Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

Tin thứ Ba, 19-07-2011 -ABS

Tin thứ Ba, 19-07-2011

Đăng bởi basamnews on 19.07.2011
Thông báo: Quý độc giả có thể vào xem 5 video, trong số các video biểu tình hôm Chủ Nhật vừa qua, đã được lưu trữ ở cột bên trái của trang này. Năm video này được đặt cố định ở đó cho tới khi đổi video mới, nên độc giả có thể xem bất cứ lúc nào.

Tin thứ Ba, 19-07-2011

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
* ĐẶC BIỆT VỀ BIỂN ĐÔNG:
- Bài của Nguyễn Tường Thụy hôm qua đã điểm rồi nhưng cần điểm lại: Nhật ký biểu tình (DLB). Trong bài tác giả có nói đến người đàn ông đã bị các “bạn dân” khiêng và đạp vào mặt là Nguyễn Trí Đức, sinh năm 1976. Tác giả còn cho biết nghi vấn về an ninh Trung Quốc có mặt cùng với các “bạn dân” ở Mỹ Đình. “Khi xe đi về Mỹ Đình, chúng tôi kiểm quân, đếm được 21 người, tất nhiên không tính những người áp giải chúng tôi. Có một tay thanh niên chừng ngót 30 tuổi. Hỏi gì hắn cũng không nói, chỉ ngơ ngác nhìn. Mọi người  bảo, nó không nói được, vậy đúng là an ninh TQ rồi. Chợt nhớ tới cuộc biểu tình lần thứ 5, có nghi vấn rằng an ninh TQ cũng tham gia giám sát biểu tình. Nếu vậy thì … thôi rồi, đất nước ơi!” Cũng xin nhắc tác giả rằng, “nó không nói được” biết đâu nó bị câm? Cũng có thể nó là người nước khác, không phải TQ? Cũng có thể nó là người TQ vào giúp dân ta vì “láng giềng hữu nghị” mà!  He He! Lần sau các bác có gặp những người này ráng tìm hiểu kỹ hơn. Và đây là thông tin về người đứng trên xe buýt đã đạp vào người đàn ông biểu tình (DLB). Thông tin về người tên Minh này đúng, sai, nhờ độc giả kiểm chứng.

<= Còn đây là tin ngư dân ta bị “bạn láng giềng” nện một trận tơi bời: Chuyến đi biển bầm giập của thuyền trưởng Nguyễn Thừa (SGTT). “‘Sau đó, một người Trung Quốc mặc đồ lính cầm súng đứng trên bo bo, còn khoảng mười người nhảy lên tàu cá, tay cầm súng tiểu liên, dùi cui điện, máy quay phim’, anh Thừa nhớ lại. ‘Tui vừa bước ra khỏi ghế cầm lái, hai người Trung Quốc đã nhào vào đánh. Tui đưa tay vừa đỡ, vừa né đòn của mấy thằng lính to con. Trong lúc né tránh, tui bị tụi nó gí dùi cui điện châm sau lưng, nên tui văng xuống biển. Sau đó, bọn họ đưa dây kéo lên…’ Không chỉ thuyền trưởng bị đánh, những ngư dân còn lại trên tàu cũng bị mấy người Trung Quốc đánh tới tấp bằng dùi cui, bằng tay chân và báng súng.” Ước gì “bạn dân” hoặc “đầy tớ của dân” có mặt ngoài đó!?
- Báo Đài Loan The China Post đăng hình đoàn biểu tình cầm cờ hải tặc Trung Quốc cũng đâu có sai: Vietnam police stop 2nd anti-China rally (China Post). Chắc hình này tới tay “bạn láng giềng”.=>
- Phỏng vấn Giáo sư Phạm Duy Hiển (Hà Nội) và nhà thơ Đỗ Trung Quân (Sài Gòn): Hành động đàn áp biểu tình phản đối Trung Quốc gây bất bình trong dư luận   —  (RFI).
- Nguyễn Bắc Truyển: Đánh đồng bào mình: hành động của kẻ man rợ (DLB).   – Phương Bích: Những người không bao giờ “chết” (DLB) “Một cậu tên Chính kể: hôm nay cháu bị khuân vác không khác gì Phan Nguyên, y như một con vật giữa thủ đô, chúng nó còn đánh cháu, đạp vào người cháu. Một cậu to lớn như hộ pháp cũng kể bị đạp cả vào miệng. Cậu ấy nói chẳng qua mình là người dân, chống lại thì lại bị quy là chống người thi hành công vụ chứ tay bo thì anh em mình chấp cái lũ chó ấy ngay. Cô giáo trẻ Vân Anh kể bị túm tóc giật ngược trở lại”.
<=- Biết rồi, nhục lắm! đừng nói nữa (Nguyễn Đình Đông). “Đành rằng ai cũng có một nghề để kiếm sống. Một vài nghề bình thường, một vài nghề còn vinh quang nữa, công an cũng chỉ là một nghề, nghề vinh quang đấy, nhưng nó chỉ vinh quang khi người công an xả thân bảo vệ Nhân dân ‘Thức cho Dân ngủ ngon, gác cho Dân vui chơi’. Còn, khi đứng về phía bọn cướp biển, về phía bọn bán biển thì thực ra các anh, các bạn đang làm ô nhục nghề nghiệp của mình.” – Ai xúi dục biểu tình ?   —  (Người buôn gió). – Từ cái bắt tay đến bắt bớ (Mẹ Nấm blog).
- CHÍNH PHỦ ĐỪNG ĐI MỘT MÌNH (BS Huy) “Dân muốn đồng hành cùng chính phủ. Dân muốn đứng sau lưng chính phủ, để trên cuộc đàm phán, bất kỳ thế lực ngoại bang nào cũng thấy, đằng sau vị sứ giả Việt là cả một dân tộc đang cuồng nộ, quyết đem máu để bảo vệ từng tấc đất cha ông”.
Độc giả méc:
Đúng là con cháu bà Trưng, bà Triệu!
- Độc giả méc bài hát cho các em thiếu nhi: ĐẤT NƯỚC EM (NgoNguyenTran/ Youtube). “Đất nước em có 2 quần đảo xanh/ Ngoài biển Đông thuộc lãnh hải Việt Nam/ Là Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu”. Các em nhỏ hát “Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu”, chứ không phải là bãi hoang chim ỉa như đồng chí Ba Náo, nguyên Bí thư chi bộ, hiện là Chi ủy viên chi bộ đã nói?
- Bài phỏng vấn GS Carl Thayer về vấn đề biển Đông với nhiều thông tin thú vị: ASEAN United Front – Mặt trận thống nhất ASEAN (GS Carl Thayer).
- Tổng thư ký ASEAN: Ðàm phán Bali sẽ đề cập đến tranh chấp Biển Ðông.   - ASEAN sẽ hoàn tất quy tắc hướng dẫn thi hành Tuyên bố ứng xử ở Biển Đông cuối năm nay  —  (RFI). – Biển Đông – Việt Nam muốn ASEAN là diễn đàn cho các đàm phán: South China Sea: Vietnam wants ASEAN as forum for negotiations (Asia News). “Vietnam now wants the issue of sovereignty to be debated in an international forum and has called on the United States and ASEAN to play a role in finding a peaceful solution through negotiations that would also guarantee free shipping in the sea”.
- Mặc dù có tin Nghị quyết 352 về biển Đông đã được Hạ viện Mỹ thông qua, nhưng theo CTV của BS thì nghị quyết này mới được đệ trình lên Hạ viện Mỹ, chưa được thông qua. Phải còn trải qua thêm 2 bước nữa là “Reported by Committee” và “House Vote” mới biết được Hạ viện có thông qua hay không. Mời bà con vào đây xem tình trạng của Nghị quyết 352. Nghị quyết về Biển Đông được đệ trình lên Hạ viện Mỹ (DVT).
- Báo Trung Quốc: căng thẳng vẫn còn ngay cả sau chuyến viếng thăm của Tham Mưu trưởng Liên quân Mỹ, Mike Mullen Tensions remain even after Mullen’s visit (China Daily). Bài báo này nói về 3 mâu thuẫn chính giữa 2 nước Trung – Mỹ sau đây, là nguyên nhân gây ra căng thẳng giữa 2 nước:
1- Lập trường khác nhau về tự do đi lại trên biển: Trung Quốc chỉ muốn “tự do” là các tàu bè thương mại được tự do lưu thông trên biển, trong khi Mỹ quan tâm nhiều hơn về sự tự do tuần tra, do thám của Mỹ trong khu vực.
2- Mỹ củng cố sự hiện diện ở ĐNA và tổ chức các cuộc tập trận với các nước có tranh chấp lãnh hải trên biển Đông, hành động này vào thời điểm nhạy cảm được xem như Mỹ có sự lựa chọn đứng về bên nào.
3- Trong khi Bắc Kinh đòi giải quyết tranh chấp với các nước láng giềng trên cơ sở song phương thì Mỹ lại ủng hộ mãnh mẽ phương cách đa phương.
- Tác giả khuyên chính phủ Mỹ nên nghe theo Thượng Nghị sĩ Jim Webb, tập trung vào vấn đề châu Á, thay vì Trung Đông: America’s ‘Munich Moment’? (The Diplomat). Liền thì có “bạn láng giềng” vào comment: “Tôi thích Jim Webb, nhưng trong trường hợp này, ông ta đứng về phía vợ, là người Việt Nam”. “I liked Jim Webb, but in this case, he is just taking the side of his wife, who is a vietnamese.”
Trong bài có đoạn: “Another way of looking at the South China Sea, then, is this: has Beijing built up a similarly unambiguous record of aggression, rendering any compromise between the United States and China a sellout of friendly Southeast Asian governments—a result Washington ought to foresee and avert?” Tạm dịch: Một cách khác để xem xét vấn đề biển Đông, đó là: Bắc Kinh đã gia tăng kỷ lục về sự hiếu chiến rành rành, làm cho bất kỳ sự thỏa hiệp nào giữa Mỹ và Trung Quốc, là bán đứng chính phủ các nước Đông Nam Á thân thiện, một kết quả Washington nên thấy trước và ngăn chặn. Bài này: China Daily “quýnh” ông James Holmes, tác giả bài báo trên The Diplomat.  “It seems unlikely the United States will appoint itself spokesperson for Asian governments in the South China Sea, according to James Holmes, associate professor of strategy at the US Naval War College, in an article on the website of The Diplomat on July 17, 2011”.
- Vì sao Trung Quốc muốn biển Đông? Theo bài báo, là vì chiến lược hạt nhân của Trung Quốc để thống trị ở biển Đông: Why China Wants South China Sea (The Diplomate). “It’s clear that China’s claims and recent assertiveness have increased tensions in this key body of water. Yet while most attention has focused on Beijing’s appetite for fishery and energy resources, from a submariner’s perspective, the semi-closed sea is integral to China’s nuclear strategy. And without understanding the nuclear dimension of the South China Sea disputes, China’s maritime expansion makes little sense.”
- Trung Quốc phụ thuộc quá lớn vào dầu mỏ ở Trung Đông tiếp tục thúc đẩy tranh chấp với các nước láng giềng trên biển Đông: Mideast Oil Drives China Disputes (RFA English).“A Radio Free Asia review of China’s customs data found that nearly half of the country’s imported oil has come from the Middle East and North Africa this year. The proportion rises to nearly 80 percent with the inclusion of other African sources such as Angola and Sudan.” =>
- Cư dân Philippines giữ đảo: Filipinos fly flag in South China Sea (AFP). Chính phủ Phi khuyến khích người dân đến sống ở các hòn đảo trên biển Đông, bằng cách giúp họ công việc làm, nhà ở, cung cấp miễn phí: gạo, dầu ăn, đường, mì, đồ hộp…Residents are attracted there by the government-provided jobs and housing, as well as the free provisions of essentials such as rice, cooking oil, sugar, noodles and canned food.”
- Năm dân biểu Philippines trong Quốc Hội Philippines sẽ đến thăm quần đảo Trường Sa thứ Tư này: House contingent to visit Spratlys on Wednesday (Nation). Chắc đại biểu QH khóa 13 của ta mới được dân bầu cũng sẽ ra thăm Trường Sa?
- Phỏng vấn TS Nguyễn Xuân Diện, blogger Gốc Sậy và Giáo sư Nguyễn Huệ Chi: Hành xử của công an với người biểu tình  —  (RFA) Đã nói rằng là yêu nước là phẩm chất, là tố chất đẹp nhất mà bây giờ lại đi đánh vào yêu nước thì anh nghĩ là gì? phải chăng chính quyền đang trở thành cảnh sát?”.  – Hình ảnh xấu hổ (Trương Duy Nhất).   – Cú đạp dã man vào lòng yêu nước “…cú đạp dã man ấy đã đạp đứt tan chữ “nhân dân” trong cái tên của nó”.
- Trần Trường Thủy: Những diễn biến mới trên Biển Đông (TVN/CSIS).
- Chinese Military Chief’s Rudeness Bodes Ill for the Future (Chosunilbo). Tạm dịch: “Sự khiếm nhã của người đứng đầu quân đội Trung Quốc báo trước điều không hay cho tương lai. Bài nói về tướng Trần Bỉnh Đức khi gặp ông Kim Kwan-jin, Bộ trưởng Quốc phòng Nam Hàn, đã bỏ 15 phút nói xấu Mỹ trong bài diễn văn. Bài báo cho biết: “Những lời bình luận của Trần Bỉnh Đức là khiếm nhã và vi phạm nghi thức ngoại giao. “Chen’s comments were discourteous and violated diplomatic protocol.”
- Gia tăng ảnh hưởng của Mỹ ở châu Á: US delegation tours Pacific island states (World Socialist Web Site). Phái đoàn Mỹ đi thăm 9 nước là các đảo ở Tây Thái Bình Dương, đó là các nước: Kiribati, Samoa, Tonga, Solomon Islands, Papua New Guinea, Palau, Federated States of Micronesia và the Marshall Islands.
- Hoa hậu HIV: quê hương đất nước, trách nhiệm của mọi người  —  (RFA)
- ‘Chống thù địch, bảo vệ Đảng và Nhà nước’  —  (BBC) Đặc biệt, nhiệm vụ bảo vệ Đảng cầm quyền được đặt lên trước “bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ Xã hội Chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân”.
- Bàn giao và hạ thủy tàu thứ ba cho Cảnh sát Biển (TTXVN).
- Joseph S.Nye. Jr: Bàn về sức mạnh mềm (Phần 1) (TS).
- Lá gan nghị sĩ  —  (Tuanddk) “Hôm qua, ông Vũ Mão, nguyên một quan chức cấp cao của QH cho rằng đưa vấn đề Biển Đông ra trước QH là việc làm “cần thiết”, “đúng đắn”, và “như vậy mới đảm bảo tính kịp thời”. Ông Mão cũng cho rằng: “Sản phẩm phải là một Nghị quyết”. Một nghị quyết để các nghị sĩ có thể ngẩng cao đầu. Một nghị quyết để nhân dân hiểu được trách nhiệm và thái độ của QH trước một vấn đề hệ trọng của đất nước. Nhưng, vẫn phải viết ra một chữ nhưng, nhiều khả năng Chính phủ sẽ chỉ có một báo cáo về công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh, trật tự vùng biển đảo, liên quan đến tình hình biển Đông, để “các đại biểu tự nghiên cứu”. Sẽ lại là một nụ cười đồng loã với lạm phát? Sẽ lại là sự trật tự trong im lặng với tình hình Biển Đông đang căng như dây đàn? Điều này phụ thuộc vào lá gan của các nghị sĩ dù quyền miễn trừ đối với những phát biểu công khai trên nghị trường vẫn là bất biến. Một Quốc hội thực sự xưng là đại diện không thể lảng tránh những vấn đề người dân quan tâm”.
- Nguyên PTT Vũ Khoan: “Cần có trái tim nóng và cái đầu lạnh” (TVN).
- Nhiều phương án lựa chọn cơ cấu Chính phủ khóa XIII (VnMedia).
- Làm bộ trưởng vừa khó vừa dễ (VNN) “Tiêu chuẩn cho chức danh bộ trưởng có nhiều, trong đó có 2 tiêu chuẩn: phải là ủy viên trung ương và về nguyên tắc đã kinh qua vị trí lãnh đạo, quản lý ở cấp tỉnh. Hai tiêu chuẩn quan trọng này đã loại đi khá nhiều người có năng lực thực sự, có trình độ đủ sức làm bộ trưởng. Không đổi mới vấn đề này, rất khó có được các bộ trưởng giỏi trong Chính phủ. Thậm chí bộ trưởng có nhất thiết phải là đảng viên hay không cũng cần đặt ra để xem xét”.
- Tự do ngôn luận: Mừng hay lo? (VEF/Economist). “Về nguyên tắc, nên vui mừng cho tự do ngôn luận này. Một môi trường báo chí có sự tham gia của toàn xã hội, với phạm vi và nguồn tin đa dạng. Tuy nhiên những người cai trị độc tài lại lo sợ nhiều hơn“.
- Hic! Đọc cái tựa nầy, người ta dễ hiểu lầm là mấy tay cảnh sát London nghe lén điện thoại nên phải từ chức: Nghe lén điện thoại: Giám đốc và Phó Giám đốc Cảnh sát Luân Đôn từ chức (Tin tức)  – Còn cái tựa nầy cũng ngộ: Phóng viên cáo giác tờ NoW nghe lén đã tử vong (TTXVN). Thứ nhất, “NoW” là cái gì? Coi chừng lầm với cái này: NOW.vn – Mạng thương mại điện tử theo phong cách Việt Nam. Thứ hai: chỉ khi đưa tin tiếp về một trường hợp nạn nhân đang nguy kịch, rồi chết, mới dùng cụm từ “đã tử vong”. Nên trong trường hợp này phải viết là “được phát hiện đã chết”.
13h20′:
- Tường thuật của bogger Gốc sậy: “Nào mình cùng lên xe buýt” (Hãy dành thời gian/ Da vàng).
- Thư gửi Nhân sỹ Hà tây (Lê Dũng) “Nay Hà Tây không còn nhưng Hà nội sẽ là Quê mới, truyền thống đất thiêng nảy sinh nhân tài sẽ được hòa chung với Hà nội thanh lịch hào hoa, ngàn năm văn hiến. Để không còn cảnh người giết người giữa ban ngày, cảnh sát ” tẩn” Dân chỉ vì Dân Ái Quốc”.
- BIỂN VÀ ĐẤT – HAI NỖI ĐAU CẮT RUỘT  —   (Nguyễn Trọng Tạo) “Dân ta sao khổ thế: Ngoài biển thì bị lính Tàu đánh người cướp của, trên đất thì bị công an đạp vào mặt. Mà họ có tội gì đâu. Họ đi biển để làm ăn trên biển của Tổ quốc mình, và họ đi biểu tình để phản đối quân cướp biển. Những việc làm ấy không những không có tội mà là việc làm của những người yêu nước và mong cho nước nhà tự do độc lập, bình yên. Sao bọn Trung Quốc lại đánh dân ta? Sao công an bảo vệ dân lại đạp vào mặt dân mình?”.
- Kami: Khi mỗi chúng ta đã vượt qua được nỗi sợ hãi (RFA’s blog) Biểu tình phản đối Trung quốc của quần chúng nhân dân ở Sài gòn và Hà nội đã làm cho chính quyền ở thế rất lúng túng, càng thẳng tay đàn áp nhưng người biểu tình yêu nước thị họ càng bị suy giảm và dần mất lòng tin đối với dân chúng”.
- Công trường và Binh đoàn  —  (Boxitvn)Người viết bài này đã có một lần được một người bạn của nước bạn dẫn đến một công trường xây dựng và giới thiệu: “Đây là một đơn vị xây dựng có kỹ thuật và kỷ luật cao, nếu trao vũ khí cho họ thì sẽ trở thành binh đoàn hùng mạnh. Không biết hiện nay trên mảnh đất hình cong chữ S, tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta có bao nhiêu công trường, nông trường, khu phố người Hoa? Chỉ biết rằng rất nhiều”.
KINH TẾ
- KHI THƯƠNG LÁI TRUNG QUỐC GOM HÀNG: Thuê đất trồng khoai (NLĐ).
- Phạm Duy Nghĩa: Ai lo giữ mái nhà chung? (SGTT).
- Ngoại trưởng Mỹ Clinton ủng hộ Hy Lạp trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính  —  (RFI).
- Phỏng vấn ông Huỳnh Bửu Sơn: Chống trì trệ bằng chính sách tín dụng chọn lọc  —  (RFA).
- Siêu ưu đãi để xây trung tâm ôtô quốc gia, lợi ai? (VEF).
- Ford Việt Nam bị truy thu thuế hơn 32 tỷ đồng (TP).
- Agribank thay tướng, vì sao? (Bút lông).
- Nhàn nhã, nhà đầu tư chứng khoán thành… thi sĩ (VEF).
- Trả món nợ 20 năm cho nông dân  —  (RFA).
- Phỏng vấn ông Lê Phước Thọ: “Ở xa Trung ương quá…!” Trung ương mà không sớm thay đổi cung cách chỉ đạo thì ĐBSCL chưa thoát nghèo được” (TVN).
13h20′:
VĂN HÓA-THỂ THAO
- Lễ hội đền Trần: Vẫn tiếp tục đóng ấn (PLTP).
- Phim lịch sử- cổ trang Việt Nam: Cần xem lại cách “hành xử” (VH).
- DẤN THÂN VÀO CẢNH “NÓNG”: Đi qua dư luận (NLĐ).
- TƯỜNG THUẬT TRỰC TIẾP HỘI THẢO VỀ LỄ HỘI ĐỀN TRẦN (Nguyễn Xuân Diện).  – Đi tìm mô hình thích hợp cho lễ hội đền Trần (Tin tức).  – Bàn về lễ phát ấn đền Trần Nam Định: Vẫn chưa ngã ngũ (SGGP).  – Khai ấn đền Trần: Chật vật tìm tiếng nói chung (GDVN).
- Diễn biến mới xung quanh đề cử các giải thưởng: Liệu có thuyết phục? (SGGP).  – Bản “danh sách 28″& chuyện lùm xùm giới nhạc sĩ (NNVN).
- Cơ chế xin cho và những cuộc tranh cãi vô bổ (Gocomay)Trong lúc bà con ngư dân ta đang bị bầm dập ngoài biển đảo của tổ quốc, bị cướp hết cá mú, bị đâm chìm hay tịch thu hay phá hỏng ngư cụ khiến tán gia bại sản. Thì trong bờ các nghệ sỹ cứ mê mải chạy theo những Cánh diều (Bông sen) vàng bạc hay giải thưởng và danh hiệu cao quí khác mà quay lưng lại với bao sự kiện nóng hổi, kể cả những cuộc xuống đường vì lòng yêu nước của bao con người từ già tới trẻ”.
- Tặng hay vẫn là Xin và Cho? (TVN) Có lẽ trong lịch sử xét tặng danh hiệu NSND, NSUT của Việt Nam cho đến giờ này chỉ có một ngoại lệ. Đó là trường hợp nghệ sĩ biểu diễn piano Đặng Thái Sơn được Nhà nước phong tặng vượt cấp danh hiệu NSND không phải qua cơ chế “xin- cho” phức tạp ở độ tuổi 26 vào năm 1984″ … “Cũng có một số ngoại lệ mà cá nhân không phải làm đơn “Xin- cho” nhưng cũng được Nhà nước xét và phong tặng khi đã là người của… thế giới bên kia”.
- “Cây búa” Nguyễn Hòa: Giải thưởng Nhà nước, hay Chiếc Bánh để chia chác ? (Lê Thiếu Nhơn).
- Hội Điện ảnh Việt Nam: Đạo diễn Nguyễn Thước làm đúng tiêu chí (TT&VH).
- William Lee Adams: Khi sự gợi cảm bị lạm dụng (TVN/Times).
- Nhân văn giai phẩm: Phần XVII : Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) – Bài 1: Giai đoạn trước 1954  —  (RFI).
13h20′:
GIÁO DỤC-KHOA HỌC
- Hai cử nhân khuyết tật tham gia chương trình cao học trên mạng   —  (RFA). =>
- Sinh viên bị gạ tình bị đề nghị kỷ luật (!) (NLĐ) “…vì D. đã có một số sai phạm trong quá trình làm đơn tố cáo thầy Ninh, như: tố cáo vượt cấp; ghi âm cuộc trao đổi với thầy Nguyễn Tấn Vui, Bí thư Đảng uỷ Trường ĐH Tây Nguyên, mà không xin phép và phát tán ra ngoài; tố cáo thầy Ninh không quan tâm hướng dẫn làm luận văn là sai vì thực tế thầy Ninh thường xuyên chỉ dạy cho em D. trong quá trình làm luận văn và kết quả bài luận văn rất cao (9 điểm)”.
- Cô giáo bị trượt vì thiếu số đo vòng 1:Các cơ sở y tế phải xin lỗi (Tin tức).
- Đình chỉ giảng dạy người bị tố “gạ tình” (TP).
13h20′: – TT ngoại ngữ “đầu khủng long đuôi thằn lằn” (TT).
XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG
- 9 ngư dân bị Brunei bắt giữ: Đơn thân gánh họa (DV).
- Vụ chết người tại BV Năm Căn: Khởi tố thêm hai vụ án“chống người thi hành công vụ và hủy hoại tài sản. Trước đó, viện cũng đã phê chuẩn hai quyết định khởi tố vụ án gây rối trật tự công cộng và hiếp dâm” (PLTP). Tuy nhiên lại Bỏ ngỏ khả năng khởi tố “đối với trách nhiệm của bác sĩ Tú và ê kíp trực trong cái chết tức tưởi của em Huyền” (NLĐ).
- Vụ nhà báo Hoàng Hùng: Ông Tâm bày bà Liễu cách đối phó (NLĐ).
- Trung tâm ngoại cảm mọc như… nấm (DV).
- Tràn lan quân trang, quân phục giả (VTC).
- Việt Nam phát hiện cộng đồng vượn quý hiếm lớn nhất (ĐV).  – Rare gibbon community found in Vietnam (CNN).
13h20′:
QUỐC TẾ
- Thị trấn Brega đắm chìm trong các cuộc giao tranh trên đường phố  —  (VOA).  – Nga từ chối công nhận chính phủ lâm thời Libya  —  (RFI).
- Binh sĩ Syria tập trung ở thị trấn biên giới trong lúc căng thẳng gia tăng  —  (VOA).
- Đồn cảnh sát ở Tân Cương bị tấn công  —  (BBC).  – Bạo động tại Tân Cương, ít nhất 4 người thiệt mạng  —  (VOA).
- Lãnh đạo Bắc Kinh kỷ niệm 60 năm Trung Quốc cai trị Tây Tạng  —  (VOA).
- Cảnh sát Anh rúng động vì hai vụ từ chức  —  (BBC).
- Dân Thái không muốn ông Thaksin can thiệp chính trị (NLĐ).
- Tòa án Quốc tế buộc Cam Bốt và Thái Lan rút quân khỏi đền Preah Vihear  —  (RFI).
- Trung Quốc vỡ mộng xe lửa cao tốc  —  (RFI).
- Khi Cuba sợ mất Chavez  —  (RFI).
- Sudan không cấp quy chế song tịch cho người dân Nam Sudan  —  (VOA).
- LHQ thành lập khu phi quân sự quanh đền Preah Vihear (TT&VH).
13h20′:

Giê - su qua cái nhìn của người Phật tử

Bài thuyết trình của GS André Bareau  (Giáo sư Collège de France) tại Trung Tâm Văn Hóa Tin Lành dòng Luther, Paris, ngày 11 Tháng 12 năm 1984.
"Giê-su qua cái nhìn của người Phật tử": đây là một đề tài lý thú, nhưng quả thật là khó. Trước hết, trong tất cả những đạo lớn của thế giới, có lẽ đạo Phật là đạo xa cách đạo Ki-tô nhất trong giáo lý cơ bản và trên nhiều điểm quan trọng, mặc dù vẫn gần gũi, hay có vẻ gần gũi, trên nhiều điểm khác. Thứ đến, với thời gian, trên con đường phát triển, đạo Phật đã mang rất nhiều hình tướng khác nhau, hội nhập vào nhiều nền văn minh khác nhau, vào nhiều dân tộc khác nhau, do đó giữa những người Phật tử có thể có những "cái nhìn về Giê-su" rất khác nhau. Sau hết, nếu chúng ta biết khá rõ về cái nhìn của người Phật tử, nhất là Phật tử thời nay, về đạo Ki-tô, chúng ta rất hiếm khi được nghe nói đến quan niệm của họ về cá nhân Giê-su.
*
Trước khi tìm hiểu người Phật tử thực sự nghĩ sao, tôi thiết nghĩ cần phải dựa trên giáo lý cơ bản của kinh điển nguyên thủy đã được ghi chép lại từ hơn 20 thế kỷ nay để xét xem người Phật tử sẽ phải nghĩ thế nào về người sáng lập đạo Ki-tô.
Có lẽ quý vị đều đã biết, đạo Phật là một đạo có đặc điểm, rất khó hiểu cho người phương tây chúng ta, là không những từ chối không chấp nhận một Thượng Đế độc nhất, thường hằng, quyền phép vô biên, tạo hóa mọi sự vật, chủ tể mọi loài trong vũ trụ, mà còn không chấp nhận một nhân thể thường hằng tương đương với cái mà chúng ta gọi là linh hồn. Chính vì phủ nhận nguyên lý một nhân thể thường hằng mà người Phật tử không thể chấp nhận một Đấng Tạo Hóa như người phương tây chúng ta thường quan niệm.
Cũng nên nói cho rõ hơn: Đạo Phật chưa bao giờ phủ nhận sự hiện hữu của các thần linh, trái lại nữa là khác, theo đạo Phật có hằng hà sa số các vị trời, hàng triệu thần tiên đủ loại, lớn nhỏ, thiên thần cũng như địa thần; có những vị thù thắng vi diệu, thân toàn ánh sáng sống bằng lạc thọ, có những vị thân thể thô thiển hơn nhưng mắt trần không thể thấy,  tất cả đều quyền phép oai vũ hơn người trần rất nhiều. Tuy nhiên, mỗi vị trời dù đứng thứ bậc nào trong địa vị thần linh, dù oai linh quyền phép đến đâu đi nữa cũng vẫn bị hạn chế trong thời gian sống và trong quyền phép của mình. Mỗi vị sinh ra, bỗng nhiên hóa hiện ra giữa các vị trời, sống rất lâu, hàng tỷ năm (người Ấn Độ thường vẫn hay phóng đại rất nhiều khi có dịp tự do vận dụng trí tưởng tượng vốn rất phong phú của họ), sống sung sướng an lành, không đau đớn, không phiền não lo âu, không bệnh tật, không chết chóc như các loài hữu tình khác, là loài người hay không phải là loài người. Nhưng đời sống này dĩ nhiên sẽ phải có kết thúc, cũng như mọi sự mọi vật đã có bắt đầu, đã được sinh ra. Một ngày kia, vị trời này sẽ mất đi, bỗng nhiên biến đi, không đau đớn lo âu, và sẽ tái sinh như bất cứ một hữu tình nào khác, vào cõi trời, hoặc cõi người, hoặc cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ, tùy theo nghiệp quá khứ của vị đó. Vốn không thường hằng, vốn được sinh ra và mất đi như các hữu tình khác, vị trời này dĩ nhiên không thể là đấng tạo ra vũ trụ và những loài sinh sống trong đó. Quyền phép dù rộng lớn đến đâu đi nữa nhưng vẫn có giới hạn, vị trời này không thể là chủ tể mọi loài, mọi sự, mọi vật.
Không chấp nhận một Đấng Tạo Hóa, theo quan niệm chúng ta thường có bên phương tây Ki-tô giáo, người Phật tử dĩ nhiên không thể chấp nhận tính thiên khải của Giê-su. Đối với họ, dựa theo lịch sử, Giê-su chỉ là một con người. Tuy nhiên, với tất cả những đức tính hiển nhiên của ngài, chắc chắn sau đó ngài đã sinh vào cõi trời do thọ hưởng quả lành, do sự "chín muồi" của các thiện nghiệp. Tóm lại, qua lối nhìn của đạo Phật, con người Giê-su, sau khi chết, chắc đã trở thành một vị trời, nghĩa là một loại siêu nhân được xác định rõ ràng với những tính chất đặc thù, với quyền phép, với đời sống lâu dài, với những sinh hoạt đặc biệt; sinh hoạt này có thể là sự quán chiếu chân lý (contemplation de la vérité) hay chỉ là quán trí tiếp cận chân lý (méditation d'approche), hay chỉ là hưởng thụ lạc thú của thiên giới qua mọi hình thái khác nhau, có dục tính hay không dục tính, hoặc kiểm xét sinh hoạt của loài người. Khi vị Giê-su, đã trở thành trời trong điều kiện kể trên, chết đi thì, trong một tương lai xa hay gần, tùy theo địa vị hiện tại của ngài trên cõi trời, ngài sẽ tái sinh lại, cũng như vô số lần khác trong quá khứ. Chắc ngài sẽ sinh lại cõi trời hay cõi người tùy theo đức hạnh và thiện nghiệp của ngài, ngài sẽ không bị thu hút vào những cõi xấu xa như những kẻ tham ác, rơi vào những cõi súc sinh, ngạ quỷ. Nói cách khác, trong đời sống tương lai, Giê-su có thể còn giữ được tính trời của mình, theo ý nghĩa của đạo Phật, hay sinh vào cõi người , và trong trường hợp này sẽ hành động như một vị Cứu tinh (Messie), trong giới hạn mà đạo Phật đã định cho vai trò này. Như vậy, đạo Phật không phủ nhận tính trời của Giê-su, tính trời được hiểu theo một ý nghĩa nào đó, cũng như không phủ nhận tính người của ngài; tuy nhiên hai tính này không thể tồn tại cùng một lúc mà phải kế tiếp nhau.
Nếu con người Giê-su sinh ra cách đây ngót hai mươi thế kỷ đã trở thành một vị trời, người Phật tử có thể dễ dàng chấp nhận chuyện này, thì ngài rất đáng được kính trọng, đáng được tôn sùng như các vị thần linh khác, được mọi người tôn kính thờ phượng do vô số thiện nghiệp của các ngài trong các đời sống trước; chính tính trời của các vị là bằng chứng rõ ràng về những thiện nghiệp của các vị trong các kiếp trước. Hơn nữa, nghi lễ của đạo Ki-tô không đòi hỏi sát sinh, cũng giống như nghi lễ đạo Phật, vì sát sinh để cúng tế là phạm vào một trong những giới cấm cơ bản chung cho cả hai đạo, người Phật tử không thể chê trách gì tín đồ Ki-tô khi những người này tôn thờ Thầy của họ, Chúa của họ.  Còn hơn thế nữa, không gì ngăn cản người Phật tử tôn sùng Giê-su cũng như tôn sùng các vị thần linh khác xuất xứ từ Ấn Độ Giáo; trong nhiều chùa ta thường gặp đền thờ các vị thần này.
Thật vậy, ngược với đạo Ki-tô, sinh ra trong những điều kiện hoàn toàn khác, đạo Phật không những chưa bao giờ phủ nhận sự hiện hữu hoặc phủ nhận tính trời của vô số vị trời của Ấn Độ cổ xưa, hay của các xứ mà đạo Phật truyền tới, mà đạo Phật cũng không hạ thấp các vị trời đó xuống hàng những loài quỷ, xấu xa và tàn bạo, hiện thân của mọi điều xấu. Ngược lại, đạo Phật đã thu nhập tất cả những vị này, kể cả những vị vốn rất hung dữ cũng được mau chóng chuyển hóa. Còn hơn thế nữa, đạo Phật đã nâng các vị thần này lên hàng mẫu mực cho Phật tử cư sĩ, nhưng không thể là mẫu cho hàng tăng sĩ vì đời sống quá sung sướng của cõi trời khiến các vị trời không thể thành tu sĩ khổ hạnh, không thể trì hành các giới luật nghiêm túc và khắc khổ, con đường duy nhất đưa đến giải thoát, Niết-bàn.
Trong cõi trời rất phong phú và phức tạp của đạo Phật, rất hiếm có những vị trời còn giữ tính dữ dằn hoặc thực sự căm thù đối với loài người. Nếu có, thường chỉ là những vị địa tiên thuộc những tầng thấp nhất, những vị tiểu thần của một thôn xóm nào đó, hay là Mâra, thần chết, đối thủ chính và dai dẳng của đức Phật, vì ngài dạy cho muôn loài phương pháp để thoát khỏi sự chết, hay đúng hơn những sự chết kế tiếp nhau, hệ quả của tái sinh. Thật ra, Mâra là một hình ảnh có tính biểu tượng, chỉ được dùng trong đạo Phật, và theo truyền thuyết thì thường thường lố bịch hơn là đáng sợ, ngay cả lúc vị thần này xua đoàn quân quỷ ghê gớm do nó hóa hiện ra để tấn công đức Phật và đức Phật đã xua tan chúng chỉ bằng một niệm của ngài.
Việc các vị trời, ngoại trừ một vài vị rất hiếm, đều là những hữu thể hiền hoà xứng đáng được tôn kính, là một chuyện rất dễ hiểu theo giáo lý nhà Phật; nếu các ngài trở thành trời, được hưởng hạnh phúc tuyệt vời của cõi trời là vì các ngài thừa hưởng quả báo của vô số thiện nghiệp trong những đời trước. Trở lại đề tài của chúng ta, nếu con người Giê-su đã trở thành một vị trời, và đứng trên quan niệm Phật giáo thì chuyện này rất đáng tin, ngài xứng đáng được mọi người tôn kính thờ phượng, không chỉ những tín đồ đạo Ki-tô, mà kể cả những người Phật tử cũng như những người theo đạo khác.
Con người Giê-su trở thành một vị trời do đó được kính trọng, phải chăng điều này có nghĩa là giáo lý của ngài dạy cách đây hai nghìn năm và được tín đồ truyền tụng đến ngày nay cũng phải được trọng vọng như vậy? Nói cách khác, với người Phật tử, giáo lý của Giê-su, đạo Ki-tô, có đáng được trọng vọng bằng những thiện nghiệp của ngài không? Chắc chắn là đáng trong chừng mực mà giáo lý của ngài phù hợp với lời dạy của Đấng Thế Tôn, nghĩa là có ích lợi cho con người, giúp con người tiến bộ trên con đường giải thoát hay ít ra giúp tái sinh trong cõi trời hay cõi người chứ không bị rơi vào những cõi xấu xa khác. Trái lại, cũng không đáng, vì giáo lý của Giê-su đưa con người xa rời Con đường dẫn đến Giải thoát, hay đúng hơn khiến con người ngừng lại dọc đường, chỉ dẫn đến tái sinh nơi thiên đàng của một vị trời trong một thời gian có giới hạn, dù giới hạn này có dài lâu đến đâu đi nữa, và làm cho con người lầm tưởng rằng sẽ được ở đó vĩnh viễn. Tóm lại, giáo lý của Giê-su chỉ dành cho cư sĩ, những người muốn có một đời sống tương lai càng sung sướng, càng lâu dài càng tốt, trong khi giáo lý của đức Phật nhắm những tu sĩ, những người, sau khi thấu rõ tính chất vô thường, sự giới hạn trong không gian và thời gian, của vạn vật, kể cả hạnh phúc trong cõi trời, không vừa lòng với hạnh phúc đó, quyết định đạt đến Niết-bàn, chấm dứt mọi tái sinh, dù trong cõi nào đi nữa.
Hệ luân lý Giê-su truyền dạy cho tín đồ ngài hầu như in hệt hệ luân lý đức Phật dạy cho Phật tử. Không những cả đôi bên đều ngăn cấm làm điều ác, lớn hay nhỏ, như giết người, trộm cắp, tà hạnh, hưởng thụ, dối trá, phóng dật, v.v..., mà cả đôi bên cũng đều luôn luôn khuyên bảo tín đồ mình nuôi dưỡng và thể hiện những đức tính như lòng nhân ái, lòng từ bi, tính kiên trì, lòng từ thiện, lòng khoan dung mỗi khi bị xúc phạm, vv... Cả hai đều thấy rõ là sự thể hiện hệ luân lý chung này chỉ là bước đầu, rất cần thiết nhưng không đầy đủ, trên con đường dài đưa đến mục tiêu tối hậu do các vị sáng lập đạo giáo vạch ra cho tín đồ của mình, thiên đàng cho người theo đạo Ki-tô, Niết-bàn cho Phật tử. Tóm lại, cùng truyền dạy một hệ luân lý chung như là bước đầu cơ bản, Giê-su và đức Phật lúc đầu dẫn đắt tín đồ của mình trên cùng một con đường, một con đường dài và khó khăn cho nhiều người nhưng không thể tránh khỏi để chuẩn bị cho chặng đường sau, cho một đời sống đạo hạnh, tu luyện tâm linh để đạt đến quả vị tối hậu đã vạch ra.
Ngoài những điểm tương đồng kể trên, giáo lý của Giê-su và giáo lý của đức Phật khác biệt nhau rất xa. Với đức Phật, giáo lý của Giê-su sai lạc, không đúng với sự thật, không đúng với những Thánh đế mà tu sĩ Gotama đã "giác ngộ", vì nghĩa chính của chữ  "Bụt-đà" (Bouddha) là giác ngộ. Như vậy, giáo lý đạo Ki-tô, với hệ luân lý cao đẹp, dẫn dắt tín đồ mình sinh vào một cõi trời, nhưng lại ngăn chận không cho tiến xa hơn, tới sự giải thoát khỏi vòng luân hồi, đạt đến Niết-bàn, vì làm cho tín đồ mình hiểu sai lầm rằng hạnh phúc trên cõi trời là mục đích cao cả nhất. Đối với người Phật tử, Giê-su đáng tôn kính vì đã dẫn dắt, bằng hệ luân lý của ngài, con người đến cõi sung sướng, nhưng ngược lại ngài cũng không đáng tôn kính vì đã truyền cho tín đồ một đạo lý sai lạc. Giáo lý này sai lạc vì nó dựa lên lòng tin nơi một vị trời độc nhất, thường hằng và tạo hóa mọi vật, tin vào một linh hồn vĩnh cửu, ẩn trong mỗi con người. Nó sai lạc vì nó không chấp nhận lẽ vô thường, lẽ vô ngã, do đó đưa đến phiền não khổ đau, của mỗi hữu tình. Nó còn sai lạc vì nó khuyên dạy tín đồ phát triển lòng sùng bái vị trời của họ và lòng thương yêu những con người khác, cả hai tính này đều có cơ sở là tham ái, trong khi đức Phật khuyên dạy phải xa lìa tham ái dưới mọi hình thức vì nó là một chướng ngại quan trọng trên con đường giải thoát, ngược lại, ngài khuyên dạy phải phá chấp một cách triệt để, ngay cả trong khi thể hiện đến tột cùng những đạo hạnh cao đẹp nhất, như lòng nhân ái, lòng từ bi, lòng từ thiện, tính khoan dung.
Như vậy, đứng về lý, đối với Phật tử, Giê-su là một con người đáng kính trọng, đáng thờ phượng, là một vị thánh nhân và chắc đã trở thành trời sau khi là một con người, cách đây ngót hai mươi thế kỷ. Tuy vậy ngài vẫn thua xa đức Phật, dù đức Phật vẫn mang thân người trong kiếp sống cuối cùng, trong khi Giê-su có lẽ đã thành trời trong đời sống đó. Thật ra, dưới con mắt những người Phật tử, tôn sư của họ, dù vẫn còn sống trong cõi người, đã tự nâng mình lên cao hơn mọi vị trời, đã "giác ngộ" Chân như, tìm ra con đường đưa đến Niết-bàn, điều mà không một vị trời nào có thể làm nổi chính vì tính trời của họ. Thật vậy, hạnh phúc toàn hảo của các vị trời khiến các ngài không thấu rõ được phiền não khổ đau tiềm ẩn trong mỗi hữu tình, dù có mang hình thái nào đi nữa. Chính sự chứng ngộ khổ đau này, đối với người Phật tử, là bước đầu trên con đường rất dài và rất khó đưa đến giải thoái khỏi vòng luân hồi.
*
Sau khi đã tìm hiểu cái nhìn người Phật tử có thể có về Giê-su, dựa trên giáo lý cơ bản mà người Phật tử học được và tin theo, bây giờ chúng ta xét trong thực tế họ nghĩ sao về Giê-su, dựa trên những lời nói chứng từ của chính họ.
Muốn vậy, tôi trông cậy vào bốn trong những người cộng tác xuất sắc nhất của tôi, mỗi vị, trong mỗi lãnh vực khác nhau, có một sự hiểu biết thấu đáo về tâm tư của người Phật tử thời nay. Thượng tọa Thích Thiện Châu, Tiến sĩ Văn chương, vốn là một vị tôn đức của Phật giáo Việt nam. Ông Mohan Wijayaratna, sinh ra trong một gia đình song giáo, Ki-tô và Phật, sắp trình luận án Tiến sĩ về một số khía cạnh của Phật giáo Tích lan và cũng đã từng viết nhiều bài báo rất đáng chú ý, một trong những bài này nói về đề tài chúng ta bàn đến hôm nay, dưới con mắt người Tích lan. Đức Cha Eugène Denis, Tiến sĩ Văn chương và nghiên cứu viên tại Viện Nghiên Cứu Khoa Học Quốc Gia (CNRS), sống tại Thái Lan từ hơn ba mươi năm nay và đang nghiên cứu đạo Phật xứ này. Ông Paul Magnin, nghiên cứu viên tại Viện Nghiên Cứu Khoa Học Quốc Gia (CNRS), đã từng sống lâu năm tại các xứ Viễn đông, nhất là tại Đài Loan, chuyên nghiên cứu về đạo Phật Trung quốc. Tôi cũng phải nói đến quyển sách quý báu do đồng nghiệp và cũng là bạn thân của tôi, Giáo sư Jacques Gernet, xuất bản cách đây hai năm tại nhà xuất bản Gallimard dưới tựa đề "Trung quốc và đạo Ki-tô, tác động và phản ứng" (Chine et christianisme, ation et réaction); tác phẩm này cho ta biết và hiểu quan niệm của người Trung quốc, người Phật tử hay người theo đạo khác, về đạo Ki-tô và về Giê-su trong những thế kỷ XVII và XVIII.
Lẽ ra, trong chừng mực nào đó, ta phải gắn liền sự tìm hiểu cái nhìn của người Phật tử về Giê-su với cái nhìn của họ về đạo Ki-tô. Nhưng vấn đề này tự nó cũng rất phức tạp, đòi hỏi quá nhiều tài liệu đủ mọi thể loại, khiến ta không có thì giờ bàn tới bữa nay.
Cái nhìn của Phật tử về Giê-su thay đổi tùy thời điểm lịch sử, tùy xứ, tùy tông phái Phật giáo. Nhưng ngày nay nó có xu hướng trở nên đồng nhất.
Người Trung quốc vào thế kỷ XVII và XVIII có những phê phán gay gắt nhất, tuy nhiên rất khó xác định đâu thực sự là phần phê phán của đạo Phật, đâu là phần của đạo Khổng hay đạo Lão. Với người trung Quốc, Giê-su chỉ là một người, bị kết án tử hình vì làm loạn, làm xáo trộn trật tự xã hội, điều tối kỵ đối với truyền thống Á đông. Cái chết khổ nhục của Giê-su, bị hành hình trên cây Thập ác như một tên tội phạm, sự đau đớn phải trải qua, theo người Phật tử, chỉ là kết quả của ác nghiệp trong quá khứ, nghiệp càng ác, quả báo càng nặng. Thuyết nghiệp báo khiến một số Phật tử nghĩ rằng đời trước Giê-su đã giết người. Hơn nữa, không dủ sức thoát khỏi cực hình, tự cứu thoát bằng phép tắc nhiệm mầu thì làm sao Giê-su có thể cứu người khác? Nếu Giê-su là Thượng đế tối cao, khi ngài đầu thai làm người, đất trời không ai cai quản, kết quả sẽ khủng khiếp vô cùng. Còn nếu ngài giáng sinh từ Thượng đế thì ngài thua xa đức Phật, vì chẳng cần ai giúp sức, thần thánh hay thế lực nào khác nữa, đức Phật tự mình đã tìm ra đạo lý giải thoát và tự lấy quyết định truyền bá đạo lý này. Dù sao đi nữa, nếu Giê-su là một vị trời, ngài chỉ có thể là một vị trời như muôn ngàn vị khác, chịu theo quy luật khắt khe của quả báo tái sinh, và do đó thấp hơn đức Phật, người đã ra ngoài vòng sinh tử luân hồi. Sự kiện Giê-su giáng sinh chẳng có gì đáng chú tâm, vì thực ra, nó chỉ là một hiện tượng mà người Phật tử xem là tương đối và tùy điều kiện sinh ra, trong dòng sinh tử luân hồi vô thường của vạn vật. Hơn nữa, sự giáng sinh này mâu thuẫn với tính chúa-ba-ngôi mà giáo lý Ki-tô gán cho ngài. Còn các phép lạ của Giê-su chẳng thấm vào đâu so với các oai phép Phật đã tung ra, bao trùm cả vũ trụ vô thủy vô chung, bao gồm hằng hà sa số thế giới tương tự như thế giới chúng ta.
Ngày nay, mâu thuẫn cũ giữa hai đạo đã giảm bớt, cái nhìn của Phật tử về Giê-su cũng nhẹ nhàng hơn. Dĩ nhiên, người Phật tử không nhìn nhận, không thể nhìn nhận Giê-su là vị Cứu thế, Nhà Tiên tri, hay là Đấng Tạo Hóa, thường hằng và tối thắng, vì những danh hiệu này đối với Phật tử hoàn toàn vô nghĩa, hay diễn dịch những ảo vọng xuất phát từ những hý luận vô ích chìm đắm trong vô minh, vô minh hiểu theo nghĩa của người Phật tử. Dĩ nhiên, người Phật tử cũng không thể đặt Giê-su cao hơn đức Phật, như một nhà truyền giáo nọ đã vụng về cố gắng chứng minh rằng đức Phật là kẻ đi trước chuẩn bị cho Giê-su xuất hiện. Và dĩ nhiên, người Phật tử không chấp nhận có sự phục sinh của Giê-su, vì khái niệm phục sinh không có trong giáo lý đạo Phật, cũng như không có trong giáo lý Ấn độ hay đạo Jaïna. Sự tái sinh sau khi chết hoàn toàn khác với sự phục sinh của đạo Ki-tô.
Ngoài những giới hạn kể trên, giới hạn suy ra từ lời dạy của đức Phật, hầu như mọi người Phật tử thời nay đều có  thiện cảm với Giê-su. Họ cảm mến ngài, kính phục nữa, nhưng không phải vì vậy mà họ mảy may có ý cải đạo theo đạo Ki-tô. Họ sẵn sàng nêu lên những điểm tương đồng giữa Giê-su và đức Phật: Một đời sống trong sạch, được hướng dẫn bởi một hệ luân lý cao cả, vô vị lợi, thấm nhuần bởi lòng nhân ái, lòng từ bi, lòng từ thiện, lòng khoan dung, cho đến hy sinh cả tính mạng của chính mình. Theo họ, cả Giê-su lẫn đức Phật đều đáng kính, cả hai đều là những vị thánh nhân hiền đức như nhau.
Thượng tọa Thích Thiện Châu có đưa thêm vài ý khá lý thú, dựa trên giáo lý Đạo Phật Phát Triển (Mahâyâna), một phong trào canh tân trong đạo Phật cách đây hai mươi thế kỷ; đạo Phật Việt Nam bắt nguồn từ đó, cũng như rất nhiều hình thái khác của đạo Phật tại Viễn đông và Trung đông. Giáo lý Ba Thân Phật cho phép ta hiểu tính chất của Giê-su rõ hơn là giáo lý nguyên thủy, hiện còn thịnh hành tại Tích Lan và Đông Nam Á. Giáo lý Phát Triển quan niệm là đức Thế tôn có ba thân: Hóa thân hay Ứng thân, người thường thấy được, với thân này Phật đã sinh ra, sống một đời sống bình thường của mọi người rồi chết đi; Báo thân, ngài dùng thân này để hiện ra giữa các vị Bồ-tát, tức là những vị xả thân cứu đời để thành Phật trong một thời gian rất xa nữa; và Pháp thân, là thật thể của các pháp trong vũ trụ, thân như thật và vĩnh cửu, các hữu tình đều có thân này, nhờ thế mà trong tương lai, có thể rất xa, tất cả đều có thể thành Phật. Ta có thể áp dụng Lý Ba Thân này vào trường hợp Giê-su để giải thích tính chất vừa trời vừa người của ngài, giải thích cách nào ngài vừa ở đời cứu nhân độ thế, vừa ngự trị trên ngôi tối thượng tuyệt đối. Thân thứ nhất có thể coi là thân mà mọi người bình thường trông thấy, là thân của Giê-su lịch sử, đã sinh ra, truyền đạo, đau khổ và chết đi trên cây Thập ác. Thân thứ hai là báo thân huyền diệu mà ba đệ tử Pierre, Jean và Jacques đã chiêm ngưỡng trên núi. Thân thứ ba là thân trời, người thường không thể nghĩ bàn, thân Cha trong quan niệm Ba Ngôi của đạo Ki-tô. Cách so sánh này, giữa hai giáo chủ, giúp cho người Phật tử hiểu biết dễ dàng hơn về Chúa cứu thế và Kinh thánh, và kính trọng ngài hơn. Thượng tọa Thích Thiện Châu đưa ra một hình ảnh tuyệt đẹp: "Ta có thể yêu mến sự tinh khiết của hoa sen, và cùng lúc thưởng thức cái đẹp của hoa huệ và hoa hồng" (*) .
 Vị tăng sĩ Việt Nam nêu ra một điểm gần gũi nữa, giữa đạo Ki-tô và tông Tịnh độ, một tông phái ở Viễn đông khá quan trọng chỉ tôn thờ Phật A Di Đà, hay "Vô lượng quang Phật", một vị Phật trước đây đã nguyện đón về đất "Tịnh Độ" tất cả hữu tình niệm danh hiệu ngài. Phật A Di Đà có một vị cộng tác nổi tiếng nhất trong các hàng Bồ tát, đó là Bồ tát Quan Thế Âm, đại từ đại bi, luôn luôn sẵn sàng hiện ra cứu giúp những kẻ hoạn nạn và đã từ chối không thành Phật chừng nào tất cả hữu tình chưa đạt Niết bàn. Hình ảnh Quan Thế Âm rất gần với hình ảnh Giê-su, do đó những người tu theo Đạo Phật Phát Triển, nhất là tông Tịnh độ, có thể tôn kính Giê-su như một vị Bồ tát. Đạo Phật Phát Triển cho rằng các vị Phật tương lai này, ngoài những đức tính như lòng từ bi, trí tuệ, lòng nhân ái, lòng nhẫn nại, v.v... lại còn "giỏi về phương tiện" để cứu vớt các loài hữu tình, làm những phép lạ, do đó Phật tử các tông phái Phát Triển chấp nhận dễ dàng là Giê-su thực sự có phép lạ.
Tuy nhiên, Thượng tọa Thích Thiện Châu nói thêm, Phật tử thuộc các tông phái Phát Triển [, với quan niệm tôn kính về Giê-su như đã nói ở trên,] không tránh khỏi ngỡ ngàng trước những lời cuối cùng có lẽ Giê-su đã thốt ra trên cây Thập ác: "Chúa ơi, Chúa ơi, sao lại bỏ rơi con ?".
*
Như vậy, trong các tôn giáo lớn, đạo Phật là đạo xa cách đạo Ki-tô nhất, về mặt giáo lý cũng như phương cách hành đạo, nhưng, ngược lại, cũng là đạo biết đánh giá cao nhất giá trị tâm linh của đạo Ki-tô. Điều đó càng đúng vào thời đại này, khi mà đạo Ki-tô đã từ bỏ thái độ thù địch cố hữu của mình với mọi tín ngưỡng khác để chấp nhận rằng các đạo giáo đó không phải là âm mưu của quỷ dữ, mà là những cố gắng nhiều khi rất đáng quý nhằm xoa dịu phiền não khổ đau của con người bằng cách hiến dâng họ những hy vọng vào một ngày mai xán lạn hơn. Những quan hệ thường thường rất nồng hậu giữa Phật tử và tín đồ Ki-tô, và nhất là giữa những người đại diện của các cộng đồng đôi bên tại trung Á và đông Á, là những khích lệ lớn và có nhiều ý nghĩa. Trong các kết quả đáng chú ý nhất, phải kể cái nhìn kính trọng và có thiện cảm của đa số người Phật tử thời nay với con người Giê-su, dù là Phật tử xứ nào đi nữa, hay thuộc tông phái nào đi nữa.
***
đăng Hương Sen 21/05/1997
đọc lại 02/04/2010
Người dịch : Lại Như Bằng
 
 

 


(*) Lời người dịch:  Muốn biết rõ tư tưởng của Hòa thượng Thích Thiện Châu về vấn đề này, nên tìm đọc tài liệu bằng tiếng Pháp "Approche du bouddhisme et du christianisme" của HT Thích Thiện Châu .
Ngoài ra, vào những thời điểm đó (1980-1990) người theo đạo Ca-tô tại Pháp cũng có nhiều suy nghĩ về vấn đề này. Tìm đọc Tập san Lumière et Vie số 193, tháng 8-1989 (Lyon), đặc biệt với bài của Linh mục Pierre de Béthune: "Le dialogue chrétien-bouddhiste, une expérience spirituelle".

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011

Thị trường địa ốc: 4 kịch bản, 3 lựa chọn


(VEF.VN) - Do đến nay đã có sự xuất hiện manh nha của yếu tố chính sách, kịch bản suy thoái lâu dài và kịch bản "vỡ nợ" thị trường BĐS là khó có thể xảy ra, nếu có xảy ra thì chỉ đối với kịch bản suy thoái và xác suất của kịch bản này cũng chỉ chiếm khoảng 20-30%.
Tạm loại trừ hai kịch bản đổ dốc
Đã bước vào nửa cuối của tháng 7/2011, tức đỉnh con sóng bất động sản (BĐS) ở Hà Nội đã trôi qua được đúng 4 tháng, ở Đà Nẵng hơn 2 tháng, còn toàn bộ thị trường BĐS khu vực phía Nam vẫn bất động.
Nếu nhìn trên bình diện tổng thể các kênh dẫn tiền thì trong 4 tháng qua, chỉ có mỗi vàng là kênh duy nhất có sóng, còn lại các kênh đầu tư khác như ngoại tệ, BĐS và chứng khoán đều lặng tăm. Riêng với thị trường chứng khoán, từ "lặng tăm" vẫn còn là quá an ủi, bởi đây lại là thị trường tệ nhất trong tất cả các phân khúc thị trường từ hơn một năm qua.
Kênh đầu tư tệ thứ hai, sau chứng khoán, dĩ nhiên là BĐS. Tại cuộc hội thảo về chính sách tài chính cho thị trường BĐS vào cuối tháng 6/2011 do Hiệp hội Bất động sản Việt Nam tổ chức, Tiến sĩ Trần Kim Chung - Trưởng ban nghiên cứu chính sách đầu tư (Viện nghiên cứu Kinh tế TƯ) đã phác thảo 3 kịch bản cho thị trường BĐS trong 6 tháng cuối năm 2011.
Những gì mà chúng ta đã chứng kiến trong quý I và nửa quý II năm nay rõ ràng là ứng với kịch bản đầu tiên của TS. Chung, tức "Chính sách không thay đổi, thị trường suy yếu". Theo đó, nếu không có gì thay đổi về chính sách, tình hình kinh tế trong nước và thế giới không có biến động, thị trường sẽ suy yếu dần và không có cơ hội phục hồi do thị trường BĐS không có nguồn vốn bổ sung trong khi lãi vay ngân hàng quá lớn nên không thể phục hồi được.
Gần đây, có chuyên gia của một hãng tư vấn BĐS dự đoán là cứ với không khí này thỉ phải đến 3 năm nữa thị trường BĐS mới lập đáy. Chuyên gia này không nói rõ là thị trường BĐS thuộc khu vực nào (Hà Nội hay TP.HCM, phía Bắc hay phía Nam), nhưng cứ căn cứ vào thực tế đã diễn ra thì thị trường BĐS Hà Nội hiện đang có nhiều đặc điểm nhất để phù hợp với thời hạn 3 năm như thế.
Phản ứng với yếu tố chính sách, thị trường BĐS có thể biểu hiện hai xu hướng: hoặc phục hồi từ từ hoặc bật dậy nhanh chóng (ảnh laodong).
Trong khi đó, thị trường BĐS TP.HCM, vốn đã nằm im ba năm rưỡi nay, nếu kéo tiếp 3 năm nữa thì không còn gọi là suy thoái mà nên coi là khủng hoảng mới đúng.
Cho tới giữa tháng 5/2011, thị trường BĐS không còn được xem là "suy yếu", mà hàng loạt tiếng kêu la xen lẫn tâm trạng hoảng hốt của nhiều doanh nghiệp BĐS càng làm cho nhà đầu tư địa ốc tưởng đâu mình đang bị biến thành nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. Tình hình khi đó bị xem là vô vọng và đe dọa đến tính tồn vong của ít nhất 30% số doanh nghiệp BĐS. Mặc dù chưa có con số thống kê tạm thời hay chính thức nào công bố về sự phá sản của một số doanh nghiệp BĐS nào đó, nhưng chắc chắn sự nguy kịch là có thật.
Cho tới nay, đã bắt đầu có một vài công bố sơ bộ về chuyện chưa có doanh nghiệp BĐS nào bị phá sản trong thời gian qua. Nhưng đó là chuyện của hiện nay, hay nói chính xác là từ cuối tháng 5/2011 đến nay, khi yếu tố chính sách bắt đầu manh nha xuất hiện trong nghị quyết tháng 5/2011 của Chính phủ giao cho các Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu đề xuất các biện pháp bình ổn hai thị trường BĐS và thị trường chứng khoán.
Nếu không có sự xuất hiện của yếu tố chính sách như một "cứu tinh" kịp thời, hầu như chắc chắn thị trường BĐS sẽ rơi vào kịch bản thứ hai của TS. Chung về "Lãi suất cao, doanh nghiệp phá sản, thị trường khó khăn". Theo đó, nếu chính sách không thay đổi (duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt, tiếp tục cắt giảm đầu tư công, lạm phát tiếp tục giữ ở mức cao trên 15%, thậm chí xấp xỉ 20%), thị trường BĐS sẽ lâm vào tình trạng khó khăn toàn diện, các nhà đầu tư thứ cấp sẽ phải thanh lý các dự án đầu tư (dựa vào vốn vay từ ngân hàng). Thậm chí, tình trạng phá sản có thể xảy ra đối với những dự án những doanh nghiệp, những nhà đầu tư mất khả năng thanh toán.
Nếu kịch bản thứ hai xảy ra, không cần phải chờ đến cuối năm nay hay sang năm 2012, mà ngay lập tức các ngân hàng đã phải chạy đôn đáo siết nợ của các chủ doanh nghiệp BĐS. Hậu quả lập tức bùng nổ, ít nhất một nửa số "người giàu" sẽ chết đứng trên đống tài sản ngồn ngộn không tiêu thụ được của mình.
Thế mới biết là doanh nghiệp BĐS bề ngoài thì nhiều dự án và vô khối tài sản, nhưng thực chất lại là con nợ của "ông chủ" ngân  hàng. Bằng chứng là ngay vào thời kỳ khó khăn nhất năm 2008 và từ đầu năm 2011 đến nay, khi phần lớn doanh nghiệp BĐS và công ty chứng khoán đều lao đao, một số kề cận bờ vực phá sản, thì đa số các ngân hàng vẫn bình yên như không có chuyện gì xảy ra.
Nhưng sự tồn tại của hệ thống ngân hàng trong kịch bản thứ hai cũng chỉ là nhất thời. Hiệu ứng domino vốn đã bắt đầu từ quan hệ vay vốn, bảo lãnh mật thiết giữa ngân hàng và doanh nghiệp BĐS, cũng sẽ diễn ra trong dây chuyền vỡ nợ và phá sản. Nếu trường hợp này xảy ra cùng hàng loạt doanh nghiệp BĐS không làm cách nào để bán được hàng trả nợ, đến lượt nhiều ngân hàng cũng không thu nợ được, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp BĐS chết trước, ngân hàng chết sau - một hiệu ứng của thảm cảnh chết chùm. Tất cả có lẽ sẽ trở thành tai họa dây chuyền diễn ra trong liên tục 2 năm 2012-2013.
Nhưng ơn trời, hình như kịch bản thứ ba của TS. Chung bắt đầu ứng nghiệm: "Chính sách thay đổi, thị trường có xung lực mới". Ngay hiện thời thì chưa biết xung lực ở đâu ra, khi lạm phát và lãi suất vẫn còn khá cao. Nhưng mối quan tâm của Chính phủ về tình thế nguy cấp của thị trường BĐS thì đã rõ ràng.
Vào giữa tháng 5/2011, khi cơn bạo bệnh của thị trường BĐS trở nên nguy kịch nhất thì một lượng tiền 70.000 tỷ đồng đã được Ngân hàng nhà nước rót cho một số ngân hàng cấp dưới thông qua kênh tái cấp vốn. Cũng từ đó đến nay, rõ ràng là mặt bằng lãi suất đã được kéo xuống, tuy chưa đủ lạc quan nhưng cũng đã chớm chút hy vọng cho doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Lựa chọn kịch bản phục hồi nào?
Cần lưu ý, 3 kịch bản của TS. Trần Kim Chung mà bài viết này tham dẫn đều căn cứ vào biến số chủ yếu là chính sách của nhà nước về thị trường BĐS. Trong cách nhìn nhận của chúng tôi về thực tế tình hình hiện nay, yếu tố này chiếm đến 90% tầm quan trọng đối với sự phục hồi của thị trường.
Hiện thời, nguồn tiền trong dân không thể coi là thiếu. Từ cuối năm 2010 đến nay, giá vàng tăng phi mã nhưng chỉ giảm nhỏ giọt, cho thấy giá vàng trong nước không chỉ được nâng đỡ bởi đà tăng của giá vàng thế giới, mà còn được nguồn tiền dân cư bổ trợ. Cũng từ đầu năm 2010 đến nay, có khoảng 20.000 tỷ đồng được rút ra khỏi thị trường chứng khoán, có thể một phần lớn trong số đó thuộc về những tổ chức và nhóm đầu cơ lớn.
Về hàng hóa, trừ thị trường BĐS Hà Nội và Đà Nẵng vẫn còn trong tình trạng giá trên trời đối với các phân khúc đất nền và căn hộ trung - cao cấp, còn tại thị trường BĐS TP.HCM và các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương, Long An, sau cuộc khủng hoảng năm 2008, cho tới nay thời gian điều chỉnh giảm đã kéo dài ba năm rưỡi và mức giá chung đã lập đáy tạm thời.
Riêng với phân khúc căn hộ trung cấp có mức giá 12-13 triệu đồng/m2 thì có thể nói là đã gần như về sát giá thành và không thể giảm hơn nữa, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát, giá vàng và giá vật liệu xây dựng đã tăng vọt.
Tất nhiên, dù đã giảm về đáy tạm thời, nhưng nếu nền kinh tế trong nước và cả thế giới rơi vào kịch bản xấu, đáy tạm thời của thị trường BĐS khu vực phía Nam sẽ tiếp tục bị phá vỡ và giá BĐS tiếp tục suy giảm trên con đường tìm đáy mới. Kịch bản đó ứng với một thời gian suy thoái lâu dài 2-3 năm, thậm chí lâu hơn nữa. Nhưng với các điều kiện về nguồn tiền và giá nhà đất như hiện nay, yếu tố chính sách lại trở nên cần thiết đến mức đó có thể là kích thích tố vực dậy toàn bộ thị trường BĐS.
Do đến nay đã có sự xuất hiện manh nha của yếu tố chính sách, chúng tôi cho rằng kịch bản suy thoái lâu dài và kịch bản "vỡ nợ" thị trường BĐS là khó xảy ra, nếu có xảy ra thì chỉ đối với kịch bản suy thoái và xác suất của kịch bản này cũng chỉ chiếm khoảng 20-30%.
70-80% xác suất còn lại sẽ thuộc về kịch bản lạc quan nhất: thị trường BĐS phục hồi. Yếu tố chính sách hiện ra càng rõ, khả năng phục hồi càng lớn.
Hiện nay, những bộ ngành liên quan đang bàn đến một số vấn đề then chốt của thị trường như các hình thức quỹ BĐS, lãi suất, nguồn vốn cho BĐS... Tuy nhiên, đó mới chỉ là phép thử đối với thị trường, bởi thị trường BĐS như một bệnh nhân trên giường bệnh lâu ngày, nay muốn vận động đi lại tất có nhiều khó khăn. Vì thế, phản ứng với yếu tố chính sách, thị trường có thể biểu hiện hai xu hướng: hoặc phục hồi từ từ với tỷ lệ tăng trưởng khiêm tốn, hoặc bật dậy nhanh chóng.
Chắc chắn nhiều chuyên gia phân tích, doanh nghiệp BĐS và cả người dân đều nghiêng về khả năng thị trường BĐS, nếu có phục hồi, sẽ diễn ra từ tốn và có thể phải sang năm 2012 thị trường mới tạo được những đợt tăng trưởng khá mạnh. Tuy nhiên nếu nhìn lại lịch sử thị trường BĐS và so sánh với lịch sử của thị trường chứng khoán thì chúng ta thấy hai thị trường này đều luôn có thể bật mạnh nếu xuất hiện yếu tố đột biến.
Do vậy, ngoài 3 kịch bản mà TS. Trần Kim Chung nêu ra, có lẽ chúng ta cần suy nghĩ đến một kịch bản thứ tư là khả năng phục hồi từ từ dẫn đến phục hồi mạnh của thị trường, không phải sang năm 2012 mới diễn ra mà có thể diễn ra ngay trong cuối năm 2011 này. Tất nhiên, kịch bản này chỉ xảy ra khi xuất hiện yếu tố đột biến tác động vào thị trường.
Vậy yếu tố đột biến đó là cái gì và có thể xuất hiện vào thời điểm nào?

Tan vỡ chuỗi cung ứng: Tử huyệt của nền kinh tế


Tranh luận Online

(VEF.VN) - Cho đến nay, ở Việt Nam, cách tiếp cận theo chuỗi cung ứng vẫn chưa được áp dụng một cách có hệ thống trong quản lý kinh tế của nhà nước cũng như trong hoạch định chiến lược kinh doanh của tư nhân.
LTS: Sau loạt bài viết liên quan đến việc thương nhân Trung Quốc ồ ạt sang mua hàng nông sản Việt Nam, Diễn đàn Kinh tế Việt Nam, báo VietNamNet xin giới thiệu bài viết của tác giả Đinh Thế Phong (dtphong@most.gov.vn), công tác tại Bộ Khoa học - Công nghệ, với cách tiếp cận rộng hơn, có chiều sâu về chuỗi cung ứng ở Việt Nam - lâu nay vẫn là điểm yếu của nền kinh tế.
Trân trọng giới thiệu với độc giả bài viết này. Mọi ý kiến tranh luận xin gửi về vef@vietnamnet.vn hoặc phần thảo luận phía dưới. Độc giả cũng có thể liên hệ trực tiếp với tác giả qua email trên. Xin cảm ơn.
Cách tiếp cận chuỗi cung ứng một mặt giúp làm ăn hiệu quả hơn; mặt khác, giúp các doanh nghiệp nhỏ, nhà nước yếu tìm ra chỗ đứng tối ưu cho mình để tồn tại trong thị trường khu vực và toàn cầu. Cho đến nay, ở Việt Nam, cách tiếp cận theo chuỗi cung ứng vẫn chưa được áp dụng một cách có hệ thống trong quản lý kinh tế của nhà nước cũng như trong hoạch định chiến lược kinh doanh của tư nhân.
Điều này đã, đang và sẽ gây những phá sản lớn về kinh tế, kinh doanh, đặc biệt trong thị trường mở và toàn cầu hóa.
Bài này quan tâm đến sự tan vỡ hiện nay của chuỗi cung ứng trong công nghiệp sản xuất - chế biến Việt Nam - trái tim của công nghiệp hóa.
Trước đây, các ngành sản xuất - chế biến Việt Nam bị chặn ở đầu ra do không bán, xuất khẩu được sản phẩm, chủ yếu do giá thành quá cao so với thị trường, ví dụ trong công nghiệp ôtô, điện tử,..v..v.. Gần đây, các ngành sản xuất - chế biến Việt Nam lại bị chặn thêm ở đầu vào vì mua không được nguyên liệu trong nước, ví dụ chế biến thủy sản, rau hoa quả, hạt tiêu,..v..v.
Việc khâu sản xuất Việt bị "cắt đứt" khỏi nguồn nguyên liệu Việt chứng tỏ mối liên kết giữa các bên tham gia là yếu.
Hiện tượng và phân tích
Không mua được nguyên vật liệu cho sản xuất có nghĩa khâu sản xuất không có mới liên kết với khâu nguyên vật liệu, tức là đã bị cắt đứt khỏi chuỗi cung ứng. Có thể kể ra vài nguyên nhân tiêu biểu cho tình trạng này. Trong chuỗi cung ứng của các thị trường lành mạnh, có một (hay một số) công ty mạnh, chiếm ưu thế trong chuỗi cung ứng. Đây có thể là công ty sản xuất hay thương mại. Các công ty này thường đưa ra cơ chế, quy định, "luật chơi" cho cơ chế liên kết, thông tin, hoạt động trong chuỗi cung ứng đó, ví dụ các hệ tiêu chuẩn kỹ thuật, các chuẩn về kế toán, đánh giá, giao nhận (ví dụ các công ty phần mềm Mỹ hay dùng hệ chuẩn CMM - Capability Maturity Model). Việc thống nhất cơ chế hoạt động giúp chuỗi cung ứng trở nên hiệu quả hơn.
Việc khâu sản xuất Việt bị "cắt đứt" khỏi nguồn nguyên liệu Việt chứng tỏ mối liên kết giữa các bên tham gia là yếu. Công ty Trung Quốc thu mua được nguyên liệu của nhà nông Việt chứng tỏ nhà nông Việt đã có liên kết chặt chẽ hơn với khâu sản xuất trong chuỗi cung ứng Trung Quốc. Các nguyên liệu Việt được chế biến, gia công ở công ty Trung Quốc và có thể xuất khẩu mang nhãn Trung Quốc. Nói cách khác: nhà nông Việt đã dần thành nhà cung cấp (supplier) trong chuỗi cung ứng Trung Quốc.
Toàn cầu hóa và sự thống trị của các chuỗi cung ứng mạnh sẽ phá vỡ, xé lẻ các chuỗi cung ứng yếu. Đây là điều tất yếu. Ở đây, các chuỗi cung ứng mạnh của Trung Quốc đang dần cắt đứt nguồn nguyên liệu khỏi khâu sản xuất của các chuỗi cung ứng Việt. Họ thu hút vào chuỗi cung ứng của mình các công đoạn rẻ nhất, hay mang tính cạnh tranh nhất. Họ thu mua nguyên liệu nhiều hơn thuê khoán ta gia công chứng tỏ giá nguyên liệu của ta "rẻ" hơn giá ta gia công sản xuất.
Trong chiến lược quốc gia hay doanh nghiệp, ta vẫn "chê" khâu gia công, làm thuê khoán ngoài, mà muốn sản xuất toàn sản phẩm như trong công nghiệp ôtô, đóng tàu, săt thép, điện tử, chip, công nghệ cao,..v..v. Nhìn khách quan, thực tế với chút hiểu về kỹ thuật - kinh doanh sẽ thấy: nếu vẫn viển vông, không hoạch định một cách nghiêm túc thì không bao lâu nữa, ngành sản xuất của ta có muốn cũng sẽ không được các chuỗi cung ứng mạnh thuê làm gia công nữa. Hay nói khác, lúc đó, vì sinh kế, ta sẽ phải nhận làm các việc gia công rẻ mạt hơn, với giá trị gia tăng thấp hơn các việc ta có thể làm ngày nay nếu hoạch định tốt.
Có thể có nhiều nguyên nhân cho việc không mua được nguyên liệu.
Một là, cơ chế thị trường chưa phát huy tác dụng nên doanh nghiệp chưa thấy lợi. Cơ chế thị trường yếu, lắm thủ tục nhũng nhiều, gây khó cũng làm cho doanh nghiệp muốn mua cũng khó mua được. Đây có thể là nguyên nhân cho (tưởng như) nghịch lý: ta bán than tiểu ngạch với thuế xuất thấp và nhập khẩu than chính ngạch đắt và thuế nhập cao hơn nhiều hay bán sắn tiểu ngạch nhưng lại nhập đến 70% thức ăn gia súc.
Hai là, nguyên nhân này mới là hệ trọng cho công nghiệp Việt, giá thành cho gia công, sản xuất của chuỗi cung ứng Việt đã cao hơn của các chuỗi cung ứng bên ngoài. Nói cách khác, năng suất lao động trong lĩnh vực sản xuất hay của nền công nghiệp Việt thấp hơn nhiều so với chuỗi cung ứng bên ngoài. Nguyên nhân quan trọng nhất (và đáng sợ nhất) cho năng suất lao động thấp là công nghệ lạc hậu so với công nghệ của chuỗi cung ứng bên ngoài.
Vì sao lại đáng sợ hay là tử huyệt của nền công nghiệp? Vì đầu tư nâng cấp cho công nghệ, cho tạo dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp là rất tốn kém và cần phải được hoạch định, thực hiện một cách tập trung, kiên định, nhất quán trong 3-4 thập kỷ, chứ không thể làm trong 5-10 năm hay chỉ có tiền, giàu tài nguyên là được. Đó là trong bối cảnh của nửa cuối thế kỷ 20 khi các thị trường quốc gia còn chưa mở, các quốc gia còn hầu như làm chủ thị trường nội địa và có thể có các chính sách công nghiệp (industrial policy) khôn khéo loại bỏ cạnh tranh nước ngoài, bảo hộ công nghiệp của mình.
Nhưng nay, nền kinh tế đã mở, bảo hộ nội địa không thực hiện được nữa, nhà nước có hỗ trợ nền công nghiệp ôtô nước nhà thì cũng "nuôi béo" trước hết mấy hãng ôtô nước ngoài. Đấy là chưa nói về sự khó khăn, hạn hẹp để nhận biết, chen chân vào được các ngách cơ hội rất hẹp (hay cơ hội cửa sổ, window opportunities, ví dụ thời gian chuyển thế hệ công nghệ, phát sinh các ngành hay công nghệ mới, khả năng bỏ qua giai đoạn, tận dụng cơ hội địa - chính trị... ). Đây là điểm mấu chốt cho thấy nền công nghiệp không thể thể đứng vững trong thị trường mở nếu không dựa vào khoa học - công nghệ.
Thương nhân Trung Quốc sang Việt Nam mua hàng thủy sản (ảnh SGTT)
Người ta có nói đến vì sao các doanh nghiệp Việt không đặt giá cao hơn để mua được nguyên liệu của nhà nông Việt. Đây là điều không thể làm được vì các doanh nghiệp Trung Quốc chắc chắn sẽ chấp nhận mua giá cao hơn ta. Vì sao họ làm được như vậy? Vì trong khâu sản xuất, với công nghệ tốt hơn, năng suất lao động cao hơn, họ làm ra giá trị gia tăng cao hơn ta trong cùng một đơn vị sản phẩm.
Do đó, họ có thể dùng phần lợi nhuận lớn hơn đó để tăng giá mua nguyên vật liệu. Giả dụ trong thị trường giả định với nguồn cung nguyên liệu vô hạn, đây là đủ để họ thắng. Nhưng đây lại một thị trường có giới hạn, họ mua thì ta không có nguyên liệu, vì vậy, sau vài mùa thì rất nhiều khả năng loại bỏ luôn được nền sản xuất Việt cạnh tranh với họ.
Các cơ quan quản lý cũng nói đến việc dùng các biện pháp để làm sao doanh nghiệp Việt mua được nguyên liệu như về hành chính - quản lý, vận động, tác động tư tưởng, phi thị trường, như cử người nắm xem Trung Quốc thu mua gì, bao nhiêu, ở đâu, giá thế nào..v..v. Những biện pháp này không có tác dụng trong nền kinh tế thị trường.
Con đường phía trước
Có thể chia ra các việc nên làm ngay, việc trung hạn và việc dài hạn hơn.
Để ngăn ngừa sụp đổ (Crash), việc cần làm ngay là chuyển hoạt động của nền kinh tế sang "chế độ an toàn" (Safe Mode). Điều này tương tự như máy tính đã được mặc định để khi bị lỗi quá nặng, nó sẽ tự chuyển sang chế độ an toàn để duy trì hoạt động tối thiểu và tránh bị tắt"phụt" hay phải đóng hoàn toàn.
Chế độ an toàn cho nền kinh tế Việt bây giờ là: chuyển từ nền kinh tế hướng tới tăng trưởng sang nền kinh tế đủ dùng, tự tại (tự cung cấp đủ). Tức là chuyển từ định hướng tăng trưởng nhưng đi kèm với nguy cơ đổ vỡ cao sang sự duy trì bền vững và với tính khả thi cao. Đây là điều chắc chắn ta đạt được, nếu muốn.
Theo đó, tư nhân và đặc biệt là nhà nước, không đầu tư lớn cho tăng trưởng (cho làm giàu) mà cho an sinh, bảo đảm đời sống cho dân. Tránh những tư duy "ngành kinh tế mũi nhọn", sản phẩm chủ lực,"rượt đuổi, bắt kịp","đi tắt, đón đầu", vv. Chạy theo tăng trưởng ngày nay cũng tựa như tàu đi trên biển khơi đang đắm mà người trên tàu thì lại lo quăng lưới, đánh cá.
Việc trung hạn là: đánh giá, định vị, nhìn nhận cơ hội và hoạch định một cách khách quan và chuyên nghiệp để làm gia công, thuê khoán ngoài một cách có định hướng. Định hướng ở đây là: đi vào các ngành ta có thế mạnh (có thể về kỹ năng bẩm sinh, kỹ năng rèn luyện, điều kiện đặc thù về vị trí, địa lý, thổ nhưỡng, nguyên liệu,..v..v.. ) hay các lĩnh vực để sau này tạo ra các chùm, cụm (Clusters) về công nghệ hay khu vực địa lý có tính năng tương tác với nhau. Định hướng cũng là việc dự kiến về phát triển một số chuỗi cung ứng hay công đoạn nhất định của chuỗi cung ứng phù hợp với điều kiện của ta.
Ngoài ra, nhà nước làm đúng chức năng, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường. Đúng chức năng gồm lãnh nhận các trách nhiệm từ trước làm chưa tốt như quản lý kinh tế vĩ mô, duy trì sự ổn định vĩ mô, hoạch định phát triển hạ tầng vật chất và khoa học - công nghệ, định hướng cho ghép nhập các doanh nghiệp Việt vào các chuỗi cung ứng khu vực và thế giới...
Đúng chức năng cũng là: không làm các việc không phải của mình, mình làm không hiệu quả, tác động xấu tới thị trường, làm "méo" các giá trị (distort) như không can thiệp hành chính, mệnh lệnh và phi thị trường vào nền kinh tế, không điều hành sản xuất - kinh doanh (không "làm" kinh tế),.. v..v.
Cái nhìn xa hơn là: chọn mô hình phát triển (với các cơ hội cửa sổ mở đóng rất nhanh về thời gian, hẹp về không gian). Đó là chân nhận, đoạn tuyệt với những quan niệm kinh tế giáo điều, không còn phù hợp bối cảnh hiện tại. Đó cũng là tiếp cận nền kinh tế dựa trên tri thức, nền kinh tế sáng tạo - đổi mới, nền kinh tế dịch vụ.

Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2011

Bí ẩn thuật hồi xuân Tây Tạng
18.02.2010 10:39
Xem hình

Một bí quyết được lưu truyền rộng rãi suốt 70 năm qua, được hàng triệu người thuộc nhiều thế hệ trên khắp thế giới áp dụng và tin rằng, nó giúp họ tìm lại sức sống tràn trề, cơ thể dẻo dai và tinh thần tráng kiện. Đó là 5 thức tập luyện của các Lạt ma Tây Tạng, hay còn được biết đến dưới tên gọi "Suối nguồn tươi trẻ".
Bí quyết 2.500 năm

Suối nguồn tươi trẻ được biết đến lần đầu tiên vào năm 1939, trong cuốn sách "Con mắt khải huyền" của Peter Kelder.

Cuốn sách mở đầu bằng cuộc gặp gỡ tình cờ giữa tác giả và đại tá Bradford, một cựu quân nhân người Anh gần 70 tuổi, lưng còng, tóc bạc, đi lại phải chống gậy.


Một góc Tây Tạng.

Vị sĩ quan này kể cho Peter Kelder về ý định đến Ấn Độ tìm một tu viện bí ẩn, nằm ở một nơi xa xôi hẻo lánh nào đó trong dãy Hymalaya. Theo những câu chuyện truyền tụng của dân du mục, 2.500 năm trước, các Lạt ma ở đây đã tìm ra Suối nguồn tươi trẻ, một bí quyết hồi xuân kỳ diệu.  

Cuộc gặp thứ hai diễn ra sau đó 4 năm, khi đại tá Bradford trở về sau chuyến phiêu lưu.

Không còn dấu vết gì của ông lão già nua, mệt mỏi khi trước. Thay vào đó là một người đàn ông trung niên nhanh nhẹn, thần sắc hồng hào, lưng thẳng, mái tóc dày chỉ điểm vài sợi bạc. Suối nguồn tươi trẻ không phải là đồn đại mà hoàn toàn có thật.

Và ngạc nhiên thay, bí quyết màu nhiệm này lại vô cùng đơn giản, chỉ là một bài tập gồm 5 động tác, hay gọi theo cách của các Lạt ma Tây Tạng là 5 thức.

Trong những ấn phẩm được xuất bản sau này dựa trên cuốn sách của Peter Kelder, người ta cho rằng, 7 trung tâm năng lượng mà các Lạt ma nhắc đến chính là 7 luân xa theo quan niệm của y lý học cổ truyền phương Đông. Liên hệ với y học hiện đại phương Tây, các luân xa được một số nhà nghiên cứu coi là đối chứng siêu hình của các tuyến nội tiết, với vị trí và vai trò tương đương.

Cũng theo quan điểm phương Tây, hoạt động của các tuyến nội tiết đóng vai trò vô cùng quan trọng, thậm chí là chi phối quá trình lão hóa.

Từ sau tuổi 30, hệ nội tiết bắt đầu suy yếu, lượng hormon giảm dần, tác động trực tiếp lên tinh thần và thể chất, gây ra 12 nhóm triệu chứng rối loạn và các bệnh của người già như da nhăn, tóc bạc, mất ngủ, loãng xương...

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, khôi phục sự cân bằng nội tiết có thể làm chậm quá trình lão hóa, trả lại cho cơ thể nhiều trạng thái của tuổi thanh xuân. Như vậy, tư tưởng chủ đạo của 5 thức tập Suối nguồn tươi trẻ xuất phát từ phương Đông cũng phù hợp với tinh thần của các nghiên cứu khoa học phương Tây.

70 trẻ lại thành 40?

Trong cuốn "Con mắt khải huyền", 5 thức tập của các Lạt ma đã giúp đại tá Bradford trẻ lại đến mức những người mới biết ông sau chuyến viễn du đến Tây Tạng đều nghĩ rằng vị sỹ quan này chỉ khoảng 40, trong khi tuổi thực của ông lúc đó đã là 73.

Qua lời kể của đại tá Bradford, người ta còn biết rằng, khi ở tu viện, ông đã gặp một người phương Tây cũng học Suối nguồn tươi trẻ. Người này đã ngoài 50, nhưng ngoại hình chỉ khoảng 35 và phong thái thì trẻ trung như một thanh niên mới 25 tuổi.

Hiệu quả hồi xuân của Suối nguồn tươi trẻ còn được khẳng định qua nhiều phản hồi từ người tập. Có người cho biết, họ trông trẻ ra đến cả chục tuổi chỉ sau hơn 1 năm tập ,Suối nguồn tươi trẻ. Người khác tiết lộ, nhờ 5 thức tập mà mái tóc của họ mọc dày đen trở lại khi đã ở lứa tuổi ngoài 70.

Trên các diễn đàn sức khỏe, không khó để tìm thấy những lời ca ngợi tác dụng kỳ diệu của Suối nguồn tươi trẻ như sáng mắt, đẹp da, cải thiện trí nhớ, bệnh tật thuyên giảm.

Nhưng cũng có những ý kiến cho rằng, hiệu quả của 5 thức tập đã được đề cao quá mức. Carolinda Witt, một chuyên gia nổi tiếng về Suối nguồn tươi trẻ tại Australia cho biết, trong hàng trăm học viên mà bà đã trực tiếp giảng dạy, chỉ duy nhất một người "nghĩ rằng" tóc mình đen trở lại sau khi tập 5 thức này. Không ai nhờ Suối nguồn tươi trẻ mà trẻ lại 20 - 30 tuổi. Các nếp nhăn cũng không vì thế mà biến mất.

Theo kinh nghiệm cá nhân của Carolinda Witt, những lợi ích thực tế của Suối nguồn tươi trẻ bao gồm: sinh lực dồi dào; tinh thần minh mẫn, an nhiên, thư thái; cơ bắp săn chắc;  ngủ tốt; thở sâu; sức khỏe toàn diện nâng cao, ít ốm vặt; vóc dáng trẻ trung, linh hoạt; giảm cân; cải thiện sinh hoạt vợ chồng. Tuy không đến mức thần diệu, song những kết quả này cũng là rất ấn tượng đối với một bài tập mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện chỉ trong 10 phút mỗi ngày.         

Bí ẩn và kỳ lạ


Khi "Con mắt khải huyền" được xuất bản, Peter Kelder là một tác giả hoàn toàn vô danh cả trong giới nghiên cứu lẫn giới văn chương. Và cho đến nay, người ta vẫn hầu như không biết gì về ông.

Bức màn bí ẩn cũng bao phủ thân phận của đại tá Bradford, người được coi là có công đưa Suối nguồn tươi trẻ đến với thế giới hiện đại. Mặc dù Peter Kelder luôn khẳng định nhân vật này có thật, song nhiều người đã từng đọc tác phẩm của ông cho rằng, vị sĩ quan có thể chỉ là hư cấu, được tạo ra  để tăng tính khách quan, cũng như sự ly kỳ, hấp dẫn của câu chuyện.

Nguồn gốc của 5 thức tập cũng là điều gây tranh cãi. Suối nguồn tươi trẻ chưa từng được các Lạt ma Tây Tạng công nhận là bí quyết mà các vị tổ sư của họ sáng tạo ra. Người ta cũng chưa tìm thấy tu viện đã truyền dạy Suối nguồn tươi trẻ cho đại tá Bradford. Thông tin trong cuốn sách của Peter Kelder quá sơ sài.

Hơn nữa, qua thăng trầm lịch sử, nhiều tu viện Phật giáo Tây Tạng đã trở thành hoang phế, nên việc tìm kiếm nơi phát tích của bí quyết hồi xuân này càng khó khăn, thậm chí là không thể.

Lưu ý trước khi bắt đầu luyện tập 5 thức tập Suối nguồn tươi trẻ

Có một số điểm khác biệt nhỏ giữa 5 thức tập Suối nguồn tươi trẻ được giới thiệu trong sách của các nhà xuất bản khác nhau.

Các hướng dẫn dưới đây được trích nguyên văn từ cuốn "Con mắt khải huyền" xuất bản lần đầu tiên vào năm 1939.

1. Thức thứ nhất

Đứng thẳng, 2 tay dang ngang bằng vai. Sau đó xoay tròn theo chiều từ trái sang phải cho đến khi cảm thấy hơi chóng mặt.


 
Lưu ý: Khi mới tập, hầu hết mọi người chỉ xoay được nhiều nhất khoảng 6 lần là cảm thấy chóng mặt. Khi đó, nên ngừng tập, nằm hoặc ngồi nghỉ để cơn chóng mặt qua đi.

Không nên cố gắng quá sức, vì ngay cả những người thể lực tốt và người thường xuyên tập yoga cũng có thể phải mất đến 6 tháng mới xoay được đủ 21 lần.




 Một số mẹo giảm chóng mặt, buồn nôn:

- Trước khi tập, không nên ăn no hoặc dùng đồ uống có cồn. Nên uống một chút nước nóng có thả một lát gừng tươi hoặc một chén trà bạc hà.

- Sau khi tập, nếu thấy chóng mặt nhiều có thể dùng ngón cái bấm huyệt Nội quan trong khoảng 1-2 phút. Huyệt này nằm ở trên nếp gấp khớp cổ tay 2 đốt ngón tay, trong khe giữa gân của 2 cơ nổi rõ khi gấp bàn tay vào cẳng tay và nghiêng bàn tay vào trong.

2. Thức thứ hai

Nằm ngửa, thẳng người trên sàn, 2 tay đặt xuôi theo thân mình, lòng bàn úp, ngón tay chụm lại, đầu các ngón tay của 2 bàn tay hơi hướng vào nhau.


 

Nâng đầu lên, đồng thời nhấc 2 chân lên cho đến khi tạo thành đường thẳng đứng. Nếu có thể, hãy vươn 2 chân về phía đầu, nhưng vẫn phải giữ 2 đầu gối thẳng.


 
Sau đó từ từ thả đầu và 2 chân xuống sàn, nghỉ một chút cho các cơ bắp được thư giãn rồi lặp lại thức này.

Lưu ý: Trong một số sách về Suối nguồn tươi trẻ được biên tập lại và tái bản sau này, người tập được khuyên nên hít vào thật sâu khi nhấc đầu và 2 chân lên, sau đó thở ra toàn bộ khi hạ đầu và chân xuống.

3. Thức thứ ba

Quỳ trên sàn, thân mình thẳng, hai tay buông xuôi, bàn tay đặt vào sau đùi. Ngả đầu và cổ về phía trước càng xa càng tốt, đồng thời đầu cúi xuống sao cho cằm tựa trên ngực.


 
Tiếp đó, ngửa ra phía sau càng xa càng tốt, đầu ngả xuống thật thấp. Trở về tư thế ban đầu và tiếp tục lặp lại thức này.


 
Lưu ý: Trong một số tài liệu, người tập được khuyên nên hít vào thật sâu khi ngửa ra sau và thở ra khi trở về tư thế thẳng người.

Những người bị bệnh về xương khớp không nên cố gắng quá mức khi thực hiện động tác ngửa về sau. Nếu thấy chóng mặt do thiếu oxy não khi động mạch đốt sống bị chèn ép thì không nên ngả đầu quá thấp về phía sau.

4. Thức thứ tư


Ngồi trên sàn, 2 chân duỗi thẳng về phía trước, bàn chân cách nhau khoảng 20cm; 2 tay xuôi theo thân mình, lòng bàn tay úp trên sàn, cạnh mông; đầu hơi cúi sao cho cằm ngã trên ngực.


 


 Tiếp đó, ngã đầu ra sau càng xa càng tốt, rồi nâng thân mình lên trong khi đầu gối gập lại sao cho 2 cẳng chân từ đầu gối trở xuống thẳng đứng, 2 cánh tay cũng thẳng đứng, còn phần thân từ vai đến đầu gối nằm ngang, song song với sàn nhà. Trở về tư thế ngồi và thư giãn một chút trước khi lặp lại các động tác của thức này.


 
Lưu ý: Trong một số tài liệu, người tập được khuyên nên hít sâu khi nâng người lên và thở ra khi hạ người xuống.
 
5. Thức thứ năm

Chống 2 tay xuống sàn, bàn tay cách nhau khoảng 60cm, khom người, duỗi 2 chân về phía sau, bàn chân cũng cách nhau 60cm. Đẩy thân mình, đặc biệt là phần hông lên cao nhất có thể, tạo thành hình chữ V úp ngược, trọng lượng cơ thể dồn lên bàn tay và các ngón chân.

Đầu hơi cúi để cằm tựa lên ngực. Sau đó, cong cột sống, hạ thấp thân mình sao cho cơ thể võng xuống. Đồng thời ngóc đầu lên, để nó ngả ra sau càng xa càng tốt. Tiếp tục đẩy hông lên cao để lặp lại thức này.



Lưu ý: Trong một số tài liệu, thức này được hướng dẫn theo trình tự ngược lại. Đầu tiên, chống tay, cong cột sống để cơ thể võng xuống. Sau đó mới nâng hông lên cao để tạo thành chữ V ngược.

Để đạt hiệu quả, nên tập đều đặn, mỗi ngày 21 lần cho một thức.  Khi mới bắt đầu, trong tuần lễ thứ nhất, chỉ nên tập mỗi thức 3 lần trong một ngày. Sau đó, cứ mỗi tuần tiếp theo tăng thêm 2 lần tập cho một thức.

Cứ như vậy cho đến tuần thứ 10, bạn sẽ tập đủ 21 lần mỗi thức trong một ngày. Nếu có sức khỏe tốt, bạn sẽ chỉ mất 10 phút mỗi ngày cho cả 5 thức.  Khi thư giãn giữa các thức, nên đứng thẳng, tay chống vào hông và thở sâu 1, 2 nhịp.

Sau khi tập, nên lau người bằng khăn ẩm, sau đó lau lại bằng khăn khô. Cũng có thể tắm bằng nước mát hoặc nước ấm. Tuyệt đối không được tắm bằng nước lạnh hoặc lau bằng khăn lạnh, vì như vậy bài tập sẽ mất tác dụng.