Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Trận đấu kinh tế giữa người dân và chuyên gia

Trận đấu kinh tế giữa người dân và chuyên gia

Theo một báo cáo riêng của một chuyên gia phân tích, mức "hoàn trái về đầu tư" (ROI = return on investment) trung bình của các quỹ tại Việt Nam trong 3 năm vừa qua là "âm" -17%. Tỷ số ở hiệp ba trận đấu: người dân: 3; chuyên gia: 0.
Khi tôi hoàn tất luận án tiến sĩ về Quản Trị cho Đại Học Southern Cross (Úc) vào cuối năm 2006, tôi về lại Thượng Hải, được sự đồng ý của các đối tác cổ đông của Quỹ Viasa, trích ra 20 triệu USD trong trương mục, để đầu tư vào các cổ phiếu và trái phiếu của thị trường chứng khoán Trung Quốc (TTCK TQ). Các đối tác của tôi rất lạc quan, tự tin vì họ tin vào "kỹ năng" chuyên biệt mới được đào tạo rất bài bản của tôi. Dù sao, trong quá trình làm luận án, tôi đã thực hiện một cuộc khảo sát sâu rộng hơn 800 quỹ đầu tư tại TQ, đọc hơn 200 cuốn sách về TTCK TQ và nghiên cứu cả ngàn bài viết, sưu khảo của đủ loại học giả khắp thế giới về đề tài này. Hơn cả cái bằng Tiến Sĩ, tôi được Đại Học Tongji phong cho một hàm vị rất "kêu": chuyên gia về TTCK TQ. Các quỹ đầu tư khác cũng ngõ ý hợp tác đầu tư vì mọi người nghĩ là tri thức của tôi về TTCK TQ chắc chắn sẽ giúp họ kiếm tiền thành công hơn .
Trong 12 tháng sau đó, số tiền 20 triệu USD đầu tư vào TTCK TQ của Quỹ kiếm được 36%. Trong khi đó, từ tháng Một 07 đến tháng Một 08, chỉ số SSI của Sàn Thượng Hải tăng từ 2786 đến 5272 (khoảng 89%). Một nhà đầu tư tay ngang bỏ tiền vào ETF (exchange traded fund), cũng có thể kiếm được 75% không cần suy tính (giá từ $32 lên đến $56). Nhưng xấu hổ nhất cho tôi là anh bạn hàng xóm: anh ta kiếm được khoảng 124% trong cùng thời gian đó. Anh là một cựu viên chức công an cỡ trung ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc), chưa học xong trung học, mới có 32 tuổi, kiếm được một mớ tiền phong bì khi làm quan, rồi hạ cánh an toàn ở Thượng Hải. Kết quả của hiệp đầu trong trận đấu: người dân: 1; chuyên gia: 0.
Cũng vào đầu năm 2007, tôi đến Hà Nội theo lời mời của một nhóm đại gia trong ngành chứng khoán và quỹ đầu tư, để mạn đàm trong một họp mặt nhỏ có chừng 30 người tham dự. Tôi nói về dự đoán của tôi: khủng hoảng tài chính sẽ xảy ra trong vài ba tháng tới, lạm phát toàn cầu sẽ lên hơn 12% năm 2008 và vàng sẽ đạt đỉnh $2,000 USD vào 2009. Tôi đúng về cuộc khủng hoảng kinh tế, nhưng sai bét về lạm phát và giá vàng.
Lái xe cho tôi đi quanh Hà Nội chuyến viếng thăm đó là một anh tài xế taxi còn trẻ, khoảng 25 tuổi. Gia đình anh ta vốn làm ruộng là chính, sở hữu vài thửa đất lớn gần Hà Nội, giá đang tăng vùn vụt, và anh ta hỏi ý kiến tôi về vấn đề đầu tư vì nghe mọi người ca tụng tôi là một "chuyên gia". Tôi khuyên anh bán hết đất vì các thành tố căn bản cho thấy hiện tượng bong bóng (giá đất Hà Nội đắt như thành phố New York). Sau đó, nên bỏ tất cả tiền thâu được vào vàng, giá đang ở khoảng $630 USD một lượng và trong 2 năm, sẽ kiếm được gấp 3 lần vì lạm phát sẽ hoành hành. Anh ta không đồng ý, nói sẽ giữ đất vì giá còn lên cao trong 2 năm tới, trong khi vàng thì chưa chắc. Khi tôi về lại Hà Nội vào 2009, anh tìm ra khách sạn tôi ở qua một tin về hội thảo đầu tư trên mạng. Anh khoe là trúng lớn trong lần bán ra các thửa đất vừa qua, không còn chạy taxi nữa và đang làm một nhà đầu tư (?). Tỷ số trận đấu ở hiệp hai: người dân: 2; chuyên gia: 0.
Ảnh minh họa: cafeF
Thực ra, đây không chỉ là 2 trường hợp đơn lẻ hay đặc biệt. Trong mọi xã hội, từ tư bản đến xã hội, từ dân chủ đến độc tài, không thiếu những tình huống mà người dân tỏ ra khôn ngoan, hiểu biết và quan trọng hơn cả, là có khả năng "biết kiếm tiền" nhiều hơn các chuyên gia kinh tế tài chánh. Lấy bà osin của gia đình tôi: trong  3 năm vừa qua, bao nhiêu tiền dành dụm được, bà bỏ ra mua vàng miếng. Vào năm 2008, giá vàng là $800 USD một lượng; bây giờ là $1,400 USD, cho bà ta một mức "hoàn trái" khoảng 25% mỗi năm. Tôi chắc chắn đây là mức lời mơ ước của mọi chuyên gia đang làm cho các quỹ đầu tư nổi danh (nước ngoài hay nội địa) tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo một báo cáo riêng của một chuyên gia phân tích, mức "hoàn trái về đầu tư" (ROI = return on investment) trung bình của các quỹ tại Việt Nam trong 3 năm vừa qua là "âm" -17%. Tỷ số ở hiệp ba trận đấu: người dân: 3; chuyên gia: 0.
Đã có rất nhiều nghiên cứu và giả thuyết về sự yếu kém về thành quả của các chuyên gia trong những nhận định, dự đoán, kết luận và khuyến nghị về tình hình kinh tế tài chánh hay xã hội. Nhưng giá trị tiên đóan của các chuyên gia kinh tế, tài chánh đã hạ xuống rất thấp sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào cuối 2007. Hơn 83% các nhận định của chuyên gia tại New York và Luân Đôn không tiên đoán được sự suy thoái nghiêm trọng của các định chế tài chánh. Tại sao những đầu óc "lớn" trên đỉnh cao của xã hội lại vấp ngã thảm thương như vậy? Tại sao các siêu sao, với đầy đủ dụng cụ, kỹ năng, kinh nghiệm và thì giờ, lại không thể "hát hay" bằng một cô gái quê mộc mạc?
Trước hết, mọi người phải lưu ý đến những nhận định, kết luận hay khuyến nghị của các chuyên gia "có quyền lợi" trong khi phát biểu cái gọi là "ý kiến riêng" của mình. Không ai lạ gì khi nghe các nhà quản lý hay các nhà phân tích của các quỹ đầu tư ca tụng triển vọng huy hoàng của nền kinh tế hay thị trường tài chánh trong giai đoạn sắp tới. Đây chỉ là những PR (public relation) để các vị này kêu gọi vốn đầu tư cho quỹ của họ (hay để các cổ đông hiện tại an tâm đừng chửi bới và rút vốn đã lỡ đầu tư). Còn các chuyên gia kinh tế, tài chánh hay pháp lý được trả tiền trực tiếp để viết những bài có lợi cho các nhóm lợi ích đang vận động hành lang (lobby) để tạo đặc quyền đặc lợi cho nhóm mình thì nhiều vô số kể. Giá trị của các bài viết này thiếu chiều sâu và kém chuyên nghiệp, không đáng được quan tâm, nhưng vì số lượng của chúng nhiều (và miễn phí để các mạng truyền thông phổ biến khắp nơi) nên bức tranh tổng quát phản ánh trên dư luận công chúng bị lệch lạc rất nhiều.
Tuy nhiên, ngay cả với những chuyên gia có thực tâm nghiên cứu, tìm hiểu và đúc kết một nhận định khách quan, họ thường rơi vào những thiên kiến như sau.
Thứ nhất, tôi vẫn nghĩ rằng khi làm một việc gì liên quan đến đồng tiền không do mình làm ra, thì thái độ và tư duy của việc hành xử sẽ rất khác biệt so với khi "đồng tiền liền khúc ruột". Chuyên gia thì hay nghiên cứu chuyện của người ta, khộng phải chuyện nhà nên không chịu áp lực của vợ con, gia đình hay bạn bè như người dân thường. Các kết luận thường "làm nhẹ" đi tầm ảnh hưởng trên đời sống của người dân. Các số liệu thường được bóp méo để hỗ trợ cho suy luận đã đúc kết sẵn từ thiên kiến. Các khuyến nghị gần đây về kinh doanh vàng miếng hay đô la chợ đen cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa ý kiến của người dân và các chuyên gia tài chánh. Sự suy nghĩ về lạm phát cho thấy hiện tượng các chuyên gia đang sống trong những tháp ngà của xã hội, xa rời thực tế, không hiểu hay chịu đối diện với những tình huống khó khăn của việc mưu sinh thường nhật.
Ngoài ra, người ta thường nghĩ chuyên gia là các nhà khoa học, lấy sự độc lập làm nền tảng cho tư duy của mình, sự mềm dẻo uyển chuyển làm căn bản cho suy luận... Nhưng sau khi lăn lộn nhiều trong giới khoa bảng và môi trường nghiên cứu, tôi nhận thấy chuyên gia lại là những người rất thích bầy đàn, thích suy nghĩ theo số đông (group think) và cứng ngắc với định kiến đã lỗi thời. Các kinh tế gia của trường phái Chicago thì luôn luôn phải đả kích, bài bác các lập luận của phe Ivy League và ngược lại. Chả thế mà trong lịch sử tri thức nhân loại, Galileo đã bị cầm tù vì nói trái đất tròn và Socrates phải uống thuốc độc với triết thuyết lạ tai của mình. Cái "tôi" (ego) quá lớn của các nhà đại trí thức khiến họ không thể chấp nhận sự lầm lẫn hay thua kém của mình: họ sẽ triệt hạ mọi đối thủ bằng mọi cách, chính thống hay tà đạo, để bảo vệ cái "tôi".
Gần đây, trước tình hình kinh tế khó khăn, nhiều doanh gia cũng như các sinh viên hay email đến tôi để xin một vài nhận định, dự đoán về viễn tưởng. Tôi thành thực tin rằng cái trực giác và những tiếp xúc hàng ngày với thực tại sẽ làm mọi suy đoán nhận xét của họ chính xác hơn là những số liệu vô nghĩa mà tôi thu lượm từ các bài khảo luận của các chuyên gia khác. Thực ra, kinh tế vĩ mô cũng chỉ ảnh hưởng một phần nhỏ trong việc làm ăn của họ. Điều quan trọng hơn vẫn là sự sáng tạo cá nhân trong tư duy, sự kiên trì trong tình huống, và sự bộc phát trong hành động.
Dĩ nhiên, họ cũng như tôi, đặt ý kiến riêng của các chuyên gia vượt quá tầm quan trọng trong suy luận và hành xử của người dân. Tôi thường lướt qua danh sách các bài "nóng" nhất của các trang mạng như Vietnamnet, VNExpress hay Tuổi Trẻ. Gần đây, những bài viết thu hút số lượng độc giả nhiều nhất vẫn là chuyện bà vợ đốt chồng ở Long An (rất nóng) hay vụ sức khỏe của Cụ Rùa Hồ Gươm (rất lạnh), không phải các bài khảo luận khô khan về lạm phát, tỷ giá hay lãi suất. Có lẽ người dân hiểu rõ giá trị thực sự của các bài nhận định? Hay nghĩ cho cùng, cách thức để ngủ ngon và không lo bị chồng hay vợ đốt vẫn quan trọng hơn là chuyện kiếm tiền lặt vặt?

Đừng hoang tưởng về một thế giới phẳng

Đừng hoang tưởng về một thế giới phẳng

Thế giới cũng sẽ KHÔNG phẳng sau sự lan tỏa toàn cầu của mạng lưới Internet. Thế giới sẽ vẫn là thế giới ta đã quen biết suốt 5,000 năm lịch sử: rất nhiều cách biệt giữa các tầng lớp xã hội: giàu và nghèo, học thức và vô học, đạo đức và bất lương, thôn quê và thành thị, quốc gia phát triển và quốc gia nghèo đói. Nhưng công nghệ thông tin lại có khả năng làm gia tăng sự cách biệt này:...
Các chính trị gia và các chuyên gia thường thích dùng các danh từ thời thượng để phô trương tri thức về thế giới và tạo ấn tượng trong cộng đồng. Gần đây, họ hay nói đến các ngôn từ như kinh tế sáng tạo, mạng xã hội, hội nhập toàn cầu, công nghệ xanh, kỹ thuật số, chỉ số hạnh phúc... Nhưng một chữ bị lạm dụng nhiều nhất có lẽ là "thế giới phẳng".
Danh từ này được Thomas Friedman dùng làm đề tài cho một tựa sách vào 2005 để diễn tả một hiện tượng mới về xã hội và kinh tế do cuộc cách mạng Internet và công nghệ thông tin (IT) mang lại. Giả thuyết của ông là sự lan tỏa cùng khắp những thông tin và kiến thức nhanh chóng qua Internet đã san bằng mọi cách biệt về lợi thế kinh tế giữa các quốc gia, giữa các thể chế chính trị, và giữa  các tầng lớp nhân dân. Kết quả là một thế giới phẵng lì, không còn rào cản vả bất cứ ai cũng có thể nắm bắt những cơ hội mới do công nghệ mới tạo dựng.
Tôi đã theo dõi nhiều bài viết của Friedman trên New York Times, tờ báo của giới mệnh danh là "tiến bộ" (liberal) của các trí thức khoa bảng Mỹ. Ông này có tật xấu là đơn giản hóa mọi vấn đề, rồi dựa trên một vài sự kiện đặc thù mà đặt ra các giả thuyết khá phi lý, phù hợp với quan điểm cá nhân của mình. Ông luôn quên đi sự phức tạp của mọi vấn đề bàn luận, dù là xã hội, kinh tế hay chính trị, dù là địa phương hay toàn cầu. Thế giới phẳng và một xã hội đại đồng bình đẳng là một hoang tưởng rất thời thượng của ông.
Ảnh minh họa: saga
Vào khoảng 1885, Karl Benz sáng chế ra chiếc xe hơi hiện đại thay thế cho cỗ xe ngựa và cùng thời điểm, James Maxwell đưa ra lý thuyết để thế giới có được máy phát thanh (radio). Nếu ông sinh ra ở thời này, Friedman cũng sẽ dễ dàng đưa ra lập luận về một "thế giới phẳng" vì hai phát minh này cũng đã đem nhân loại đến gần nhau hơn. Thế nhưng, sau đó, ai cũng biết thế giới đã KHÔNG phẳng với những sáng chế diệu kỳ về xe hơi, về radio, về TV, về máy in... Tôi cũng xin báo cho các bạn trẻ là thế giới cũng sẽ KHÔNG phẳng sau sự lan tỏa toàn cầu của mạng lưới Internet.
Máy tính, Internet, điện thoại di động và các dụng cụ công nghệ thông tin quả đã tạo nên một cách mạng vĩ đại về kiến thức và thông tin với tốc độ, tầm cỡ và chức năng. Nhưng thế giới sẽ vẫn là thế giới ta đã quen biết suốt 5,000 năm lịch sử: rất nhiều cách biệt giữa các tầng lớp xã hội: giàu và nghèo, học thức và vô học, đạo đức và bất lương, thôn quê và thành thị, quốc gia phát triển và quốc gia nghèo đói. Thực sự, công nghệ thông tin lại có khả năng làm gia tăng sự cách biệt này: người biết sử dụng IT sẽ khôn khéo dùng lợi thế cạnh tranh này của mình để kiếm tiền, kiếm quyền và đặc lợi nhiều hơn so với đám đông còn bỡ ngỡ.
Sự yêu thích hình tượng và viễn ảnh của một thế giới phẳng có lẽ bắt nguồn từ sự ao ước của rất nhiều nhà trí thức trẻ (trong đó có người viết bài này) với một con tim tha thiết về một xã hội công bằng, không có khác biệt giữa giàu nghèo, giai cấp hay phân khúc. Một thế giới đại đồng của những người bình đẳng về mọi khả năng và quyền lợi. Cuộc thí nghiệm vĩ đại nhất lịch sử đã diễn ra ở Liên xô và Trung Quốc hơn 70 năm. Ngày nay, tại hai xã hội này, sự cách biệt về giàu nghèo (theo chỉ số Gini) thuộc loại cao nhất trong 10 hạng đầu của thế giới (Top Ten).
Rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức và các bậc khoa bảng luôn luôn ta thán về hiện tượng bất công của xã hội, thường kết luận trong vội vã "đời không công bằng chút nào" khi so sánh sự thua kém của mình với những nhân vật mà họ nghĩ là không xứng đáng. Chính tôi cũng hay rơi vào trường hợp tự ti này khi không để lý trí suy xét.
Vào thời điểm 1968 sau khi tốt nghiệp Đại học ở Mỹ, tôi và một người bạn người Mã Lai tên là Michael cùng quay trở về nước. Trong khi tôi chật vật với lương giảng viên ở Đại Học Bách Khoa Phú Thọ, Michael được ông bố, vốn là một đại gia tăm tiếng ở Mã Lai, mua cho một ngân hàng rồi bổ nhiệm hắn làm Chủ Tịch TGĐ một ngân hàng đứng hàng thứ 8 ở Mã Lai vào thời đó. Ngay cả suốt cuộc đời 2 đứa trong 42 năm qua, trong khi tôi phải lên voi xuống ngựa, đi từ đỉnh cao của thịnh vượng đến vực thẳm của nghèo khó, Michael vẫn ung dung tự tại sống đời thượng lưu, thành công từ việc làm ngân hàng đến tạo dựng một đế quốc về địa ốc. Sau này, mỗi lần qua chơi, tôi vẫn rất ghen tỵ, chép miệng, "đời thật bất công".
Một người bạn khác ở VN cùng tôi mài ghế suốt 4 năm trung học. Anh ta tên Duy và là thần tượng của tôi hồi đó. Học giỏi, đẹp trai, con nhà giàu, nhưng trên hết, có một hạnh kiểm hoàn toàn, luôn luôn được bầu là trưởng lớp bởi các học trò và thầy cô. Ai cũng ngưỡng mộ. Anh thường ái ngại nhìn tôi bỏ lớp trốn học, đi tán gái, chọc phá làng xóm, và nói nếu không thay đổi tính nết, tương lai của tôi sẽ chìm sâu trong đống bùn. Tôi luôn luôn đồng ý, nhưng đã không bỏ được những thói quen xấu. Xong Tú Tài, anh thi đậu vào Đại Học Sư Phạm dễ dàng và trở thành một bậc thầy khả kính sau những năm học hành. Còn tôi, may mắn được học bổng Mỹ, bay đi tận nữa vòng trái đất, loay hoay làm lại đời mình. Một lần về thăm nhà năm 1992, Viện Đại học Cần Thơ mời tôi giảng dạy một buổi về Kinh Tế Mở Cửa của TQ cho các học sinh cũng như nhiều vị giáo chức tu nghiệp. Tôi ngỡ ngàng gặp lại Duy, thay đổi thứ bậc trong liên hệ thầy-trò. Anh ngượng ngùng, bỏ ngang lớp học sau tiết đầu và không trả lời điện thoại khi tôi kêu. Bạn bè cho biết hôn nhân của anh trắc trở, anh buồn đời làm một con sâu rượu giải sầu, và bị cấp trên "đầy đọa" vì nhiều lần say rượu trong lớp học. Tôi chắc Duy cũng đang nghĩ thầm, "đời thật bất công".
Cách nay ba tháng, một đại gia trẻ tuyên bố trong một buổi hội thảo là tương lai IT của VN sáng ngời, vì chỉ sau 10 năm, dân số VN có điện thoại di động bây giờ đã lên đến hơn 53 triệu người. Anh ta đồng hóa việc sỡ hữu một cái phone với trình độ kiến thức và hiệu năng của nền kinh tế sáng tạo, biểu hiện qua một công cụ IT phổ thông. Tôi có 2 người giúp việc nhà. Họ đều sở hữu điện thoại riêng cho cá nhân và nhờ những chương trình khuyến mãi, nói chuyện qua phone đến 4, 5 giờ mỗi ngày. Họ trao đổi liên tục với bạn bè, láng giềng, gia đình dưới quê về mọi chuyện lặt vặt, còn hơn Twitter của các siêu sao ở Hollywood. Thậm chí họ còn dùng điện thoại để chửi nhau, để khuyến nghị về số đề, về mua hụi, về chương trình kịch trên TV. Thậm chí, một bà đã gần 50 tuổi, có chồng và 4 đứa con ở quê, vẫn trả lời tất cả những cú phone từ người lạ, đóng vai trò một cô gái mới 20, đóng góp và giải tỏa các lời yêu thương ảo (như một loại  phone sex rẻ tiền) cho rất nhiều bạn trai Việt.
Những bất công hay hố cách biệt vừa kể cũng có thể là do sự lựa chọn và sở thích của cá nhân. Năm trăm năm trước, ngài Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ca tụng chữ "nhàn" và lối sống điền viên, "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người đến chốn lao xao". Nếu ta bắt ông phải sống trong một Net café, cạnh Ngã Sáu Chợ Lớn, nhìn khói bụi, dòng xe và biển người qua lại, chắc ông phải khóc tủi thân mỗi ngày. Còn nếu ai buộc tôi phải xa rời các trung tâm tài chính thế giới như New York, Luân Đôn hay Hồng Kông... để về sống ở xứ Cà Mau với những cánh đồng bất tận của chị Nguyễn Ngọc Tư chắc tôi cũng hóa điên. Dù tôi biết chỗ đậu xe ở Cà Mau không thể tốn 40 dollars mỗi ngày như New York.
Trong chuỗi hội thảo về đầu tư cho các doanh nhân và sinh viên Việt Nam vào tháng 3 vừa qua, tôi nói nhiều về Zuckerberg của Facebook. Anh chàng sinh viên 24 tuổi này đã bắt đầu với một ý tưởng và 1 ngàn dollars của bạn cùng phòng; và chỉ trong 4 năm tạo nên một tài sản mà Goldman Sachs đánh giá là 60 tỷ dollars; tương đương với 60% GDP của Việt Nam. Trong số 80 triệu dân hiện tại, có người Việt nào sẽ đứng lên đáp lời sông núi để chứng minh là thế giới đã phẳng như Friedman nói; hay chúng ta sẽ lại có thêm vài khẩu hiệu rẻ tiền về sáng tạo?

“Có 2 tỷ đồng, đầu tư vào đâu?”

“Có 2 tỷ đồng, đầu tư vào đâu?”

Trong chuỗi hội thảo về đầu tư cho 2011 và những năm khó khăn sắp đến, câu hỏi tôi nhận nhiều nhất từ khán thính giả Việt Nam là “tôi đang có khoảng từ 1 đến 5 tỷ đồng tiền tiết kiệm. Tôi phải đầu tư vào đâu cho an toàn và hiệu quả?”
Câu trả lời của tôi vẫn là những giải pháp bền vững sau 42 năm quan sát kinh tế thế giới. Thực ra, đây là những nguyên tắc căn bản cho sự đầu tư dài hạn, dành cho một thành phần tương đối khá giả của xã hội và nó ứng dụng vào những thời điểm cực thịnh của kinh tế toàn cầu cũng như những lúc bong bong tài sản thi nhau vỡ. Nhiều người tham dự hội thảo đã thất vọng vì tôi không đưa ra một công thức nào kỳ diệu để giúp họ chụp giựt cơ hội trong suy thoái; hay để họ biết thêm một kênh "đầu cơ" hay hơn. Họ luôn có quan niệm là đầu tư thì phải biết "đi tắt đón đầu" hay "mượn đầu heo nấu cháo".
Trước hết, tôi muốn khẳng định lại sự khác biệt giữa đầu tư và kiếm tiền. Nếu đầu tư cần một tỷ lệ hoàn trái tốt (ROI-return on investment) dựa trên mức rủi ro mà nhà đầu tư đã chấp nhận sẵn; thì việc kiếm tiền lại tùy thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và địa phương, đôi khi không liên quan gì đến đầu tư. Một khế ước cung cấp lớn với một công ty đa quốc, một bắt tay với một quan chức dưới gầm bàn, một tin tức nội gián chính xác của đội lái tàu chứng khoán, một việc làm với số lương hậu hĩnh... là một ngàn lẽ một những chuyện kiếm tiền. Và theo nhiều nhà tỷ phú thế giới, tiền kiếm được nhiều và khả quan nhất là vào thời điểm cực thịnh của bong bóng hay vào những lúc đại suy thoái của nền kinh tế. Người Tàu vẫn thường ca tụng "nguy cơ", trong nguy hiểm mới thấy rõ cơ hội.
Trở lại vấn đề đầu tư: đây là một quy trình để bảo vệ tài sản của mình và hy vọng một lợi nhuận khả quan có thể được tìm thấy qua những quyết định đầu tư dựa trên khả năng chấp nhận rủi ro. Mức lợi hoàn trái (ROI) luôn có tỷ lệ thuận với các điều kiện rủi ro.
Nguồn ảnh: haiduongintrade
Nếu tôi là chủ một gia đình trung lưu, có dư chút tiền mặt trong thời điểm hiện tại ở Việt Nam, tôi sẽ theo thứ tự ưu tiên kể sau để đầu tư số tiền tiết kiệm này vào các lĩnh vực:
1.     Giáo dục: Một tài sản mà chúng ta không thể mất được khi còn sống là tài sản trí tuệ. Tôi đã nói nhiều về Zuckerberg và ý tưởng Facebook của anh sinh viên 26 tuổi này. Chỉ với 1 ngàn đô la và 4 năm khai thác, anh đã biến ý tưởng mình thành 60 tỷ đô la. Dù không mấy người có những đột phá hay may mắn như Zuckerberg, nhưng một thống kê năm 2006 của Bộ Lao Động Mỹ cho thấy thu nhập trung bình của một người tốt nghiệp Tiến Sĩ là $89,600 và Cao Học là $62,300. Trong khi đó, thu nhập trung bình của một Cử Nhân là $52,200 và một bằng Trung Học là $32,200.
Tóm lại, một đầu tư vào giáo dục sẽ đem lại cho bạn, gia đình bạn, hay những người thân yêu một hoàn trái khoảng 67% mỗi năm, liên tục trong vài chục năm khi bạn có tài sản này. Không một kênh đầu tư có thể qua mặt con số ROI này trong bất cứ tình trạng kinh tế nào.
Tại Việt Nam, vì kinh tế còn dựa vào nông nghiệp và sản xuất gia công, thay vì vào dịch vụ và công nghệ cao, nên ROI có thể ít hơn. Nhưng đây là hướng đi bắt buộc của mọi nền kinh tế trong các thập kỹ tới. Ngay cả những khóa học bổ túc kéo dài chỉ vài ba tuần cũng đem lại những kết quả rất khả quan cho tài chánh cũng như công việc, nhờ có thêm kỹ năng quản lý và chuyên nghiệp chuyên sâu hơn.
2.     Công ty riêng của mình: Theo cuốn sách nỗi danh của hai Giáo sư Stanley và Danko, có đến 74% các nhà triệu phú ở Mỹ thành công nhờ tài sản kiếm được từ công ty riêng của cá nhân; nhiều hơn tất cả mọi loại tài sản khác như địa ốc, chứng khoán hay tiền thừa kế từ gia đình.
Đầu tư vào công ty của mình để tăng cường nội lực: như gia tăng chất lượng sản phẩm, tìm kiếm công nghệ hiện đại, xây dựng thương hiệu lâu dài, tạo khách hàng trung thành, đào tạo đội ngũ nhân viên, thuê quản lý bài bản... là một đầu tư khôn ngoan nhất trong thời kỳ kinh tế suy thoái. Vì khi hoạt động chậm lại, bạn sẽ có thì giờ để tái cấu trúc tổ chức và nhất là tài chánh, để có một dòng tiền vững bền hơn trong tương lai, về doanh thu cũng như lợi nhuận
3.     Căn nhà cho gia đình: Một căn nhà là một tài sản dài lâu cho nhiều thế hệ trong gia đình và là một đầu tư cần thiết để chống đỡ những trắc trở, khó khăn có thể xảy đến trong tương lai.
Một căn nhà cho gia đình khác hẳn với một đầu tư về địa ốc. Căn nhà phải phù hợp với ý thích chủ quan của nhiều thành viên trong gia đình, và mục tiêu là để tạo dựng một môi trường để chúng ta an cư lạc nghiệp. Vì đây không phải là một đầu tư thuần túy, các yếu tố về thiên nhiên, tập quán, văn hóa, về định hướng phát triển của cá nhân và gia đình, sự thuận tiện cho sinh hoạt hàng ngày... có thể có tầm quan trọng hơn.
Tuy vậy, với một đầu tư cho căn nhà gia đình, mức độ hoàn trái vài chục năm vẫn còn cao hơn những đầu tư ngắn hạn về địa ốc. Một nhận xét khác của tôi là đầu tư dù là để kiếm thu nhập cố định hay đầu cơ thứ cấp (flipping) về địa ốc lúc này tại Việt Nam là một điều rất khó khăn, không nên liên quan vào, nếu không có một lợi thế cạnh tranh nào đặc biệt.
4.     Vàng, bạc và các kim loại quý: Đây không thực sự là một kênh đầu tư, nhưng đây là một chiến lược phòng thủ hay nhất cho để bảo vệ tài sản lâu dài.
Trong nhiều cuộc hội thảo, tôi đã so sánh vàng với đồng US dollar được coi như là một bản vị bền vững nhất trong 40 năm vừa qua.
Trước 1971, chánh phủ Mỹ cam kết là nếu bạn có 35 dollars, chánh phủ sẽ bán cho bạn 1 lượng vàng. Sau khi Nixon hủy bỏ điều lệ này, đồng đô la đã bị suy thoái toàn diện. Không những bạn phải mất hơn $1,400 để mua một lượng vàng vào 2010, bạn chỉ cần 160 lượng là mua được một căn nhà trung bình (giá $230,000) thay vì 400 lượng như vào năm 1971 (giá $14,000).
Nếu so sánh với các bản vị khác hơn US dollar như  với tiền Franc của Pháp (ngày trước Euro), peso của Mexico và Argentina, hay HK dollar của Hồng Kông, số vàng lưu giữ được suốt 40 năm qua đã tương đương với những giá trị cao ngất trời khi so với các tài sản khác. Các loại kim loại khác như bạc, platinum... thường giữ giá trị song song với vàng; nhưng việc mua bán hơi phức tạp hơn.
5.     Các hợp đồng dầu thô và khoáng sản: Tôi không hiểu về luật lệ hay cách thức để mua bán tại Việt Nam các hợp đồng nguyên liệu (commodity contracts, options, delivery...) nhưng đây cũng là một kênh đầu tư có nhiều tính thanh khoản để giải ngân hay thoái vốn; và thường rất độc lập với những "thủ thuật làm giá" hay "ảnh hưởng của quản lý" như các cổ phiếu của SMEs (doanh nghiệp vừa và nhỏ). Dĩ nhiên, những nhà kinh tế và chuyên gia hàng đầu có thể có nhiều lợi thế về thông tin và phân tích; nhưng nếu các bạn có những kinh nghiệm mua bán thực tế như giao dịch mua bán về những nguyên  liệu này trong nhiều năm, bạn có thể suy đoán vững vàng còn hơn các doanh gia.
Một anh bạn tôi ở Panama, chuyên trồng và mua bán ca cao (cocoa) suốt 45 năm trong nghề, giờ kiếm tiền rất thanh nhàn với việc mua bán các hợp đồng ca cao mỗi tuần nhờ kinh nghiệm.
6.     Cổ phiếu của các công ty đa quốc: Kinh tế toàn cầu có thể chậm lại trong thập niên tới, nhưng sự tăng trưởng dân số trung lưu ở nhiều nước mở mang sẽ tiếp tục gia tăng thị phần của các công ty đa quốc có thương hiệu tốt, bền vững và dòng sản phẩm đa dạng toàn cầu. Tôi muốn nói đến những công ty như P&G, Unilever, CocaCola, McDonald, Pfizer, Visa, Nestle, Sony, Honda...Các công ty này có thể có vài năm hoạt động yếu kém, nhưng nhìn ở thời điểm 10 năm, chiều hướng đi lên của các cổ phiếu gần như chắc chắn.
7.     Bản vị của các quốc gia may mắn: Tôi đọc ở một thống kê đã lâu cho biết là 97% các chánh phủ trên toàn cầu luôn bội chi ngân sách và để bù vào sự thiếu hụt, họ vay mượn tối đa và in thêm tiền bừa bãi. Ngay cả chánh phủ bị nhiều kiểm soát như Mỹ cũng nằm trong danh sách bê bối này. Do đó, dù đầu tư vào bản vị nào, 97% là bạn sẽ mất tiền vì bản vị mất giá (yếu tố chính của lạm phát).
Tuy nhiên, có một vài bản vị của các quốc gia tôi gọi là may mắn như Úc (Australia) có một lượng khoáng sản dồi dào trên mỗi đầu dân cao nhất thế giới. So với các bản vị khác, đồng đô la Australia sẽ giử vững giá trị dù chánh phủ Úc cũng không tốt lành gì trong việc tiêu tiền của dân. Các quốc gia may mắn khác là Canada, Brunei, Saudi Arabia, Kuwait...
8.     Trái phiếu của các chính phủ bền vững: Sau cùng tôi không thích kênh đầu tư này nhưng phải bao gồm cho những cá nhân thích bíết rõ mức hòan trái trước khi đầu tư. Tôi nghĩ có những chánh phủ rất biết trách nhiệm và không tiêu tiền bừa bãi. Khi họ phát hành trái phiếu, họ cân nhắc rất cẩn thận về khả năng trả nợ và tương lai bền vững của nền kinh tế quốc gia họ sẽ giảm thiểu mọi rủi ro. Tôi nghĩ đến trái phiếu của Đức, Thụy Sĩ, Hồng Kông, Singapore, ...những sản phẩm này có thể giúp bạn ngủ ngon hơn.
Như tôi đã nói, mức hoàn trái cuả đầu tư tùy thuộc rất nhiều vào tỷ số rủi ro. Khi biết rõ mức độ rủi ro mà mình có thể chấp nhận được, thì kênh đầu tư và thời hạn đầu tư sẽ là một bài toán khá đơn giản. Có vài nguyên tắc cần nhớ:
1.     Bạn có thể có một cảm nhận tốt hơn các chuyên gia tài chánh về những vấn đề địa phương, cá nhân, đặc thù ... và nhất là khi liên quan đến tiền của mình. Nên nhớ là các quỹ đầu tư luôn luôn đánh bạc với OPM (other people's money- tiền người khác) nên những quyết định của họ thường mang lợi đến cá nhân hay sự nghiệp của họ nhiều hơn của bạn
2.     Nếu mình đã phân tích kỹ lưỡng và tin tưởng vào chiến thuật đầu tư lựa chọn của mình nên kiên trì chờ đợi vì tình hình hay biến đổi bất chợt và mọi thay đổi nhanh chóng trong giao dịch sẽ chỉ làm tối loạn mục tiêu và phán đoán. Quên đi những tình trạng vĩ mô hiện thời, mọi thứ đều thay đổi trước khi mình nhận thức được thực tại. Khi nghĩ đến đầu tư, đừng suy nghĩ ngắn hạn.
3.     Đừng đầu tư dàn trãi, hay chăm chú đến một hay hai lĩnh vực mà mình thông suốt. Đừng liên quan đến những mô hình kinh doanh mà mình không rõ ràng. Khi tất cả mọi người nhảy vào một lãnh vực đầu tư, thì đó là lúc mình nên rút lui để tránh tổn thất; ngoại trừ đây là một chiến thuật mình đã hoạch định và chắc chắn
Đây có thể là một bài viết hữu ích cho số vốn bạn đang tiết kiệm. Chúng ta luôn luôn tìm kiếm những công thức đầu tư thần kỳ (cũng như hay mơ mộng về những chuyện tình lãng mạn cháy bỏng); nhưng một người vợ hiền đảm đang hay một người chồng đàng hoàng có trách nhiệm, là điều tốt nhất cho cuộc sống hàng ngày hiện nay. Hãy nhìn vào thực tại, lo cho tương lai tài chánh của mình và gia đình, đừng để mất tiền vì những hoang tưởng nhất thời.

Nỗi kinh sợ và một câu hỏi

Nỗi kinh sợ và một câu hỏi

Không ít người đã từng cầu trời khấn Phật rằng đến khi nào họ phải ra đi khỏi đời sống này thì xin trời Phật cho họ được đi ngay, xin đừng bắt họ phải vào nằm viện…
Cách đây có lẽ đến dăm năm, báo chí đưa tin ông Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu vừa nhận chức đã hứa với nhân dân là chỉ sau 3 năm sẽ giải quyết vấn đề giường nằm của bệnh nhân từ 3 bệnh nhân một giường xuống điều thông thường nhất là 1 bệnh nhân 1 giường. Thế nhưng giấc mơ về một chiếc giường nhỏ bé của những người bệnh như càng ngày càng lùi về phía chân trời.
Nhưng mới đây, ông Nguyễn Quốc Triệu đã cải chính là ông không hứa như thế mà chẳng qua cánh báo chí nghe nhầm mà thôi. Nhà báo mà tác nghiệp thế thì chết người ta chứ còn gì và đáng bị treo bút.
Nhưng dù không có lời hứa của một ông Bộ trưởng Bộ Y tế cụ thể nào đó thì những người quản lý ít nhất là quản lý hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân cũng phải hiện ra để trả lời nhân dân vì sao tình trạng các bệnh viện lại thê thảm đến thế này.
Một người anh của tôi vừa vào nằm viện. Ngay lập tức, bệnh viện đã trở thành cơn ác mộng đối với ông và đối với cả gia đình chúng tôi. 3 bệnh nhân phải nằm chung một chiếc giường. Sự yên tâm của bệnh nhân và của gia đình họ trong ký ức xa xôi trước kia khi được đưa vào viện và thấy sự hiện diện của những Thiên thần mặc bờ-lu trắng đã bị bóp chết và thay vào đó là nỗi sợ hãi.
Làm thế nào để 3 người khỏe mạnh có thể "khỏe mạnh" khi nằm chung trên một chiếc giường? Vậy chuyện gì sẽ xảy ra đối với những bệnh nhân khi 3 hay 2 bệnh nhân nằm chung trên một chiếc giường??? Không khí ấy, tâm lý ấy...chính là một loại bệnh vô hình hạ gục bệnh nhân.
Chầu chực chờ khám - hình ảnh quen thuộc ở bệnh viện. Ảnh: SGGP online
Và kinh hoàng hơn nữa, có bệnh viện vào một thời điểm nào đó bệnh nhân còn phải nằm dưới sàn nhà hoặc nằm trên hành lang bệnh viện. Hình ảnh đó giống như cảnh ở các bệnh viện dã chiến trong Đại chiến thế giới II.
Vì sao lại có thảm cảnh này và vì sao cho đến bây giờ người ta vẫn chưa nhìn thấy một tia hy vọng nào chỉ cho một trong nhiều vấn đề ở các bệnh viện là giường nằm? Có phải vì chúng ta không còn đất để mở rộng các bệnh viện cũ và xây các bệnh viện mới? Hay vì chúng ta không có tiền để làm điều đó?
Hay vì chúng ta không hề thấy thảm cảnh của các bệnh nhân khi nằm viện? Hay vì việc đau ốm và nằm chung giường là của các ngươi còn việc không nằm chung giường và được chăm sóc như ông Thánh là của các toa?
Với những người có lương tâm đều nhận thấy: từ ngày đất nước mở cửa đến nay, mỗi năm chúng ta chứng kiến trên báo, trên tivi cảnh cắt băng khánh thành rầm rộ cơ man sân golf, khách sạn, resort...rồi các trụ sở từ cấp xã trở nên... nhưng chúng ta tìm mãi mà không thấy cảnh cắt băng khánh thành các bệnh viện hoặc nếu có thì cũng chỉ chiếm 1/1000 mà thôi.
Một trụ sở UBND xã có cần xây to lớn như thế không trong khi các trạm xá xã gần như chỉ là một cái nhà hoang? Một trụ sở UBND huyện có cần quá to lớn và đắt tiền như thế không khi một bệnh viện huyện cũ kỹ, bẩn thỉu, thiếu thốn phương tiện đến thê thảm?
Cái gì đất nước cần nhân dân cũng sẵn sàng hiến dâng. Cần đất làm sân golf, làm khách sạn, làm chung cư cao cấp hay biệt thự liền kề... nhân dân cũng phải dâng đất cấy trồng của mình cho dự án. Thế mà nhân dân chỉ cần được nằm trên một chiếc giường (có trả tiền đàng hoàng) khi đau ốm thì cũng không được. Vì sao lại như thế???
Không ai có thể nói Cuba giàu có và phát triển hơn Việt Nam. Nhưng hệ thống chăm sóc sức khỏe của nhân dân thì những người chứng kiến chỉ có thể nói: xuất sắc. Tại sao Cuba làm được điều đó mà chúng ta không làm được?
Cứ cho những câu hỏi của tôi và vấn đề tôi đang đặt ra đây là của một kẻ ít hiểu biết và kém trách nhiệm trong việc xây dựng hình ảnh đất nước thông qua chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân thì xin các ngài có bộ óc thông tuệ trong quản lý và có trách nhiệm hãy giải thích rành rọt và hợp lý để đầu óc của kẻ ít hiểu biết này được sáng ra một chút.

Bài phát biểu của Bác sĩ Paul Tambyah tại đại hội của Đảng SPD

Bài phát biểu của Bác sĩ Paul Tambyah tại đại hội của Đảng SPD

Đăng bởi anhbasam on 08/05/2011
Singapore Democrats

Bài phát biểu của BS Paul Tambyah

tại đại hội của Đảng SPD

Bác sĩ Paul Tambyah
Ngày 5 tháng 5 năm 2011
Thưa các bạn, thưa các đồng bào Singapore
Tôi là Paul Ananth Tambyah. Tôi là bác sĩ hiện làm việc tại bệnh viện của một trường đại học lớn ở địa phương. Tôi không phải là người của đảng SPD, một phần bởi vì tôi đang làm việc trong một tổ chức thuộc nghiệp đoàn dịch vụ dân sự và như các bạn biết đấy, công chức như tôi thì không được phép tham gia chính trị trừ phi bị thất nghiệp. Tôi xin cảm ơn SPD vì đã cho tôi cơ hội làm một diễn giả được mời tại một diễn đàn nổi tiếng trong lịch sử như thế này. Tôi sẽ phát biểu hoàn toàn với tư cách cá nhân. Tôi không phải là một chính trị gia. Tôi vẫn đang làm việc trong lĩnh vực dịch vụ của nhà nước và mới đây tôi đã nhận được hai mẫu tờ khai SAF 100 gửi vào hòm thư điện tử của tôi mặc dù nghề nghiệp của tôi là cứu người.
Với tư cách một bác sĩ y khoa, tôi thườmg xuyên tiếp xúc với bệnh nhân. Tôi nghe họ nói rằng ở Singapore chúng ta có thể có đủ tiền để chết chứ không có đủ tiền để mà lâm bệnh. Tôi đã chứng kiến nhiều người phải bán nhà rồi chuyển đến căn hộ cho thuê để có tiền trang trải chi phí chữa bệnh.
Họ cũng là người Singapore hệt như ông Bộ trưởng Y tế và các đồng nghiệp triệu phú của ông ấy. Giả sử họ phải mổ tim, vậy là họ sẽ phải trả nhiều hơn rất nhiều so với những người kia, bằng tiền mặt.  Tối thiểu họ phải trả chi phí cho cơ sở y tế chuyên khoa ngoại trú trước khi được nhập viện. Tôi đã gửi thư, đã viết báo, đã đăng ý kiến của mình trên trang facebook của ông Khaw (Bộ trưởng Y tê), đã chuyện trò với ông ấy qua mục Feedback ở trang facebook của ông ấy rồi đã nhận được những câu trả lời lịch sự của ông ấy, nhưng chẳng có thay đổi nào cả. Vì thế mà tôi có mặt ở đây hôm nay – để nhờ các bạn gửi tới ông ấy một thông điệp. Tôi chỉ muốn  gửi tới ông ấy một thông điệp rằng hãy rủ lòng thương tới những người đang ốm đau. Nay tôi hiểu rằng các bạn sắp gửi một thông điệp mạnh mẽ hơn một chút – các bạn muốn ông ấy ra đi.
Ông Khaw là một nhà quản lý giỏi. Ông ấy từng là giám đốc của NUH [Bệnh viện nhà trường cấp quốc gia]. Ông ấy làm giám đốc của NUH khi tôi còn đang là một sinh viên y khoa và ngày ấy ông ấy điều hành bệnh viện với số lượng nhân viên ít hơn các bệnh viện bây giờ rất nhiều. Nhưng ông ấy bây giờ dường như đã cạn ý tưởng dành cho y tế của Singapore rồi. Điều tốt là ông ấy đang lắng nghe tiếng nói của người dân, nhưng có lẽ hơi quá muộn rồi.Có lẽ ông cần kiếm việc làm khác và biết đâu ông ấy sẽ là một nhà quản lý rất giỏi của một nhà điều dưỡng ở Johor Bahru.
Tất cả chúng ta đều hiểu những vấn đề của hệ thống y tế ở đất nước này – hầu hết những vấn đề đó đều liên quan đến tiền.
Nguồn tài chính chủ yếu dành cho y tế là bảo hiểm Medisave – bệnh nhân số một là những người già. Số tiền trong tài khoản bảo hiểm y tế của họ chẳng nhiều nhặn gì và họ  phụ thuộc vào con cháu. Rất may là người già ở những thế hệ trước ở đất nước chúng ta có rất đông con cháu và bảo hiểm Medisave của con cháu có thể trang trải hầu hết hóa đơn bệnh viện của người già. Nhưng thế hệ tôi lại là “dấu chấm giữa hai thế hệ”. Chúng tôi thậm chí có ít con cái hơn. Khi chúng tôi ốm đau  thì ai sẽ thanh toán chi phí cho chúng tôi nếu như chúng tôi chủ yếu trông vào bảo hiểm Medisave trong khi chính chúng tôi lại phải dùng đến kiệt số tiền bảo hiểm Medisave để chi trả cho bố mẹ mình.
Medishield là một chương trình bảo hiểm y tế bắt buộc và chúng ta phải đóng tiền bảo hiểm này ngay từ lúc sinh ra. Vấn đề là bảo hiểm này không bao gồm các bệnh bẩm sinh và bệnh tâm thần hiện đang tác động tới 5% dân số Singapore. Đây là chương trình bảo hiểm y tế duy nhất trên thế giới làm ăn theo cái kiểu ăn chắc, chỉ nhìn thấy cái lợi cho mình.
Quỹ y tế nhân đạo Medifund chỉ giới hạn cho những người đã bán nhà cửa và đã dùng hết tiền bảo hiểm y tế Medisave của con cái. Mặc dù hạn chế như vậy nhưng hằng năm quỹ này vẫn không sử dụng hết tiền.
Những vấn đề nói trên không chỉ là những vấn đề nằm trong lý thuyết. Chúng tác động tới cuộc sống của những người dân thường Singapore. Một bệnh nhân của tôi bị một căn bệnh nhiễm trùng khiến ông ta bị đột quỵ. Ông ấy cần phải trả chi phí cho thuốc men mỗi ngày là 250 đô la [Singapore]. Không có khoản bao cấp nào dành cho chi phí thuốc men như vậy. Điều này đã được khuyến nghị trong tất cả các hướng dẫn, kể cả những hướng dẫn ở cấp địa phương. Nếu bệnh nhân này không dùng thuốc, ông ta rất có thể sẽ bị một cơn đột quỵ khác và thậm chí có thể chết. Tôi đã cố gắng giúp ông ta bằng cách cầu cứu nhân viên y tế xã hội. Chúng tôi nhận được câu trả lời là bệnh nhân này khó lòng nhận được sự giúp đỡ bởi vì ông ta sống trong một căn hộ sở hữu cá nhân cùng với một người con trai. 5 anh chị em của người con trai này không khá giả nhưng người con trai sống cùng bệnh nhân nói trên thì không nằm trong diện công dân Singapore được hưởng trợ giúp tài chính. Chúng tôi thậm chí đã tới mức viết cho ông ta một toa thuốc để ông ta có thể mua thuốc ở Johor Baru nhưng rồi không có kết quả. Các bạn biết liệu có bao nhiêu người sống trong một căn hộ sở hữu cá nhân cùng với gia đình lại có thể trả 250 đô la mỗi ngày tức 7500 mỗi tháng cho thuốc men, trong từ ba đến sáu tháng chưa kể những nhu cầu khác của chính gia đình họ??? Hệ thống y tế của chúng ta có điều gì đó không ổn một cách nghiêm trọng.
Đảng SDP đã có một đề xuất khác thay thế. Đó là một tài liệu đã được chuẩn bị kỹ càng và tôi có thể tóm tắt một số điểm chính. Thứ nhất, nhà nước tăng đầu tư vào lĩnh vực y tế để cho bằng với các mức đầu tư ở những nước đi đầu. Trong năm tài khóa 2009, chính phủ Singapore chỉ chi 1.4% GDP cho y tế  –tỉ lệ thấp nhất ở các nước phát triển. Điều này phần nào là bởi vì dân số của chúng ta vẫn còn trẻ nhưng cũng còn bởi vì người dân đang phải gánh tỉ lệ rất cho chi phí y tế như tôi vừa nói ở trên – các bạn và tôi – chủ yếu dựa vào bảo hiểm y tế Medisave – tức là là tiền của chính chúng ta. Kế hoạch đề xuất ngân sách của đảng SPD có một yếu tố quan trọng ấy là phải tăng ngân sách dành cho y tế lên tới ba lần.  
Thứ hai, tập trung vào chăm sóc sức khỏe ban đầu bằng cách thành lập các trung tâm y tế đặt tại tầng một của các tòa nhà căn hộ cao tầng [void deck: ở Singapore các căn hộ bắt đầu nằm từ tầng 2 trở lên. Tầng “void deck” dùng vào mục đích chung như đám cưới, đám tang, các cửa hiệu …) sử dụng những y tá đang trong giai đoạn thực tập và các chuyên gia y tế thông qua các hiệp hội. Các trung tâm này không cần thiết phải do các bác sĩ điều hành – y tá, chuyên gia vật lý trị liệu và chuyên gia về các bệnh nghề nghiệp đều có thể xử lý các căn  bênhk mãn tính một cách kịp thời hơn rất nhiều và với hiệu quả chi phí cao hơn nhiều.
Thứ ba, giảm bớt gánh nặng công việc cho nhân viên y tế tại những bệnh viện công bằng cách tạo điều kiện cho các bác sĩ và các chuyên gia đa khoa tới làm việc tại các bệnh viện công. Singapore thực ra không thiếu bác sĩ (trừ phi dân số của nước ta đã thực sự lên tới 6,5 triệu) – vấn đề liên quan nhiều hơn tới sự phân bổ chưa tốt. Bác sĩ và y tá của các bệnh viện công bị quá tải công việc và quá căng thẳng. Họ rời bỏ hàng loạt khỏi các bệnh viện công bởi vì điều kiện làm việc. Nhưng sau khi ra đi thì nhiều bác sĩ rút cục đã gặp phải những vấn đề phải trả tiền thuê nhà quá cao. Vì vậy họ buộc phải tăng tiền công hoặc buộc phải mở các cơ sở thẩm mỹ viện. Nên sử dụng những bác sĩ giỏi và chăm chỉ này của Singapore trong các bệnh viện công thay vì phụ thuộc vào nhân viên ngoại quốc là những người không thể nói được các thứ tiếng địa phương.
Y tế không phải lĩnh vực duy nhất mà người dân Singapore cần gửi thông điệp. Bà mẹ 73 tuổi của tôi đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời cho việc chăm sóc trẻ em tàn tật bởi vì bà tin rằng mọi đứa trẻ đều có quyền phát triển tối đa tiềm năng bất chấp tình trạng tàn tật. Bà đã mở trường học đầu tiên ở Singaproe dành cho trẻ em tàn tật không phân biệt tình trạng tàn tật thế nào và chương trình đầu tiên có tính toàn diện ở Singapore tái hòa nhập trẻ tàn tật  vào trong các trường học của trẻ em bình thường. Bà đã được bầu là người phụ nữ của năm vào năm 1994. Bà đã được trả công gì cho tất cả những công việc nói trên? Chẳng có gì cả! May mắn là cha của tôi làm việc chăm chỉ và có một công việc tốt nhưng mẹ tôi thì làm việc không hề biết mệt, thường chỉ dừng tay vào lúc đã rất khuya bởi vì nhiệt tình và tình thương yêu của bà, chứ không phải vì tiền hay quyền lực. Ngay lúc này kế hoạch vận động chính của bà là làm sao để trẻ em tàn tật được tiếp nhận vào hệ thống giáo dục phổ cập ở Singapore. Đây chính là điều mà các bậc phụ huynh đang mong muốn, điều đó là hoàn toàn công bằng. Trên thực tế về dài hạn chính phủ sẽ tiết kiệm được tiền nếu mọi trẻ em tàn tật được đi học và sẽ bớt là gánh nặng cho xã hội khi chúng lớn lên. Song, chính phủ đương nhiệm dường như lại không hiểu được điều này. Như chúng ta đã thấy ở kiệt tác viết về kinh tế của Jee Say ấy là một chính phủ lúc nào cũng chỉ nghĩ đến những chỉ tiêu thành tích và những lợi lộc ngắn hạn thì chính phủ đó không thể nhìn đủ xa để thấy được tương lai. Chính phủ đó không thể thấy được là cách nào một sự đầu tư vào con người có thể về lâu dài sẽ đưa Singapore tiến lên giai đoạn phát triển tiếp theo.
Hãy dùng cái đầu khôn ngoan sáng suốt để đi bỏ phiếu trong đợt bầu cử này, vì chính bạn, con cái của bạn, cháu chắt của bạn, hàng xóm của bạn, những người trẻ tuổi, người già. Ồ, dẫu cho có ai đó ốm đau thì tất cả chúng ta đều là người  Singapore cả. Đừng sợ có người sẽ lần ra bạn là ai từ lá phiếu của bạn. Chuyện này là không thể xảy ra. Họ thậm chí không thể tóm được một người ở baju kurung chân đi tập tễnh vượt biển bằng một con búp bê cao su thì làm sao họ lần ra được hơn một triệu người Singapore sẽ bỏ phiếu cho các đảng phái khác vào ngày Thứ Bảy tới! Giống như ông Tan Jee Say, lần bầu cử trước tôi đã bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ Singapore. Chẳng ai biết tôi đã bỏ phiếu thế nào. Tôi đã nhận được nhiều tờ quảng cáo của ứng cử viên ở cả nơi làm việc lẫn ở căn hộ dự phòng của tôi. Tối qua tôi đã nói chuyện tại cuộc Mít tinh ở Sembawang. Chẳng có người nào của chính quyền gọi tôi lên để bảo rằng sự nghiệp của tôi đã chấm dứt. Trưởng Khoa và Hiệu phó của tôi là người rất tốt và biết điều, họ tôn trọng sự đa dạng về quan điểm bởi họ hiểu rằng điều này là tốt cho Singapore. Bộ trưởng Tài chính Tharman mới đây đã phát biểu trên truyền hình rằng sẽ là điều tốt cho Singapore nếu có một đảng đối lập mạnh.  
Thời gian dành cho tôi sắp hết. Các ứng cử viên của đảng SPD đều là những người xuất sắc. Giống như nhiều người thuộc đảng PAP, họ muốn điều tốt đẹp nhất cho Singapore. Khác với PAP, họ không yêu cầu đãi ngộ tiền bạc ghê gớm cho việc phục vụ đất nước. Họ có một cách nhìn rất khác về làm thế nào để làm được điều tốt đẹp nhất cho  Singapore. Đây không phải là cách làm được quyết định từ trên rồi bắt dưới thực hiện, kiểu như “chúng tôi biết rõ hơn các anh”, mà tất cả đều liên quan đến các bạn. Hai tuần  của chiến dịch tranh cử cuối cùng đã khiến cho chính phủ phải lắng nghe nhân dân – đã khiến chính phủ đã đưa ra lời xin lỗi chưa từng có tiền lệ, đã lưu ý tới những vấn đề. Hãy để tâm suy nghĩ xem 5 năm nữa sẽ ra sao.
Bác sĩ Vivian Balakrishnan là một bác sĩ giải phẫu nhãn khoa xuất sắc. Singapore đang cần những bác sĩ giải phẫu mắt. Các bạn có thể giúp ông ấy quay trở lại nghề y. Ước gì tôi được bỏ phiếu ở Yuhua, Bt Panjang, Holland Bukit Timah hoặc Sembawang, nhưng tôi đang sống ở Tanjong Pagar. Tôi đã bị từ chối quyền bầu cử của tôi sau 35 giây [ý nói đăng ký qua mạng nên nhanh]. Singapore ngày nay là thế đấy. Công nghệ thông tin không được phép là Singapore của tương lai. Tương lai nằm trong lá phiếu của bạn được thực hiện thủ công nhưng bằng cái đầu sáng suốt. Xin cảm ơn.
Người dịch: Hiền Ba
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

AI LÀM CHỦ THẾ GIỚI hay THẾ GIỚI QUAN CỦA HOA KỲ

Đăng bởi anhbasam on 08/05/2011

AI LÀM CHỦ THẾ GIỚI  hay

THẾ GIỚI QUAN CỦA HOA KỲ



TỪ THẾ GIỚI A RẬP ĐẾN WISCONSIN

Sự trổi dậy của phong trào dân chủ trong thế giới A Rập – một biểu tượng dấn thân can đảm và ngoạn mục của lực lượng quần chúng – bất ngờ trùng hợp với sự trổi dậy đáng ngạc nhiên của hàng chục nghìn ngưởi ủng hộ giới lao động  và dân chủ ở Madison, Wisconsin, và nhiều thành phố khác ở Mỹ. Tuy nhiên nếu qũy đạo hai phong trào chống đối ở Cairo và Madison gặp nhau, hai phong trào lại theo hai hướng đi trái ngược: Ở Cairo, mục tiêu là giành các nhân quyền sơ đẳng bị chế độ độc tài chối bỏ, ở Madison lại nhằm bảo vệ những quyền lợi đã giành được sau nhiều năm tranh đấu cam go và nay đang bị tấn công nghiêm trọng.
Mỗi phong trào là một thế giới vi mô các xu thế xã hội toàn cầu, dõi theo hai hướng khác nhau. Đã hẳn cả hai sẽ mang lại nhiều hậu quả lớn lao: một trong trung tâm kỹ nghệ suy sụp của một xứ giàu có và hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại; và một trong “vùng chiến lược kỳ diệu và có lẽ là phần thưởng kinh tế phong phú nhất thế giới trong địa hạt đầu tư nước ngoài,”[1] như T T Dwight Eisenhower đã từng gọi,  hay, theo ngôn từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong thập kỷ 1940, một phần thưởng nước Mỹ nhất định phải chiếm giữ cho chính mình và đồng minh trong Trật Tự Thế Giới Mới đang diễn ra vào thời đó.
Cho đến nay, chúng ta vẫn có đủ lý do để tin, các nhà làm chính sách, trong căn bản, vẫn tuân theo phán đoán của A.A. Berle, cố vấn thân cận của T T Franklin Delano Roosevelt: kiểm soát tiềm năng năng lượng vô song ở Trung Đông có nghĩa “kiểm soát được phần lớn thế giới”.[2] Điều đó cũng có nghĩa: đánh mất quyền kiểm soát có thể đe dọa dự án thống lĩnh toàn cầu đã ra đời trong Đệ Nhị Thế Chiến, và luôn được duy trì và củng cố trước nhiều đổi thay quan trọng trên thế giới.
Ngay từ ngày đầu của Đệ Nhị Thế Chiến năm 1939, Hoa Thịnh Đốn đã tiên liệu chiến tranh sẽ chấm dứt với Hoa Kỳ giữ địa vị cường quốc áp đảo. Suốt trong thời gian cuộc chiến tiếp diễn, các quan chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao và các chuyên gia đối ngoại đã sọan thảo các kế hoạch cho thế giới thời hậu chiến. Họ đã hoạch định Khu Vực Rộng Lớn -Grand Area, Hoa Kỳ sẽ thống lĩnh, gồm Tây Bán Cầu, Viễn Đông, và các vùng nguyên thuộc đế quốc Anh, và giàu tài nguyên năng lượng ở Trung Đông. Trong khi Nga bắt đầu đánh bại quân Đức Quốc Xã sau Stalingrad, đối tượng của Grand Area đã được nới rộng đến nhiều nơi trong hai châu lục Âu-Á  (Eurasia), ít ra trong vùng kinh tế cốt lõi Tây Âu. Bên trong Grand Area, Hoa Kỳ sẽ duy trì “quyền lực vô điều kiện”, với “bá quyền kinh tế và quân sự”, trong khi làm mọi cách “hạn chế cách hành xử quyền tối thượng” của các quốc gia khác có thể gây khó khăn cho kế hoạch toàn cầu của Mỹ. Ngay sau đó, các kế hoạch thời chiến đã được thực thi.
Người Mỹ luôn tin Âu châu có thể chọn lựa theo đuổi một đường lối độc lập. NATO ra đời một phần nhằm ngăn chận đe dọa đó. Ngay sau khi lý do biểu kiến chính thức mất hết hiệu lực vào năm 1989, NATO đã được mở rộng về phía Đông – vi phạm những cam kết với lãnh tụ Xô Viết Mikhail Gorbachev. Từ đó, NATO đã trở thành lực lượng can thiệp do Mỹ lãnh đạo, với pham vị hoạt động rộng lớn hơn. Và Tổng Thư Ký NATO, Jaap de Hoop Scheffer, đã thông báo trong một hội nghị: “lực lượng quân sự  NATO có nhiệm vụ bảo đảm an ninh các tuyến dẫn dầu và hơi đốt cho các xứ Tây Phương,” và nói chung, phải bảo vệ các tuyến đường hàng hải cho các tàu dầu và các “hạ tầng cơ sở quan trọng khác” của hệ thống năng lượng[3].
Chủ thuyết Grand Area rõ ràng đã cho phép can thiệp quân sự khi cần. Kết luận đó đã được chính quyền Clinton chính thức diễn dịch khi tuyên bố: Hoa Kỳ có quyền sử dụng quân lực để bảo đảm khả năng “tự do tiếp cận các thị trường then chốt, các nguồn cung năng lượng, và các tài nguyên chiến lược,” và phải duy trì những lực lượng quân sự lớn ngay trong địa bàn Âu châu và Á châu “khả dĩ định hình các ý niệm của dân địa phương về chúng ta và định hình các biến cố ảnh hưởng đến đời sống và an ninh của chúng ta”[4].
Cùng những nguyên tắc đã biện minh cho kế hoạch xâm lăng Iraq. Vì mục tiêu chiến lược ở Iraq đã rõ ràng thất bại, người Mỹ không còn có thể che đậy kế hoạch xâm lược bên sau các chiêu bài và mỹ từ. Tháng 11-2007, Tòa Bạch Ốc đã buộc lòng phải công bố Tuyên Ngôn các Nguyên Tắc đòi hỏi lực lượng quân sự Hoa Kỳ phải lưu lại Iraq vô hạn định và dành đặc quyền ở Iraq cho các nhà đầu tư Mỹ. Hai tháng sau, T T Bush đã thông báo với Quốc hội: ông sẽ bác bỏ mọi dự luật có mục tiêu hạn chế sự đồn trú thường trực các lực lượng quân sự Hoa Kỳ ở Iraq hay “quyền kiểm soát của Mỹ đối với các tài nguyên dầu lửa của Iraq” - những mục tiêu Hoa Kỳ ít nhiều đã phải từ bỏ ngay sau đó trước phong trào kháng chiến kiên cường của người Iraq.
Ở Tunisia và Ai Cập, các phong trào trổi đậy của quần chúng đã ghi được nhiều thắng lợi ấn tượng. Tuy nhiên, theo phúc trình của Carnegie Endowment, trong khi danh tánh các lãnh đạo đã thay đổi, các chế độ vẫn còn y nguyên: “Một thay đổi trong giới thượng lưu lãnh đạo và hệ thống cai trị vẫn còn là một mục tiêu xa vời”[5]. Phúc trình đã  thảo luận những trở ngại nội bộ đối với dân chủ, nhưng đã làm ngơ trước các rào cản luôn lớn lao và quan trọng từ bên ngoài.
Hoa Kỳ và các đồng minh Tây Phương chắc chắn sẽ làm tất cả những gì có thể để ngăn ngừa dân chủ chân chính trong thế giới A Rập. Để hiểu rõ, chúng ta chỉ cần lưu ý đến công luận trong thế giới A Rập, như đã được các cơ quan thăm dò công luận của chính Hoa Kỳ phản ảnh. Mặc dù chỉ được phổ biến hết sức hạn chế, các nhà hoạch định Mỹ chắc chắn đều am tường: đại đa số người A Rập xem Hoa Kỳ và Do Thái như những đe dọa lớn lao họ đang đối diện – 90% người Ai Cập và 75% trong toàn vùng. Một số ít người A Rập, 10%, xem Iran như một đe dọa. Lập trường chống đối chính sách của Hoa Kỳ mạnh đến nổi đa số người A Rập, và  80% dân Ai Cập, tin: an ninh sẽ được cải thiện nếu Iran có được vũ khí hạt nhân . Một bách phân tương tự trong nhiều lãnh vực khác. Nếu công luận có thể được phản ảnh trong chính sách, Hoa Kỳ và các đồng minh, không những không thể kiểm soát toàn vùng, mà còn có thể  bị trục xuất khỏi thế giới A Rập, phương hại đến các nguyên tắc căn bản thống trị toàn cầu của Mỹ.

BÀN TAY VÔ HÌNH

Yểm trợ dân chủ là sở trường của các nhà ý thức hệ và tuyên truyền. Trong thế giới thực tế, giới thượng lưu thường chẳng yêu thích dân chủ. Bằng chứng rất hiển nhiên: dân chủ chỉ được hậu thuẩn trong chừng mức đóng góp vào các mục tiêu kinh tế xã hội của Mỹ và các đồng minh – một kết luận chỉ những nghiên cứu nghiêm túc hơn bất đắc dĩ phải thú nhận.
Thái độ khinh thường dân chủ của giới thượng lưu đã được biểu lộ một cách bi hài trong phản ứng đối với các tiết lộ của WikiLeaks. Những tiết lộ được chú ý nhiều nhất, với những lời bình lạc quan, là các công điện tường trình người A Rập hậu thuẩn lập trường Hoa Kỳ về Iran. Đó chỉ  là thái độ của những nhà cầm quyền độc tài trong khu vực. Thái độ của quần chúng không hề được nhắc tới. Nguyên tắc chỉ đạo được diễn tả bởi chuyên viên Trung Đông Marwan Muasher thuộc Carnegie Endowment, nguyên một viên chức cao cấp của chính quyền Jordan: ” Chẳng có gì sai, mọi sự đều trong vòng kiểm soát.”[6] Tóm lại, nếu giành được hậu thuẩn của các lãnh đạo độc tài, chẳng còn gì khác quan trọng để phải âu lo.
Chủ thuyết Muasher là duy lý và đáng kính. Chỉ cần ghi lại một trường hợp rất thích ứng, trong thảo luận nội bộ năm 1958, T T Eisenhower đã tỏ ra quan tâm đến “chiến dịch căm thù” (the campaign of hatred) đối với người Mỹ trong thế giới A Rập, không phải bởi chính quyền, mà bởi chính người dân. Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC) đã giải thích: trong thế giới A Rập, người ta có nhận thức Hoa Kỳ hổ trợ các chế độ độc tài và ngăn chận dân chủ và phát triển, nhằm bảo đảm quyền kiểm soát các tài nguyên trong vùng. Hơn nữa, NSC kết luận, nhận thức trong căn bản là đúng, và đó là “điều chúng ta nên làm”, căn cứ trên chủ thuyết Muasher. Các nghiên cứu của Ngũ Giác Đài sau sự kiện 11-9 cũng đã xác nhận cùng thực tế hiện nay.
Kẻ thắng thường ném lịch sử vào sọt rác và nạn nhân luôn đọc lịch sử nghiêm túc. Thái độ đó là thường tình. Có lẽ một vài nhận xét về vấn đề quan trọng nầy có thể hữu ích. Ngày nay không phải là lần đầu  Ai Cập và Hoa Kỳ cùng đối diện nhiều vấn đề tương tự, nhưng theo hướng đối nghịch. Điều nầy cũng đúng vào đầu thế kỷ 19.
Các sử gia kinh tế đã đưa ra luận cứ: Ai Cập trước đây cũng đã ở trong vị trí khá thuận lợi để phát triển kinh tế nhanh chóng như Hoa Kỳ. Cả hai đều giàu , kể cả bông vải,  nhiên liệu của cách mạng kỹ nghệ thời đó - mặc dù khác với Ai Cập, Hoa Kỳ đã phát triển ngành sản xuất bông vải và lực lượng lao động bằng các chính sách chinh phục, tàn sát, và nô lệ, với hậu quả rất hiển nhiên hiện nay trong những vùng dành riêng cho những người còn sống sót và trong các nhà tù đã bành trướng nhanh chóng từ thời Reagan, nơi cư trú của  số dân thừa thải còn sót lại sau thời giải-thể-kỹ-nghệ-hóa — deindustrialization.
Một dị biệt căn bản là Hoa Kỳ đã được độc lập, và nhờ đó, đã có thể tự do làm ngơ trước những đòi hỏi của lý thuyết kinh tế Adam Smith đương thời, những huấn lệnh tương tự như những những lời thuyết giảng đối với các xã hội đang phát triển ngày nay. Smith đã khuyến cáo các cựu thuộc địa vừa được giải phóng nên sản xuất các sản phẩm nhất đẳng để xuất khẩu và nhập khẩu những sản phẩm biến chế cao cấp của Anh Quốc, và nhất là đừng tìm cách nắm độc quyền các sản phẩm cốt lỏi, đặc biệt là bông vải. Smith cảnh cáo, bất cứ con đường nào khác cũng “làm chậm trễ thay vì tăng tốc sự gia tăng hơn nữa trong giá trị sản xuất hàng năm của mình, và có thể gây trở ngại, thay vì phát huy, đà tiến bộ đến thịnh vượng và cao cả thực sự của các xứ sở tại.” [7]
Sau ngày độc lập, các thuộc địa đã được tự do ở Bắc Mỹ, thay vì đi theo khuyến cáo của Smith, đã theo chân Anh Quốc, phát triển theo đường lối độc lập, với nhà nước giữ vai trò lãnh đạo, với thuế quan cao để bảo vệ kỹ nghệ non trẻ đối với hàng xuất khẩu của Anh Quốc, trước là vải vóc, về sau là thép và nhiều biến chế phẩm khác, và chấp nhận nhiều phương cách tăng tốc phát triển kỹ nghệ. Cộng Hòa độc lập cũng tìm cách giữ độc quyền bông vải khả dĩ đè bẹp các xứ khác, nhất là kẻ thù Anh quốc, như T T Jackson đã loan báo khi chinh phục Texas và phân nửa Mexico.
Đối với Ai Cập, Anh Quốc đã ngăn chặn con đường phát triển tương tự. Lord Palmerston tuyên bố “không ý niệm công bằng nào [đối với Ai Cập] được ngăn đường các quyền lợi lớn lao và cao cả” như bảo tồn quyền bá chủ kinh tế và chính trị của Anh quốc, bày tỏ sự “thù ghét” đối với “tên man rợ dốt nát” Muhammed Ali dám tìm kiếm một đường lối độc lập, và gửi hạm đội và dùng sức mạnh tài chánh của Anh quốc để bóp chết chính sách phát triển kinh tế độc lập của Ai Cập.
Sau Đệ Nhị Thế Chiến, khi đã thay thế Anh quốc trong vai trò bá chủ toàn cầu, Hoa Kỳ cũng chọn cùng lập trường, nói rõ: Hoa Kỳ sẽ không cấp viện cho Ai Cập trừ phi Ai Cập theo đúng các quy luật chuẩn của một tiểu nhược quốc – những quy luật Hoa Kỳ tiếp tục vi phạm, áp đặt thuế quan cao để ngăn chặn bông vải Ai Cập và gây nạn thiếu hụt đồng dollar, phương hại cho kinh tế xứ nầy – dĩ nhiên luôn sử dụng lối giải thích thông thường dựa trên các nguyên tắc thị trường.
Chẳng trách Ai Cập đã phát động“chiến dịch căm thù” đối với Hoa Kỳ; và  Eisenhower đã phải quan tâm và công nhận: Hoa Kỳ luôn hổ trợ các lãnh tụ độc tài, ngăn chận dân chủ và phát triển; không khác các đồng minh của Mỹ.
Để công bằng với Smith, tưởng cần nói thêm Smith đã công nhận những gì có thể đã xẩy ra nếu Anh quốc theo đuổi các quy luật kinh tế lành mạnh, ngày nay được gọi là tân tự do – neoliberalism.  Smith đã cảnh cáo: nếu các kỹ nghệ gia , các thương gia, và các nhà đầu tư Anh quốc quay ra ngoại quốc, họ  rất có thể thủ lợi nhưng Anh quốc lại có thể đã phải chịu thiệt. Nhưng ông linh cảm với thiên kiến quốc gia (home bias), và tác động của”bàn tay vô hình” trong kinh tế cổ điển, Anh quốc vẫn có thể tránh tai họa của quy luật kinh tế duy lý.
Tác động vừa nói rất khó bỏ quên. Đó chính là câu bất hũ “bàn tay vô hình” trong tác phẩm The Wealth of Nations. Một sáng lập viên hàng đầu trường phái cổ điển khác, David Ricardo, cũng đã rút tỉa những kết luận tương tự, hy vọng thiên kiến quốc gia có thể khiến giới sản xuất biến chế phẩm “bằng lòng với một tỉ suất lợi nhuận thấp trong nước, thay vì tìm kiếm một cách sử dụng tài sản một cách hữu lợi hơn ở các nước ngoài,” những tình cảm, ông nói thêm,”tôi cảm thấy buồn vì đã bị suy yếu.” Tạm quên đi những tiên đoán của cả hai tác giả, linh tính của các kinh tế gia cổ điển luôn khá lành mạnh.

ĐE DỌA CỦA IRAN VÀ TRUNG QUỐC

Phong trào dân chủ trong thế giới A Rập đôi khi được so sánh với Đông Âu năm 1989, nhưng trên những nền tảng đáng nghi ngờ. Năm 1989, phong trào dân chủ ở Đông Âu đã được người Nga chấp nhận, và được các cường quốc Tây phương hậu thuẩn,  đúng theo chủ thuyết chuẩn: cuộc nổi dậy rõ ràng phù hợp với các mục tiêu kinh tế và chiến lược, và vì vậy, là một thành tựu cao thượng, được tán thưởng và đề cao , không như những phong trào đấu tranh bảo vệ các nhân quyền căn bản cùng thời ở Trung Mỹ, theo lời Tổng Giám Mục El Salvador đã bị ám sát, một trong hàng trăm nghìn nạn nhân của các lực lượng quân sự được Hoa Thịnh Đốn huấn luyện và trang bị. Không có một Gorbachev ở Tây Phương trong suốt những năm ghê rợn thời đó, và ngay cả hôm nay.
Vì nhiều lý do riêng, các cường quốc Tây Phương vẫn luôn thù nghịch với dân chủ trong thế giới A Rập.
Chủ thuyết Grand Area vẫn tiếp tục được áp dụng để đối phó với các khủng hoảng và xung đột hiện nay. Trong giới làm chính sách và bình luận chính trị Tây Phương, đe dọa từ Iran được xem như nguy cơ lớn nhất đối với trật tự thế giới, và do đó, phải là mục tiêu căn bản của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, với Âu châu lẻo đẻo theo sau một cách ngoan ngoãn.
Nói một cách chính xác, đe dọa Iran là gì?  Câu trả lời có thẩm quyền của Tây Phương đã đến từ Ngũ Giác Đài và Hệ Thống Tình Báo Hoa Kỳ. Phúc trình về an ninh toàn cầu năm 2010 nói rõ: đe dọa không mang tính quân sự. Cả Ngũ Giác Đài lẫn Cơ Quan Tình Báo Trung Ương đều kết luận, ngân sách quốc phòng của Iran tương đối thấp so với phần còn lại của khu vực. Chủ thuyết quân sự của Iran mang tính “triệt để tự vệ, được thiết kế nhằm giảm tốc độ một cuộc xâm lăng và đem lại một giải pháp ngoại giao cho sự thù nghịch.”[8]Iran chỉ có “một khả năng hạn chế về quân sự bên ngoài lãnh thổ quốc gia”[9]. Với khả năng nguyên tử, “chương trình hạt nhân của Iran và ước muốn duy trì khả năng khai triển các vũ khí nguyên tử chỉ là phần cốt lõi của chiến lược răn đe”[10].
Đã hẳn chế độ thần quyền hà khắc là một đe dọa đối với nhân dân Iran, tuy vậy, vẫn kém xa các đe dọa từ phía các đồng minh Hoa Kỳ. Nhưng một đe dọa khác của Iran là khả năng răn đe tiềm tàng hay cách hành xử chủ quyền “thiếu chính đáng” có thể gây khó khăn cho khả năng tự do hành động của Hoa Kỳ trong khu vực. Đó mới là lý do thật sự tại sao Iran đã phải tìm kiếm khả năng răn đe. Chúng ta chỉ cần nhìn lại các căn cứ quân sự và lực lượng nguyên tử trong vùng để hiểu rõ.
Thực vậy, cách đây 7 năm, nhà sử học quân sự Do Thái đã viết: “Thế giới đã chứng kiến bằng cách nào Hoa Kỳ đã tấn công Iraq, như sự thật nay đã rõ – chẳng có lý do nào. Nếu Iran đã không tìm cách sản xuất vũ khí hạt nhân, thì có lẽ họ đã là những người điên,”[11] nhất là họ thường xuyên sống dưới sự đe dọa của các cuộc tấn công vi phạm Hiến Chương LHQ.  Họ có điên hay không vẫn còn là một vấn đề chưa có giải đáp, nhưng có lẽ là như vậy.
Ngũ Giác Đài và Cơ Quan Tình Báo còn nhấn mạnh, đe dọa Iran còn vượt quá răn đe. Iran cũng tìm cách mở rộng khu vực ảnh hưởng trong các xứ láng giềng, và vì vậy,  gây “bất ổn định” trong khu vực ( theo từ kỷ thuật trong ngành ngoại giao). Chiến lược xâm lăng và chiếm đóng quân sự của Hoa Kỳ trong các xứ láng giềng của Iran là để đem lại “ổn định”. Nổ lực của Iran nhằm mở rộng ảnh hưởng đến các xứ nầy là yếu tố gây “bất ổn định”, và vì vậy, rõ ràng “không chính đáng”.
Sử dụng ngôn từ như vậy là thường tình. Trong nghĩa nầy, nhà phân tích chính sách đối ngoại nổi tiếng James Chace đã sử dụng đúng từ “ổn đinh” trong nghĩa kỷ thuật của từ nầy khi ông giải thích: để đạt được ổn định ở Chí Lợi, người ta cần phải bất ổn định xứ nầy (bằng cách lật đổ chính quyền dân cử Salvador Allende và thay thế bằng chế độ độc tài của tướng Augusto Pinochet).
Cố nhiên, còn nhiều quan ngại khác về Iran cũng cần được thăm dò phân tích. Tuy nhiên, thiết tưởng chừng đó cũng đã đủ để hiểu rõ những nguyên tắc chỉ đạo và vai trò của những nguyên tắc nầy trong ngôn từ và văn hóa đế quốc. Như các nhà hoạch định của Franklin Delano Roosevelt đã nhấn mạnh ngay từ lúc khởi đầu hệ thống trật tự thế giới đương đại, Hoa Kỳ không thể tha thứ bất cứ cách hành xử chủ quyền nào gây trở ngại cho trật tự toàn cầu do mình thiết kế.
Hoa Kỳ và Âu châu hiện đang nhất trí trừng phạt Iran như một đe dọa tình trạng ổn định trong khu vực. Tuy nhiên,  tưởng cũng cần nhắc lại tình trạng cô lập của chính họ. Khối phi liên kết đã ủng hộ mạnh mẻ quyền làm giàu uranium của Iran. Trong khu vực, công luận A Rập còn hậu thuẩn mạnh mẻ hơn, ngay cả quyền có vũ khí hạt nhân của Iran. Thổ Nhĩ Kỳ, một đại cường trong khu vực, đã cùng với Brazil, một cường quốc được nhiều quốc gia thán phục trong vùng Nam Mỹ, gần đây nhất, đã bỏ phiếu chống nghị quyết chế tài do Mỹ đề xướng trước Hội Đồng Bảo An LHQ -UNSC. Thái độ bất phục tùng của hai cường quốc đã đưa đến những lời lên án gay gắt, nhưng không phải là lần đầu: năm 2003, Thổ Nhĩ Kỳ đã từng bị lên án khi –tuân theo đa số ý dân -  95% — từ chối tham gia vào cuộc chiến xâm lăng Iraq; do đó, chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã chứng tỏ chưa hiểu rõ dân chủ theo kiểu Tây Phương.
Sau hành động “ngỗ ngược” trước UNSC  năm rồi, Thổ Nhĩ Kỳ đã bị Philip Gordon, quan chức ngoại giao hàng đầu về Âu châu trong chính quyền Obama, cảnh cáo: “Thổ Nhĩ Kỳ phải chứng tỏ sự cam kết của mình như một đối tác với Tây Phương”.[12] Một học giả bên cạnh Hội Đồng Đối Ngoại đã hỏi, “Làm cách nào chúng ta  có thể giữ người Thổ Nhĩ Kỳ trong lối đi dành riêng cho họ?”[13] -- đúng như một thành viên dân chủ tốt. Nguyên Tổng Thống Brazil “Lula” cũng đã bị cảnh cáo trong một hàng tít lớn trên báo The New York Times: nổ lực của ông cùng với Thổ Nhĩ Kỳ đem lại một giải pháp cho vấn đề làm giàu uranium bên ngoài khuôn khổ của Hoa Kỳ là một “Chấm đen trong Di Sản của nhà Lãnh Đạo Brazil”.[14]Một cách ngắn gọn, làm theo chỉ thị của chúng tôi, bằng không, hãy coi chừng!
Một chuyện bên lề khá thú vị, đã bị nhận chìm một cách hiệu quả, là đề xuất Iran-Turkey-Brazil đã được Obama chuẩn y trước, với ước đoán là sẽ thất bại, do đó, trở thành một vũ khí ý thức hệ chống lại Iran. Khi đề xuất thành công, sự chấp thuận đã tức khắc trở thành lời khiển trách. Để thay thế, theo tạp chí Foreign Affairs số mới nhất, Hoa Thịnh Đốn đã hậu thuẩn thành công một nghị quyết khác trước UNSC, èo ọp đến độ TQ đã sẵn sàng ký, và nay đang bị chỉ trích vì đã chấp hành đúng với nghị quyết, nhưng không đúng với chỉ thị đơn phương của Hoa Thịnh Đốn.
Trong khi Hoa Thịnh Đốn, dù rất bức xúc, có thể tha thứ thái độ thiếu kỷ luật của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng với Trung Quốc, Hoa Kỳ thật khó lòng làm ngơ và rất khó xử. Báo chí cảnh cáo: “các thương gia và các nhà đầu tư TQ hiện đang lấp vào khoảng trống ở Iran khi giới doanh thương từ nhiều xứ khác, nhất là Âu châu, rút khỏi thị trường”[15], và đặc biệt hơn cả, TQ đang bành trướng địa vị vốn sẵn áp đảo của mình trong phạm vi kỹ nghệ năng lượng.
Hoa Thịnh Đốn đang phản ứng với ít nhiều tuyệt vọng. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã cảnh cáo: nếu muốn được chấp nhận trong cộng đồng thế giới — một từ kỷ thuật ám chỉ Hoa Kỳ và những xứ đồng ý với họ — TQ không nên “luồn lách và trốn tránh các trách nhiệm quốc tế, rất rõ ràng”[16]: nói rõ ra, phải theo chỉ thị của Mỹ. TQ chắc chẳng mấy ấn tượng.
Ngoài ra, đe dọa quân sự ngày một gia tăng của TQ cũng là một quan tâm lớn. Một nghiên cứu gần đây của Ngũ Giác Đài đã cảnh cáo ngân sách quân sự của TQ đang nhích lên gần “1/5 ngân sách Ngũ Giác Đài dành cho hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan”[17], đã hẳn chỉ một phân số của ngân sách quân sự của Mỹ. Báo The New York Times còn thêm: Sự kiện bành trướng lực lượng quân sự của TQ có thể “chối bỏ khả năng các tàu chiến Hoa Kỳ hoạt động trong hải phận quốc tế bên ngoài bờ biển TQ.”[18]
Đó mới chỉ là bên ngoài bờ bể của TQ; có lẽ TQ còn phải đề nghị Hoa Kỳ nên thanh toán các lực lượng quân sự đang chối bỏ khả năng các tàu chiến TQ qua lại trong hải phận quốc tế trong vùng biển Caribbean. Sự thiếu hiểu biết quy luật của thế giới văn minh của TQ còn được minh chứng qua những phản kháng đối với các kế hoạch hàng không mẩu hạm nguyên tử tiền tiến của Hoa Kỳ tham gia các cuộc thao diễn hải quân một vài dặm ngoài bờ bể TQ, có đủ khả năng tấn công Bắc Kinh.
Ngược lại, Tây Phương hiểu rõ tất cả các hoạt động và thao diễn thuộc loại nầy đều được hoạch định để bảo vệ ổn định và an ninh của chính Tây Phương. Tờ báo thuộc khuynh hướng tự do New Republic đã tỏ ra quan ngại “TQ đã gửi tàu chiến xuyên qua hải phận quốc tế đến phía ngoài đảo Okinawa của Nhật.” Quả thật, đó là một khiêu khích –  không giống như sự kiện, không được ghi nhận, Hoa Thịnh Đốn đã  biến hải đảo nầy thành một căn cứ quân sự khổng lồ chẳng quan tâm gì đến làn sóng chống đối kịch liệt của người dân Okinawa. Đây không phải là một khiêu khích, trên căn bản một nguyên tắc chuẩn: Thế giới thuộc về Hoa Kỳ hay “America owns the world”.
Trong mọi trường hợp, các quốc gia láng giềng cũng  có đủ lý do để quan ngại trước sức mạnh kinh tế và quân sự ngày một gia tăng của TQ.
Và mặc dù công luận của thế giới A Rập đã hậu thuẩn mạnh mẻ cho chương trình vũ khí hạt nhân của Iran, người Mỹ cũng chẳng nên làm như thế.
Các sách báo về chính sách đối ngoại đầy dẫy những đề nghị đối phó với đe dọa. Phương cách rõ ràng nhất, nhưng rất ít khi được thảo luận: vận động thiết lập một khu vực phi nguyên tử (Nuclear-Weapons-Free-Zone  — NWFZ) trong vùng Trung Đông. Vấn đề đã được nêu lên trong hội nghị Cấm Phổ Biến Nguyên Tử (Non-Proliferation-Treaty — NPT) tại LHQ tháng 5-2010. Ai Cập, trong tư cách chủ tịch 118 quốc gia thuộc Phong Trào Phi Liên Kết, đã kêu gọi thương nghị về một NWFZ, như đã được các quốc gia Tây phương, kể cả Hoa Kỳ, đồng ý , tại hôi nghị tái thẩm NPT (review conference), năm 1995.
Đề nghị đã được đại đa số các quốc gia trên thế giới hậu thuẩn mạnh mẻ, đến nổi Obama đã phải chính thức đồng ý. Tuy nhiên, Hoa Thịnh Đốn đã thông báo cho hội nghị: đây là một ý kiến hay, nhưng không phải bây giờ. Vả chăng, Hoa Kỳ cũng nói rõ Do Thái là một ngoại lệ: không một đề nghị nào có thể kêu gọi đặt chương trình nguyên tử của Do Thái dưới sự bảo trợ của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA) hay phổ biến thông tin về “các cơ sở và hoạt động nguyên tử của Do Thái.”[19]
Bấy nhiêu đó là phương pháp đối phó với sự đe dọa nguyên tử của Iran.

TƯ NHÂN HÓA HÀNH TINH

Tuy chủ thuyết Grand Area vẫn còn thắng thế, khả năng thực thi, trong thực tế, cũng đã suy giảm. Quyền lực của Hoa Kỳ đã lên đỉnh điểm ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến, khi Hoa Kỳ sở hữu khoảng 50% tài sản toàn cầu. Nhưng tình trạng dĩ nhiên phải suy giảm, khi các nền kinh tế kỹ nghệ bị chiến tranh tàn phá đã hồi phục và phong trào giải thể chủ nghĩa thực dân đã vượt qua quá trình hấp hối. Vào đầu thập kỷ 1970, tài sản của Hoa Kỳ đã sụt xuống còn 25% toàn cầu, và thế giới kỹ nghệ đã trở thành tam cực: Bắc Mỹ, Âu châu, và Đông Á (lúc đó dựa trên Nhật).
Kinh tế Hoa Kỳ cũng đã trải nghiệm một thay đổi đột ngột trong thập kỷ 1970, đổi qua hướng tài chánh hóa và xuất khẩu sản xuất. Một số yếu tố hội tụ đã tạo nên vòng lẫn quẩn tập trung tài sản quá độ, nhất là trong 1% dân số sang giàu nhất  - hầu hết là các CEO, các nhà quản lý các hedge funds, và các người cùng tầng lớp. Khuynh hướng nầy đã đưa đến hiện tượng tập trung quyền lực chính trị, và từ đó,  chính sách tăng gia tập trung kinh tế của nhà nước: chính sách tài chánh, luật lệ quản lý các công ty, bải bỏ giám sát, và nhiều thứ khác. Trong lúc đó, phí tổn vận động tuyển cử tăng vọt, các đảng phái chính trị ngày một lệ thuộc nhiều hơn vào túi tiền của giới đại tư bản, ngày một mang tính tài chánh: Cộng Hòa trước, rồi Dân Chủ tiếp theo sau không xa.
Bầu cử đã trở thành trò chơi dối trá vô nghĩa, điều khiển bởi kỹ nghệ PR (Public Relations – Quan Hệ Quần Chúng) hay Marketing. Sau khi đắc cử vào cuối năm 2008, Obama đã được kỹ nghệ PR trao giải thưởng Chiến Dịch Marketing thành công nhất trong năm. Các lãnh đạo kỹ nghệ doanh thương nhởn nhơ hồ hởi. Báo chí doanh thương giải thích: họ đã Marketing hay rao bán các ứng viên như các món hàng kể từ thời Ronald Reagan, nhưng 2008 là năm thành công nhất và có thể làm thay đổi phong cách trong phòng hội ban quản trị các công ty. Người ta dự phóng cuộc bầu cử 2012 sẽ tốn khoảng 2 tỉ, phần lớn tài trợ bởi các đại công ty. Chẳng trách Obama luôn lựa chọn các lãnh đạo doanh thương vào các chức vụ hàng đầu. Quần chúng căm giận và bức xúc, nhưng chừng nào nguyên tắc Muasher thắng thế, điều đó cũng chẳng quan trọng gì.                               
Trong khi tài sản và quyền lực tập trung vào một thiểu số, đối với tối đại đa số quần chúng, thực lợi tức hay real income ngưng trệ và người dân vất vã kiếm sống hàng ngày phải lao động nhiều giờ hơn, với nợ nần và lạm phát tích sản luôn tiêu tan với khủng hoảng tài chánh – những tai họa bắt đầu với guồng máy giám sát được gở bỏ kể từ thập kỷ 1980.
Tất cả những điều đó không còn là vấn đề đối với 1% dân giàu có. Họ thủ lợi qua chính sách bảo kê của chính quyền, mệnh danh “quá lớn để thất bại” -”too big to fail.”Các ngân hàng và các xí nghiệp đầu tư tham lam có thể lao vào những giao dịch liều lĩnh đầy bất trắc, với lợi nhuận kếch sù, và khi hệ thống đổ vỡ, họ có thể  trông cậy vào nhà-nước-vú-em để vòi tiền cứu trợ từ người dân chịu thuế, không quên mang theo các sách giáo khoa kinh tế của Friedrich HayekMilton Friedman.
Đó là diễn tiến bình thường  kể từ thời Reagan, khủng hoảng lần sau luôn nghiêm trọng hơn lần trước, dĩ nhiên chỉ đối với công chúng. Hiện nay, số thất nghiệp thực sự, khoảng trên dưới 25 triệu, ngang mức thời Đại Khủng Hoảng, trong lúc Goldman Sachs, một trong các kiến trúc sư chính gây nên đại suy thoái đang tiếp diễn, lúc một giàu hơn. Goldman Sachs vừa thầm lặng phân phối món thù đáp 17,5 tỉ trong năm 2010, với CEO Lloyd Blankfein nhận khoản tiền thưởng 12,6 triệu cùng với lương căn bản tăng gấp ba.
Tập trung sự chú ý vào những sự thật trên đây không mấy bổ ích. Vì vậy, guồng máy tuyên truyền phải tìm cách đổ lỗi: trong mấy tháng vừa qua, cho giới công nhân viên nhà nước, mức lương béo bở, hưu trí hậu hĩnh, v.v..: tất cả đều tưởng tượng,  mô phỏng theo hình ảnh bà mẹ da đen ngồi xe limousines đi lãnh chi phiếu trợ cấp xã hội của Reagan — và nhiều mô hình khác chẳng cần phải liệt kê. Người dân được chờ đợi thắt lưng buộc bụng nhiều hơn nữa – có nghĩa, hầu hết mọi người.
Giới giáo viên là mục tiêu đặc biệt tốt, một phần trong nổ lực quyết tâm phá hủy hệ thống giáo dục công lập, từ vỡ lòng cho đến đại học, qua chương trình tư nhân hóa, một lần nữa, có lợi cho giới nhà giàu, nhưng một tai họa đối với quần chúng cũng như kinh tế về lâu về dài. Nhưng đây chỉ là một trong số các vấn đề ngoại vi có thể gạt qua một bên, chừng nào các Nguyên Tắc Thị Trường còn thắng thế.
Một mục tiêu tốt khác, dĩ nhiên, là các người nhập cư. Đây là một sự thật trong suốt lịch sử Hoa Kỳ, nhất là trong các thời kỳ khủng hoảng kinh tế, đặc biệt trầm trọng hiện nay bởi ý tưởng Hoa Kỳ đang bị xâm chiếm: dân da trắng sẽ trở thành thiểu số trong nay mai. Chúng ta có thể hiểu sự căm giận của các cá nhân đang phiền muộn, nhưng tính tàn nhẫn của chính sách lại quá phủ phàng.
Nhưng dân nhập cư nào được chọn làm mục tiêu? Ở phía Đông tiểu bang Massachusetts, nhiều người Mayan trong các vùng cao nguyên Guatemala,  lánh nạn diệt chủng bởi những tên sát nhân sủng ái của Reagan. Một số di dân nhập cư khác người Mexico là nạn nhân của thỏa ước NAFTA thời Clinton, một trong những thỏa ước gây tổn thương cho giới lao động trong cả ba xứ thành viên. Khi Quốc Hội phê chuẩn NAFTA trước sự chống đối của dân Mỹ năm 2004, Clinton đồng thời cũng quân sự hóa biên giới Hoa Kỳ-Mexico, trước đó có thể qua lại tương đối tự do. Ai  cũng biết campesinos của Mexico không thể cạnh tranh với khu vực nông doanh Hoa Kỳ được chính quyền trợ cấp, và các doanh thương Mexico không thể cạnh tranh với các công ty đa quốc gia của Mỹ luôn được thụ hưởng quy chế đối xử quốc gia” hay “national treatment”, qua các thỏa ước “mậu dịch tự do” [một nhãn hiệu sai lầm] — một đặc ân chỉ dành cho các pháp nhân hay corporate persons, loại ra ngoài các thể nhân hay individual persons. Không có gì đáng ngạc nhiên khi các biện pháp nầy đã đưa đến các làn sóng tỵ nạn tuyệt vọng, và các làn sóng chống đối nhập cư cuồng loạn bởi các nạn nhân của chính sách ưu đải các pháp nhân sở tại (state-corporate policies).
Tình trạng tương tự cũng thường gặp ở Âu châu, nơi phân biệt chủng tộc còn lan tràn và trầm trọng hơn cả Hoa Kỳ. Người ta chỉ có thể nhìn với ngạc nhiên khi Ý Đại Lợi than phiền làn sóng tỵ nạn từ Libya, nơi diễn ra nạn diệt chủng đầu tiên sau Đệ Nhất Thế Chiến, trong khu vực Đông Âu nay đã được giải phóng, dưới tay chính quyền phát xít Ý. Hay khi Pháp, ngày nay vẫn còn bảo vệ các chế độ độc tài chuyên chế trong các cựu thuộc địa, đang cố tình làm ngơ trước những tàn bạo đáng ghê tởm của chính mình ở Phi châu, trong lúc Tổng Thống Pháp,  Nicolas Sarkosy, nghiêm khắc cảnh cáo “làn sóng nhập cư”, và Marine Le Pen phản đối  tổng thống đã không làm gì để chận đứng. Đó là chưa kể nước Bỉ, có thể xứng đáng được giải thưởng về điều Adam Smith gọi sự “bất công dã man của người Âu châu”[20].
Sự trổi dậy của các đảng tân-phát-xít trong khắp Âu châu là một hiện tượng đáng sợ ngay cả khi chúng ta không nhắc lại những gì đã xẩy ra trong lục địa Âu châu trong một quá khứ gần đây.
Những ai có đầu óc châm biếm có thể nhớ Benjamin Franklin, một trong những gương mặt lãnh đạo thời Khai Sáng, đã cảnh cáo các thuộc địa mới được giải phóng nên thận trọng trong việc nhận người Đức nhập cư, bởi lẽ da họ quá ngăm đen; người Thụy Điễn cũng vậy. Ngay trong thế kỷ 20, những chuyện hoang đường lố bịch về tính thuần khiết Anglo-Saxon vẫn rất phổ thông ở Hoa Kỳ, kể cả các tổng thống và các gương mặt lãnh đạo khác.
Văn hóa phân biệt chủng tộc là điều độc hại tồi tệ; càng bỉ ổi hơn trong thực tế. Có thể quả quyết diệt trừ polio còn dễ hơn tệ nạn phân biệt chủng tộc, một dịch bệnh càng độc hại hơn trong thời kinh tế khủng hoảng.
Tưởng cũng cần nhắc đến một vấn đề ngoại vi rất dễ bị xem thường trong  hệ thống thị trường. Các bất trắc trong hệ thống tài chính có thể bổ cứu bởi giới chịu thuế, nhưng không ai có thể cứu trợ khi môi trường bị hủy hoại. Và hủy hoại môi trường hiện đang được xem như một việc cần và phải làm trong định chế thị trường. Các lãnh đạo doanh thương  đang phát động chiến dịch tuyên truyền nhằm thuyết phục dân chúng: hiện tượng hâm nóng toàn cầu bởi con người  chỉ là một trò dối trá lường gạt – mặc dù họ hiểu rất rõ tính nghiêm trọng của tai ương nầy. Nhưng trong đoản kỳ họ phải tối đa hóa thị phần và doanh lợi. Nếu họ không làm, người khác sẽ làm.
Vòng lẩn quẩn có thể trở nên nguy hiểm. Để hiểu rõ tính trầm trọng của tai họa thay đổi khí hậu, chúng ta chỉ cần nhìn ở Quốc Hội mới của Hoa Kỳ, phần lớn được giới doanh thương hậu thuẩn và tài trợ. Hầu như tất cả đều là những thành phần chối bỏ hiện tượng thay đổi khí hậu. Họ đã bắt đầu cắt xén ngân sách dành cho các biện pháp tiết giảm tai họa môi trường. Tệ hơn nữa, vài người đang thực sự tin tưởng ở việc làm của họ. Chẳng hạn, người đứng đầu tiểu ban môi trường mới đã giải thích: thay đổi khí hậu không  là một vấn đề vì Thượng Đế đã hứa với Noah sẽ không có nạn lụt nào khác.
Nếu những việc như thế xẩy ra trong vài xứ nhỏ bé xa xôi, chúng ta có thể mỉm cười. Nhưng không ai có thể mỉm cười khi xẩy ra trong xứ giàu có nhất, hùng mạnh nhất thế giới.  
Trong mọi trường hợp, nguyên nhân chính của khủng hoảng kinh tế hiện nay là lòng cuồng tín và giáo điều “bàn tay vô hình của thị trường”, hay  nói chung,  là điều kinh tế gia Joseph Stiglitz, người đã được giải thưởng Nobel 15 năm trước đây, đã gọi là “tôn giáo thị trường hiểu biết hơn ai hết” hay “markets know best”. Chính thái độ cuồng tín vừa nói đã là nguyên nhân ngăn ngừa các ngân hàng trung ương và các kinh tế gia ghi nhận bong bóng bất động sản 8,000 tỉ USD không có cơ sở nào trong các học thuyết kinh tế – bong bóng 2008, khi xìu xẹp, đã hủy hoại kinh tế thế giới.
Tất cả những gì trên đây, và nhiều hơn nữa, có thể tiếp diễn chừng nào chủ thuyết Muashar thắng thế. Chừng nào quần chúng còn thụ động, còn thờ ơ, bị lung lạc bởi chủ nghĩa tiêu thụ  hay thái độ thù ghét những người dễ bị tổn thương, lúc đó giới giàu có và quyền hành có thể làm bất cứ điều gì họ muốn và những người sống sót sẽ chỉ có thể ngồi chiêm nghiệm hậu quả.
Nguyễn Trường
Irvine, California, U.S.A.
05-5-2011


[1] President Dwight Eisenhower: …the most strtegically important area in the world — a stupendous source of strategic power and probably the richest economic prize in the world in the field of foreign investment.
[2] …substantial control of the world.
[3] Jaap de Hoop Scheffer: “NATO troops have to guard pipelines that transport oil and gas that is directed for the West,” and more generally to protect sea routes used by tankers and other “crucial infrastructure” of the energy system.
[4] The U.S. has the right to use military force to ensure “uninhibited access to key markets, energy supplies, and strategic resources,” and must maintain huge military foeces “forward deployed” in Europe and Asia “in order to shape people’s opinions about us” and “to shape events that will affect our livelihood and our security.”
[5] A change in ruling elites and system of governance is still a distant goal.
[6] There is nothing wrong, everything is under control.
[7] Adam Smith: …Any other path “would retard instead of accelerating the further increase in the value of their annual produce, and would obstruct instead of promoting the progress of their country towards real wealth and greatness”.
[8] Its military doctrine is strictly “defensive, designed to slow an invasion and force a diplomatic solution to hostilities.”
[9] Iran has only “a limited capacty to project force beyond its borders.”
[10] With regard to the nuclear option, “Iran’s nuclear program and its willingness to keep open the possibility of developing nuclear weapons is a central part of its deterrent strategy.”
[11] The world has witnessed how the United States attacked Iraq for, as it turned out, no reason at all. Had the Iranians not tried to build nuclear weaponns, they would be crasy.
[12] Turkey must “demonstrate its commitment to partnership with the West.”
[13] How do we keep the Turks in their lane?
[14] …a Spot on Brazilian Leader’s Legacy.
[15] China’s investors and traders are now filling a vacuum in Iran as businesses from many other nations, especially in Europe, pull out.
[16] …China must not “skirt and evade international responsibilities, [which] are clear”: namely, follow U.S. orders.
[17] China’s military budget is approaching “one-fifth of what the Pentagon spent to operate and carry out the wars in Iraq and Afghanistan,” a fraction of the U.S. military budget, of course.
[18] The New York Times: China’s expansion of military forces might “deny the ability of American warships to operate in international waters off its coast.”
[19] The U.S. made clear that Israel must be exempted: no proposal can call for Israel’s nuclear program to be placed under the auspices of the International Atomic Energy or for the release of information about Israeli nuclear facilities and activities.
[20] …the savage injustice of the Europeans.