỉ có 9 tỉ đôla.

Bạch thư cũng ghi nhận Trung Quốc đã bắt đầu bố trí các phi đạn Đông Phong-21 là loại phi đạn được coi là mối đe dọa đối với các hang không mẫu hạm.

Tình trạng đó khiến cho Hoa Kỳ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc trợ giúp Đài Loan khi bị Trung Quốc tấn công.

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Những chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa Kỳ 26:
Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
 
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan. Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề  trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề Trung Quốc đã đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ giữa thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược “lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.
Ngày 26-5-1950 , chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Âu Lai tuyên bố sẽ “giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công nguyên tử Trung Quốc, nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp Định phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Ngoài bối cảnh “phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ VNDCCH –Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Thế rồi sang năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam . Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trong đó trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích “sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã “lồng ghép”  thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ, đơn giản chỉ là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc. Trong tình thế đó, có thể xem đây chỉ là những tuyên bố mang tính chính trị và ngoại giao chứ hoàn toàn không có ý nghĩa pháp lý.
Nội dung công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Nhất là trong hoàn cảnh ra đời của công hàm như đã nêu trên, công hàm 1958 có hai nội dung rất đơn giản và rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Tại hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam . Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. Hơn ai hết, Thủ tướng Phạm Văn Đồng hiểu rất rõ điều đó khi đưa ra công hàm 1958 nên đã không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc khi đó đã không tiện nói thẳng ra mà chỉ đơn giản khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế. Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục hành xử chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này.  Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

TT Phạm Văn Đồng và Pierre Mendès-France tại Genève tháng 7-1954
Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ, hòng đánh lận con đen trong tuyên bố của Chu Ân Lai liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, công hàm 1958 chỉ là sự thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc mà thôi. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do. Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng  phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nước Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo quy định của hiến pháp Việt Nam các thời kỳ và cũng phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc về quyền dân tộc tự quyết, theo đó tất cả các vấn đề liên quan tới độc lập dân tộc, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia phải được cơ quan đại diện cho quyền lực cao nhất của dân là Quốc Hội xem xét biểu quyết mới có giá trị pháp lý. Cho nên, các nhà nghiên cứu cho rằng công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xét về bối cảnh và trình tự thủ tục ban hành, đơn giản chỉ là một văn thư ngoại giao mang tính chính trị chứ không thể xem đó như là một công hàm có giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines . Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Nếu đặt giả thuyết VNDCCH và CHXHCN Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết “estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam .
Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine ”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua ”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.
Lúc đó hai nước VNDCCH và Trung Quốc có mối quan hệ rất đặc thù,  những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công hàm 1958 hoàn toàn nằm trong bối cảnh đặc thù và hết sức khó khăn của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Hơn nữa, theo luật pháp quốc tế, lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì. Thật vậy, công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc (tất nhiên phải hợp pháp theo các quy định của luật pháp quốc tế đương thời), và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.
Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Tòa án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí”, Tòa án Quốc tế xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào. Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thỏa ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Tòa sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc. Trong trường hợp này, VNDCCH và Trung Quốc không hề ký kết bất kỳ một hiệp ước nào có nội dung Việt Nam quyết định từ bỏ chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo này.
Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ “nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu “miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.
Nhóm PV Biển Đông
Chú thích ảnh:
Bức Công hàm ngày 14-9-1958 của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký.

Đài Trung Quốc nói về tranh chấp trên biển ĐÔng

http://www.youtube.com/watch?v=WgNMzJ6_52c&feature=player_embedded



Đông Nam Á: Ngọa hổ tàng long

Nguồn: http://carnegieendowment.org/2011/07/07/southeast-asia-crouching-tiger-or-hidden-dragon/2wcd

Nhắc đến châu Á, nhiều người nghĩ ngay đến Trung Hoa và Ấn Độ - những gã khổng lồ đang thống trị nền kinh tế thế giới. Nhưng Đông Nam Á, một tiểu vùng bao gồm 10 quốc gia, đang sống như một cái bóng của hai người hàng xóm khổng lồ, vẫn là một trung tâm kinh tế và thương mại lớn mạnh.
Đầu tiên, các quốc gia Đông Nam Á này - được bao bọc bởi nhiefu các thỏa thuận thương mại và chính trị - dường như vẫn không có ý nghĩa gì với nhau. Sau cùng, khu vực bao gồm một đất nước giàu có, vương quốc dầu mỏ (Brunei); một đất nước hậu xung đột xã hội (Campuchia); một nền kinh tế trung chuyển thịnh vượng (Singapore). Thêm vào đó, còn có một đất nước tự cung tự cấp dưới chế độ quân đội từ năm 1962 ( Miến Điện); một nước nghèo, bị khóa trong lục địa chỉ trông chờ vào thủy điện và khai khoáng (Lào); và một đất nước đông dân có tốc độ tăng trưởng kinh tế kình địch với Trung Hoa (Việt Nam), không nhắc đến 4 nền kinh tế đa dạng có mức thu nhập trung bình đang mong muốn vươn lên ngưỡng các nước phát triển (Indonesia, Malaysia, Philipines và Thái Lan). (1)
Tuy nhiên, các nước này chia sẻ vị trí chiến lược và khai thác tài nguyên thiên nhiên phong phú. Hơn thế, sự đa dạng và hội nhập cao nằm ở trung tâm của khu vực có tốc độc tăng trưởng cũng như phục hồi nhanh. Về chính trị, khu vực này mang lại một phần ổn định cho thế giới và đang nhanh chóng định hình lại sự cân bằng quyền lực toàn cầu. Kết quả là, nó tiếp tục phát triển, dù phụ thuộc vào việc đầu tư cơ sở hạ tầng và giáo dục, cũng như cải thiện môi trường kinh doan, một việc rất quan trọng với phần còn lại của thế giới.

Triển vọng kinh tế

Mười quốc gia Đông Nam Á có tổng GDP vào khoảng 1,9 ngàn tỷ USD (lớn hơn Ấn Độ); với dân sổ khoảng 600 triệu người (gần gấp đôi Hoa Kỳ); và với mức thu nhập đầu người gần bằng Trung Hoa. Suốt một thập kỷ qua, các quốc gia này có tốc độ tăng trưởng trung bình hơn 5% mỗi năm. Nếu Đông Nam Á là một quốc gia, nó sẽ là nền kinh tế lớn thứ 9 trên thế giới. Nó cũng sẽ phụ thuộc lớn vào thương mại, với tỷ trọng thương mại với GDP là hơn 150% và là nhà sản xuất hàng hóa và là một trong những nền kinh tế có hiệu quả của thế giới.

Trong những năm 1970, một số nước trong khu vực đã chỉ ra được những triển vọng trong nền kinh tế của họ. Singapore đã cho thấy một "con hổ châu Á" (cùng với Hàn Quốc, Hồng Công và Đài Loan), trong khi Indonesia, Malaysia, Philipines và Thái Lan là "những chú hổ con" đang ẩn mình. Cả năm quốc gia đã phát triển với tên gọi đó, cùng với Singapore giờ đây là một nền kinh tế có thu nhập cao cùng với 4 "chú hổ con" đều là những nền kinh tế có mức thu nhập trung bình. Thành viên cuối cùng của nhóm các nước có mức thu nhập trung bình của Đông Nam Á, Việt Nam, đã áp dụng mô hình kinh tế của Trung Hoa và gặt hái được sự bùng nổ tăng trưởng tương tự cũng như xóa đói giảm nghèo, cho dù đang ở giai đoạn tăng trưởng nóng.

Cho dù cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á những năm 1997-1998 làm chặn lại đà tăng trưởng nhan chóng của họ, những chú hổ con vẫn đạt được mức tăng trưởng ấn tượng trung bình 7% từ năm 2000. Và, mawcj dù chịu ảnh hưởng của cuộc Đại Suy thoái, những quốc gia có mức thu nhập trung bình đã phục hồi 1 cách ngoạn mục trong năm 2010. Thực tế, toàn bộ tiểu vùng đã có màn trình diễn ấn tượng, tăng trưởng ở mức 8%, như sự điều chỉnh chính sách nhanh chóng đã giúp vượt qua khủng hoảng một các nhẹ nhàng đồng thời cho phép phục hồi nhanh chóng dẫn đến thúc đẩy sự phục hồi toàn cầu lan rộng hơn.

Vị trí chiến lược, dư thừa tài nguyên

Một phần, sự thành công của Đông Nam Á mang nợ vị trí địa lý của mình. Các quốc gia này trấn giữ dọc eo biển Malacca, là kênh tàu biển bận rộn thứ 2 trên thế giới (sau Kênh đào Anh) và là tuyến đường có lưu lượng các tàu dầu đông thứ 2 (sau eo biển Homuz). Hơn một nửa tiềm lực các đội tàu thương mại của thế giới sử dụng kênh này mỗi năm, và việc đóng eo biển này có thể phá vỡ và thậm chí là thảm họa cho thương mại thế giới.

Các tuyến đường biển xung quanh eo biển.

Tiểu vùng này còn là khu vực có tài nguyên thiên nhiên phong phú, trữ lượng dầu mỏ dồi dào, nguồn thủy điện và địa nhiệt điện, khoáng sản đa dạng, gỗ, gạo, dầu cọ, coca và cà phê. Qua nhiều thế kỷ, các tài nguyên này đã thu hút nhiều thương nhân, thực dân và gần đây nhất là các nhà đầu tư. Tài nguyên này cũng thúc đẩy khu vực vào quá trình giao thương hàng hóa, đưa các quốc gia này thành một trong số những nước có tỷ trọng thương mại - GDP lớn nhất thế giới. (2)

Tài nguyên thiên nhiên dư thừa của Đông Nam Á cũng taoj bàn đạp cho việc công nghiệp hóa trong những năm 1970-1980, đặc biệt là với những "chú hổ con". Các quốc gia này áp dụng chính sách thiên về xuất khẩu của các quốc gia láng giềng đã thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, thúc đẩy thương mại, tài chính và đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nền kinh tế tiên tiến. Thêm vào đó, việc quản lý kinh tế vĩ mô, liên quan đến các hệ thống thương mại mở, lãi suất tiết kiệm cao cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh, nguồn lực lao động trẻ cho phép các mực độ đầu tư cao và sự tăng trưởng ổn định trong suốt 3 thập kỷ. Quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam bắt đầu chậm hơn, trong những năm 1990. Ngày này, tất cả những nền kinh tế này là một phần của mạng lưới sản xuất cạnh tranh cao và danh tiếng của Đông Á, cùng với Trung Hoa.

Tài nguyên thiên nhiên của Đông Nam Á cũng thúc đẩy ngành dịch vụ. Singapore trở thành cảng trung chuyển lớn nhất thế giới, củng cố chặt chẽ ngành giao vận, tài chính và dịch vụ thương mại. Trong khi ấy, bốn "chú hổ con" đã gây dựng được một ngành công nghiệp du lịch lớn mạnh, chiếm phần lớn lượng du khách nước ngoài vào Đông Nam Á (67 triệu du khách vào năm 2010, v]ợt xa Trung Hoa với 56 triệu du khách).
Gần đây nữa, các xu hướng dịch vụ mới đầy hứng thú đang lớn lên ở đây, với Singapore đang áp lực trở thành trung tâm sinh-hóa toàn cầu và Kuala Lumpur, thủ đô của Malaysia, đang thiết lập nó trở thành trung tâm tài chính hồi giáo toàn cầu.
Vai trò của ASIAN

Ngoài ra, cả mười nước Đông Nam Á này thuộc về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) một tổ chức khu vực đươc thành lập 45 năm, đã xúc tiến sự hội nhập kinh tế và hướng tới tạo ra một cộng đồng kinh tế -một thị trường duy nhất cho thực phẩm, dịch vụ, đầu tư và lao động có tay nghề - vào năm 2015. Trong khi nhiều nhà quan sát đặt câu hỏi về tính khả thi của mốc thời gian này, ASEAN đã đạt được các mức thuể quan thấm hơn và thiết lập khu vực mậu dịch tự do giữa các thành viên trong đó. Mỉa mai thay, thương mại trong ASEAN lại tăng trưởng thấp hơn ASEAN giao thương với Trung Hoa, một xu hướng thỏa thuận thương mại tự do giữa Trung Hoa và ASEAN, đã trở nên có hiệu lực từ đầu năm 2010, sẽ là trọng tâm.

Thậm chí còn có thể quan trọng hơn, ASEAN cũng đã đóng vai trò trụ cột ổn định trong cả khu vực và trên thế giới, xóa tan đi những chỉ trích của những dự đoán trước đó từ năm 1967 rằng khu vực này sẽ sớm tiêu vong. Kể từ đó, không có cuộc chiến tranh nào nổ ra giữa các thành viên, như là tổ chức có những xung đột trung gian. (3) Tổ chức này cũng đã làm việc để giải quyết tranh chấp trên quần đảo Trường Sa giàu tài nguyên, nơi có thể án ngữ đường vào Ấn Độ Dương của Hoa Kỳ cũng là nơi mà Trung Hoa, Đài Loan, Việt Nam, Philipines, Malaysia và Brunei đều tuyên bố chủ quyền.

Sự hữu dụng của nền kinh tế, chính trị ASEAN đã hấp dẫn các quốc gia khác. Năm 199, Trung Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc đã cùng thiết lập quan hệ với ASEAN thành ASEAN+3. Sự thành công trong việc mở rộng nhóm bao gồm một cơ chế mới cho việc cung cấp tính thanh khoản trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính (một hành động đáp ứng lại nhận thức cứng nhắc của IMF trong quá trình khủng hoảng tài chính tại Châu Á) và một sự đảm bảo cho việc thiết lập cơ sở dự trữ 720,000 tấn gạo cho khu vực sau cuộc khủng hoảng lương thực quốc tế năm 2011. Cả hai sự khởi đầu này là quan trọng trong việc xây dựng khối để nâng cao sự ổn định kinh tế trong khu vực. Và, với việc bao gồm Nhật Bản và Trung Hoa, ASEAN+3 đã giúp làm giảm bớt những căng thẳng giữa hai quốc gia này.

Khối ASEAN đang hứa hẹn có thêm các quốc gia thông qua Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS-East Asian Summit), lần đầu được tổ chức năm 2005 có sự tham gia của ASEAN+3 và các nước Úc, Ấn Độ, New Zealand. Nhóm này đã không thành công trong việc đưa ra các sáng kiến cụ thể, nhưng cả Hoa Kỳ và Nga đều đã vận động vất vả để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh vào tháng Mười tới đây, đây là bằng chứng về tiền năng của Khối đã được nhận thấy. Cá biệt, Hoa Kỳ khá quan tâm đến Đông Nam Á, với tiềm năng của mình giúp Hoa Kỳ duy trì đường vào Ấn Độ Dương và phục vụ như là đối trọng với Trung Hoa. Các lý do khác bao gồm vai trò của Hoa Kỳ như là nhà đầu tư cũng là thị trường nước ngoài lớn nhất của tiểu vùng và vai trò quan trọng của Indonesia trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu.(4)

Những thách thức

Tất nhiên, không có khu vực nào mà không có thách thức và rủi ro. Đối với Đông Nam Á, sự nổi lên của Trung Hoa trong hai thập kỷ tới như là nền kinh tế lớn nhất thế giới được cho là đặt ra một thách thức lớn nhất. Trong khi điều này mang lại một lượng lớn cơ hội, nó đồng thời cũng mang lại số lượng rủi ro quan trọng tương đương. Đối mặt với nền kinh tế, xã hội môi trường Trung Hoa và các thách thức quốc tế, Đông Nam Á chắc chắn sẽ phải chuẩn bị cho bất kỳ một sự bất ổn có thể nảy sinh. Quan trọng không kém, các nhà tạo lập chính sách Đông Nam Á nhìn nhận sự xâm chiếm khu vực của Trung Hoa như là một rủi ro an ninh có thể có - một lo ngại đã được nhấn mạnh bởi các sự cố gần đây ở quần đảo Trường Sa.

Sự phát triển kinh tế của các "chủ hổ con" cũng bộ lộ nhiều quan ngại khác. Trong nửa cuối thế kỷ, một số quốc gia đã có sự chuyển đổi từ thu nhập trung bình lên mức thu nhập cao dựa trên thế mạnh sản xuất và dịch vụ của họ. Họ phải di chuyển lên phía trên của chuỗi giá trị nhưng phải cạnh tranh với rất nhiều các yêu cầu khắt khe của các nền kinh tế tiên tiến- trình độ giáo dục cao và lực lượng lao động sáng tạo, một nền văn hóa xuất sắc, kỹ năng sáng nghiệp, tiếp cận tài chính và hạ tầng (đặc biệt cần ở Indonesia và Philipines) cùng với môi trường kinh doanh cạnh tranh. Những nền kinh tế thu nhập thấp của Đông Nam Á đang dần quan tâm đến những vấn đề này, nhưng công sức của họ sẽ cần nhiều nỗ lực và phối hợp hơn nếu muốn đạt được những kết quả thực sự.

Hướng về phía trước

Trong một hoặc hai năm tới, các nền kinh tế Đông Nam Á sẽ đối mặt với con đường gồ ghề như là sự tăng trưởng chậm hơn ở mức ổn định 5% mỗi năm - không chỉ bởi vì môi trường kinh tế quốc tế đang trở nên chậm chạp hơn, mà còn do áp lực lạm phát trong tiểu vùng đang thúc đẩy các chính sách vĩ mô chặt chẽ hơn và giá cả hàng hóa đã trở nên đắt đỏ hơn.

Cũng khá quan trọng, Thái Lan và Malaysia đều được cho là sẽ có những căng thẳng về chính trị. Chiến thắng của đảng Pheu Thai ở Thái Lan trong cuộc tổng tuyển cử cuối tuần qua đã mở ra một giai đoạn không ổn định mới ở đây. Và cuộc bầu cử ở Malaysia, dự kiến trong năm nay, có thể mang lại những căng thẳng về chính trị và dân tộc trên bề mặt một lần nữa.

Tuy nhiên, viễn cảnh tổng thể nền kinh tế Đông Nam Á về lâu dài là vẫn tươi sáng. Vẫn áp lực tăng trưởng đạt được trong quá khứ - quản lý kinh tế vĩ mô, các hệ thống thương mại mở, xu thế nhân khẩu học thuận lợi và lãi suất tiết kiệm cao sẽ xuất hiện lại. Mức tăng trưởng nhanh của Trung Hoa và Ấn Độ cũng sẽ là động lực hỗ trợ. Hơn thế, tiểu vùng đang chứng minh là nguồn năng lượng, nguyên liệu, linh kiện và phụ kiện không thể thiếu cho ngành sản xuất đang tăng trưởng nhanh chóng của Trung Hoa, đồng thời sự kết nối sản xuất với Ấn Độ đang có bước tăng trưởng nhanh chóng.

Most importantly, however, the sub-region’s middle-income economies must move up the value chain to further their economic prosperity. If they accomplish this, Southeast Asia, now in the shadow of its two giant neighbors, could well become home to full-fledged tigers and dragons.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là các nền kinh tế thu nhập trung bình phải dịch chuyển lên phía trên của chuỗi giá trị tới khu vực kinh tế thịnh vượng hơn. Nếu đạt được điều này, Đông Nam Á hiện giờ đang là cái bóng của 2 gã hàng xóm khổng lồ, có thể chính thức trở thành những con hổ con rồng đủ lông đủ cánh.
-------------------------------------

Vikram Nehru là một tư vấn cho khu vực Đông Á của Ngân hàng Thế giới và sẽ sớm gia nhập Carnegie như cộng tác viên cao cấp. Ông đã từng là Kinh tế trưởng, Giám đốc bộ phận Xóa đói giảm nghèo, quản lý kinh tế, phát triển khu vực tư nhân và tài chính cho Khu vực Đông Nam Á của Ngân hàng thế giới.
(1) Đông Timor và Papua New Guinea không bao gồm trong định nghĩa của tác giả về Đông Nam Á.

(2) Thậm chí Miến Điện - với chính sách tự cung tự cấp và các biện pháp trừng phạt thương mại bởi các nước phương Tây - cũng đạt được tỷ trọng thương mại - GDP lên đến 40% nhờ vào đường biên giới với Trung Hoa, Thái Lan và Ấn Độ.

(3) Khi sự xảy ra đụng độ, như xung đột biên giới gần đây giữa Thái Lan và Camphuchia liên quan đến ngôi đền bị tranh chấp, ASEAN đứng ra trung gian hòa giải và tạo điền kiện thuận lợi cho trao đổi thông tin giữa hai bên. Hơn thế, gần đây ASEAN còn cung cấp cho chính quyền quân sự Miến Điện một khuôn khổ chấp nhận được trong việc gia nhập với cộng đồng quốc tế sau một trận lốc xoáy.

(4) Từ khi Obama nhận nhiệm sở, Hoa Kỳ đã chủ động quay lại với Đông Nam Á, một phần để đáp lại sự ảnh hưởng của Trung Hoa đang lớn lên trong khu vực và một phần do mối quan tâm đến quần đảo tranh chấp Trường Sa có thể chặn lối vào Ấn Độ Dương của Hoa Kỳ. Các quốc gia Đông Nam Á đều chào đón sự quay lại vì một số lý do khác nhau: một số nhìn nhận đó như là sự cân bằng quyền lực đối chọi với Trung Hoa; số khác nhận ra lợi ích chính đáng của Hoa Kỳ trong việc đảm bảo sự ổn định ở Đông Nam Á như là nhà đầu tư lớn nhất và thị trường lớn nhất của tiểu vùng này.

Hoa Kỳ cũng quan tâm đến Đông Nam Á vì Indonesia, quốc gia hồi giáo lớn nhất thế giới đang thiết lập các cuộc tấn công khủng bố, một vài trong số đó rõ ràng là nhắm vào lợi ích của Hoa Kỳ. Indonesia bắt đầu trở thành đồng minh của Hoa Kỳ và châu Âu trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, và những nỗ lực của đất nước này để thiết lập một nền dân chủ chính thống và chính phủ phân lập phải tiếp tục mang lại nền kinh tế thịnh vượng, công bằng, tự do và xóa bỏ các nhóm cực đoan cùng với bất công và tuyệt vọng. Những thành công gần đây của của Indonesia trong việc chống lại các nhóm Hồi giáo thánh chiến đã làm giảm quy mô nhưng chưa giảm được tần số các vụ khủng bố bạo lực và những vụ khủng bố này có thể được xuất khẩu đến các điểm nóng tiềm tàng ở Malaysia và nam Thái Lan.

17/7/2011


Hình ảnh trấn áp biểu tình 17/07
Cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội sáng Chủ nhật 17/07 tuy không nhiều người tham gia bằng những lần trước, nhưng cũng gây chú ý vì nhiều lẽ.
Một trong các yếu tố là cách hành xử bị tố cáo là “thô bạo” của các nhân viên công quyền đối với người biểu tình.
Một người biểu tình, blogger có nick Đông Hải Long Vương, nhận mình chính là thanh niên bị bốn công an viên xách chân tay kéo đi trong bức ảnh gây chấn động đang lưu truyền trên mạng.
Khi bị bắt, blogger này đang có mặt trong đoàn biểu tình đi qua đoạn đường tàu hỏa gần phố Điện Biên Phủ.
Bloger Đông Hải Long Vương viết trên blog của Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện rằng anh “đã bị khống chế như con lợn… mấy đồng chí công an còn đạp (sút) tổng cộng 4 phát. Đạp từ trên đạp xuống trong lúc mình đang còng queo”.
“Trong đó có 2 phát được ăn bánh “giầy” vào mồm. Một phát trượt qua cổ. Một phát vào ngực.”
Sau đó, chính blogger này chia sẻ với BBC: “Tôi chỉ là một người bình thường mà thôi. Tôi không phải là người nhân cơ hội để nổi đình nổi đám như một số nhân vật có hơi hướng tới hoạt động dân chủ.”
“Tất cả chỉ là sự bất đắc dĩ mà xuống đường.”
Theo blogger Đông Hải Long Vương, anh đã từng xuống đường hai lần năm 2007 và 5 lần trong tháng 6-7/2011.
“Trước cuộc tuần hành một ngày, tôi đã biết cuộc trấn áp sẽ rất phũ phàng. Một cán bộ an ninh cũng đã nhắc nhở tôi về tình hình chung và của cả cá nhân tôi. Cho nên sự việc đến thì tôi cũng thấy bình thản.”
Anh cho BBC biết: “Mấy cái chuyện đánh đập, xúc phạm này thực sự đối với tôi chỉ là phủi bụi. Làm việc lớn thì đến mạng sống người ta còn chẳng tiếc, huống hồ mới trấn áp vớ vẩn thế này mà đám trí thức, dân chủ bề ngoài đã làm um củ tỏi lên thì tôi thấy buồn cười”.
Tuy vậy, blogger Đông Hải Long Vương nói sau cuộc biểu tình anh cảm thấy buồn. “Buồn cho Đảng Cộng sản, buồn cho đám an ninh, mật vụ nhưng cũng buồn cho thân phận dân đen, hèn yếu, nhu nhược nên dân tộc ta mới nên nông nỗi này…”
“Buồn vì cách ứng xử của an ninh đã đành mà cả phía trí thức, người đi biểu tình vẫn còn ít… thế thì dân tộc ta mãi không ngóc đầu lên dậy được với xu thế văn minh của thế giới.”

Cựu chiến binh

Một người biểu tình khác, cựu chiến binh Nguyễn Tường Thụy, 60 tuổi, cho hay ông đã chứng kiến cảnh blogger Đông Hải Long Vương bị cảnh sát lôi lên chiếc xe buýt để chở đi Mỹ Đình cùng hàng chục người khác.
“Cậu thanh niên ấy bị họ ném bịch một phát lên xe rồi nằm xoài ra. Lúc đó tôi đã ngồi trên xe rồi. Một lúc sau thì cậu này nhổm dậy được.”
Quang cảnh cuộc biểu tình 17/07
Ông Nguyễn Tường Thụy thuật lại những gì ông chứng kiến: Theo thông báo ở trên mạng là 8.30 sáng sẽ tổ chức biểu tình ở Điện Biên Phủ, 8.30 tôi đến và tôi đã thấy mọi người bắt đầu đứng vào hàng ngũ ở ngã ba Nguyễn Tri Phương và Điện Biên Phủ.
Mọi người xếp hàng rất trật tự và trưng biểu ngữ, hô khẩu hiệu.Thành phần chủ yếu là thanh niên và một số những người lớn tuổi như tôi và một số nhân sỹ trí thức nữa.
Thấy vậy, tôi cũng đứng luôn vào hàng. Thanh niên và mọi người hô khẩu hiệu tại chỗ được một lúc thì cảnh bắt bớ diễn ra.
Chúng tôi bị tách làm hai đoàn. Đoàn khác bao gồm chủ yếu là nhân sỹ trí thức, họ bảo nhau đi đến Nhà Hát Lớn và đi bằng nhiều phương tiện.
Còn đoàn chúng tôi bị đưa đến Công an Mỹ Đình, cũng có nhiều nhân sỹ trí thức, các em thanh niên, sinh viên và cả những người lớn tuổi.
BBC: Thưa, ông có nhận xét gì về thái độ của các nhân viên công quyền trong cuộc biểu tình hôm Chủ nhật?
Ông Nguyễn Tường Thụy: Cần phải phân biệt là có những người chỉ đạo và có những người thực hiện. Những người chỉ đạo không trực tiếp hành động. Còn những người trực tiếp bắt bớ thì rất là hung hăng, ăn nói thì vô giáo dục, chửi bới và đánh đập dân biểu tình.
Khi mà họ bắt chúng tôi, họ không nói lý do gì cả.
Đặc biệt là các hành động như lôi, đánh, đẩy, đưa lên xe như thế, tôi thấy việc đối xử với đồng bào mình quá tồi tệ.
Khi họ đưa chúng tôi đến công an Mỹ Đình, về mặt thái độ họ không có biểu hiện gì hung hăng như lúc chúng tôi ở Điện Biên Phủ.
Sau đó, họ thẩm vấn mọi người, chủ yếu là ghi tên tuổi và địa chỉ cụ thể chứ họ không có động thái nào chửi bới chúng tôi như trước, cũng không có gì đe dọa.
Họ không đe dọa nhưng họ khuyên chúng tôi là không nên tiếp tục biểu tình vì đã có chính phủ lo.
BBC: Và trả lời của ông đối với lời khuyên này là gì?
Ông Nguyễn Tường Thụy: Tôi có trả lời là chính phủ phản ứng yếu ớt trước sự hung hăng gây hấn của chính phủ Trung Quốc cho nên là chúng tôi biểu tình hỗ trợ hậu thuẫn cho chính phủ.
Chúng tôi hưởng ứng lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu ở Nha Trang về vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Chúng tôi làm vì muốn bảo vệ đất nước, bảo vệ ngư dân Việt Nam. Chúng tôi nói nhỏ nhẹ như vậy thôi.
Thực ra khi thẩm vấn thì rất nhanh vì chủ yếu có rất nhiều người đã bị biết tên và quen mặt. Chủ yếu họ hỏi về tên tuổi và địa chỉ để lập danh sách gồm 46 người là ai và ở đâu.
Việc này diễn ra nhanh nhưng chúng tôi ở lại lâu, suốt buổi sáng, là do chúng tôi đấu tranh phải mang xe đưa chúng tôi về chỗ họ bắt chúng tôi.
Sau khi biết rằng họ không cho xe, chúng tôi mới đi về và tiến hành biểu tình tiếp. ”
BBC: Lần sau có biểu tình, ông có tiếp tục tham gia không, thưa ông?
Ông Nguyễn Tường Thụy: Điều này thì chúng tôi không dám chắc. Hôm nào có điều kiện thì tôi sẽ đi. Hôm nào vướng bận thì thôi. Nhưng tôi hy vọng là tôi sẽ được tham gia biểu tình tuần tới nếu mọi người có lưu tâm và hô hào trên mạng.

Tấm biểu ngữ gây tranh cãi

BBC cũng đã hỏi chuyện Tiến sỹ Đỗ Xuân Thọ từ Hà Nội, người nói ông đã “bị bắt hai lần”.
Tiến sỹ Đỗ Xuân Thọ: Lần thứ nhất là hôm mùng 10/07, tôi không chịu nổi vì bức xúc về việc công an đàn áp biểu tình, rồi Trung Quốc nó lộng hành quá cho nên tôi quyết định xuống đường cùng các cháu sinh viên.
Thế nhưng, khi vừa mới đến tôi đã bị bắt và bị hỏi cung rất dữ dội. Cả đoàn chúng tôi đã đấu tranh rất nghiêm chỉnh và xác định là chúng tôi là những người không có tội.
Lần thứ hai là hôm 17/07 sau khi có kêu gọi của các nhóm yêu nước. Tôi chuẩn bị kỹ càng hơn với khẩu hiệu mà tôi và các đồng đội của tôi đã nghiền ngẫm nhức đầu là muốn giải quyết vấn đề xâm chiếm của Trung Quốc phải chung sức với Mỹ, Nhật, Ấn Độ và EU để “xé Trung Quốc ra thành nhiều quốc gia độc lập”.
BBC: Vâng, tấm biểu ngữ của ông đã gây ra khá nhiều tranh luận trên các diễn đàn mạng, thưa ông. Một số người nói ông đang nhằm vào phá hoại nền hòa bình của Trung Quốc, chứ thông điệp vì biển đảo Việt Nam qua đó lại bị loãng đi.
Tiến sỹ Đỗ Xuân Thọ: Không, đấy là những chính khách nói. Tôi cam đoan là với các lực lượng ngầm ở Mỹ, Nhật, Ấn Độ và ở EU thì đó là một khát khao không bao giờ nói ra nhưng họ cũng đều muốn xé Trung Quốc ra làm nhiều quốc gia độc lập.
Và đấy cũng là ước vọng của nhân dân Trung Quốc.
Tiến sỹ Thọ và tấm biểu ngữ gây tranh cãi
TS Đỗ Xuân Thọ biện minh cho khẩu hiệu gây tranh cãi trong cuộc biểu tình
Theo nhóm chúng tôi nghiền ngẫm trong ba năm thì đấy là cách giải quyết triệt để nhất mối hiểm họa phương Bắc đối với Việt Nam.
Tôi nghĩ khẩu hiệu của tôi là đánh trúng vào huyệt đạo của Trung Quốc và cái đó làm Bắc Kỳ cực kỳ sợ sệt và cực kỳ kinh hãi.
Một khẩu hiệu nữa mà tôi ưng ý là ‘Sự bành trướng của Trung Quốc ảnh hưởng đến an ninh và hòa bình TG. Đấy là khẩu hiệu nhẹ nhàng hơn khẩu hiệu của chúng tôi.
BBC: Không khí cuộc biểu tình ở cả hai bên, theo ông trải nghiệm, là như thế nào?
Tiến sỹ Đỗ Xuân Thọ: Tôi bị gãy chân từ trước nên công an họ giật cái biểu ngữ ra khỏi người tôi và đẩy lên xe cùng với một sốngười khác. Sau đó, chúng tôi xuống đồn CA Mễ Trì thì cuộc đấu tranh ở đấy thật tuyệt vời.
Trong số người bị bắt có một phụ nữ đi khám bệnh bị đưa lên xe vô cớ. Xuống đến nơi thì bà này chửi um lên và nói rằng đã như thế thì Chủ Nhật tuần sau bà cứ đi biểu tình với những người yêu nước.
Ngoài ra còn có hai cháu bé tiểu học bị bắt. Tôi hỏi các cháu làm sao bị bắt, bố mẹ các cháu đâu thì các cháu nói chúng cháu bỏ học để đi biểu tình cùng với các ông các bà, với các chú các bác.
Tôi nhận xét rất trung thực như thế này. Họ làm rất căng trên ĐSQ Trung Quốc để chứng tỏ cho TQ thấy rằng họ đàn áp cuộc biểu tình rất cứng rắn.
Nhưng mà xuống đến chỗ tiếp đón thì họ lại dùng những lời lẽ là: “Mời các bác xuống đây để nói chính kiến của mình chứ ở trên đó nóng lắm”.
Tôi thấy xuống công an Mỹ Đình thì không ai bị đánh đập. Mọi người đều tỏ ra rất phẫn nộ, thậm chí có những lời lăng mạ độc địa nhưng công an ở dưới Mễ Trì tỏ ra khá là nín nhịn.
@bbc

“Tái ngộ Mỹ-Việt”, RFI


Bài “Tái ngộ Mỹ-Việt” của Xavier Monthéard, được đăng trên nguyệt san Le Monde Diplomatique, tháng Sáu 2011, đã bị kiểm duyệt tại Việt Nam. RFI xin giới thiệu bản dịch.

36 năm sau chiến tranh: Tái ngộ Mỹ – Việt
Bản báo cáo bí mật mang tựa đề ‘‘Quan hệ Mỹ-Việt, 1945 – 1967’’, vốn tiết lộ những lời giả dối của chính quyền Mỹ trong việc đưa quân tham chiến Việt Nam, vừa được giải mật để cho công chúng được quyền tham khảo. Về phía mình, chính quyền Hà Nội đã lật qua trang sử. Hơn thế nữa, mùa hè vừa qua, các cuộc tập trận hỗn hợp Mỹ-Việt diễn ra ngay tại nơi mà những người lính GI đầu tiên đã đổ bộ cách đây hơn 40 năm…
* *
Bán đảo Cam Ranh, ở miền trung Việt Nam (*). Trời gió lộng làm nhấp nhô cụm sóng trên biển « Hoa Nam » mà người Việt gọi là « Biển Đông ». Bị thu hẹp bởi hàng rào kẽm gai, một con đường ngoằn ngoèo dẫn đến căn cứ hải không quân mà quân đội Hoa Kỳ đã dựng lên trong thời chiến tranh Việt Nam. Các đồn lính cũ kỹ, tựa như một lớp áo, được khoác lên mảnh đất khô cằn trơ trụi. Binh lính và nhân viên hải quan thơ thẩn qua lại. Bến cảng quân sự không tiếp đón khách thăm viếng, mà họ có đến thì để làm gì ? Từ nhiều năm qua, hoạt động ở vịnh Cam Ranh diễn ra chầm chậm.
Tháng 10 năm 2010, Cam Ranh như thể bừng tĩnh sau giấc ngủ uể oải : Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố mở cảng Cam Ranh để tiếp đón tàu thuyền của tất cả các nước. Hoa Kỳ là ứng viên. Kể từ năm 2003, khoảng một chục chiến hạm Mỹ đã ghé vào các cảng của quốc gia cựu thù. Lần này, những người lính của Chú Sam, không vũ khí cũng như không hành trang, đã thực sự trở lại xứ sở của Bác Hồ – với tư các là thượng khách. Mọi chuyện diễn ra như thể những năm tháng chiến tranh, do 5 vị chủ nhân Nhà Trắng (1) liên tục tiến hành không còn nằm trong ký ức Việt Nam. 20 năm xung đột khốc liệt, ghê rợn kết thúc vào tháng Tư năm 1975 với việc chiếm được Sài Gòn, như thể bị lãng quên, người ta dường như cũng quên cả thái độ sau đó của chàng khổng lồ bị làm nhục, quyết tâm phong toả viện trợ quốc tế đối với một chú lùn đã đánh bại mình và cấm vận thương mại đã được duy trì cho đến năm 1994.
Khu trục hạm « USS John S. McCain » ghé cảng Đà Nẵng
Vào tháng 8 năm 2010, cuộc đối thoại quốc phòng Mỹ-Việt đầu tiên diễn ra tại Hà Nội. Trong cùng tháng, ở ngoài khơi Đà Nẵng – ngay tại nơi mà những người lính Mỹ đầu tiên đổ bộ vào năm 1965 – các sĩ quan cao cấp của Việt Nam ra biển tham quan tàu Mỹ USS George Washington, biểu tượng hàng đầu của hạm đội Bẩy và là một trong 11 hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Trong khi đó, khu trục hạm USS John S. McCain thì thả neo ở Đà Nẵng. Tại Hà Nội, tên của ông John McCain, ứng viên đảng Cộng Hoà ra tranh cử tổng thống Mỹ năm 2008, không còn làm chói tai. Nguyên là phi công oanh tạc cơ, và như vậy bị xem như là ‘‘một tội phạm chiến tranh’’, theo như lời ông nói sau nay, ông John McCain đã bị cầm tù trong vòng 5 năm rưỡi tại Việt Nam. Được trao tặng huân chương chiến công vì những nỗi thống khổ phải chịu đựng trong lúc bị bắt, ông trở thành một vị anh hùng đối với một bộ phận công luận Mỹ.
Tính chính đáng này đã giúp cho ông John McCain thuyết phục được phe bảo thủ, giúp cho tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Không thù oán, phía Việt Nam quan tâm đến giai đoạn sự nghiệp sau này của ông McCain. Và các bức ảnh chụp tổng thống Bill Clinton nhân chuyến viếng thăm Việt Nam lần đầu tiên vẫn được treo tại cửa hàng bán thức ăn nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh…Còn giờ đây, vợ của vị tổng thống này, bà Ngoại trưởng Hillary Clinton thì hoan nghênh về chặng đường mà hai nước đã trải qua: « Thay vì là cựu thù, chúng ta đã biết coi nhau như là những đối tác, đồng nghiệp và bạn hữu. Chính quyền Obama sẵn sàng nâng quan hệ Mỹ-Việt lên một tầm mức cao hơn (2) ».
Nhìn từ phía Hà Nội, việc xích lại gần Hoa Kỳ trước hết là theo logic kinh tế. Từ khi hiệp định thương mại song phương có hiệu lực vào năm 2001, trao đổi mậu dịch giữa hai nước gia tăng đều đặn. Vào năm 2000, trao đổi thương mại ở mức 1 tỷ đô la, đến năm 2010, thì đã lên đến 18,3 tỷ đô la. Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam, bà Jocelyn Trần, nhắm tới mục tiêu 35 tỷ đô la từ đây cho đến năm 2020 (3). Cán cân thương mại nghiêng hẳn về phía Hà Nội, các xuất khẩu sang Hoa Kỳ, – chủ yếu là hàng may mặc và giầy dép – mang về cho Việt Nam 14,8 tỷ đô la năm 2010, tương đương hơn một phần năm tổng thu nhập từ bên ngoài.
Mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với Washington giúp cho Việt Nam hội nhập vào hệ thống thương mại quốc tế. Vào năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Từ đó trở đi, mức bình quân thu nhập hàng năm tính theo đầu người vượt qua ngưỡng một ngàn đô la. Theo cách tính của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được xếp vào danh sách các quốc gia có mức thu nhập trung bình.
Cái giá phải trả của sự khởi đầu phồn thịnh này là cần phải lật qua trang sử với 3 triệu người chết trong chiến tranh, các khu vực đất đai bị tàn phá, các gia đình bị tan nát. Để làm việc này, cần phải suy nghĩ kỹ và viết lại ký ức. Theo nhà sử học Wynn W. Gadkar-Wilcox, « Sau năm 1990, các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu giảm nhẹ tầm quan trọng của thời kỳ 1954-1975, trong quan hệ với Mỹ, và ưu tiên đề cập đến giai đoạn 1941-1945. Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ đã hợp tác với Việt Minh, và nhiều thành viên của cơ quan tình báo OSS (Office of Strategic Services, tiền thân của CIA) đã có quan hệ gắn bó cá nhân với ông Hồ Chí Minh. (…) Dựa vào các tập nghiên cứu của ông Robert Hopkins, mang tựa đề Hoa Kỳ và Việt Nam, 1787-1941, chuyên gia Phạm Xanh đã nhấn mạnh đến sự quan tâm của tổng thống Mỹ Thomas Jefferson (1801-1809) đối với các vụ lúa tại miền nam Việt Nam, cũng như nhiều cuộc thám hiểm mà Mỹ đã thực hiện tại Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XIX (4). »
Một nửa dân số Việt Nam dưới 26 tuổi. Quá khứ chiến tranh đối với họ rất xa vời và hình ảnh của Hoa Kỳ tạo trong tâm trí của họ niềm say mê. Sức quyến rũ đó không chỉ xuất phát từ đồng đô la xanh, mà còn nảy sinh từ « Giấc mơ kiểu Mỹ »: ai cũng có thể làm giàu nếu chịu khó và quyết tâm làm việc. 13 ngàn du học sinh – một kỷ lục đối với các nước Đông Nam Á – đã ghi tên vào một trường đại học ở phía bên kia bờ Thái Bình Dương.
Thỏa thuận đang thai nghén trong lĩnh vực hạt nhân dân sự
Miền nam Việt Nam, do lịch sử, rất sẵn sàng đón tiếp các đầu tư bằng đô la. Việc tập đoàn khổng lồ Intel chuyên sản xuất mạch vi xử lý đặt một nhà máy ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh (trước kia là Sài Gòn) có giá trị biểu tượng : đó là cơ sở lắp ráp và kiểm tra lớn nhất của tập đoàn này trên thế giới, với tổng đầu tư ước tính 1 tỷ đô la. Trên một blog của website thuộc doanh nghiệp này, ngay từ tháng 9 năm 2009, người ta có thể đọc thấy hàng chữ « We are back in Saigon ! » (« Chúng tôi trở lại Sài Gòn »)…
Mối diễm tình này không có nghĩa là không còn một vài tỵ hiềm, bởi vì Hoa Kỳ ngay lập tức đã tự coi mình là những người bảo vệ nhân quyền. Trong năm 2010, 80 người đã bị bắt – trong số này 14 người bị kết án – vì đã bày tỏ quan điểm trái ngược với đường lối của đảng Cộng sản. Nhiều nhà báo và viết blog nằm trong số này. Trong một cuộc họp báo được tổ chức tại Hà Nội, ngày 10/12/2010, đại sứ Mỹ Michael W. Michalak đã nhẹ nhàng tuyên bố « rất tiếc, trong ba năm nhiệm kỳ của tôi, những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền còn không đồng đều ».
Ở mặt đối lập, kỷ niệm sống động về sự dính líu của các tổ chức Mỹ trong các « cuộc cách mạng mầu » tại Đông Âu, nuôi dưỡng sự nghi kỵ. Phải chăng chính quyền Mỹ sẽ không khuyến khích một kịch bản « diễn biến hòa bình », mà đối với Hà Nội, đồng nghĩa với ý đồ gạt bỏ chế độ và bản sắc văn hóa Việt Nam ?
Thế nhưng, những đụng chạm này chỉ là một sự phản ánh nhạt nhòa những thù hận trong quá khứ. Thậm chí, năm 2011 có thể sẽ chứng kiến hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Một thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân dân sự đang được hoàn tất. Bản thỏa thuận liên quan đến việc chuyển giao công nghệ và phát triển các cơ sở hạ tầng, mở cửa cho các doanh nghiệp Mỹ tiếp cận với một thị trường hứa hẹn : Việt Nam mong muốn xây dựng 13 nhà máy điện hạt nhân, với tổng công suất là 16 000 MW, trong 20 năm tới. Các điều khoản của bản thỏa thuận không cấm việc làm giàu uranium – cho phép, về mặt lý thuyết, thực hiện một chương trình hạt nhân quân sự – trong khi Hoa Kỳ thường xuyên gây sức ép buộc các nước khác từ bỏ quyền được làm giàu uranium như vậy. Nhiều nhà bình luận đã so sánh các điều khoản này, có lợi cho Việt Nam, với các điều khoản của bản thỏa thuận Ấn Độ – Hoa Kỳ về hạt nhân năm 2007 (5).
Tuy nhiên, ông Brahma Chellaney (6), giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính trị New Delhi cũng giảm thiểu những điểm đồng nhau này : « Do Ấn Độ không phải là thành viên hiệp ước không phổ biến hạt nhân (TNP), nước này phải chịu nhiều hạn chế đặc biệt chiếu theo luật lệ của Mỹ. Do vậy, chính phủ Mỹ cần phải có được một sự miễn trừ đặc biệt từ phía Quốc hội. Trong trường hợp của Việt Nam, nước ký kết TNP, một sự đòi hỏi như vậy không cần thiết. Vả lại, vì Ấn Độ là một quốc gia có vũ khí nguyên tử, thỏa thuận song phương cần phải được xây dựng một cách chuyên biệt. »
Như vậy, hai thỏa thuận này gần giống nhau là do mục đích của chúng chứ không phải do bản chất. Ông Chellaney thẩm định : « Hoa Kỳ sử dụng các thỏa thuận hạt nhân ký với Ấn Độ và Việt Nam như một công cụ chiến lược để xây dựng một sự hợp tác thân thiết ». Do đó, Việt Nam chắc chắn sẽ có được một thỏa thuận tốt nhất trong nhóm « các quốc gia hạt nhân trỗi dậy », đó là những nước vừa mới bắt đầu thực hiện một chương trình hạt nhân dân sự. Ngược lại với trường hợp Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ví dụ thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất năm 2009 ghi rõ Tiểu vương quốc này từ bỏ quyền làm giàu uranium trên lãnh thổ của mình. Phải chăng « nhất bên trọng, nhất bên khinh ? » Khi còn là phát ngôn viên bộ Ngoại giao, ông Philip J.Crowley đành phải nói rằng « Hoa Kỳ đàm phán những hiệp định như vậy theo từng trường hợp, đối với từng nước, từng vùng (7) ».
« Một hoàn cảnh mong manh như vỏ trứng »
Đối với Washington, việc củng cố các quan hệ quân sự và hợp tác hạt nhân có một mục tiêu : đó là duy trì sự ưu thế của Mỹ tại Thái Bình Dương. Do vậy, trong năm 2010, Hoa Kỳ đã bán 6 tỷ đô la thiết bị quân sự cho Đài Loan ; thông báo nối lại mối quan hệ với lực lượng đặc biệt Indonesia (Kopassus), cho dù lực lượng này có dính líu đến những vụ tàn sát ở Timor, Aceh và Papua ; bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Đông và coi đây là lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, theo lời bà Ngoại trưởng Clinton ; tiến hành các hoạt động quân sự chung với Hàn Quốc ở Hoàng Hải ; khi xẩy ra va chạm tại vùng quần đảo Điều Ngư/Senkaku mà Trung Quốc và Nhật Bản đều coi thuộc chủ quyền của mình, Hoa Kỳ đã nhắc lại rằng Nhật Bản sẽ được hậu thuẫn nếu cần thiết, theo tinh thần hiệp ước phòng thủ chung.
Đa số các biện pháp này, nếu không nói là tất cả, đều nhằm đối phó với sự lớn mạnh của Trung Quốc : sự bật dậy của đế chế Trung Hoa tất đương nhiên dẫn đến việc Hoa Kỳ nâng cao giá trị chiến lược của các quốc gia láng giềng với Trung Quốc. Tạp chí Mỹ về Quốc phòng 2010, bốn năm ra một lần (US Quadrennial Defense Review 2010) nói đến Indonesia, Malaysia và Việt Nam như là những đối tác tiềm tàng trong lĩnh vực an ninh. Ông Kurt Campbell, trợ lý Ngọai trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương còn nói rõ hơn : « Khi nhìn vào tất cả những quốc gia bạn bè của chúng ta ở Đông Nam Á, tôi nghĩ rằng chính với Việt Nam mà chúng ta sẽ có những triển vọng tốt đẹp nhất » (8). Đối với cường quốc Hoa Kỳ, lại một lần nữa, đất nước này là một con tốt cần thiết, nhưng lần này, không phải để chống chủ nghĩa cộng sản, mà chống lại cái gọi là chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc.
Mối ám ảnh này có được sự đồng thanh. Từ nhiều thế kỷ qua, Việt Nam xoay trong quỹ đạo của đế chế Trung Hoa đồng thời tìm cách thoát ra khỏi sức hút của nó. Sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam vẫn còn rất lớn – nhập khẩu từ láng giềng phương Bắc chiếm một tỷ lệ cực kỳ cao. Do vậy, ông Carlyle Thayer, giáo sư danh dự tại đại học Souh New Wales, Canberra, chuyên gia về Việt Nam, đánh giá rằng « không một nước nào có thể tự tin và có ảnh hưởng như Trung Quốc trong quan hệ với Hà Nội (9) ». Về cơ bản, ngoại giao Việt Nam tìm cách hòa thuận với càng nhiều nước càng tốt để thoát ra khỏi Bắc Kinh, nhưng đồng thời lại muốn duy trì quan hệ ưu tiên với nước láng giềng lớn – đây là mối bận tâm mà ngoại giao Việt Nam chia sẻ với nhiều nước Đông Nam Á. Cựu đại sứ Đinh Hoàng Thắng không coi nhẹ những khó khăn : « Nếu Việt Nam có thể thuyết phục được Trung Quốc rằng việc cải thiện quan hệ Mỹ-Việt sẽ không ảnh hưởng đến các quyền lợi của nựớc thứ ba, thì đó sẽ là một thành công lớn (10) ».
Công việc này cũng không phải là dễ dàng đối với Mỹ. Ông Brantly Womack, giáo sư Quan hệ Quốc tế tại đại học Virginia Hoa Kỳ (11) nhắc lại rằng « sự xa cách giữa Hoa Kỳ và châu Á và mối quan hệ song song của Mỹ vừa với Trung Quốc vừa với Việt Nam tiếp tục làm biến dạng sự hiểu biết về mối quan hệ song phương này ». Phía Trung Quốc cũng đưa ra những mệnh lệnh đôi khi mạnh mẽ : « Việt Nam phải hiểu rằng, bị kẹp giữa hai cường quốc, họ đang chơi một trò chơi nguy hiểm, với hoàn cảnh vừa bấp bênh vừa mong manh như vỏ trứng », người ta có thể đọc thấy những dòng này trên Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc (…) « Nếu Trung Quốc và Việt Nam thực sự dẫn đến đối đầu quân sự với nhau, thì không có một tàu chở sân bay nào, của bất kỳ một nước nào, có thể bảo đảm an ninh cho Việt Nam ».(12)
Một cuộc tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông liên quan đến quần đảo Hoàng Sa – Paracels và Trường Sa – Spratleys đã tích tụ vào cuối thế kỷ XX (13). Cho dù vừa qua đã củng cố hạm đội của mình, Hà Nội không thể tranh đua với hải quân Trung Quốc. Do vậy, theo phân tích của ông Richard Bitzinger, chuyên gia về các vấn đề quốc phòng tại châu Á-Thái Bình Dương, « Việt Nam muốn thấy có nhiều quốc gia hơn nữa can thiệp vào Biển Đông. Đối với Việt Nam, đây sẽ là một sự bảo vệ. Việt Nam cũng muốn nhận được sự hỗ trợ để mở rộng và hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng của cảng trong vịnh Cam Ranh. Tôi nghĩ rằng hải quân Mỹ sẽ tranh thủ vị trí chiến lược này, hải quân các nước khác cũng sẽ làm như vậy – đương nhiên, chỉ có hải quân Trung Quốc là sẽ vắng mặt !»
Cuộc xung đột 1979 với Bắc Kinh bị bỏ qua
Liệu một ngày nào đó, người ta sẽ thấy Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam chống lại đế chế Trung Hoa ? Quả sẽ là trớ trêu quá mức, nếu như người ta nhớ lại rằng sau khi tuyên bố độc lập ngày 2/09/1945, Trung Quốc của Mao Trạch Đông là nước đầu tiên công nhận nền dân chủ cộng hòa non trẻ này, vào tháng Giêng năm 1950, trước Liên Xô khoảng 12 ngày… Giữ cân bằng giữa hai nước bảo trợ cộng sản, mà 2 nước này sau đó lại trở thành đối thủ của nhau, là một phương trình mà Hồ Chí Minh và những người kế tục ông đã giải quyết thành công trong 25 năm. Viện trợ của Liên Xô đã biến mất khi chiến tranh lạnh kết thúc. Cuộc xung đột công khai giữa Việt Nam và Trung Quốc vào cuối những năm 1970, đã trở thành vấn đề húy kỵ nhất trong chính sách đối ngoại. Hơn 30 năm sau khi xẩy ra cuộc xung đột, vẫn không thể nào nói đến cuộc chiến tranh ngắn ngủi trong tháng Hai tháng Ba năm 1979 đã làm hàng chục ngàn người thiệt mạng. Báo chí cũng như sách giáo khoa không nói đến cuộc chiến tranh này. Về mặt chính thức, tất cả mọi việc đều tốt đẹp với Bắc Kinh.
Lịch sử đã cho thấy những nguy hiểm đối với Việt Nam khi nước này rơi vào những tính toán địa-chính trị của những siêu cường láng giềng. Ỏ Hà Nội, liệu có ai sẽ quên điều này ? Nhà ngoại giao Hoàng Anh Tuấn vừa nhắc lại rằng Việt Nam « là nước duy nhất trên thế giới đã tiến hành những cuộc đàm phán dồn dập và kéo dài với Hoa Kỳ (…) Cho dù lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau đã có những tiến triển đáng kể, nhưng không có gì bảo đảm là những hiểu nhầm chiến lược lại không xuất hiện (…) Do vậy, quan hệ song phương chỉ có thể được thiết lập một cách bền vững trên cơ sở bình đẳng nếu như mối bang giao này được xây dựng nhằm phục vụ các lợi ích quốc gia của Việt Nam cũng như của Hoa Kỳ, chứ không chỉ nhằm phục vụ các lợi ích địa – chính trị của một bên.(14) ». Hiện nay, có nhiều điềm tốt. Thế nhưng « sự hung dữ của vị trí địa lý (15) » có thể vẫn chưa thôi định hướng số phận quốc gia Việt Nam.
* *
Chú thích
(*) Trong bài, tác giả viết là Cam Ranh ở miền nam Việt Nam
(1) Dwight Eisenhower (giữa 1954 và 1961), John F. Kennedy (1961-1963), Lyndon B. Johnson (1963-1969), Richard Nixon (1969-1974) et Gerald Ford (giữa 08/1974 và 04/1975).
(2) Diễn văn đọc tại Hà Nội, ngày 21/07/2010 bên lề cuộc gặp lần thứ 43 cấp Ngoại trưởng Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN.
(3) Báo Tuổi Trẻ, Hà Nội, 20/12/2010.
(4) Wynn W. Gadkar-Wilcox, « Mối quan hệ không rõ ràng : Những ấn tượng về Hoa Kỳ trong giảng dậy lịch sử tại Việt Nam 1989 – 2009 – An ambiguous relationship : Impressions of the United States in Vietnamese historical scholarship, 1986-2009 », World History Connected, tập 7, n° 3, Washington, DC, 10/2010.
(5) Đọc Siddharth Varadarajan, « Ấn Độ khao khát được thừa nhận », Le Monde diplomatique, 11/ 2008.
(6) Tác giả của cuốn « Sức mạnh châu Á: Sự vươn lên của Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản », HarperCollins, New York, 2006. Ngoại trừ có chỉ dẫn ngược lại, tất cả những trích dẫn của các nhà phân tích đều xuất phát từ các cuộc trao đổi.
(7) Được trích dẫn trong bài của Daniel Ten Kate và Nicole Gaouette, « Hoa Kỳ, Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán về công nghệ hạt nhân như là những đối tác tranh giành hợp đồng », Bloomberg, 06/08/2010.
(8) Agence France-Presse, 07/2010.
(9) Carlyle Thayer, « Quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ », hội thảo được tổ chức tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 10/12/2010.
(10) Phỏng vấn dành cho VietNamNet (ấn bản điện tử), 17/02/2010.
(11) Brantly Womack, « Hoa Kỳ và mối quan hệ Trung-Việt », The Asia-Pacific Journal: Japan Focus (ấn bản điện tử), 2008.
(12) Lý Hồng Mai, “Khuyên Việt Nam không nên đùa với lửa », Nhân dân nhật báo, Bắc Kinh, 17/08/2010.
(13) Trung Quốc dùng quân đội chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ tháng Giêng 1974 nhưng Việt Nam và Đài Loan vẫn đòi hỏi chủ quyền của mình ở đây. Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Đài Loan chiếm đóng các đảo khác nhau trong quần đảo Trường Sa (Brunei có đòi hỏi chủ quyền nhưng không đưa quân đội đến đây). Phân tích về các vấn đề chính trị và tìm kiếm giải pháp, xem Stein Tønnesson, trong « Những thay đổi sắp tới của Trung Quốc tại biển Hoa Nam », Harvard Asia Quarterly, Cambridge (Massachusetts), 12/2010
(14) Hoàng Anh Tuấn, « Sự nhích lại gần nhau giữa Việt Nam và Hoa Kỳ : Một câu trả lời », Contemporary Southeast Asia, tập. 32, n° 3, Singapour, 2010.
(15) Carlyle Thayer, « Sự hung dữ của vị trí địa lý : Những chiến lược của Việt Nam nhằm kiềm chế Trung Quốc tại biển Hoa Nam», International Studies Association, Montréal, 03/2011.
@rfi

Cười 1 tý

Nguời Nhật đào đất xuống 500m thấy được 1 sợi dây điện thoại, liền kết luận rằng cách đây 500 năm nguời Nhật đã dùng điện thoại bàn.
Nguời Mỹ cũng đào đất xuống 1000m và thấy được 1 sợi dây cáp, kết luận rằng cách đây 1000 năm nguời Mỹ đã dùng truyền hình cáp.
Nguời Việt Nam liền vào cuộc, đào sâu xuống 2000m mà chẳng thấy được gì hết, nhưng vẫn kết luận rằng cách đây 2000 năm nguời Việt Nam đã dùng điện thoại di động.

BUÔN LẬU

Cô gái chạy xe đạp qua biên giới với 2 bao cát trên lưng, chạy đến chỗ mấy anh biên phòng giữ lại kiểm tra, cô nói chỉ là cát, 2 anh đồn biên phòng không tin bắt bỏ bao xuống kiểm tra. Sau 1 hồi kiểm tra kỹ thì chỉ là bao cát không và cứ thế 2 năm liền cô chạy xe đạp qua biên giới với 2 bao cát trên lưng. Sau này 1 trong 2 anh biên phòng đã nghỉ việc, gặp cô và hỏi :” Tao được đào tạo chuyên nghiệp mà vẫn không biết mày buôn lậu cái quái gì nữa? Cô gái trả lời: em buôn lậu xe đạp!
Công Dụng Máy Vi Tính
 Khách hàng hỏi về công dụng máy tính : Khi tôi mua máy tính tôi sẽ được những gì?
Người bán hàng trả lời : máy tính sẽ giúp cho công việc của anh giảm còn một nữa.
Người khách liền nói : Bán cho tôi 2 cái.
Những động vật nguy hiểm
Cô giáo yêu cầu học sinh lớp một làm văn tả động vật. Đề bài tuần thứ nhất là tả một con mèo. Một học sinh viết gọn lỏn: “Nhà em có một con mèo”.
Khi trả bài, cô giáo hỏi:
- Sao em không tả rõ hơn?
Học sinh đáp:
- Dạ, nhà em có nuôi một con mèo nhưng em chưa được thấy. Vì mẹ em nói ba em có mèo, ba em ra sức giấu còn mẹ em ra sức tìm. Khi nào mẹ em tìm thấy, em sẽ tả kỹ ạ!
Tuần thứ hai, đề bài yêu cầu tả con chó. Học sinh nọ lại viết cộc lốc: “Nhà em có một con chó”.
Cô giáo bảo:
- Em nên tả kỹ hơn!
Học sinh:
- Dạ, con chó còn ở ngoài đường, vì một hôm mẹ em nói với ba em: “Hôm qua đi với con chó nào cả ngày?”. Khi nào nó về nhà em, em sẽ tả kỹ hơn ạ.
Tuần thứ ba, cô ra đề tả con khỉ. Vẫn em học sinh bữa trước viết, lần này thì dài hơn:
“Nhà em có nuôi một con khỉ. Một hôm có một cô rất trẻ đến ngõ nhà em, ba em chạy ra và nói với cô ấy: ‘Con khỉ già đang ngồi trong nhà đấy!’”.
*******************
Những ngày đầu tiên đến lớp cô giáo ăn mặc rất mốt, hôm nay cô ấy mặc một bộ váy rất đẹp và trên ngực áo cài một bông hồng rất xinh xắn,nhưng mấy đứa trẻ chẳng đứa nào để ý cả. Hồi lâu cô giáo muốn khoe cái áo đẹp nên đặt ra câu hỏi thế này:
- Các em có thấy bông hồng rất đẹp trên áo cô không, vậy đố mấy em hoa hồng sống bằng gì?
Sau một hồi suy nghĩ (nát óc,vì tụi nhỏ mới học lớp 1 mà!)  một bàn tay giơ lên:
- Thưa cô! Nó sống bằng sữa ạ!
Tất nhiên là thằng bé bị đuổi ra khỏi lớp ngay lập tức mà chẳng hiểu chuyện gì cả.
Lát sau thầy hiệu trưởng đi ngang qua, thấy thằng bé như vậy thầy mới hỏi,thằng bé kể nguyên văn. Thầy hiệu trưởng cười và bảo thằng bé:
- Lần sau cô có hỏi như vậy thì cháu phải nói là: bông hồng sống bằng nước và phân nghe chưa!
Thằng bé làu bàu:
- Con cũng không nghĩ là rể của nó lại dài đến như vậy!