Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

Bài viết đáng chú ý

Chủ tịch nước bị “bao vây”

Hội nghị Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp tại Mặt trận Tổ quốc 

Đó là vòng vây hữu hình của nhiều nhà báo chiều qua, khi cố tìm cách vào dự một Hội nghị ở Mặt trận tổ quốc mà không được. Nó lại hé lộ một “vòng vây” vô hình khác.
Trước hết xin trở lại chuyện một tài liệu gần đây được độc giả gửi tới hộp thư của blog Ba Sàm, bản ghi chép nội dung cuộc nói chuyện của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại CLB Thăng Long, ngày 19/2/2013, nơi sinh hoạt của các vị cựu quan chức. Do không có phần âm thanh đi kèm, nên chúng tôi không đăng vì khó xác định mức độ khả tín, chỉ dè dặt trích đoạn liên quan lực lượng vũ trang để tham khảo (sau đó có nhiều trang mạng đã đăng lại toàn văn):
“Về vai trò của Đảng với quân đội. Tôi cho rằng Đảng ta lập ra quân là để bảo vệ Tổ quốc, nhân dân chứ không phải là lập ra là bảo vệ, trung thành với Đảng, vì vậy quân đội phải trung thành, bảo vệ Tổ Quốc, nhân dân rồi mới đến Đảng, có như vậy mới đúng chứ. Nay vì theo tập quán, nhận thức vẫn chưa thực hiện được.” 
Nếu như căn cứ vào sức nóng của vô số lời chỉ trích, quy kết đủ kiểu trên truyền thông nhà nước đối với bất cứ ai muốn Hiến pháp có nội dung khẳng định lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc, Nhân dân là trên hết, chứ không phải là với đảng (CSVN), thì cũng có thể đoán được những thái độ khó chịu tới đâu với phát biểu được cho là của CTN ở trên.
Còn mới đây, trên mạng lại có thông tin rằng đang có âm mưu “bao vây” ông CTN. Chưa rõ thực hư ra sao thì chiều qua một “Hội nghị lấy ý kiến nhân sĩ, trí thức, luật gia, người tiêu biểu các dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN tổ chức, có CTN tham dự, hình như minh chứng cho dư luận đó.
Một vòng vây hữu hình là các nhà báo muốn vào dự mà không được và một “vòng vây” vô hình là khoảng trống giữa ông CTN với công luận khi người ta ngăn cản báo giới dự mà không rõ lý do thực là gì, cùng những nội dung tường thuật sơ sài, bị cắt xén trên vài báo đài nhà nước.
Theo các nhà báo cho biết, nghe tin có Hội nghị quan trọng, nhiều báo đã cử phóng viên đến mặc dù không nhận được giấy mời. Tới nơi, họ mới biết chỉ có 3 cơ quan được mời là báo Nhân dân, Đài truyền hình VTV và trang web Mặt trận tổ quốc, ngay cả báo Đại đoàn kết của Mặt trận cũng không có tên. Báo Đại biểu nhân dân của Quốc hội có giấy mời của Mặt trận Tổ quốc mà cũng không được vào.
Không khí của một phiên chợ cóc bắt đầu! Thắc mắc, hỏi han, tranh cãi, giãi bày…
Một chàng phóng viên của Tiền phong đã “lọt lưới” do vận comple nghiêm chỉnh làm ban tổ chức tưởng là đại biểu. Phóng viên báo Đại đoàn kết sau khi có sự can thiệp của Mặt trận, cũng đã qua cửa ải, kéo theo vài phóng viên báo khác, do “lừa” là người các ban của Đại đoàn kết.
Các phóng viên được giải thích là việc này do Văn phòng Chủ tịch nước quyết định. Nhưng lại có phóng viên cho là họ bị lực lượng an ninh chuyên trách bảo vệ các cuộc gặp lãnh đạo viện lý do này nọ để ngăn cản. Không khí càng nóng hơn, theo kiểu mà Aziz Nesin đã từng diễn tả, tức là thấy bị ngăn chặn quá phi lý, cánh nhà báo càng tò mò, nghi là CTN sẽ có thông điệp gì đó quan trọng lắm. Thế là một loạt phóng viên dùng điện thoại di động  nhắn tin trực tiếp vào máy của CTN, đại ý thắc mắc “sao chúng cháu không được vào?”
Có lẽ do “con khóc” nên “mẹ mới cho bú”, nhưng chỉ cho vài “con” thôi. Sau giờ giải lao, một vài báo được phép vào, chủ yếu là báo giấy như Tuổi trẻ, Thanh niên, Sài Gòn Giải phóng, … Đám báo mạng, là thứ khá nguy hiểm (?), như VietNamNet, Dân trí, VNExpres thì vẫn phải chầu rìa.
Hội nghị bàn về một vấn đề hệ trọng hàng đầu của cả nước, tại một tổ chức mang danh lớn nhất của quần chúng cả nước, với sự có mặt của một “nguyên thủ quốc gia” mà úp úp mở mở như vậy đó.
Hội nghị kéo dài tới 6 giờ tối.
Thử lướt qua nội dung vài báo đài tường thuật vụ này xem sao.

TTXVN có một bài khá dài, nội dung không có gì đáng chú ý, kể cả phát biểu được tóm lược của CTN. VOV News rất dễ thấy đã lấy lại bài của TTXVN, nhưng lộn ngược đầu đuôi, thế là ổn. Lao động có một bản tin không thể ngắn hơn. Tin của Thanh niên Tuổi trẻ nhiều chữ hơn Lao động một chút. Các báo  Quân đội ND, Dân Việt, Pháp luật&Xã hội không được vào dự, thôi thì lấy lại của TTXVN là an toàn nhất. Bài trên Nhân dân cũng là một bản “tóm lược”.

Riêng Tiền phong, có trích dẫn một câu của CTN nhận xét về các ý kiến trong hội nghị:

“Đó là những phát biểu rất độc lập, rất có giá trị và cũng rất hay, không theo một khuôn mẫu nào”.
Đáng chú ý có phát biểu của “ông hội đồng” Đặng Văn Khoa, người từng nổi tiếng xông xáo, thẳng thắn phản ánh những bức xúc của xã hội. Có 3 báo đài sử dụng phát biểu của ông, nhưng theo 2 cách khác nhau.

VTV chỉ “nhặt” đoạn ông Khoa ủng hộ tuyệt đối “đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”. Một ông nghị được lòng dân như vậy mà đăng đàn “bỏ phiếu” cho đảng thì còn gì hiệu quả bằng?!

Chợt thắc mắc là tại sao chưa nghe ai so sánh hậu quả nghiêm trọng đối với toàn xã hội của những lối cố tình bóp méo, che đậy thông tin, một cách có hệ thống, với những hành động tội ác, như giết người, cướp của …, xem kẻ nào đáng tội chết hơn. Bởi vì cũng phát biểu của ông Khoa, VNEconomyVietnamNet có thêm nhiều chi tiết cho thấy nó đã bị VTV cắt xén bớt, có thể sẽ đem lại những tác động khác hẳn tới độc giả, ảnh hưởng đến bước tiến bộ xã hội:
Hiến pháp vẫn cần khẳng định sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Nhưng nên chăng cần lắng nghe các ý kiến trái chiều, tránh quy kết”, ông Khoa tâm tư.” (VNN).
Xem video
http://www.youtube.com/watch?v=6scvVnRQdzc&feature=player_embedded


Tự giới thiệu là người ngoài Đảng, doanh nhân Đặng Văn Khoa, ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói, những phát biểu thẳng thắn của Chủ tịch nước về những mặt  được, chưa được của Đảng đã nhận được sự đồng cảm của dân.”

“…để mở ra thời kỳ mới về dân chủ của đất nước, cần mở rộng quyền dân chủ trực tiếp, cần để nhân dân phúc quyết Hiến pháp. … ông Khoa góp ý, ‘tôi khẳng định rằng Hiến pháp vẫn cần khẳng định sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng nên chăng cần lắng nghe các ý kiến trái chiều, tránh quy kết’.” (VNEconomy).
Cả hai báo này còn đề cập một số nội dung đáng chú ý khác và lời hẹn của CTN sẽ trở lại để nghe thêm ý kiến của các vị trong Mặt trận một lần nữa, sau khi gợi ý sẽ “đặt hàng” về các vấn đề còn chưa rõ.

Vậy thì, ta vẫn sẽ phải chờ đợi xem tới đây liệu sẽ tái diễn một cuộc “bao vây” tương tự hay không, cũng giúp giải đáp rằng có hay không một “vòng vây” vô hình khác ngăn cách CTN với công luận.
Ba Sàm
(ABS)

Chính quyền bảo vệ sự vi phạm pháp luật bằng mọi giá?

Hình minh họa
Tư duy chung của pháp lý và pháp luật xây dựng trên nền hệ thống của Liên Xô đặt mục tiêu cao nhất là trấn áp “đối tượng” và bảo vệ pháp chế XHCN (không coi trọng bảo vệ con người và lẽ phải). Điều này có thể thấy rõ trong quy định và cách hiểu về tội danh “Chống người thi hành công vụ” xung quanh vụ anh Đoàn Văn Vươn. Với tư duy  nhà nước luôn đúng, các cơ quan bảo vệ pháp luật cả trung ương và Hải Phòng đã ép anh Vươn vào tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 257 Bộ luật HS. Trong bối cảnh việc cưỡng chế của UBND huyện Tiên Lãng là hoàn toàn trái pháp luật, hành động gọi một việc làm trái pháp luật là “công vụ” để các cơ quan nhà nước rầm rộ vào cuộc, bảo vệ sự vi phạm pháp luật bằng mọi giá đã cho mọi người thấy bản chất của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Tư duy cũ kỹ, lạc hậu này được thừa kế từ pháp luật Liên Xô còn in rõ trong từng hành vi, việc làm của các cơ quan quyền lực nhà nước Việt Nam. Mối quan hệ Nhà nước – Công dân được nhấn mạnh là mối quan hệ không bình đẳng. Nhiều khi tư duy này đẩy người ta vào những tình huống bi hài, lố bịch. Có đồng chí Công an tranh thủ đi “giải trí” rồi quỵt tiền, bị xã hội đen đánh thương tích. Điều tra làm hồ sơ thế nào mà “xã hội đen” bị đưa ra tòa vì chống người thi hành công vụ. Đồng chí Công an kia còn được làm hồ sơ thương binh để hưởng các chế độ đãi ngộ.
Ngày 7/7/2009, một thanh tra giao thông của Sở GTVT Hà Nội chặn ngay trước đầu xe tải đang lưu thông trên cầu Tó (Thanh Trì – HN), bị xe cán chết. Nguyễn Duy Ngọc (lúc đó là Trưởng CA huyện Thanh Trì, nay là Phó Giám đốc CA Hà Nội) cùng Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh rầm rộ định biến vụ này thành vụ chống người thi hành công vụ điển hình. Đồng chí Phạm Quang Nghị (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thành ủy HN) thân xuống viếng tang, hô hào phải phong cho liệt sỹ cho đồng chí Thanh tra GTVT bị chẹt chết. Về sau, luật sư của bị cáo mới chỉ ra Thanh tra GTVT không có thẩm quyền chặn xe đang lưu thông (chỉ CS giao thông mới có thẩm quyền này). Như vậy, việc đồng chí Thanh tra GT nhảy ra chặn xe là trái pháp luật và không thể gọi là “công vụ”. Từ đó, không ai thấy đồng chí Phạm Quang Nghị nhắc tới vụ phong liệt sỹ nữa.
Vừa rồi, Bộ Công an lại đề xuất cho phép dùng súng bắn thẳng vào đối tượng chống người thi hành công vụ cho thấy tư duy lạc hậu pháp luật Liên Xô trong các hệ thống của Việt Nam đã di căn lên độ ác tính.
Trở lại vụ anh Vươn, quan điểm của các cơ quan pháp luật Việt Nam coi vụ cưỡng chế trái pháp luật nhà anh Vươn là thi hành công vụ. Vậy, mấy tay Công an bị thương có được dựng dậy để phong thương binh không? Nếu có thì vô cùng lố bịch. Nếu không phong thương binh, các cơ quan nhà nước đã tự tỏ ra mâu thuẫn và bất nhất.
28/03/2013
Cầu Nhật Tân
(Blog Cầu Nhật Tân)

LS Hà Huy Sơn - Một vài ý kiến bào chữa cho các bị can trong vụ án Đoàn Văn Vươn, Hải Phòng

Là một luật sư tôi quan tâm đến vụ án “Đoàn Văn Vươn” với góc nhìn nghề nghiệp sau khi nghiên cứu cáo trạng tôi có mấy quan điểm sau đây.
Thứ nhất: Các bị can trong vụ án theo như Cáo trạng số 10/CT-P1A ngày 04/01/2013 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng bị truy tố về “Tội chống người thi hành công vụ “ điều 257 Bộ luật hình sự là hoàn toàn sai, vì:
1- Quyết định số 3307/QĐ-UBND “về việc cưỡng chế để thi hành quyết định hành chính thu hồi đất theo Quyết định số 461/QĐ-UBND” ngày 24/11/2011 của UBND huyện Tiên Lãng, Hải Phòng là trái pháp luật vì không đúng thẩm quyền. Do đó, những người thực hiện cưỡng chế theo Quyết định số 3307/QĐ-UBND không phải là người thi hành công vụ.
Sự việc liên quan đến gia đình ông Đoàn Văn Vươn đã đưa ra Tòa và Tòa án thành phố đã ra bản án như vậy việc thi hành án là trách nhiệm của Chi cục Thi hành án huyện Tiên Lãng, Hải Phòng chứ không phải là UBND huyện Tiên Lãng.
Khoản 3 điều 74 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, 1998, 2006, quy định:
“Các quyết định về phần tài sản, quyền tài sản trong các bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính được thi hành theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự.”
2- Việc cưỡng chế thi hành án là theo yêu cầu của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hoặc Chấp hành viên chứ không phải theo yêu cầu của UBND huyện.
Khoản 3 điều 8 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, quy định:
“Cơ quan công an có nhiệm vụ giữ gìn trật tự, kịp thời ngăn chặn những hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án. Trong trường hợp cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì cơ quan công an và các cơ quan hữu quan khác có nhiệm vụ phối hợp thực hiện theo yêu cầu của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hoặc Chấp hành viên.”
Thứ hai: Việc sử dụng Quân đội nhân dân tham gia cưỡng chế gia đình ông Đoàn Văn Vươn là trái pháp luật, vì:
1- Khoản 3 điều 8 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 không quy định Quân đội nhân dân tham gia cưỡng chế thi hành án.
2- Khoản 1 điều 14 “Quân đội nhân dân” Luật Quốc phòng 2005, quy định:
“Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bao gồm lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên. Lực lượng thường trực của Quân đội nhân dân có Bộ đội chủ lực và Bộ đội địa phương.”
Việc cưỡng chế gia đình ông Đoàn Văn Vươn không phải là nhiệm vụ quốc phòng.
Thứ ba: Truy tố anh em nhà ông Đoàn Văn Vươn “Tội giết người” điểm d khoản 1 điều 93 Bộ luật hình sự là không có căn cứ pháp lý.
Nếu đúng như cáo trạng nêu: Có thể chia thành 02 nhóm hành vi (trang 03).
Nhóm hành vi 1: ông Vươn là bộ đội công binh nên hiểu được lượng thuốc nổ của 02 quả mìn tự tạo để kích nổ bình ga, trên mỗi bình ga là 02 nửa bao đá nếu kích nổ không thể gây ra chết người một cách chắc chắn. Anh em nhà ông Vươn không mong muốn giết người nên khi lực lượng cưỡng đến sát hàng đã kích nổ mìn chỉ để gây sát thương, đe dọa lực lượng cưỡng chế. Nếu có mong muốn giết người thì ông Vươn với kiến thức bộ đội công binh phải để lực lượng cưỡng chế bước lên nơi đặt mìn mới kích nổ thì hậu quả chết người mới chắc chắn xảy ra. Điều này khẳng định (Mặt chủ quan của tội phạm – một trong 04 yếu tố cấu thành tội phạm) lỗi của anh em nhà ông Vươn không phải là “lỗi cố ý trực tiếp” mà chỉ là “lỗi cố ý gián tiếp”. “Lỗi cố ý gián tiếp” là người thực hiện hành vi có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng của người khác, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra nhưng để đạt được mục đích của mình người thực hiện hành vi có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra hay nói cách khác, họ có ý thức chấp nhận hậu quả đó (nếu xảy ra). “Lỗi cố ý gián tiếp” và hậu quả chết người không xảy ra thì anh em nhà ông Vươn không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người.
Nhóm hành vi 2: Lực lượng cưỡng chế tiến sát hàng rào thứ hai cách nhà ông Quý 18 m thì anh em nhà ông Vươn ở trong nhà dùng súng đạn hoa cải bắn ra. Súng bắn đạn hoa cải, khoảng cách 18 m, lực lượng cưỡng chế có trang bị mũ, áo chống đạn, khiên che nên không thể gây ra hậu quả giết người, hành vi này chỉ nhằm đe dọa hoặc gây sát thương để tìm đường chạy trốn nên không thể là hành vi của tội giết người. Hậu quả chết người cũng không xảy ra.
Như trên đã phân tích lượng lượng cưỡng chế hôm đó không phải là người thi hành công vụ và vì lý do công vụ./.
Hà Nội, ngày 28/03/2013
Hà Huy Sơn

Khủng hoảng, đảng trở thành tổ chức quan liêu, mafia

Nhận thức được nguy cơ xuất phát từ những khủng hoảng hệ thống nội tại về lý luận, tư tưởng, tổ chức, đạo đức cán bộ đảng viên, chất lượng và phương pháp lãnh đạo xã hội, dẫn đến sự mất niềm tin nghiêm trọng trong nhân dân, đảng đã tung ra giải pháp lớn là sửa đổi Hiến pháp 1992. Ngoài mục đích nhân dịp này đảng đưa ra một tu chính Hiến pháp thể chế hoá một số điểm trong cương lĩnh chính trị mới vừa thích ứng với những thay đổi của tình hình trong nước và thế giới, vừa thể hiện sự kiên trì giành quyền lãnh đạo tuyệt đối thông qua một qui trình hợp hiến hoá; đồng thời, ngay từ đầu, đảng cũng muốn tạo ra một kiểu sinh hoạt dân chủ có kiểm soát, nhằm xả xú páp những căng thẳng kéo dài trong thời gian qua thể hiện bằng những xung đột lợi ích có thực giữa nhà cầm quyền với nhân dân trong cưỡng chế thu hồi, bồi thường đất đai, tham nhũng, kinh tế suy thoái…
Với những ý đồ được thiết kế đó, đảng muốn nhốt toàn bộ công cuộc góp ý của nhân dân trong 02 tháng và chỉ bằng những kênh đã dự kiến là các cuộc hội thảo, họp đại diện “nhân dân” có tổ chức để bày tỏ sự thống nhất về nội dung và sự biết ơn vì đã được ban cho cái quyền góp ý. Tuy nhiên, sự kiểm soát của đảng đã bị vô hiệu hoá khi diễn biến của những cuộc góp ý tự phát nhưng hoàn toàn hợp pháp, hợp lệ, có tính đại diện cao, có sức thuyết phục lớn đã đảo chiều trong các nội dung góp ý không có lợi cho đảng. Bản kiến nghị 72 cùng với dự thảo Hiến pháp tham khảo, Lời tuyên bố của nhóm các công dân tự do, Bản góp ý và kiến nghị của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã điểm vào những hiểm huyệt của chế độ: bỏ hiến định về quyền lãnh đạo của đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền tam quyền phân lập, đổi quốc hiệu, phục hồi chế độ tư hữu và quyền tư hữu đất đai của nhân dân, xây dựng quân đội phi đảng hoá. Những kênh góp ý đó đã được chuyển đến một cách công khai, đúng luật cho các cơ quan chức năng của cuộc góp ý, đồng thời lan truyền mạnh mẽ trên mạng thông tin, ngấm vào dư luận xã hội và tạo ra một cơn lốc chính trị thật sự.
Đáp lại, đảng, thông qua người đứng đầu, cùng với bộ phận chóp bu chính trị của đảng, đã qui chụp cho toàn bộ các tổ chức góp ý đó là bộ phận suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phải xử lý. Đồng thời, đảng cũng huy động một lực lượng đông đảo các nhà ăn lương làm lý luận, số trí thực kiên định với sổ hưu và sợ mất sổ hưu, một số Việt kiều giả danh hoặc dấu tên, đội ngũ dư luận viên cò mồi… tung ra cuộc phản công lúng túng, yếu ớt, thiếu trí tuệ, thiếu sức thuyết phục với những xu thế nói trên. Đơn cử, việc bảo vệ Điều 4 về quyền lãnh đạo của đảng, lập luận bảo vệ phải vận dụng đến cả lý và tình, kêu gọi sự mủi lòng của nhân dân, kể công lịch sử, lấy lịch sử để hợp lý hoá hiện tại, trong khi đúng ra vấn đề phải được giải quyết ở yêu cầu chính trị của nó, tứ là sự đồng thuận dân chủ, là trưng cầu ý dân, là sự đánh giá một cách trí tuệ của toàn dân với uy tín của đảng so với xu thế của thời đại.
Rốt cuộc, sợi chỉ đỏ của toàn bộ quá trình gọi là dân chủ, hợp hiến đó là đảng, bằng mọi cách, vẫn giành quyền lãnh đạo của mình. Đã giành cái quyền mà nhân dân không đồng thuận, tức là đoạt, cướp. Khi giành quyền lãnh đạo độc tôn, duy nhất, với định hướng xã hội chủ mù mờ, giả hiệu, tất sẽ không có một kiểu nhà nước tam quyền phân lập nào cả; quyền tư hữu đất đai lịch sử của nhân dân Việt Nam sẽ không được trả lại; quân đội phải trung thành với đảng. Cướp quyền lãnh đạo, sẽ cướp cả tự do, dân chủ, nhân quyền, cướp đi sự đa dạng, đa phương sinh động và sáng tạo trong đời sống tư tưởng, tinh thần của nhân dân, cướp tài sản lịch sử của nhân dân, và dĩ nhiên, muốn như thế phải cướp luôn công cụ bạo lực, biến nó thành một lực lượng bị khống chế, phải trung thành. Một nhóm lợi ích không còn nhận được sự tin tưởng tuyệt đối của nhân dân, tiến hành sự lãnh đạo của mình như một hình thức cướp đoạt bằng cách sử dụng quân đội, công an làm phương tiện bạo lực đe doạ và trấn áp, về bản chất, nó gần hoặc đã là một tổ chức mafia.
Khi thực hiện bước đi như vậy, đảng đã chấp nhận sự phi lý xét cả trên bình diện đồng đại và lịch đại. Về đồng đại, đảng bỏ qua nhu cầu tự do, dân chủ, nhân quyền như một nhu cầu tức thì, có thực, hợp thời và được thể hiện một cách công khai của nhân dân; bỏ qua xu thế chính trị được áp dụng một cách thành công, hợp lòng dân ở rất nhiều quốc gia phát triển và muốn phát triển bình thường. Về lịch đại, người dân Việt Nam chưa bao giờ phát ngôn, thể hiện ý kiến một cách có tổ chức, trực tiếp và tự do về việc trao quyền lãnh đạo cho đảng; cho đến nay, đảng cũng không dám tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề hết sức hệ trọng này. Tương tự, nhân dân cũng chưa bao giờ trực tiếp giao đất, giao quyền tư hữu đất đai để xây dựng cái chế độ sở hữu hết sức mù mờ là sở hữu toàn dân. Trong khi đó, cùng là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa, song khi đổi mới, đảng cho phục hồi quyền sở hữu tư sản và tư bản, hình thành một giai cấp tư sản kiểu mới trong hệ thống mafia, với các loại tài sản trừ đi đất; còn “giai cấp” nông dân, rủi ro sở hữu loại tài sản và tư liệu sản xuất đất đai, đã xem như vĩnh viễn bị cướp đoạt.
Song song với quá trình đấu tranh hiến pháp, đấu tranh chính trị không cân sức đó, một số động thái trong công tác cán bộ, nhân sự thời gian qua của đảng cũng góp phần chứng minh cho xu thế mafia và quan liêu.
Từ năm 1954 trên miền bắc và 1976 trên cả nước, công tác cán bộ của đảng được thực hiện trong hệ thống 4 cấp của đảng: trung ương, tỉnh, trên cơ sở và cơ sở. Tương ứng về lãnh thổ là trung ương, tỉnh/thành phố, huyện/quận và xã /phường. Toàn bộ nhân sự lãnh đạo của mỗi cấp là do đại hội thường kỳ của cấp đó bầu ra theo trật tự từ dưới lên trên. Theo cách đó, mặc dù vẫn có chỉ đạo nhân sự từ cấp trên và không thực sự dân chủ, những người được bầu ra ít nhất là tại chỗ, được chọn ra từ chính tập thể đó, là thế hệ lớn tuổi hơn, và cũng có chút ít uy tín để chọn cột cờ. Về nguyên tắc, công tác nhân sự như vậy là bảo đảm tính lêninít về chính đảng, vốn được xem là hình thức dân chủ phù hợp nhất cho những đảng cầm quyền độc tôn có hệ thống lấp đầy các cấp chính quyền / lãnh thổ.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do khủng hoảng chất lượng nhân sự, khủng hoảng thế hệ tuổi tác, nhắm trước những hẫng hụt cán bộ lãnh đạo trong tương lai và để xử lý những nhu cầu bộ máy mới, đảng đã đẩy mạnh việc đào tạo, qui hoạch và luân chuyển, điều động các bộ lãnh đạo một cách quan liêu, tập quyền và không tuân thủ cách thức bầu qua đại hội thường kỳ như trước. Bộ chính trị ở trung ương và Ban thường vụ ở cấp dưới đã sử dụng quyền chỉ định, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ như kiểu một tổ chức hành chính quan liêu không hơn không kém. Đơn cử như việc hình thành 02 ban mới ở trung ương đã ngốn vào đó hàng chục uỷ viên trung ương vốn là bí thư của các tỉnh; một số uỷ viên trung ương khác lại được luận chuyển từ trung ương về làm bí thư các tỉnh mà không cần phải so đũa gì. So với hệ thống nhà nước, sự luân chuyển lên xuống như vậy của đảng mạnh hơn nhiều và thực sự quá trình đó chứng tỏ cán bộ lãnh đạo không còn cần là đại diện ưu tú cho một cấp đảng và thuần tuý chỉ là một công chức chính trị có giá trị mặc nhiên và có thể cử bổ nhiệm bất cứ đâu trên cả nước.
Nghe đâu ở thời điểm giữa nhiệm kỳ này, ở một tỉnh miền trung nọ, người ta đang làm một cuộc náo động nhân sự với vài ba chục trường hợp luân chuyển lãnh đạo các sở ban ngành và các huyện. Hầu hết những trường hợp điều luân chuyển đó không chứng tỏ được yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng hoặc nhằm mục tiêu ổn định, phát triển, thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm kỳ gì; tất cả như một kiểu đánh cờ người tuỳ tiện. Một ông được vào thường vụ tỉnh uỷ, được cử tri bầu là đại biểu nhân dân, được các đại biểu nhân dân khác bầu là Phó chủ tịch tỉnh, bỗng dưng bị miễn nhiệm chức danh này vì chức danh phía đảng cao hơn so với yêu cầu của chức danh chính quyền và không đúng cái qui hoạch rất khoa học của đảng. Cái hội đồng nhân dân vốn 100% bầu ra ông bây giờ cũng 100% miễn nhiệm ông theo ý đảng. Rất dân chủ, tuy hài hước.
Cũng phải nói thêm là đàng sau cái công tác đào tạo, qui hoạch, luân chuyển, điều động đó là vô số những tiêu cực, chạy chọt chức tước hoặc chạy chọt để tránh chức tước. Đây cũng là mảnh đất ngon lành cho những toan tính nhân sự vì lợi ích nhóm, bè phái, đồng hương, đồng khoa và con cháu trong gia đình.
Thất bại trong triển khai nghị quyết chỉnh đốn, thất bại trong công cuộc góp ý Hiến pháp, thất bại khi phải tốn mỗi năm hàng trăm tỉ cho việc lập lại, vận hành Ban kinh tế trung ương, Ban nội chính trung ương , thất bại trong công cuộc chống suy thoái, tham nhũng…, những cố gắng đó chỉ chứng tỏ đảng ngày càng là một tổ chức quyền lực quan liêu và mafia thôi.
Xích Tử
(Dân luận)

'Tàu chiến Mỹ cần gia tăng hiện diện ở Biển Đông'

Theo chuyên gia Đông Á Michael Auslin, Mỹ cần phản ứng khi nắm giữ vai trò lâu dài là đảm bảo Biển Đông không bị quốc gia đơn lẻ nào kiểm soát. 
Bãi cạn James chỉ cách bờ biển Malaysia 50 hải lý, cách bờ biển Trung Quốc tới 1.120 hải lý. Sự xuất hiện của một đội tàu hải quân Trung Quốc ở đây cho thấy họ đang thúc đẩy việc thực thi yêu sách chủ quyền ở Biển Đông.

Trung Quốc, Biển Đông, tập trận, chủ quyền, hải quân
Hải quân Trung Quốc tập trận ở Biển Đông. Ảnh: AP
Michael Auslin, chuyên gia Đông Á tại Viện Kinh doanh Mỹ cho biết, việc quân đội Trung Quốc diễn tập ở phần cực nam của vùng biển cho thấy, chiến lược "trục xoay châu Á" của chính quyền Obama mà Nhà Trắng nói là sẽ tái tập trung tài sản quốc phòng Mỹ từ Trung Đông sang Đông Á, đã tạo ra ít kết quả với các nước như Philippines hay Nhật Bản.
"Chúng ta đang mất uy tín với các đồng minh và bạn bè bằng cách không can dự", ông nói. "Trung Quốc hiểu việc Mỹ không hành động là tín hiệu đèn xanh để họ tiến tiếp".
Trong năm 2010, Trung Quốc đã dựng dấu mốc trên bãi cạn James nhằm tuyên bố chủ quyền của họ với tên gọi "bãi ngầm Zengmu". Hành động này là một phần trong yêu sách chủ quyền mà Bắc Kinh áp dụng cho toàn bộ các đảo, bãi cá và tài nguyên năng lượng ở Biển Đông - vùng biển mà nhiều nước khác tuyên bố chủ quyền. Đây còn là lộ trình quan trọng vận chuyển hàng hóa thương mại toàn cầu, với một nửa lượng hàng hóa thế giới đi qua.
Malaysia cho hay yêu sách của Trung Quốc hoàn toàn chỉ là nỗ lực chiếm dụng tài nguyên như trầm tích dầu khí tại khu vực được quốc tế công nhận là phần lãnh thổ của Malaysia.
Stephanie Kleine-Ahlbrandt, giám đốc Đông Bắc Á của Nhóm Nghiên cứu khủng hoảng quốc tế - một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động để ngăn chặn xung đột - nói rằng, các cuộc diễn tập của hải quân Trung Quốc là biểu hiện của chiến lược "chuyển từ cường quốc đất liền sang cường quốc hàng hải".
Gary Li, nhà nghiên cứu cấp cao của tổ chức IHS Fairplay ở London mô tả, hoạt động của đội tàu "là một thông điệp mạnh mẽ bất ngờ" từ tầng lớp lãnh đạo mới của Trung Quốc. "Không chỉ là vài tàu mà là tàu đổ bộ hiện đại mang theo đặc nhiệm và được các tàu hộ tống tốt nhất và máy bay chiến đấu hỗ trợ", ông nhấn mạnh. "Chúng tôi chưa từng chứng kiến việc này kể cả về số lượng hay chất lượng".
Theo ông Auslin, Mỹ cần phản ứng khi nắm giữ vai trò lâu dài là đảm bảo vùng biển này không bị một quốc gia đơn lẻ nào kiểm soát. Ông nói, Nhà Trắng cần gia tăng tần suất của các tàu chiến Mỹ trong khu vực để cho Trung Quốc thấy rằng "chúng ta đang hiện diện".
Nhà Trắng tuyên bố muốn tất cả các bên giải quyết tranh chấp một cách hòa bình thông qua cơ chế pháp lý quốc tế. Nhưng cách hành xử của Trung Quốc bị rất nhiều nước trong khu vực coi là sự gây hấn. Chuyên gia Auslin cho rằng, hành xử của Trung Quốc sẽ làm suy yếu chính sách cả trăm năm qua của Mỹ là duy trì vùng biển mở cho tất cả. "Liệu chúng ta có muốn nhìn thấy môi trường thay đổi, nơi quan hệ giữa các nước được xác định bởi kẻ mạnh nhất? Đó là thế kỷ 19", ông khẳng định.
Thái An - VNN
(theo usatoday)

Cùng khai thác tài nguyên có thể hóa giải tranh chấp Biển Đông?

Ngoại trưởng Australia Bob Carr mới đây đã lên tiếng hối thúc các quốc gia Châu Á hiện có tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông) và biển Hoa Đông cùng tìm kiếm cách thức nhằm đạt được các thỏa thuận chia sẻ tài nguyên.
Cũng giống như Hoa Kỳ, Australia hiện duy trì quan điểm trung lập trong các tranh chấp giữa Bắc Kinh và các quốc gia khác trong khu vực như Việt Nam, Nhật Bản và Philippines.
Nhưng ông Carr nói tại một trung tâm nghiên cứu ở thủ đô Washington rằng 60 tới 70% hàng hóa và thương mại của Australia được vận chuyển qua vùng biển Nam Trung Hoa nên chính quyền Canberra có quyền lợi trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp về lãnh hải.

Tàu đánh cá Việt Nam gần quần đảo Trường Sa ở Biển Ðông, ngày 5/1/2013. Theo EIA, Biển Đông có thể chứa trữ lượng lên tới 11 tỷ thùng dầu và ước tính quần đảo Trường Sa có trữ lượng khoảng 800 tới 5,4 tỷ thùng dầu.
Tàu đánh cá Việt Nam gần quần đảo Trường Sa ở Biển Ðông, ngày 5/1/2013. Theo EIA, Biển Đông có thể chứa trữ lượng lên tới 11 tỷ thùng dầu và ước tính quần đảo Trường Sa có trữ lượng khoảng 800 tới 5,4 tỷ thùng dầu.
Phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược, ông Carr nói rằng căng thẳng từ các vụ tranh chấp lãnh hải đang gây tổn hại tới khu vực, đồng thời gợi ý rằng các tuyên bố chủ quyền phức tạp nên được gác sang một bên để các bên có thể bàn bạc nhằm mưu tìm các thỏa thuận chia sẻ tài nguyên.
Trước đây từng có ít nhất 3 thỏa thuận như vậy mà một trong số đó là giữa Thái Lan và Malaysia, đạt được năm 1990, và có thể được coi là một mô hình cho các thỏa thuận về lãnh hải trong tương lai giữa các nước láng giềng Châu Á.
Biển Đông có thể chứa trữ lượng lên tới 11 tỷ thùng dầu và ước tính quần đảo Trường Sa có trữ lượng khoảng 800 tới 5,4 tỷ thùng dầu.
theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA)
Ngoại trưởng Australia cũng bày tỏ hy vọng rằng phát triển kinh tế và cải thiện xã hội là các chủ đề xuất hiện nhiều hơn trên báo chí quốc tế.
Ông Carr nói: “Tôi muốn đó là tin tức hay từ khu vực này, chứ không phải các tin tức về căng thẳng, tranh chấp hay chiến đấu giành chủ quyền. Người ta không đầu tư vào khu vực nếu họ nghĩ rằng một ngày nào chiến tranh có thể bùng ra tại khu vực này."
Giới quan sát nhận định, trữ lượng dầu khí tiềm tàng ở Biển Đông là một trong các lý do dẫn tới các tranh chấp ở vùng biển này.
Hồi tháng Hai, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) thông báo trữ lượng dầu khí tiềm năng ở Biển Đông, cho thấy trữ lượng đó vượt xa so với các dự báo trước đây và nhiều hơn cả các nguồn tài nguyên chưa được khai thác của cả Châu Âu.
Theo EIA, Biển Đông có thể chứa trữ lượng lên tới 11 tỷ thùng dầu và ước tính quần đảo Trường Sa có trữ lượng khoảng 800 tới 5,4 tỷ thùng dầu.
Việt Nam và Trung Quốc đều từng lên tiếng yêu cầu cả hai bên không được thăm dò dầu khí một cách đơn phương tại các vùng lãnh hải hiện trong vòng tranh chấp ở Biển Đông.
Gần đây Bắc Kinh ngày càng cực lực khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo và các khu vực lãnh hải ở Biển Đông.
Căng thẳng mới nhất bùng lên sau khi chính quyền Hà Nội cáo buộc Bắc Kinh bắn cháy cabin tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam.
Đáp lại, Trung Quốc nói rằng cáo buộc của Việt Nam là “hoàn toàn bịa đặt”.
(VOA)

Minh Văn - Trả lại Chính Danh

Bạn thử hình dung tâm trạng của một người khi bị lừa dối, bị đổ thừa và vu khống sẽ như thế nào? Ắt hẳn là sự tức giận và căm phẫn khôn cùng phải không quý vị? Khi bạn không có những quyền hạn nào đó nhưng họ nói rằng bạn đang được hưởng. Khi những lợi ích vật chất hay tinh thần không dành cho bạn nhưng người ta lại nói là của bạn. Những tội ác do kẻ khác gây nên nhưng lại mang tên bạn...; Nói tóm lại, người đó không được hưởng một chút lợi ích gì, nhưng lại phải gánh chịu mọi thiệt hại do kẻ khác gây ra. Chuyện có vẻ ngược đời nhưng lại là thực tế trên đất nước chúng ta. Ở Việt Nam có một người như vậy, người đó mang tên: “Nhân Dân”. Nhân Dân là tập hợp của những người dân trong một đất nước, thưa quý vị.
Xã hội Việt Nam hiện nay đang có hiện tượng hỗn mang về khái niệm và tên gọi. Sự rối loạn này do Đảng Cộng Sản gây nên để phục vụ cho mục tiêu lừa bịp. Họ cố tình làm cho người dân nhầm lẫn rằng: Đảng Cộng Sản chính là dân tộc, là nhân dân, là tất cả mọi thứ trên đời. Để rồi từ đó huyễn hoặc rằng: Xây dựng chủ nghĩa Cộng Sản là ý nguyện của toàn dân tộc, chứ không phải là ý đồ của một nhóm người điên. Người dân bị xoáy vào vòng luẩn quẩn của sự lừa dối đó mà không còn biết được vị trí của dân tộc và nhân dân nằm ở đâu. Đầu óc của họ đã bị tuyên truyền lừa mị đến độ cứ tưởng rằng đảng Cộng Sản đẻ ra dân tộc Việt Nam.
Dân Tộc Việt: Con Rồng cháu Tiên
Vì vậy cho nên, việc định rõ chính danh của các khái niệm là điều rất cần thiết cho xã hội Việt Nam hiện nay. Để chúng ta biết được ai chính ai tà, cái gì đúng và cái gì sai. Và rằng nhất định phải như vậy, mọi thứ phải trở về với ý nghĩa đích thực của nó, vì sự lừa dối và ép buộc chỉ là thắng lợi nhất thời của kẻ ác mà thôi.
Đã đến lúc cần thẩm định lại ý nghĩa và chủ nhân của các danh từ sau: Chính quyền nhân dân, Tòa án nhân dân, Công an nhân dân, Hội đồng nhân dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội Nông dân...; phải xác định tính chính danh của các khái niệm này, hòng trả lại chủ sở hữu đích thực, thiết lập lại sự trong sáng cho xã hội. Một xã hội mà lâu nay bị vẩn đục bởi sự lừa dối và lưu manh hóa của chế độ Cộng Sản toàn trị. Mọi người dân vẫn hiểu rằng họ bị gán ghép cho những khái niệm trên. Thực tế hiện nay không có một “Chính quyền nhân dân” nào cả, cũng như những “Tòa án nhân dân” hay “Hội đồng nhân dân”. Nếu không thì những bất công và tội ác do nhà nước Cộng Sản gây ra cũng là của nhân dân sao? Ai cũng biết rằng những thứ đó là của đảng Cộng Sản, họ chỉ mượn danh nhân dân để hợp thức hóa cho sự tồn tại của một chế độ độc tài phi nghĩa.
Chúng ta biết rằng, những người Cộng Sản gọi nhau là “Đồng chí”, từ này có nghĩa là “cùng chí hướng”. Vậy thì những người có chung một mục đích, một lý tưởng thì mới gọi nhau là đồng chí, ngoài ra thì không gọi như vậy. Những kẻ đó đồng đảng với nhau, như dân ta vẫn thường nói một cách nôm na là “cùng một duộc”. Vâng, bọn "đồng chí" cùng một duộc với nhau cả, thưa nhân dân. Khi nói trước công luận, thì bao giờ người Cộng Sản cũng sử dụng những khái niệm có gắn từ “nhân dân” kia để hòng mị dân và làm bình phong che đậy. Còn khi hội nghị thì họ lại gọi nhau là “đồng chí”, đây là lúc phơi bày mặt chuột của những kẻ lừa đảo. Những cái tên nghe rất dân sự như: Hội phụ nữ, Hội Nông dân, Quỹ tín dụng nhân dân...mà khi hội nghị cũng “đồng chí” với các cán bộ nhà nước. Hãy xem, hãy chứng kiến thì sẽ thấy lúc này những con Cáo hay Hồ Ly Tinh đã hiện nguyên hình như thế nào. Nó khiến người ta không khỏi tởm lợm cho cái trò lừa đảo trơ trẽn và táng tận lương tâm của một đảng Cầm quyền. Chỉ có người dân là trở thành món hàng và đối tượng làm tiền của những kẻ gọi nhau là “đồng chí” này.
Nhân dân không có quyền gì cả, mọi đặc quyền đặc lợi thì các “đồng chí” hưởng hết. Vậy thử hỏi làm sao người dân không phẫn uất khi các “đồng chí” đưa ra khẩu hiệu này: “Nhà nước của dân, do dân vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Cả cái Chính phủ và Quốc hội kia cũng vậy, nó chẳng thuộc về người dân chút nào, mà chỉ phục vụ cho lợi ích của đảng Cộng Sản mà thôi. Ngay cả cái quyền phổ thông đầu phiếu cũng không thuộc về nhân dân. Ấy vậy mà trên danh nghĩa thì nhân dân có hết. Nhà nước còn tuyên truyền rằng, “bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân”, như thế mới tức chứ? Vô lý như vậy nhưng không ai phân trần được cả, vì các phương tiện truyền thông nhà nước nắm giữ hết, họ cấm báo chí và truyền thông tư nhân hoạt động.
Trong tự nhiên có một hiện tượng thú vị, ấy là “Ốc mượn hồn”. Theo đó thì những chú Tôm láu cá chui vào cái vỏ cứng của những con Ốc đã chết. Chúng làm như vậy là để tạo vỏ bọc và đánh lừa các sinh vật biển khác. Những chú Ốc này mặc dù đã chết (chỉ còn cái vỏ) nhưng vẫn đi lại bình thường, nhìn vào người ta dễ nhầm tưởng rằng chúng vẫn đang sống. Xin quý vị hãy liên tưởng tới xã hội Việt Nam lúc này, rồi xác định xem đâu là vỏ ốc và đâu là con Tôm láu cá kia nhé.
Cổ nhân có câu: “Danh chính ngôn thuận”. Đúng vậy, danh có chính thì ngôn mới thuận. Kẻ nào không chính danh là lừa dối, kẻ nào mượn danh là bịp bợm, vì thế mà chẳng ai nghe chúng cả. Ngay bây giờ đây, chúng ta hãy cùng nhau định rõ chính danh cho các khái niệm, hòng trả lại sự minh bạch cho Xã hội Việt Nam. Các khái niệm đó là: Dân tộc, Nhân dân, đảng Cộng Sản.
Hãy xác định rõ những gì thuộc về dân tộc và nhân dân Việt Nam, cái gì là của Cộng Sản, thưa toàn thể quý vị.
Minh Văn
(Blog Minh Văn)

Người Nhật thoát khỏi quỹ đạo Trung quốc bằng cách nào?

Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc không thua gì Việt Nam. Cũng như ở ta, Khổng giáo đã từng là khuôn vàng thước ngọc chính thống trong tư tưởng của nước ấy. Nhưng người Nhật đã sớm ra khỏi quỹ đạo tư tưởng của Trung Quốc. Họ bắt đầu giải phóng tư tưởng của họ từ bao giờ? Bằng cách nào? Do trường phái nào? Bằng lý luận gì?
Đó là câu hỏi mà tôi mong nhiều bạn sẽ cùng đặt ra với tôi, và bài viết này chỉ là một câu trả lời rất khiêm tốn. Công việc của tôi, thật vậy, rất khiêm tốn: tôi chỉ đọc một quyển sách và trình bày lập luận của tác giả. Quyển sách là một tác phẩm có tiếng và tác giả là một giáo sư đại học lừng danh, ở Nhật cũng như trên quốc tế. Xuất bản lần đầu tại Nhật năm 1952 và gây tranh luận sôi nổi sau đó, quyển sách của Masao Maruyama, rất bác học và khó đọc, được dịch ra tiếng Anh năm 1974, rồi tiếng Pháp năm 1996, khi ông mất, dưới nhan đề: "Essais sur l'histoire de la pensée politique au Japon" ("Luận về lịch sử tư tưởng chính trị tại Nhật"). Giới học thuật Pháp đặc biệt chú ý đến lập luận của Maruyama, một lập luận độc đáo làm họ ngạc nhiên: người Nhật đã thoát ra khỏi sự nô lệ văn hóa đối với Trung Quốc trước khi tiếp xúc với Tây phương. Họ đã giải phóng tư tưởng của họ tự bên trong, chứ không phải dưới áp lực của bên ngoài. Hiện đại hóa trong tư tưởng của người Nhật đã diễn ra trong một quá trình tranh luận giữa các tín đồ Khổng giáo với nhau, chứ không phải giữa họ với "ánh sáng mới" đến từ Tây phương. Nói khác, hiện đại hóa trong tư tưởng của người Nhật đã xảy ra trước khi Minh Trị hiện đại hóa nước Nhật để bắt kịp Tây phương. Giải phóng tư tưởng đi trước giải phóng chính trị.
Đó là điểm đặc biệt mà ít người nói đến, nhất là ở phương Tây. Tây phương ưa làm người ta nghĩ rằng nguồn gốc hiện đại là đến từ họ. Đó cũng là điểm đặc biệt mà chúng ta, người Việt Nam, nên chú ý. Vì hai lẽ. Một là: trong cùng một hệ thống tư tưởng đến từ Trung Quốc, tại sao họ biết đặt lại vấn đề để phủ định, để hiện đại hóa, còn ta thì không? Hai là: tại sao ta vẫn lấy tư tưởng Trung Quốc làm tư tưởng của ta? Nếu ta không thiếu những cái đầu để suy nghĩ thì cái gì đã không cho phép ta làm cái việc mà Nhật đã làm hồi thế kỷ 17-18, tức là phê phán tư tưởng chính thống tự trong lòng tư tưởng ấy, bởi những tín đồ của tư tưởng ấy?
Người Nhật không hơn gì ta đâu về phương diện triết lý: họ cũng không có những lý thuyết gia xuất sắc. Vậy mà họ có được những trường phái, những tranh luận đưa dần đến sự thành hình một tư tưởng chính trị mang sắc thái đặc trưng của Nhật. Quyển sách của Masao Maruyama nghiên cứu sự thành hình đó. Ông đưa ra hai nhân vật tiêu biểu: Ogyù Sorai và Motoori Norinaga. Sorai (1666-1728) là kết tụ của một quá trình đánh giá lại Khổng giáo, hay nói cho chính xác hơn là Tống Nho. Norinaga đi xa hơn, đả kích Tống Nho, xây dựng cả một trường phái đề cao quốc học. Trong phạm vi nhỏ bé của bài này, tôi chỉ có thể giới hạn vào hai tác giả đó mà thôi, nhất là Sorai.

 Người Nhật
Đối tượng xét lại của Sorai: Tống Nho.
Khổng giáo du nhập vào đất Nhật rất sớm, cuối thế kỷ thứ 4 sau Tây lịch, và đặc biệt được tôn quý nhất dưới thời Tokugawa, nghĩa là từ đầu thế kỷ 17 đến khi Minh Trị thiết lập lại uy quyền của Vua năm 1868. Sử Nhật xem khoảng thời gian đó như là thời hoàng kim của Khổng giáo. Cũng lạ, đó là khoảng thời gian mà người Nhật gọi là cận đại (kindai). Họ dịch "modernisation" là cận đại hóa. Thời hoàng kim của Khổng giáo ở Nhật là thời cận đại! Nhưng tại sao lại hoàng kim?
Lý do thứ nhất là cấu trúc xã hội và chính trị ở Nhật dưới chế độ phong kiến Tokugawa có thể so sánh với cấu trúc ở Trung Quốc hồi Khổng giáo bắt đầu phát triển: đất giống nhau, mùa màng tươi tốt như nhau. Nông dân thời Tokugawa không được phép mang kiếm bên mình, chỉ được sống với đất, tách biệt rạch ròi với giai cấp võ sĩ. Giai cấp võ sĩ lại tách biệt rạch ròi với đất đai, từ giã đất, kéo nhau lên đô thị làm gia nhân cho các lãnh chúa. Giữa họ với nhau, võ sĩ lại tách biệt rạch ròi thành đẳng cấp, tôn ty trên dưới phân minh. Cũng sĩ nông công thương như ở ta, nhưng "sĩ" (võ sĩ) tách biệt với ba giai cấp kia và tách biệt giữa nhau, phân chia trên dưới chặt chẽ, dưới phải tuân trên. Từ trên cùng là Đại Tướng Quân (Shogun) với các tướng quân chư hầu chung quanh, cho đến các samourai thấp kém nhất ở dưới, giai cấp võ sĩ thống trị tuyệt đối trên ba giai cấp khác. Tôn ty trật tự ấy tìm được nơi đạo lý Khổng giáo ý thức hệ tuyệt hảo để làm cơ sở lý thuyết. Ý thức hệ ấy thấm nhuần khắp xã hội, vì các giai cấp ở dưới có khuynh hướng bắt chước đạo lý sống của giai cấp trên đầu.
Lý do thứ hai là Khổng giáo khoác bộ áo mới dưới thời Tống nhờ tài ba sáng tác của Chu Hy, và Tống Nho được vị Shogun đầu tiên của thời Tokugawa là Ieyasu (1542-1616) đặc biệt sủng ái. Trước đó, Khổng giáo chỉ được quảng bá ở chốn cung đình, bây giờ Tống Nho được phổ biến rộng rãi trong dân gian qua các thầy đồ mở lớp dạy học trong quần chúng. Chẳng phải ông Đại Tướng Quân này sính gì đạo lý, văn chương. Ông biết ông đã ngồi trên lưng ngựa để được thiên hạ, nhưng ông cũng biết mất thiên hạ như chơi nếu chỉ cai trị với cái lưng ngựa. Tống Nho giúp ông chính đáng hóa quyền hành. Cả một học phái Nhật quảng bá tư tưởng Chu Hy được ông tích cực nâng đỡ.
Nhưng Tống Nho là gì? Trước hết, dưới mắt Sorai, đó là một sự trở về nguồn, lấy gương sáng của năm ông vua truyền thuyết thời thượng cổ (Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ, Chu Công) hợp với Khổng, Mạnh, làm kim chỉ nam, đặt trọng tâm trên Tứ Thư (Đại học, Luận ngữ, Trung dung, Mạnh Tử) thay vì Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu). Thứ hai, đó là một siêu hình học vừa được sáng chế, kết nối con người với vũ trụ, lấp đi một lỗ trống lớn trong tư tưởng của Khổng giáo, quá thiên về mặt hình nhi hạ. Toàn bộ là một hệ thống triết lý chặt chẽ bao gồm cả đạo đức hằng ngày của con người lẫn quan niệm về bản thể của vũ trụ.
Tôi khỏi phải dông dài về siêu hình học của Chu Hy, về thái cực, âm dương, ngũ hành…Chỉ nói rằng Chu Hy phát triển học thuyết Lí và Khí của hai anh em họ Trình, Trình Hạo và Trình Di, lí là phần siêu hình,khí là phần vật chất, hai phần ấy không tách rời nhau, hễ có khí thì có lí, nhưng lí có trước, khí có sau, lí có trước cả khi có Trời Đất, nghĩa là siêu việt vũ trụ và muôn loài. Mọi vật trong vũ trụ đều được tạo thành do sự hợp nhất của lí và khí; lí là bản chất của mọi vật, khí là hình thể của mỗi vật. Bản chất của mọi vật là giống nhau vì cùng do lí mà ra, nhưng dưới hoạt động của khí, mỗi vật đều dị biệt. Con người khác con vật là vì vậy: bản chất lí giống nhau nhưng nhận khí khác nhau, nên người làm chủ vạn vật. Cũng vậy, giữa người với người cũng khác nhau, vì tuy bình đẳng về bản chất, về lí, người này với người kia khác nhau về khí, về trình độ. Cho nên phàm thánh khác nhau, thánh hiền bẩm thụ khí trong, phàm phu bẩm thụ khí đục. Vũ trụ quan của Chu Hy kéo dài để trở thành lý thuyết về bản chất của con người. Nơi mỗi người vừa có "bản chất nguyên thủy" (lí) vừa có "bản chất riêng"(khí). Nơi thánh hiền, "bản chất riêng" trong suốt, hiển lộ bản chất trong suốt nguyên thủy. Nơi phàm phu, bản chất riêng vẩn đục vì ham muốn che lấp bản chất nguyên thủy. Cho nên "nhân dục" đối lập với "thiên lí". Từ chỗ vẩn đục ấy, tính ác sinh ra.
Thế nhưng…nhân chi sơ tính bản thiện, tánh thiện ẩn sâu trong bản tính của con người hơn tánh ác, vì tánh thiện là do lí mà ra, tánh ác là do khí mà đến. Làm sạch được những yếu tố của bản chất riêng thì phục hồi lại được bản chất nguyên thủy. Vì vậy, vấn đề là làm sao làm tốt hơn lên cái khí riêng của mình: tất cả luân lý của Tống Nho nằm trên đó.
Làm sao? Một là phải giáo dục luân lý. Lí học thánh hóa đạo đức của Khổng học, đưa Khổng học lên thành tôn giáo. Hai là phải dùi mài trí tuệ: cách vật trí tri. Tu thân là bước đầu tiên phải thực hiện trước khi tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Tu tề trị bình, ta đã từng học thuộc như cháo. Nhắc lại là cốt để nói: tất cả đều lệ thuộc vào luân lý, từ vũ trụ, thiên nhiên, đến văn hóa, lịch sử. Lịch sử không có gì khác hơn là bài học về luân lý, là tấm gương sáng về luân lý. Vũ trụ không có gì khác hơn là phản ánh bản tính của con người và bản tính đó là thiện vì lí là tuyệt đối chân và thiện. Từ một quan niệm siêu hình lạc quan về bản tính của con người, Tống Nho đi đến một kết luận về luân lý cực kỳ khe khắt, tất cả đều là luân lý, tất cả ước muốn của con người đều bị đặt dưới tòa án của phán quan luân lý. Nếu đây là lĩnh vực của cá nhân thì chẳng sao cả; vấn đề đặt ra là khi Nhà nước phóng tay lãnh đạo luân lý.
Lý thuyết siêu hình lạc quan ấy rất hợp với một xã hội ổn định như xã hội Nhật dưới thời Tokugawa, tức là thời kỳ tiếp theo sau một khoảng thời gian đại loạn kéo dài từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17. Lý thuyết đó đem lại quân bình trong dân chúng và đồng thuận trong xã hội. Nhưng xã hội đâu có đứng yên mãi một chỗ, ổn định đâu có bất biến, tính lạc quan khởi đầu thời đại Tokugawa đâu có mãi mãi bền vững? Cả một loạt câu hỏi bắt đầu được đặt ra, khởi động phong trào đặt lại vấn đề. Lí có thật là bản tính nguyên thủy của con người? Con người có thể tự mình dẹp bỏ được "nhân dục" hay bắt buộc phải dẹp bỏ? Lí có phải là toàn năng đến mức cai trị tất cả? Tu tề có thật sẽ đưa đến trị bình? Nghi ngờ này tiếp theo nghi ngờ khác, rốt cuộc tất cả hệ thống dần dần tan rã dưới cách đặt lại vấn đề của Sokô (1622-1685), Jinsai (1627-1705), rồi Ekiken (1630-1714) như là những nhà đại Nho tiêu biểu. Họ vẫn ở trong hệ tư tưởng của Tống Nho, nhưng họ nghi ngờ. Một câu nói của đồ đệ Ekiken biểu trưng tình trạng đó: "Thầy tôi càng tin mãnh liệt chừng nào vào tư tưởng của Chu Trình thì càng nghi ngờ mạnh mẽ chừng ấy". Quá trình đặt lại vấn đề kết thúc với Sorai. Sorai là mở đầu của đoạn tuyệt. Thế giới trí thức Nhật bàng hoàng với những lập luận mới của ông, nhưng rất nhanh bị ông thu hút.
Sorai xét lại
Đâu là mới trong lập luận của Sorai? Quan trọng nhất là phương pháp nhìn và phân tích vấn đề của ông. Với phương pháp đó, ông vẫn đứng trong hệ tư tưởng của Tống Nho, nhưng ông đã suy nghĩ với một cái đầu khác. Thú thật, tôi không bị hấp dẫn vì nội dung trong tư tưởng của Sorai bằng phương pháp ông đã dùng trong thời đại của ông. Hai trường hợp cụ thể sau đây cho thấy cái nhìn mới của ông khi ông mới bắt đầu hành trình xét lại.
Trường hợp thứ nhất xảy ra năm 1696 khi Sorai giúp việc cho một quan chức lớn. Một anh nông dân cùng khổ bỏ nhà, bỏ vợ, cạo đầu làm thầy tu dưới tên Dônyû, dẫn mẹ đi lang thang kiếm ăn. Dọc đường, bà mẹ bị đau, anh chàng gửi mẹ tại chỗ, tìm đường lên kinh đô. Mặc dù bà mẹ được cư dân ở đấy chăm nom và gửi trả về nguyên quán, anh chàng vẫn bị bắt với tội phạm "từ bỏ cha mẹ". Ông quan hỏi ý kiến các nhà Nho cố vấn: trị tội với hình phạt gì? Luật nhà Minh không có chỗ nào nói về mục này, luật lệ bản xứ cũng không có, các Nho gia đề nghị xem trường hợp Dônyû như chỉ là trường hợp người đi ăn xin; đi ăn xin thì đâu có phải từ bỏ cha mẹ? Huống hồ anh chàng đã bỏ vợ trước đó mấy ngày mà vẫn cung dưỡng mẹ già dù phải đi ăn xin - một thái độ đáng khen, nhất là đối với một người cùng khổ. Vợ thì bỏ, mà mẹ thì vẫn cưu mang: vậy thì anh chàng có ý định bỏ mẹ đâu? Đó là lối lý luận hợp với tinh thần Tống Nho, cái gì cũng dựa vào lí, lí đó luôn luôn hiện diện trong đầu con người và hiển lộ qua ý định đưa đến hành động.
Viên quan không bằng lòng với lập luận đó. Dưới mắt ông, bỏ cha mẹ là tội không tha thứ được, dù con đi ăn xin. Ông hỏi ý kiến Sorai. Đây là lần đầu trong đời, ông lập thuyết công khai: "Nếu có một nạn đói xảy ra nơi nào đó, chắc chắn nơi khác cũng có nhiều người đói như vậy. Bỏ cha mẹ là điều không tưởng tượng được. Nếu ta xét hành động của Dônyû là như vậy và phạt tội, ta sẽ tạo ra một tiền lệ mà tòa án các nơi khác sẽ xử theo. Nhưng tôi nghĩ rằng trách nhiệm dồn một người đến cái mức tàn tệ như Dônyû  trước hết phải quy cho các quan địa phương từ cấp thấp đến cấp cao rồi lên cao hơn và ngay cả lên cao hơn nữa. Bởi vậy, tội của Dônyû, nếu đem ra so sánh, là không đáng kể".
Thượng cấp của Sorai khen phải. Ông cho phép Dônyû trở về nguyên quán và cấp dưỡng thóc gạo để nuôi mẹ. Lời tự sự sau đây của Sorai đáng ghi lại nguyên văn:
"Từ thuở bé, tôi đã sống ở nông thôn; năm 13 tuổi, tôi dời đến Kazusa và nếm đủ mùi khổ cực, thấy đủ mọi cảnh. Chính tại vì tôi là dân quê mùa cục mịch, vừa chui ra khỏi nông thôn, nên tôi mới dám nói với quan lớn thứ ngôn ngữ mà người thường không dám bắt chước…Ở mãi trong phủ chúa, người ta tất nhiên nhiễm thói quen sống và suy nghĩ để trở thành những kẻ nói sao cũng được và tựu trung chẳng biết gì. Nghĩ cho kỹ, các quan lớn hoặc các quý tộc sống mãi trong đó chẳng biết gì cả và chẳng bao giờ nói được câu gì khác với các ý kiến nghe đến nhàm tai".
Lời tự sự đó hé ra cho thấy ý muốn cải cách chính trị của Sorai. Nhưng quan trọng không kém là cách nhìn vấn đề của ông. Nho gia nhìn mọi việc qua lí, gò bó tư tưởng trên ý định chủ quan đã đưa Dônyû đến hành động để xem hành động đó "đáng khen" hay không. Sorai, đặt vấn đề trên bình diện khách quan, hướng vấn đề qua trách nhiệm chính trị của quyền lực để tha bổng. Đúng hay không, không phải là chuyện để nói ở đây. Chuyện để nói là cái nhìn đã đổi. Phân biệt hai lĩnh vực, khách quan và chủ quan, là một khía cạnh quan trọng trong phương pháp luận của Sorai.
Chuyện thứ hai lý thú hơn nữa, gợi hứng cho những tranh luận kéo dài đến thế kỷ 19. Sáng ngày rằm tháng chạp năm 1702, dân chúng ở kinh đô hoảng kinh khi nghe kể 46 cựu samourai của lãnh chúa Akô tấn công tư thất của Kira Yoshinaka, cắt đầu ông này để trả thù cho chủ cũ. Dư luận bàn tán xôn xao về thái độ phải đối xử trong sự việc tối quan trọng này vì nó liên quan đến mối quan hệ phong kiến giữa chủ và tớ, nền tảng của chế độ Tướng Quân. Sự việc cũng động đến cơ sở của Khổng giáo trong chừng mực luân lý đức Khổng đặt ngang hàng quan hệ chủ tớ với bốn quan hệ khác, có tính cách tư, cha-con, vợ-chồng, anh-em, bạn bè. Nho gia bối rối. Phần đông đòi tha cho các samourai. Rốt cuộc, phán quan của Tướng Quân xử như sau:
"Nếu ta lý luận theo các lý do đã thúc đẩy các samourai đó hành động, hành động của họ là thích đáng vì họ là những người mà cuộc đời là ngủ trên chiếu, gối trên gươm, báo thù cho chủ, giết kẻ thù của chủ không đội trời chung. Luật sống của samourai buộc họ không được tha thiết với đời sống, cấm họ nuốt nhục. Nếu ta lý luận theo quan điểm của luật pháp, ai làm trái luật đều phải trị tội. Dù các samourai đã hành động theo lời trối trăn của chủ cũ, họ đã vi phạm luật của Nhà nước. Tội đó đáng phải xử trảm để làm gương cho thế hệ bây giờ và mai sau. Hai quan điểm đó [lý do và luật pháp] có vẽ hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng vẫn có thể sống chung với nhau mà không phản lại nhau. Chỉ cần, trên thượng đỉnh, có một minh quân cai trị với những cố vấn minh triết, làm sáng tỏ luật pháp và ban bố sắc lệnh, và ở dưới, có những chư hầu trung thành và những samourai đạo hạnh, xả thân theo tình cảm của mình, sống trọn với ham muốn, rồi sau đó quyết định tuân theo luật pháp, chấp hành bản án xét xử".
Một lập luận hàng hai, nhưng cho phép áp dụng cả hai thứ luật: luật của Nhà nước và luật của võ sĩ đạo. Chuyện đáng nói ở đây là sự phân biệt giữa ý định ở bên trong và luật pháp ở bên ngoài báo hiệu sự tan rã của lý thuyết về lí, đặt tất cả trên nền tảng luân lý, xem mọi nguyên tắc của lĩnh vực công đều bắt nguồn ở luân lý cá nhân, tu thân vi bổn, trị nước là hậu quả kéo dài.
Sorai cũng kết án như thế, nhưng với một lập luận khác, chặt chẽ hơn:
"Sự việc 46 samourai trả thù cho chủ chứng tỏ rằng các người này tôn trọng danh dự giống như bất cứ samourai chân chính nào khác. Hành động trung thực như vậy, đã đành họ đi theo con đường mà bổn phận của họ đã vạch ra, nhưng sự lựa chọn đó chỉ liên quan đến họ, và, tựu trung, đó là một vấn đề có bản chất riêng tư. Đối với luật, thái độ đó không chấp nhận được. Nếu, bây giờ, ta tuyên bố rằng 46 người đó có tội mà lại kết án họ mổ bụng theo luật võ sĩ đạo của họ thì các võ sĩ ấy có sợ gì mà không mổ bụng theo bổn phận trung thành của họ? Có thể biện pháp đó thích hợp nhất với ích lợi chung, nhưng nếu ta vi phạm ích lợi chung bằng những lập luận về ích lợi riêng như thế, rốt cuộc sẽ không thể làm luật gì được cho Nhà nước".
Khác nhau chỉ ở câu cuối. Sorai cũng công nhận hành động của các samourai là có cơ sở, nhưng, bằng mọi giá, phải hạn chế sự công nhận đó vào lĩnh vực tư, như là những quan điểm riêng tư, chủ quan, cá nhân, khi các quan điểm ấy trái với ích lợi chung, hoặc khi một luân lý cá nhân tràn vào lĩnh vực công.
Phân biệt hai lĩnh vực công và tư, lãnh địa của luân lý và lãnh địa của luật pháp, lãnh địa của tu thân và lãnh địa của trị quốc, tư tưởng của Sorai nhắm vào một điểm căn bản: chính trị hóa Khổng giáo, đặt ưu tiên trên yếu tố chính trị. Từ điểm căn bản này, Sorai dần dần phá vỡ tất cả kiến trúc của tư tưởng Tống Nho, với một phương pháp luận sắc bén, chặt chẽ.
Điểm khởi hành của phương pháp đó là: "nghiên cứu những từ cổ và những câu cổ". Sorai gây dựng cả một học phái đi chuyên sâu vào nghiên cứu này. Ông nói: không hiểu chữ cho đúng thì không hiểu Đạo được. Tại sao? Tại vì một ngôn ngữ luôn luôn thay đổi theo thời gian. Nếu ta giải thích những tài liệu xưa theo nghĩa của chữ mà ta dùng ngày nay, có khi ta hiểu sai ý của người xưa. Tinh túy của nghiên cứu, ông nói, là khiêm tốn giới hạn vào việc tìm hiểu từ và sự việc. Đừng quan tâm đến những biện luận tinh tế về bản chất của đời sống. Cụ thể, nghĩa là gì? Là nghiên cứu những định chế và sự kiện văn hóa mà Nghiêu Thuấn để lại cho thời hoàng kim của Tam Đế Hạ, Thương, Chu. Thay vì Tứ Thư như Chu Hy xem trọng nhất, Sorai đặt trọng tâm trên Ngũ Kinh, vì theo ông, Ngũ Kinh diễn tả những định chế và những sự kiện lịch sử. Nghiên cứu cặn kẽ từng chữ, từng câu trong Ngũ Kinh để hiểu rõ cụ thể những định chế của thời thượng cổ, xong rồi mới bắt qua Luận Ngữ để hiểu ý nghĩa thực sự những gì Khổng Tử viết, chứ không phải chỉ hiểu Khổng Tử qua giải thích của người đời sau. Nếu Sorai sống vào thế kỷ 19 ở châu Âu hoặc thế kỷ 20 ở nhiều nước khác, chắc ông sẽ nói: hãy hiểu Mác bằng cách đọc thẳng Mác, chứ đừng đọc qua chữ nghĩa của những người nhân danh ông.
Mục đích mà Sorai nhắm đến là gì? Là cắt đứt sự liên tục giữa Thánh nhân và người thường và gạt bỏ dần dần tính chủ quan - mà ông gọi là "minh triết riêng tư" - nhờ chuyển việc nghiên cứu từ lí qua cổ tự, cổ ngữ. Ông lập luận thế nào?

Sorai lập luận:
Trước hết, Đạo chỉ bao gồm những nguyên tắc liên quan đến con người, chứ không phải bao gồm cả trật tự tự nhiên, liên quan đến Nhân, chứ không mắc mớ gì đến Thiên với Địa. Khi người ta nói đến "Đạo Trời" là vì liên tưởng đến "đạo của Thánh nhân", thế thôi, chứ chẳng ai biết Trời là gì. Trời là bí mật, không thể biết được. Thánh nhân sợ Trời, kính Trời, nhưng không bao giờ nói rằng mình biết Trời là gì. Trời không phải là đối tượng của hiểu biết, Trời là đối tượng của kính sợ. Các ông đại Nho giải thích "Trời là một thể với Lí" là tán dóc, là "minh triết riêng tư". Đạo, duy nhất là Đạo của Thánh nhân. Đạo của Thánh nhân là gì?
Sorai phân biệt tinh túy với nội dung. Ông nói: Người xây dựng nên Đạo là Nghiêu và Thuấn, mà Nghiêu và Thuấn là vua. Vậy Đạo của Thánh nhân bao gồm duy nhất Đạo của chính quyền, Đạo của Nước. Và bởi vì Nghiêu Thuấn là vua, Đạo của Thánh nhân cũng được gọi là Đạo của các Vua Thời Xưa. Đạo đó có mục đích đem lại thái bình cho Nước. Trong tinh túy, Đạo đó có bản chất chính trị: trị quốc để bình thiên hạ. Chính trị tách rời với luân lý. Chính trị tách rời với tu thân. Dây liên kết tu tề trị bình bị chặt đứt.
Còn nội dung là gì? Là lễ, nhạc, luật và nghệ thuật cai trị, những yếu tố mà các Vua Thời Xưa đã sáng chế; ngoài ra không có gì khác. Đạo là khách quan và cụ thể. Lễ, nhạc, luật, và nghệ thuật cai trị là những định chế và sự kiện văn hóa của thời thượng cổ, không có liên quan gì đến bản tính con người. Nếu ta ăn mặc như Nghiêu, nói năng như Nghiêu, cư xử như Nghiêu thì ta là Nghiêu, chẳng cần nhờ vả gì đến lý thuyết nhân chi sơ tính bản thiện. Vì Đạo không có liên hệ ràng buộc gì của luân lý, bàn luận về tính thiện, tính ác là tốn nước bọt.
Vậy thì nền tảng của Đạo là sáng chế của các Thánh nhân hoặc của các Vua Xưa. Tuân theo Đạo của các Vua Xưa là thiện, không tuân theo là ác. Đến cái mức này, tôi nghĩ, các Vua Thánh nhân đã được Sorai siêu việt hóa, thần linh hóa, nâng lên ngang Trời, thành đối tượng tôn giáo. Bởi vậy, trái với Chu Hy cho rằng con người có thể tu thân để trở thành thánh nhân, Sorai quả quyết ta có thể học Thánh nhân nhưng ta không bao giờ thành Thánh nhân. Thánh nhân tách biệt với con người, một bên là tối hảo, một bên là đầy nhân dục, không thay đổi được.
Thánh nhân là tối hảo, nên các định chế của họ cũng tối hảo. Nhưng những định chế đó không phải là những nguyên tắc bất biến. Thánh nhân siêu việt, nhưng những nguyên tắc đó không siêu việt mà, trái lại, bị điều kiện hóa theo thời gian và không gian. Hiểu như vậy thì mới hiểu được lịch sử. Lịch sử không phải là một chuỗi dài thưởng phạt, mà là sự kiện. Sự kiện là khách quan, bình chú là chủ quan. Chủ quan thì y theo nguyên tắc. Sự kiện thì thay đổi. Ngôn ngữ cũng vậy. Định chế cũng vậy.
Từ đó, Sorai bắt qua chuyện học. Ông nói: thuở đầu, kiến thức bao gồm việc học Đạo của các Vua Xưa để trị quốc. Đạo của các Vua Xưa là Ngũ Kinh. Bây giờ, học còn là quan sát càng rộng càng tốt các sự kiện, không những lịch sử mà tất cả các lĩnh vực khác, văn chương, luật pháp, quân sự, kể cả âm nhạc, nghĩa là những gì liên quan đến văn hóa. Ông gọi lĩnh vực thứ nhất là công, lĩnh vực thứ hai là tư. Quan niệm của Sorai về công và tư khá độc đáo, cần nói rõ thêm để hiểu ý muốn chính trị hóa Khổng giáo đã nêu lên từ đầu. Câu chuyện sau đây làm sáng thêm vấn đề:
Hai samourai thông đồng với nhau để lật đổ chế độ tướng quân. Việc bại lộ vì anh này đi tố cáo anh kia với nhà chức trách. Thưởng công cho anh đi tố cáo là việc mà dư luận phản đối, vì ai cũng cho anh này là hèn, sao không tự tay chém phứt cái đầu của anh kia mà phải mượn tay Nhà nước. Sorai không nghĩ thế. Ông thấy một duyên cớ khác: nếu anh ta tố cáo vì trung thành với Nhà nước thì sao? Ông nói: trong việc cai trị một nước, nhiều khi những bổn phận riêng tư phải tuân theo những nguyên do hợp lý, nhưng nếu những bổn phận đó trái với trật tự công đến mức vi phạm trật tự công thì không được viện dẫn bổn phận riêng tư.
Trong chuyện vừa kể, cũng như hai chuyện trước, "công" có nghĩa là chính trị, xã hội, cái gì ở bên ngoài; "tư" là cái gì ở bên trong, là cá nhân. Hiểu như vậy là đồng nghĩa với cách hiểu hiện nay, nhưng không dễ gì tư tưởng "tiền hiện đại" đi đến chỗ đó. Trước hiện đại, người ta không thấy gì chống đối, phân biệt, giữa công và tư. Ông quan, đã là phụ mẫu chi dân thì ông làm gì cũng vừa là quan vừa là phụ mẫu. Cả cái nước cũng là của ông. Phân biệt giữa công và tư, và giải phóng cho "tư", là công trình của hiện đại. Trong "tiền hiện đại", không phải người ta hoàn toàn không có khái niệm gì về công và tư, nhưng người ta hiểu một cách khác, dựa trên luân lý. "Công" là tốt, là thiện. "Tư" là xấu, là ác. Trong Tống Nho, "công" là lí, "tư" là nhân dục. Sorai cũng đặt "công" trước "tư". Nhưng ông không bác bỏ "tư". Người cầm quyền cũng có quyền có những quan tâm tư. Nhưng người cầm quyền chính đáng phải đặt quyền lợi công trên quyền lợi tư. Chừng đó, tư tưởng của Sorai đã là cách mạng. Càng cách mạng hơn nữa khi ông bênh vực những cảm thụ tự nhiên của con người, chống lại luân lý gò bó của Khổng giáo.
Từ đó, sự phân biệt công/tư trong Sorai đưa đến sự phân biệt giữa quy tắc và tính tự nhiên (norme/nature). Ông viết: "Các đại Nho hiện tại say sưa với nguyên tắc lí, các ngài mở miệng ra là toàn luân lý, bổn phận, thiên mệnh, nhân dục. Mỗi khi nghe vậy, tôi buồn nôn đến nỗi phải chạy đi nơi khác cầm ống sáo mà thổi". Đừng thay đổi tính tự nhiên của con người, phát triển cá tính của mỗi người, giải phóng cá tính đó ra khỏi luân lý chi hồ dã giả, học phái của Sorai thu hút không biết bao nhiêu là trăm hoa trong hội trường của ông.
Sau lịch sử, sau chính trị, đến lượt văn chương cũng được ông giải phóng ra khỏi luân lý. Kinh Thi, theo ông, không cốt khuyến thiện trừng ác. "Có rất nhiều bài thơ nhá nhem đạo đức trong đó. Những bài thơ ấy, nếu Chu Hy bình chú là đã được sáng tác để trừng ác, thì tôi quả quyết ngược lại rằng đó là những bài thơ sáng tác để đưa vào đường trắc nết hư thân. Tuyệt đối không có gì khác giữa những bài thơ trong Kinh Thi và những tác phẩm về sau. Phải đánh giá những bài thơ trong Kinh Thi như là những bài thơ và chỉ là những bài thơ". Thơ là để diễn tả tình cảm của con người, do đó thuộc về lĩnh vực tư.
Tóm lại, trên tất các vấn đề căn bản, Sorai phá vỡ thành trì Khổng giáo tuy vẫn ở trong Khổng giáo. Một tư tưởng trổi dậy như vậy, được trí thức hưởng ứng, gây nên thanh thế, tất phải có cơ sở xã hội. Cơ sở xã hội này tất không phải nền tảng trên đó triều đại Tokugawa xây dựng quyền hành lúc đầu. Vậy đó là cơ sở xã hội gì?
Cao Huy Thuần
(Văn hóa Nghệ An) 

Cần sự kết hợp Nguyễn Tấn Dũng & Nguyễn Bá Thanh để cứu nước (!?)

Hôm 27/3, Blog Quan Làm Báo, có bài “Đôi lời gởi ông Bá Thanh”, ngay phần mở đầu, QLB viết: "Đà Nẵng sắp có Bí Thư mới thay ông Nguyễn Bá Thanh đồng nghĩa với việc ông không còn đường 'lui'. Cơ hội của Trưởng ban Nội chính Trung Ương có phải là bước ngoặt cuộc đời để ông Bá Thanh làm được gì đó để lại muôn đời cho dân cho nước hay lại là nơi chôn vùi cả sự nghiệp, danh tiếng của chính ông?"
Ở một đoạn khác, bài báo viết tiếp: "Người dân muốn nhìn thấy ông mang 'Đà Nẵng' ra Hà Nội, làm cho Việt Nam có thật nhiều 'Đà Nẵng'... Song những nguyện ước đó chỉ có thể thành sự thật khi ông 'vượt' qua được cái ải ' Diệt Sâu Phò Nước'..."
Tôi không phủ nhận thiện ý của QLB đối với ông Thanh và với Đất Nước; tuy nhiên, nếu như ông Thanh nghe QLB mà “Diệt Sâu Phò Nước”, thì chỉ cầm chắc thất bại.
Chúng ta biết rằng, việc đưa ông Thanh từ Đà Nẵng ra TW là do BCT, trong đó có vai trò chính là ông TBT Nguyễn Phú Trọng (chính ông Thanh nói rằng, ông Trọng đã gặp ông Thanh khoảng một giờ đồng hồ trong một bài báo tôi đọc ở đâu đó); Tuy nhiên, đến lúc này mà ông Thanh đi theo ông Trọng để “Diệt Sâu Phò Nước” thì thất bại là cầm chắc, thậm chí còn bị “Thân bại danh liệt” chưa biết chừng?!
Việc ông Trọng đến thời điểm này đã mất hết uy tín, thể hiện là người giáo điều, xa rời thực tế v.v… thì ai cũng biết; vì vậy rất có thể Hội nghị TW 7, tổ chức vào tháng 4 tới đây và nghe đâu Quốc hội còn tiến hành bỏ phiếu giữa nhiệm kỳ vào tháng 5 tới (?!); nếu như có bỏ phiếu tín nhiệm trên, và nếu như không có yếu tố nước ngoài chi phối (?!), thì rất có thể ông Trọng sẽ bị cho nghỉ hưu (về bản thân ông, thiết nghĩ cũng nên như thế), bởi chính Hội nghị toàn thể BCHTW.
Như vậy, sẽ là khôn ngoan nhất đối với ông Bá Thanh là nên bắt tay với ông Dũng, để làm một cặp bài trùng trong giai đoạn chuyển giao của Đất Nước; theo đó, ông Nguyễn Tấn Dũng là Tổng thống lâm thời, còn ông Thanh là Thủ tướng lâm thời (tất nhiên là có Quốc Hội và Chính phủ Lâm thời); thời hạn có thể ấn định là 2013-2015;
Nếu trong thời gian 2013-2015 này, hai ông làm tốt, hoàn thiện cơ bản hệ thống luật pháp, trong đó, đặc biệt là hoàn thiện Hiến pháp (HP) với thể chế đa đảng, bầu cử tự do (theo bản kiến nghị 72 có góp ý, bổ sung…); thì hai ông có thể ra tranh cử nhiệm kỳ tiếp theo. Nếu làm được như vậy, tôi tin rằng, nhân dân sẽ ủng hộ các ông để tiếp tục thắng cử, tạo thành bước ngoặt vĩ đại cho dân tộc Việt Nam, các ông lại được sử sách lưu danh muôn đời.
Sở dĩ tôi có suy nghĩ như trên là xuất phát từ những nhận định sau:
1. Về tài năng, hai ông là tương đương, một 9 và một 10; Riêng về phía ông Dũng, Ông là một nhà chính trị xuất sắc nhất của Việt Nam trong gần 100 năm nay. Nếu như ông Hồ về cuối đời còn bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ khống chế; ngay cả các ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ cũng không thể sánh với Dũng về mưu lược được. Thời ông Duẩn và ông Thọ, phong trào cộng sản quốc tế đang phát triển mạnh, đặc biệt, do miền Bắc ngày đó quá lạc hậu, bị bưng bít thông tin, v.v… cho nên hai ông này mới lộng hành như mọi người đã biết; trong khi ông Dũng, giữa thời đại Internet này mà ông vẫn giữ được uy dũng với đa số Ủy viên trung ương (UVTW) đầy mưu mẹo, thì quả là ông là nhà chính trị đặc biệt xuất sắc. Việc ông Thanh làm phụ tá cho ông Dũng ở chức vụ Thủ tướng thì cũng chẳng có gì gọi là lép vế cả.
2. Về tiền bạc thì cả hai ông Dũng và Thanh đều không thiếu, vậy thì, điều các ông này cần sẽ là “lưu danh sử sách”, và như vậy, trong điều kiện cụ thể hiện nay, việc bắt tay giữa hai ông là hoàn toàn khả thi, thời đại và thực tiễn Đất nước hôm nay đang tạo cho các ông một cơ hội ngàn năm có một, là những nhà chính trị, rõ ràng cả hai ông Dũng và Thanh đều hiểu rõ hơn ai hết cơ hội lịch sử này.
3. Trong gần hai nhiệm kỳ làm Thủ tướng, ông Dũng ít nhiều đều bị Trung cộng chi phối, thì ngược lại, Ông Thanh, lại có thế mạnh trước Nhân Dân về mặt này (mặc dù ở Đà Nẵng có doanh nghiệp Trung Quốc, và trong xã hội Việt Nam hiện nay, không thể không có tiêu cực giữa doanh nhân Trung Quốc với lãnh đạo địa phương, tuy nhiên, đây lại là cấp địa phương, do nên, ảnh hưởng của Bắc Kinh với ông Thanh là chưa đáng kể).
Như vậy, ông Dũng và ông Thanh sẽ bổ sung để tháo gỡ mối quan hệ rất nhạy cảm này để được lòng Nhân Dân. Việc tập hợp Nhân Dân để giữ chủ quyền Biển Đảo là cách lấy điểm tốt nhất đối với bất kỳ một chính trị gia nào ở thời điểm hiện nay; điều này, một lần nữa, hai ông Dũng và Bá Thanh, sẽ hiểu hơn ai hết.
Còn một số yếu tố khác nữa liên quan đến tổ chức và con người còn lại hiện nay, đặc biệt là liên quan đến một số bộ chủ chốt như: Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Công an v.v..; thì đối với cả hai ông Dũng và Thanh, một khi các ông đã tính toán trên cơ sở lợi ích dân tộc, thì hoàn toàn thuận chiều theo ý của các ông, nghĩa là được sự ủng hộ của đa số còn lại.
Với tất cả những nhận định trên, tôi hy vọng, hai ông Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Bá Thanh, đủ khôn ngoan để làm một điều gì đó, vừa sửa được những sai lầm đã qua (dù ít dù nhiều ở mỗi cá nhân do Lỗi hệ thống gây nên), và quan trọng nhất, các ông là người tạo nên chế độ Tổng thống đâu tiên của một nước Việt Nam thống nhất, sử sách sẽ lưu giữ muôn đời.
Nguyễn Hữu Quý
28-03-2013
(Blog Nguyễn Hữu Quý) 

Đức Thành - Vấn đề sở hữu đất đai – lời bàn góp của một nông dân

“Tấc đất tấc vàng”. Đó là câu nói truyền đời của tổ tiên ta dạy các thế hệ sau phải biết nâng niu, gìn giữ tôn tạo khai thác sử dụng sao có hiệu quả nhất. Nhờ câu nói này mà một dân tộc nơi đầu sóng ngọn gió, kẻ thù ngàn đời xâm lược lúc chiến tranh, nhòm ngó lúc hòa bình, vẫn kiên cường phát triển xây dựng nên một nền văn minh lúa nước rực rỡ rất đỗi tự hào.
Gia đình tôi thoát được nạn đói năm 1945 cũng là do “tấc đất tấc vàng” và nhờ có sở hữu tư nhân của “chế độ cũ” mặc dù số lượng sở hữu không lớn. Ông cha tôi thường dạy chúng tôi rằng “phải quí lấy đất, đất sẽ không phụ người”.
Nay nhân chuyện sửa đổi Hiến pháp, vấn đề sở hữu đất đai lại được nhiều người đặt ra.
Dưới nhãn quan của một người nông dân tôi xin có mấy ý kiến như sau:
Một là: Về thực trạng, hậu quả của sở hữu toàn dân về đất đai:
-Đất đai được quốc hữu hóa toàn diện ngay sau khi kết thúc chiến tranh đã gây ra khủng hoảng sâu sắc về kinh tế xã hội. Người nông dân bị đói ăn trên chính đồng ruộng quê hương mình khiến Đảng, Nhà nước phải điều chỉnh theo phương thức “giao đất cho người dân”: dân có quyền sử dụng nhưng không có “quyền sở hữu”. Thực chất điều đó chỉ nhằm che chắn thứ độc đoán của Đảng và Nhà nước trong vấn đề đất đai. Về khách quan, đó là chính sách không muốn nông dân phát huy trí tuệ năng lực của mình trên đất, mà chỉ muốn nông dân bị Đảng chăn dắt như trâu ngựa, bảo ăn là ăn bảo làm là làm… và khi thu hồi muốn trả bao nhiêu dân cũng phải chịu, như đã thấy trong suốt thời gian qua.
-Việc giao quyền sử dụng đất (giới hạn quyền về đất đai), trong thời kỳ đói kém để thúc đẩy sản xuất tăng vụ tăng năng suất dẫn đến khai thác triệt để mà không tái đầu tư lại cho đất, khiến đất bị hủy hoại, năng suất giảm, chất lượng sản phẩm không cao. Tuy xuất khẩu nhiều  nhưng đó là xét về số lượng chứ giá trị xuất khẩu, hàm lượng chất xám trong xuất khẩu rất thấp.
-Trong trào lưu công nghiệp hóa bằng mọi giá vừa qua, địa phương nào cũng ra sức tàn phá đất nông nghiệp dưới chiêu bài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị, khu vui chơi giải trí khiến Đảng phải cố gắng giữ cho được 3,8 triệu ha đất nông nghiệp – một cố gắng trước sự tàn phá do chính chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng? Thật là nghịch lý!
-Gây bất công, bất ổn lớn trong xã hội. Sở hữu toàn dân hay nói cụ thể hơn là sở hữu thuộc về số ít người được trao quyền lực. Khi cơ chế kiểm soát quyền lực bị làm ngơ, xem nhẹ thì “tấc đất” sẽ đẻ ra rất nhiều “tấc vàng” cho những ai nắm quyền lực, còn “tấc vàng” của người dân bỗng thành bọt bèo mây khói trước sự phù phép của các “công bộc” của Đảng.
Hai là: Đa sở hữu đất đai sẽ được những gì?
Trước hết đa sở hữu đất đai sẽ triệt tiêu cơ bản được những hậu quả do sở hữu toàn dân gây ra như đã đề cập ở phần trên. Ngoài ra còn tạo được những thay đổi tốt đẹp sau:
-Thu hút được chất xám, công nghệ cao cho đầu tư nông nghiệp, nhất là đầu tư sau thu hoạch một lĩnh vực bị bỏ trống vì không phải đất của người trồng trọt thì người nông dân không thể lấy đất để đảm bảo trong các giao dịch của mình.
-Chấm dứt được nạn dòm ngó đất từ các quan tham, chấm dứt được tình trạng “trăm hoa đua nở” trong thu hồi đất để làm dự án kiểu tỉnh này có sân bay, nhà máy đường, nhà máy xi măng… thì các tỉnh khác cũng phải có!
-Về mặt pháp lý, Đảng, Nhà nước không phải nuôi một đội ngũ chuyên gia khổng lồ để suốt đời chỉ xây dựng, sửa đổi các văn bản pháp luật về đất đai, Đảng cũng không còn phải bận họp để ra những nghị quyết riêng về đất đai nữa. Số tiền, số giấy định in luật theo tiêu chí đất đai là sở hữu toàn dân hãy in những sách kinh nghiệm trồng trọt, chế biến, chăn nuôi hay các sách bổ túc cho nhân cách đảng viên từ cơ sở trở nên thì dân cũng được nhờ nhiều lắm.
-v.v. và v.v.
Thực tế đã chỉ ra chừng nào còn thừa nhận duy nhất một hình thức sở hữu toàn dân thì chừng đó còn tiếp tục bất công, bất ổn trong một xã hội nông dân chiếm tới 76% dân số này.
Do đó không có lý do gì mà không chấp nhận đa hình thức sở hữu đối với đất đai (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân).
Là nông dân tôi nói lên những lời gan ruột như vậy, mong Đảng, Nhà nước tiếp thu, đừng coi tôi là phần tử chống phá Đảng. Tôi chẳng sợ trời làm mất mùa mà chỉ sợ “người có quyền lực” làm mất mùa thôi. Trời làm mất mùa thì mỗi một cái khổ là thiếu ăn nhưng còn tình người đùm bọc nhau. Người (có quyền lực) làm mất muà thì trăm đường khổ bởi còn đâu tình người mà che chở cho nhau.
Đức Thành
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
 

Ông Nguyễn Bá Thanh 'quá bận' để quản lý bóng đá

Trưởng Ban Nội chính ông Nguyễn Bá Thanh vừa từ chối lời mời làm Chủ tịch Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) với lý do 'quá bận' với công việc.
Báo trong nước dẫn lời ông Nguyễn Trọng Hỷ, chủ tịch đương nhiệm của VFF nói “Lãnh đạo VFF khoá VI đã trực tiếp gặp Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh để mời ông Thanh làm chủ tịch VFF."
Lý do cho quyết định này, cũng theo ông Hỷ là do "ngoài những người được tổ chức giới thiệu, VFF muốn mời những người có vị trí, uy tín xã hội lớn cũng như có tầm nhìn để lãnh đạo VFF trong 4 năm tới."
"Tuy nhiên, ông Thanh đã từ chối do quá bận", ông Hỷ nói.

Những chính sách của ông Thanh được cho là đã mang tính quyết định cho sự phát triển của bóng đá Đà Nẵng
Đam mê bóng đá

Ngoài công việc ông Thanh cũng được biết đến như là người có niềm đam mê với bóng đá.

Ông này đã từng đích thân mời cựu tuyển thủ Lê Huỳnh Đức ra Đà Nẵng dẫn dắt câu lạc bộ Đà Nẵng.

Theo một số người dân địa phương, trước đây, trước mỗi lần trận đấu của đội Đà Nẵng ông thường mời các huấn luyện viên của đội tới để cùng thảo luận từ đấu pháp của trận đấu cho tới cách bố trí đội hình suốt cả đêm.

Người dân Đà Nẵng cổ động ông Thanh trong trận thi đấu bóng đá lấy tiền quyên góp cho nạn nhân bão ở miền Trung năm 2006
Những chế độ đãi ngộ cầu thủ của thành phố Đà Nẵng, ngay cả trước khi bóng đá tại đây được doanh nghiệp hóa và giao cho Bầu Hiển, được cho là thuộc vào dạng cao nhất cả nước.

Hồi năm 2006, ông Thanh còn trực tiếp xuống sân trong áo cầu thủ để tham gia thi đấu bóng đá và quyên góp ủng hộ các nạn nhân cơn siêu bão Xangsane ở Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.

Ai sẽ là tân chủ tịch VFF?

Theo báo trong nước, trước ngày 8/3, ông Hỷ vẫn chưa đề cử bất kỳ một người nào lên thay mình, dù đây là công việc thường thấy ở mỗi kỳ Đại hội.

Danh sách ứng cử viên được các liên đoàn địa phương, các câu lạc bộ, doanh nghiệp giới thiệu năm nay bao gồm 40 người. Tuy nhiên ông Hỷ cho rằng những người đáp ứng đủ điều kiện không nhiều.

Vài trường hợp khác cũng đã sớm rút lui ngay từ đầu như Thứ trưởng Bộ Văn hóa Lê Khánh Hải, hay ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Đồng Tâm Group.

Một số ý kiến cho rằng nhiều khả năng vị trí tân chủ tịch của VFF sẽ được đảm nhiệm bởi hai phó chủ tịch hiện tại ông Phạm Văn Tuấn, Phó Tổng cục Thể dục Thể thao, và ông Lê Hùng Dũng, người cùng cùng chung tay với bầu Đức mời CLB Arsenal về Việt Nam thi đấu.

Ông Thanh không phải là nhân vật duy nhất trong giới chính trị gia từng được mời về làm trong lĩnh vực bóng đá.

Năm 2011, nguyên thứ trưởng bộ Công an, ông Nguyễn Văn Hưởng cũng đã nhận lời làm cố vấn an ninh cho Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF).
(BBC)

Công an Dak Lak lại đứng nhìn côn đồ hành hung dân

Đánh người vô cớ
Theo đơn tố cáo đề ngày 18 tháng 3 năm 2013 của anh Phạm Văn Chung ở thôn Buôn Triết, xã Dur Kmăl, huyện Krong Ana, tỉnh Dak Lak, thì gia đình anh định cư ở đây từ năm 1988, khai hoang một cánh rừng thuộc thôn Buôn Triết từ năm 1990 và canh tác đất đai này, sinh sống yên lành cho đến nay hơn 2 thập niên. Cho đến hôm 12 tháng 3 vừa rồi, gia đình bất ngờ khi vô cớ bị lực lượng địa phương, kể cả công an, kết hợp với người láng giềng gọi là “anh Tư” ở xã bên hành hung nghiêm trọng.
Thanh Quang tìm hiểu tình cảnh này, và được anh Phạm Văn Chung kể lại:
Phạm Văn Chung: Họ làm ăn với xã, tự nhiên họ vào không thông qua mình, tự nhiên lấn át cho xe ủi đất của gia đình. Mình ra can ngăn hỏi tại sao tự nhiên ủi hết ao hồ của tôi như thế này thì lấy đâu ra nước bơm, thì họ kêu du kích xã vào can thiệp rồi họ đánh đập Ba em.
Thanh Quang: Đánh đập? Nghe nói đánh đập nhiều người trong gia đình?
Phạm Văn Chung: Đánh đập Ba của em và hất ông xuống hố nước và anh rể thấy ông già chết ngất thì bế ông  lên thì họ  lao vào đánh tiếp ông anh rể và thằng em trai luôn ạ. Tất cả công an xã cứ đứng nguyên như vậy để cho họ đánh mà không nói năng gì ạ. Thằng em bị dùi cui điện giật, khi tỉnh dậy thì cõng ông già về nhà.
Thanh Quang: Như vậy là lúc đó có sự hiện diện của công an xã phải không?
Phạm Văn Chung: Vâng, công an xã đưa lực lượng xã vào đánh luôn. Họ cho lực lượng đánh tới tấp ông già, bọn nó còn lao vào đánh ông anh rể vào gáy. Ông anh rể bảo tôi có làm gì đâu, tôi chỉ bế bố tôi lên sao các anh lại đánh tôi. Thằng em xuống giúp thì nó lao vào đánh thằng em luôn. Thằng em cõng ông già về thì lúc đó ông già chết ngất đi ạ. Và làm mất một chiếc điện thoại cùng với 500 ngàn.
Thanh Quang: Trước khi sự việc xảy ra thì gia đình có thấy dấu hiệu gì báo trước có thể bị lâm nguy như thế này không?
Phạm Văn Chung: Không ạ. Không có gì cả. Hôm trước gia đình đang làm có vào anh Tư vào nói là bây giờ tao muốn đắp một con đường nhà mày phải bỏ ra 150 triệu. Em có nói là tiền đâu tôi bỏ ra 150 triệu, từ trước giờ ao của tôi như thế nào thì tôi cứ thế tôi làm; còn anh làm đâu thì làm tôi không làm. Anh Tư có nói một câu là mày bỏ ra 150 triệu thì tao mới để cho mày làm, mày không bỏ ra 150 triệu thì tao đã đắp rồi là tao lấy. Em bảo lấy thế nào được vì bao năm nay em vẫn làm, tưới nước lúa, cà-phê mà giờ tự nhiên lấy của em thì lấy thế nào được. Anh bảo mày cứ vào bàn bạc với gia đình đi chứ tao đã đắp là tao sẽ lấy. Như vậy là nó đã “ăn rơ” với xã rồi anh.
Thanh Quang: Anh Tư, như anh vừa nói đó, đã thuê ở xã đưa công an đến lấy đất của nhà anh. Sao có chuyện lạ là đất của nhà anh mà bị người khác thuê xã đến lấy?
Phạm Văn Chung: Bây giờ họ thấy địa hình của mình làm bao đời ngon rồi nên họ muốn thầu bên trong nhưng mà không có con đường nên họ dùng cái bờ của em để họ đi đấy.
Sau đó họ thầu được khu bên trong nên muốn chiếm luôn khu đấy. Ý họ là giờ muốn mở con đường từ bên kia sang đây, vậy là họ có ý đồ muốn cướp do mình khai hoang từ bao nhiêu năm nay rồi. Mình đang bơm nước họ ủi lấp cả máy đi.

157059_632320740115189_1431845501_305.jpg
Xe ủi ngang nhiên ủi phá đất của Anh Phạm Văn Chung ở thôn Buôn Triết, xã Dur Kmăl, huyện Krong Ana, tỉnh Dak Lak hôm 12-03-2013.
Thanh Quang: Như vậy liệu khu đất của anh có cản trở lối đi ra của người ta không?
Phạm Văn Chung: Không ạ. Có đường đi đàng hoàng chứ ạ. Không phải là đường đi ở đấy nhưng họ muốn đi tắt qua thôi.
Thanh Quang: Họ muốn đi tắt như vậy có nghĩa là họ phải lấp miếng đất hợp pháp của gia đình anh phải không?
Phạm Văn Chung: Vâng ạ. Họ muốn đắp qua để có lợi cho họ là để họ đi tắt qua thôi. Với lại họ nghĩ họ bỏ ra 150 triệu thì họ phí nên họ lấy của mình để họ làm ao.
Chính quyền làm ngơ
Thanh Quang: Nhưng trở lại cái điểm hồi nãy, là tại sao đất của anh mà người ta muốn lấy một cách dễ dàng qua tay của chính quyền địa phương và hành hung gia đình anh như vậy? Tại sao có chuyện như vậy ạ?
Phạm Văn Chung: Dạ em cũng không hiểu ạ. Mình làm đã bao nhiêu năm nay rồi mà tại sao họ lại thông đồng với xã mà không qua mình. Đã vậy còn tự nhiên đưa máy móc vào vào ủi phá hết bờ đập, ao của mình. Mình ra ngăn cản thì  ông già và anh rể cùng em trai bị hành hung.
Thanh Quang: Trong mấy ngày qua thì gia đình có tiếp tục bị hành hung,bị tấn công, bị hăm dọa như thế nào nữa không?
Phạm Văn Chung: Không ạ. Anh Tư có nói con người có tiền là có tất cả, có chức, có quyền. Tôi có tiền tôi muốn làm gì thì tôi làm.
Thanh Quang: Hiện bây giờ thì việc thưa kiện của gia đình anh về vấn đề này ra sao? Có ai giải quyết gì không?
Phạm Văn Chung: Ngày hôm qua điện tín ở xã gởi xuống thì họ vẫn cứ giải quyết như vậy. Họ vẫn cho anh Tư làm, vẫn cứ bảo là để cho xã làm xong, nếu xã không giải quyết được thì đưa lên huyện.Trên tỉnh thì bảo nếu huyện không giải quyết thì đưa lên tỉnh không cần qua huyện.
Thanh Quang: Giải quyết như thế nào?
Phạm Văn Chung: Dạ cũng chưa biết ạ. Xã có xuống nhưng xã vẫn cho máy ủi làm, tàn phá hết những tang chứng nhưng má em thì đã quay hết rồi.
Thanh Quang: Những ngày sắp tới thì gia đình anh có kế hoạch ứng phó như thế nào không?
Phạm Văn Chung: Trên xã họ thông đồng nên em lên huyện mà rồi ở huyện cũng chưa thấy gì. Nếu huyện không được thì em sẽ lên tỉnh.
Thanh Quang: Nhân đây anh có muốn lên tiếng với công luận về nỗi oan ức này của gia đình anh hay không?
Phạm Văn Chung: Em muốn nhờ cấp trên giải quyết oan ức cho gia đình em vì từ trước giờ mình đang sinh sống như thế mà giờ lại phá đi tất cả nguồn sống hằng ngày của gia đình. Phá hết ao nên mất đi nguồn nước cho lúa nên năm nay lúa cháy hết ạ. Em chỉ cần làm sao lấy lại công bằng cho em thôi.
Thanh Quang: Cảm ơn anh Phạm Văn Chung rất nhiều.
Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-03-28

Hội thảo sửa đổi Hiến pháp tại Câu lạc bộ Kháng chiến

Một buổi hội thảo bàn về sửa đổi Hiến pháp năm 92 do Câu Lạc Bộ Kháng chiến tổ chức đã nổ ra những tranh luận sôi nổi về các câu hỏi mà nhân sĩ trí thức trong buổi hội thảo đưa ra.
Tranh luận gay gắt
Trong buổi hội thảo góp ý sửa đổi Hiến Pháp do Câu Lạc bộ Truyền thống Kháng chiến khối sinh viên của thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tại nhà Bảo tàng Cách mạng thành phố đã có mặt của nhiều nhân sĩ trí thức, lão thành cách mạng cũng như những Đảng viên vẫn đang sinh hoạt đảng và làm việc trong guồng máy chính quyền.
Theo luật sự Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc Hội có mặt tại buổi hội thảo nhận xét thì không khí tranh luận giữa hai phía, một bên nhất quyết giữ vai trò của Đảng trong Hiến pháp còn một bên thì dứt khoát phải bỏ điều 4 vì nó đi ngược lại lợi ích của đất nước, nhân dân, có lúc diễn ra khá gay gắt. Luật sư Thuận cho biết:
“Không khí của cuộc hổi thảo của Câu lạc bộ kháng chiến khối sinh viên  thì những phát biểu của các diễn giả phải nói rằng có nhiều ý kiến có thể nói dùng chữ gay gắt thì cũng không sai, từ những ý kiến ủng hộ Đảng lẫn những ý kiến ủng hộ bản dự thảo thì họ nói rất gay gắt nhất là 4 vấn đề mà họ quan tâm. Chương một, điều hai, điều 4, rồi chương đất đai điều 58, rồi chương 70 nói về dự thảo và chương về Hội đồng Hiến Pháp… nói chung sôi nổi và gay gắt tập trung vào những việc này.”
Tuy nhiên theo một số người cho biết ý kiến của ông Nguyễn Văn Thuyền, nguyên Thường vụ Thành ủy, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Kháng chiến do lớn tuổi không thể tham dự cuộc hội thảo đã gửi bài phát biểu vào và có những câu chữ khiến nhiều người cho rằng gay gắt, đặc biệt với câu hỏi: “Ai là kẻ mưu toan dẹp bỏ điều 4 Hiến pháp?”
Giải thích điều này luật sư Trần Quốc Thuận cho biết:
“Bài phát biểu của ông Nguyễn Văn Thuyền, thì tôi cho rằng hồi trước tới giờ cũng không có gì gay gắt. Tôi vẫn gọi ổng là chú, chú Ba Tôn. Ông này đúng là cả cuộc đời tham gia cách mạng bây giờ thì tuổi cũng xấp xỉ 100 rồi cho nên tình cảm của ông ấy tha thiết gắn bó với cách mạng, gắn bó với Đảng đối với ổng thì nó sâu sắc nó dài. Tôi cho rằng đó là một bài tâm sự hơn là một bài phát biểu cho nên ổng cho rằng chuyện duy trì sửa đổi Đảng thì trong đó có ổng. Những người phát biểu bảo vệ điều 4 hay điều này điều kia thì họ phát biểu giọng gay gắt. Còn chú Ba Tôn ổng phát biểu tôi cho như vậy là không có gì gay gắt. Liều lượng như thế thì không có vấn đề gì. Tụi tôi ở đây nghe cái giọng văn ấy cũng quen rồi, nó cũng bình thường.”

hnhp3613-305.jpg
Buổi hội thảo góp ý sửa đổi Hiến Pháp do Câu Lạc bộ Truyền thống Kháng chiến tổ chức tại nhà Bảo tàng Cách mạng TPHCM hôm 6 tháng 3 năm 2013.
Vai trò thật sự của Hiến pháp

Ông Lê Công Giàu nguyên Phó bí thư Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh cho rằng những ý kiến phản biện hiện nay do những người trong Đảng đưa ra trên truyền thông đại chúng rõ ràng là không thuyết phục và thiếu cơ sở khoa học. Người của Đảng hay cánh tay nối dài của Đảng không thể phản biện lại với ý kiến của người dân. Khi được hỏi về những tranh luận liên quan đến điều 4 và vai trò của Đảng ông Lê Công Giàu cho biết:
“Về cái điều 4 người ta không phải đòi hủy bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng nhưng ý người ta phát biểu rất rõ. Thứ nhất Đảng phải chấp nhận sự cạnh tranh chứ còn như hiện nay thì người ta thấy rằng không thể kiểm soát được quyền lực và không thể có được sự chấp nhận rộng rãi của quần chúng nhân dân. Điều quan trọng là Đảng phải được sự tín nhiệm, sự chấp nhận và ủy nhiệm của nhân dân, đó là một vần đề. Nếu không có cái đó mà có ghi vào Hiến pháp thế nào đi chăng nữa thì tính chính danh rất là khó có.
Điều thứ hai người ta quan tâm nếu ghi Đảng là lực lượng lãnh đạo thì như vậy khi Đảng lãnh đạo Đảng sẽ phải có trách nhiệm đối với sự thành công hay thất bại. Hiện nay cái cơ chế này chưa có. Kỳ này có ghi bổ xung là Đảng sẽ chịu trách nhiệm trước nhân dân nhưng mà cơ chế nào để mà chịu trách nhiệm? Nếu Đảng làm sai thì xử lý ra sao cũng chưa rõ. Theo tôi đó là trách nhiệm của những đồng chí lãnh đạo, của Bộ chính trị của Ban chấp hành Trung ương phải thể chế hóa cái này một cách cụ thể và những thể chế đó nó phải thực thi được trong thực tế.”
Trong buổi hội thảo xuất hiện một nhân vật quan trọng đối với tiền thân của Câu Lạc Bộ Kháng chiến, đó là ông Hồ Hiếu, nguyên Chánh văn phòng ban Dân vận Mặt trận TPHCM người tham gia đầu tiên thành lập Câu lạc bộ này và cũng chính vì nó đã dẫn ông vào con đường ngục tù trong nhiều năm trời. Nhận xét về điều 4 Hiến pháp ông Hồ Hiếu cho biết:
“Đối với điều 4 tôi đề nghị dứt khoát là phải bỏ. Có nghĩa là không nên để cho Đảng độc quyền tự tung tự tác với bốn lý do. Lý do thứ nhất Đảng đã nói theo chủ nghĩa Marx Lenin chấp nhận biện chứng nhưng mà thủ tiêu đối lập. Như vậy sẽ không có đấu tranh thì làm sao phát triển? Những nước Xã hội chủ nghĩa có nước nào phát triển đâu? Lý do thứ hai: Ai cho anh cái quyền đó? Trong lúc chưa trưng cầu ý dân anh tự đặt cái quyền đó và đưa vào Hiến pháp, như vậy là lạm quyền. Thứ ba, khi anh đặt điều 4 thì nó chống lại những điều khác. Nó chống lại quyền con người, quyền ăn nói, quyền lập hội vì khi Đảng đã lên trên rồi thì các quyền kia không còn nữa. Thứ tư cho đến bây giờ cái gọi là xã hội chủ nghĩa thì thực tế là nội dung không rõ ràng. Nó là một sự thí điểm trên toàn xã hội. Một sự thí điểm không phải với một con chuột bạch nhưng đã lấy dân tộc ra làm thì điểm.”
Trong buổi hội thảo còn có các ông luật sư Nguyễn Đăng Liêm, ông Kha Lương Ngãi Phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng. Đặc biệt ông Võ Văn Thôn, nguyên chủ tịch UBND Quận 3, giám đốc sở Tư Pháp thành phố đã mạnh mẽ lên tiếng rằng Đảng không nên lên án, đả kích những góp ý trái chiều.
Phát biểu của ông Võ Văn Thôn đã dấy lên một sự đồng tình lớn trong buổi hội thảo và cho thấy rằng vẫn còn rất nhiều nhân sĩ trí thức quan tâm đến việc sửa đổi Hiến pháp lần này. Họ đang cố hết sức mỉnh để đánh động cho xã hội biết những manh nha muốn dùng Hiến pháp như một thanh gươm để bảo vệ quyền bính hơn là bảo vệ pháp luật đúng như vai trò thật sự của một bản Hiến pháp.
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-03-28 

Liên minh chống Mỹ, hay liên lập với Hoa Kỳ?

Chuyến đi lịch sử
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Moscow hôm thứ sáu, mở đầu chuyến công du để cúng cố mối quan hệ ngoại giao mà Tổng thống Putin gọi là đang trong giai đoạn tốt đẹp nhất trong lịch sử mấy chục thế kỷ của cả hai nước.
Chủ tịch họ Tập tuyên bố tại Moscow rằng sự kiện ông chính thức công du Liên Bang Nga ngay sau ngày nhậm chức lãnh đạo tối cao của Trung Quốc chứng tỏ tầm quan trọng của mối bang giao này.
Tầm quan trọng đó được chứng tỏ không phải vì đây là chuyến xuất ngoại đầu tiên của ông Tập với cương vị chủ tịch Trung Quốc, mà qua sự ký kết trên 30 hiệp ước và sự đáp ứng nồng nhiệt của nhà lãnh đạo nước Nga, Tổng thống Vladimir Putin.
Không phải chỉ có chủ tịch Tập Cận Bình mới đi Moscow trước tiên sau khi nhậm chức.  Người tiền nhiệm là ông Hồ Cẩm Đào cũng đã hành động y hệt sau khi vừa trở thành nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc.
Trung Quốc và Liên Bang Nga đã ký kết những hiệp ước kinh tế thương mại, năng lượng có vai trò chiến lược đối với cả hai nước Nga-Hoa, trong đó có cả hiệp ước về mua bán và sản xuất vũ khí.

putin-xi
Hai nhà lãnh đạo Nga-Hoa trong chuyến công du của chủ tịch Trung Quốc
Đáp số cho bài toán sinh tử

Đây là lần đầu tiên Trung Quốc mở được cửa kho nhiên liệu phong phú của Liên Bang Nga, ký được những hợp đồng về cung cấp dầu khí và khai thác dầu khí với những con số khổng lồ.
Tập đoàn ROSNEFT sẽ cung cấp cho Trung Quốc mỗi năm từ 45-50 triệu tấn dầu trong vòng 25 năm. Số lượng thường niên này được tính là gấp ba lẩn những năm về trước. Công ty GAZPROM cũng ký bản ghi nhớ về việc cung cấp cho Trung Quốc ít nhất 38 triệu mét khối khí đốt kể từ 2018, nhiều hơn lượng cung cấp cho Đức.
Trong danh mục nhiên liệu còn có than đá. Trung Quốc ký hiệp ước 2 tỉ đô la để khai thác than của Nga  ở miền Viễn Đông.
Những  hợp đồng về nhiên liệu, năng lượng này chiếm vai trò chiến lược là vì đó là đáp số của bài toán năng lượng mang tính cách sinh tử đối với Trung Quốc.
Con đường huyết mạch về nhiên liệu của Trung Quốc. Nhật Bản, Hàn quốc xuất phát từ Trung đông chạy về Ấn Độ Dương, đi qua eo biển Malacca, rồi qua hải phận biển Đông của Việt Nam, vùng thủy lộ mà Trung Quốc luôn luôn kêu gào là bị Hoa Kỳ khống chế, và bằng mọi cách nhất quyết dành lấy chủ quyền 80% diện tích hành lang sinh tử này.
Trung Quốc đang đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế nên vốn là nước khát dầu nhất thế giới. Một khi tình hình lên tới mức căng thẳng tối đa vì nhiều nguyên do khả dĩ trong tình trạng Đông Á ngày nay, thì Bắc Kinh phải dự trù việc Hoa Kỳ và Nhật Bản khóa cửa thủy lộ này, đồng nghĩa với hành động cắt mạch máu của Trung Quốc.
Vì thế nguồn cung nhiên liệu từ Nga là lời giải cho bài toán chiến lược ấy. Ít nhất trong trưởng hợp khẩn cấp Bắc Kinh cũng không phải lệ thuộc hoàn toàn vào con đường huyết mạch này.
Đối với nước Nga, cuộc “cách mạng năng lượng” hiện nay của thế giới, với khuynh hướng tìm những nguồn nhiên liệu khác thay thế cho xăng dầu đang đe dọa những thị trường và lơi nhuận khổng lồ của Nga hiện nay về dầu khí. Năng lượng chính là tài nguyên kinh tế chiến lược hàng đầu của Moscow. Sự hợp tác với Trung Quốc đã thỏa mãn nhu cầu chiến lược của cả hai cường quốc vừa hợp tác vừa đương đầu với Hoa Kỳ.
Ý nghĩa đối với Mỹ, Nhật và phương Tây
Kinh tế, thương mại, năng lượng chỉ chiếm một phần quan trọng trong công cuộc hợp tác chiến lược về mọi mặt giữa hai nước Nga-Hoa. Chuyến thăm của chủ tịch Trung Quốc còn làm nổi bật những dữ kiện về quân sự và chiến lược trong mối liên kết này, dù người Nga vẫn chinh thức nói không phải là liên minh chống Mỹ.
Chủ tịch Trung Quốc tuyên bố tại Viện quan hệ quốc tế ở Moscow rằng mối quan hệ song phương vững mạnh giữa Trung Quốc với Nga không những đáp ứng quyền lợi chung mà còn bảo đảm cho tình trạng cân bằng chiến lược quốc tế và nền hoà bình thế giới.
Ông Tập Cận Bình không nhắc đến Hoa Kỳ, nhưng không quên nói thêm rằng không một quốc gia nào hay một khối quốc gia nào có quyền “đơn phương xử lý mọi công việc của thế giới.”
Điều mà cả Nga lẫn Trung Quốc vẫn lên án từ lâu là vị thế chủ đạo của Hoa Kỳ trên bàn cờ quốc tế; vì vậy Hoa Kỳ chính là nước bị coi là “đơn phương xử lý mọi công việc của thế giới.”
Hai nhà lãnh đạo Nga-Hoa còn ra tuyên bố chung nói rằng họ phản đối bất kỳ quốc gia nào hay một khối nào đơn phương củng cố khả năng phòng thủ chống hỏa tiễn, gây hại cho sự ổn định chiến lược và nền an ninh quốc tế.
Cuối năm ngoái Trung Quốc đặt hàng 4 chiếc tàu ngầm tối tân kiểu Amur-1650 và 24 máy bay SU-35 tấn công tầm xa tối tân nhất của Nga. Đây là lần đầu tiên Nga chấp thuận bán loại máy bay này cùng với bản quyền chế tạo cho Trung Quốc.
Báo chí Nga và một phần dư luận phương Tây cho rằng Nga muốn tăng cường sức mạnh quân sự để Trung Quốc đủ khả năng để đối đầu với Hoa Kỳ ở Đông Á và Đông Nam Á, nơi mục tiêu của chính sách chuyển trục chiến lược sang châu Á của người Mỹ.
Một sự kiện mang tính cách biểu tượng về công cuộc hợp tác vững bền về quân sự, không còn gì nghi ngại lẫn nhau, là việc chủ tịch Trung Quốc được mời thăm Trung tâm chỉ huy quân sự của Liên Bang Nga tại Moscow.  Truyền thông Trung Quốc được phép vào thu hình cảnh chủ tịch Tập Cận Bình dự khán buổi thuyết trình của Trung tâm, mặt hướng vào chiếc màn hình khổng lồ đang làm công tác theo dõi những mục tiêu tình báo quân sự.
Hai nhà lãnh đạo họp báo chung cón nhấn mạnh rằng những nghị quyết và án lệnh của những quốc gia thắng trận chống lại những nước thất trận trong thế chiến thứ hai, nhắm vào Nhật và Đức, sẽ giữ nguyên giá trị. Điều này có nghĩa là Nhật Bản không thể đòi lại cả 4 hòn đảo tranh chấp với Nga.  Hai lãnh đạo Nga Hoa còn tuyên bố ủng hộ chủ quyền hợp pháp của nhau theo thực tế lịch sử.  Như vậy là Đài Loan và Điếu ngư phải thuộc về Trung Quốc.
Vào tháng 6 sắp tới Nga và Trung Quốc sẽ mở cuộc tập trận chung rất lớn ở Đông Bắc Á.  Một hạm đội Trung Quốc, có thể là hạm đội Đông Hải, hay thành phần chủ lực của hạm đội, sẽ chia làm hai lực lượng, vượt eo biển Tsushima, ở giữa Nhật và đông nam Nam Hàn, và eo biển La Perousse giữa cực nam bán đảo Sakhalin của Nga với Hokkaido của Nhật, để hội quân với hạm đội của Nga trên biển Nhật Bản.
Cuộc hội quân trên biển này giống như cuộc thao dượt để hình thành một đại hạm đội tương đương Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ, nhằm tấn công vào trung bộ nước Nhật,. Tuyến xuất phát của cuộc tấn công này là từ giữa vùng biển ngăn cách bán đảo Triều Tiên với quần đảo Nhật Bản, hay nhìn cách khác, giữa một quốc gia thuộc khối đồng minh Nga- Hoa với đồng minh Nhật Bản của Hoa Kỳ.
Với tất cả những dữ kiện ấy, phải chăng Nga và Trung Quốc vừa bắt đầu công khai liên kết để tìm phương sách ngăn chống ảnh hưởng của Hoa Kỳ, sau một thời gian dài gây trở ngại cho Mỹ và phương Tây trong mọi chính sách nhằm đối phó với những nước chống Mỹ như Iran, Syria, Bắc Hàn?
Không nhìn nhận chống Mỹ
Đại diện đại sứ Liên bang Nga Evgeny Tomikhine  ở Bắc Kinh bác bỏ luận điểm nói rằng Trung Quốc và Nga lập liên minh chống Hoa Kỳ.
Ông nói nước dịp này Nga chỉ phát triển hợp tác đối tác chiến lược, không hề lập một liên minh nào với Trung Quốc .
Trong tuần qua Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết kim ngạch thương mại song phương đã tăng gấp hơn hai lần trong năm năm nay, đạt mức kỷ lục 88 tỉ đô la trong năm 2012.
Nhưng đại diện toàn quyền Evgeny Tomikhine  cho biết con số đó chỉ bằng một phần năm kim ngạch thương mại giữa Nga với châu Âu. So với Hoa Kỳ, mức trao đổi thương mại giữa Trung Quốc với Nga càng kém xa giữa Bắc Kinh với Washington. Thêm vào đó, đại diện toàn quyền của nước Nga tại Bắc Kinh cũng cho biết nguồn đầu tư của Trung Quốc vào Liên Bang Nga so với đầu tư vào châu Âu cũng còn khá hạn chế, và hầu hết mối đầu tư của Trung Quốc là từ các công ty, tập đoàn quốc doanh của họ.
Báo chí Anh ngữ của Trung Quốc, như tờ Global Times và một số báo phổ thông khác  cũng nhất loạt bác bỏ quan điểm gọi là “Nga Hoa liên minh chống Mỹ.”
Trong khi đó thì điều đáng ghi nhận là đông đảo công luận Hoa Kỳ ít đề cập sâu rộng và nhất là ít có lời bình luận tiêu cực về chuyến công du của chủ tịch Trung Quốc sang Nga.
Thực ra gọi đó là liên minh chống Mỹ có thể không hoàn toàn chính xác.  Trên thực tế hai nước Nga Hoa đang lập một khối đối trọng chiến lược để lấy lại sự cân bằng trên cán cân quốc tế với Hoa Kỳ và phương Tây cũng những đồng minh của họ như Nhật Bản, Úc, kể cả một số nước Đông Nam Á và Trung Đông.
Đại diện toàn quyền Evgeny Tomikhine của Liên Bang Nga nói mối hợp tác Nga-Hoa không phải liên minh, nhưng mức độ hợp tác có thể còn cao hơn nhiều so với mức độ hợp tác giữa những đồng minh.  Điều đó có nghĩa là gì, nếu không phải là một “liên minh không chính thức”, nhằm tạo đối trọng với Hoa Kỳ?
Báo chí Trung Quốc thì tất nhiên không bao giờ từ bỏ luận điểm về ý hướng hòa bình của Bắc Kinh, nên họ nói gì cũng không có giá trị.
Việt Nam ra sao?
Nhìn qua có thể cho rằng Việt Nam sẽ bị khó khăn nhiều trước sự hợp tác chiến lược của hai nước đàn anh cũ.
Tuy nhiên mới hôm thứ ba phó giám đốc Trung tâm phân tích chiến lược và công nghệ Nga Konstantine Makiyenko đã khuyên Việt Nam mua các máy bay tiêm kích Sukhoi 35.
Bộ trưởng Quốc phòng Nga, Sergei Shoigu vừa thăm chính thức Việt Nam từ ngày 4 đến ngày 5 tháng 3. Nhân chuyến thăm này, Bộ trưởng Quốc phòng Nga cũng đến thăm cảng Cam Ranh, vốn là căn cứ hải quân của Nga trước kia
Tháng 12 năm ngoái Thủ tướng Medvedev thăm Việt Nam, họp báo tại Hà Nội, tuyên bố rằng Nga và Việt Nam có thể hợp tác khai thác dầu khí ở biển Đông. Trước đó nhiều giới chức cao cấp người Nga tuyên bố rằng các công ty Nga có toàn quyền hợp tác và khai thác biển Đông, không thể bị ngăn cấm.
Việt Nam có vẻ như sẽ không để cho một nước nào sử dụng cảng Cam Ranh làm căn cứ hải ngoại, và đã tuyên bố nơi này trở thành một địa điểm thuận lợi cho tàu bè tất cả các nước ghé vào sửa chữa, bảo trì.  Nhưng các quan chức Việt nam từng nói rằng khi đàm phán với Nga về việc giúp Việt Nam nâng cấp các cơ sở hải quân, Việt Nam sẽ cho Nga những đối xử đặc biệt (lúc đó thì hai nước chưa thành đối tác chiến lược) bởi Nga phải gửi tàu vào đây để đưa các thiết bị, và kỹ thuật viên và kỹ sư cho mục đích này. Dù chính sách ra sao, Việt Nam vẫn có thể sẽ dành cho hải quân Nga những ưu quyền đặc biệt trong những tình huống đặc biệt.
Từ những yếu tố ấy, có thể nói Việt Nam trong cương vị hiện nay cũng còn nhiều chỗ xoay sở, dù công cuộc hợp tác Nga Hoa đã tiến tới giai đoạn gọi là “lịch sử”.
Lời giải: sự liên lập quốc tế
Trở lại vấn đề ảnh hưởng đối với Hoa Kỳ, tưởng cần nhắc lại rằng từ tháng 11 năm 2010 Tổng thống Nga Medvedev đã cùng Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia-Bảo ký kết thỏa hiệp dùng tiền tệ của mỗi nước cho việc thương mại song phương. Công luận đã cho rằng vị trí của đồng đô la Mỹ sẽ sớm lung lay. Nhưng đến nay, sau gần ba năm, sách lược tiền tệ của Nga và Trung Quốc chưa thể hiện ảnh hưởng đáng kể đối với đô la Mỹ, trong khi trữ lượng ngoại tệ đô la cao nhất thế giới vẫn thuộc về Trung Quốc. Trung Quốc cũng bị ràng buộc vào giá trị của đồng đô la.
Quan hệ thương mại, đầu tư giữa Mỹ và Trung Quốc rất lớn mạnh, trong khi Nga cũng cần hợp tác hoà bình với Mỹ vì quyền lợi của chính mình.  Do đó dù có tạo đối trọng với Hoa Kỳ ở châu Á, Trung Quốc và Liên Bang Nga không thể nào gạt Hoa Kỳ ra ngoài lề hợp tác quốc tế và cũng không có khả năng hành động như vậy.
Nhìn rộng ra, sự liên lập kinh tế, sự hiện hữu của lực lượng quốc phòng, với một lực lượng hạt nhân ngăn đe cùng với công sức của Hoa Kỳ đóng góp vào việc duy trì nền thịnh vượng và trật tự chung của toàn thế giới mà Trung Quốc hay Liên Bang Nga cũng phải nhìn nhận, sẽ khiến Bắc Kinh và Moscow phải chấp nhận không để Hoa Kỳ lâm vào tình cảnh sa sút vì bất cứ lý do gì, chỉ vì sự thịnh vượng của chính họ cũng “liên lập” với Hoa Kỳ.  Trung Quốc ngày nay so với Trung Quốc thời Mao đã là một minh chứng hùng hồn nhất.
Tuy nhiên, dù đến nay khối đối trọng mới là Trung Quốc- Liên Bang Nga chưa gây một chướng ngại nào cho Hoa Kỳ và đồng minh, người ta không thể “ngủ quên” và yên chí rằng chiều hướng đó sẽ mãi mãi diễn tiến như vậy. Hoa Kỳ vẫn phải đề phòng và ngăn ngừa khuynh hướng đó dần dần lớn mạnh trong những quốc gia đối tác ít thân thiện hơn, như Trung Quốc và Liên Bang Nga.
Việt-Long, RFA
2013-03-28

Vụ Chủ tịch tỉnh Thanh Hóa bị kiện: Bản án sơ thẩm không khách quan?

Theo dự kiến, ngày 11/04 tới đây tại Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội sẽ diễn ra phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án hành chính Công ty CP Khôi Việt (Khôi Việt) khởi kiện Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về "quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai" tại dự án Khu ĐTM Quảng Thành, TP. Thanh Hóa.
Như báo điện tử Giáo dục Việt Nam đã đưa tin trước đây về diễn biến của vụ án và phiên tòa sơ thẩm, chúng tôi tiếp tục cập nhật tới quý vị độc giả những thông tin mới nhất về vụ án này trước phiên tòa xét xử phúc thẩm.

Đương sự trình bày trong phiên tòa sơ thẩm

Ngày 8/10/2012 tại Thanh Hóa, Tòa sơ Thẩm TAND tỉnh Thanh Hóa đã tuyên án: bác toàn bộ nội dung khởi kiện của Khôi Việt đối với Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, chỉ chấp nhận hỗ trợ 1,4 tỷ đồng từ phía người bị kiện cho doanh nghiệp.
Vào ngày 19/10/2012 Khôi Việt đã có đơn kháng cáo toàn bộ bản án số 11/2012/HC-ST ngày 8/10/2012 của TAND tỉnh Thanh Hóa. Phiên tòa xét xử vụ án hành chính này dự kiến sẽ được mở vào ngày 11/4/2013 tới đây với HĐXX phúc thẩm do Thẩm phán Nguyễn Đức Nhận làm chủ tọa.
Như đã biết, đối tượng đầu tiên của vụ án là quyết định hành chính số 2284/QD-UBND do Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa thời bấy giờ là ông Mai Văn Ninh (hiện ông Ninh đang giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa) đã ký ngày 25/7/2008 về việc "hủy bỏ kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án Quảng Thành, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa".
 Đối tượng thứ hai của vụ án là hành vi hành chính không giải quyết khiếu nại của doanh nghiệp suốt một thời gian dài từ tháng 8/2008 tới tháng 6/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa (ông Mai Văn Ninh giữ cương vị Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa từ đầu năm 2008 tới 6/12/2010, từ đó tới nay thì ông Trịnh Văn Chiến đảm nhiệm chức vụ đó).
Theo thông tin từ phía người khởi kiện cho biết, cho mãi tới 19/6/2012 thì ông Trịnh Văn Chiến mới ký quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu - trong khi đó Công ty CP Khôi Việt đã phát đơn khởi kiện Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa từ ngày 17/5/2012 và hoàn tất hồ sơ khởi kiện vào ngày 28/5/2012, trong đó có yêu cầu bằng văn bản từ phía TAND tỉnh Thanh Hóa là Khôi Việt phải khẳng định sẽ không tiếp tục khiếu nại và Khôi Việt đã cam kết điều đó bằng văn bản.
Ngày 20/3/2013 vừa qua Khôi Việt đã có đơn đề nghị - trình bày các ý kiến bổ sung đối với yêu cầu kháng cáo của mình - gửi tới Chánh án TAND tối cao, Chánh Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội, HĐXX phúc thẩm và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong đơn đó Khôi Việt đã đưa ra các chứng cứ về những vi phạm tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm (tùy tiện thay đổi HĐXX sơ thẩm; bổ sung người tham gia tố tụng trái pháp luật; căn cứ hồ sơ một vụ án khác để ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm; bỏ sót người tham gia tố tụng; lập biên bản phiên tòa không đúng thực tiễn diễn biến phiên tòa; ra bản án số 11/2012/HCST không phải là án văn đã tuyên tại phiên tòa) và chỉ ra những sai lầm nghiêm trọng về việc giải quyết nội dung vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm đối với cả 03 yêu cầu khởi kiện dựa trên cơ sở chứng minh nhiều chứng cứ/viện dẫn có căn cứ pháp luật rõ ràng.

Phối cảnh tổng thể Quy hoạch chi tiết đô thị Quảnh Thành - TP Thanh Hóa

"...Pháp luật chứng minh rằng khi cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện một hành vi hành chính trái luật hay ban hành một Quyết định hành chính bất hợp pháp thì hành vi và quyết định đó đều phải bị tuyên bố là trái pháp luật.

Việc TAND tỉnh Thanh Hóa bác yêu cầu khởi kiện của chúng tôi là xét xử không khách quan, không toàn diện và trái pháp luật. Do việc xét xử có nhiều vi phạm về tố tụng, sai trái về nội dung như đã trình bày ở trên nên doanh nghiệp chúng tôi thực hiện quyền kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm số 11/2012/HC-ST ngày 08/10/2012 cũng là điều dễ hiểu.

Với các nội dung cụ thể đã trình bày ở trên, kính mong Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty CP Khôi Việt để giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật, tinh thần pháp chế XHCN cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bị thiệt hại.
" - đơn đề nghị nêu các ý kiến bổ sung kháng cáo dài 10 trang của Khôi Việt đã kết thúc như vậy.
Trong đơn khởi kiện Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa của Công ty CP Khôi Việt gồm 03 yêu cầu:

1) Yêu cầu Tòa án tuyên bố Quyết định số 2284/QĐ-UBND ngày 25/07/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc "hủy bỏ kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất thức hiện dự án Quảng Thành" là trái pháp luật.

2) Yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi hành chính "không giải quyết khiếu nại của doanh nghiệp suốt cả một thời gian dài" của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa là trái pháp luật.

3) Buộc Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa phải thanh toán cho Công ty CP Khôi Việt 41.723.162.279đ gồm các khoản: chi phí ứng trước cho việc lập quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch; các phát sinh từ tiền sử dụng đất và GPMB; chi phí quản lý và điều hành dự án; bồi thường tổn thất và thiệt hại,...

Cũng theo đơn khởi kiện thì số tiền yêu cầu hoàn trả và bồi thường thiệt hại 41,72 tỷ đồng nói trên mới chỉ là số liệu tính tới 30/09/2012, dựa trên các chi phí thực tế của doanh nghiệp có chứng từ hợp pháp có tính đến lãi suất cho vay phổ biến của các NHTM và chỉ số trượt giá CPI được Tổng cục Thống kê công bố hàng tháng. Số liệu này sẽ phải được tính chính xác vào thời điểm Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa sẽ thanh toán cho Khôi Việt.
Báo Giáo dục Việt Nam sẽ tiếp tục cập nhật tới quý vị độc giả những thông tin và diễn biến của vụ án.

Văn Minh
(GDVN)

Ngô Minh - Hunsen người cộng sản không sợ đa đảng

Hun Sen
Nói đến đa đảng, tam quyền phân lập những người cộng sản đều rất sợ vì họ cho đó là những đặc điểm của “bọn tư bản giãy chết”. Nhưng thực ra đây là những phát minh khoa học của nhân loại để tạo nên sự cạnh tranh trong xã hội , làm cho nhân dân ngày càng được bảo vệ hơn, cuộc sống công bằng hơn, chống lạm quyền, tham nhũng hiệu quả hơn. Có một người cộng sản  đã lãnh đạo đảng cầm quyền thực hiện đa đảng từ  20 năm nay, qua 4 nhiệm kỳ đứng đầu chính phủ, vẫn rất uy tín được nhân dân ủng hộ, các đảng dối lập tôn trọng. Đó là Hun Sen, người lãnh đạo cấp cao ( phó chủ tịch) của Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), tức Đảng Cộng sản Cămpuchia, Thủ tướng Cămphuchia.
            
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Samdech Hun Sen (sinh ngày 4 tháng 4 năm 1951) là Thủ tướng đương nhiệm của Vương quốc Campuchia. Ông cũng là thủ lĩnh đảng lãnh đạo Campuchia trong một chính phủ liên hiệp với đảng bảo hoàng Funcinpec kể từ khi Campuchia khôi phục chế độ đa đảng năm 1993. Ông được Quốc vương Campuchia Norodom Sihamoni thăng hàm Thống tướng   ngày 23 tháng 12 năm 2009.  Chính phủ liên hiệp từ năm 1993 có hai đồng thủ tướng với Norodom Ranariddh làm thủ tướng thứ nhất và ông làm thủ tướng thứ hai. Chính phủ liên hiệp bị đổ bể năm 1997, sau sự xung đột bạo lực giữa lực lượng quân đội trung thành của Hun Sen và lực lượng quân đội trung thành của Ranariddh. Cuộc bầu cử 1998, đã đưa ông trở thành thủ tướng duy nhất của Campuchia cho tới hiện nay. Kết quả bầu cử năm 2003 dẫn đến một quốc hội do đảng Nhân dân Campuchia (CPP) nắm giữ, đảng bảo hoàng Funcinpec và đảng Sam Rainsy có ít ghế hơn. Tuy nhiên, CPP không nắm đủ đa số 2/3 số ghế cần thiết theo Hiến pháp Campuchia để một mình lập chính phủ. Nên phải thành lập một chính phủ liên hiệp giữa CPP và Funcinpec. Và Hun Sen đã để lại dấu ấn của riêng mình trên chính trường Campuchia trong gần ba thập kỷ qua. Mặc dù Trung Quốc và Mỹ kích động thế giới liên tục tố cáo “Việt nam xâm lược Cămpuchia”, nhưng Hun Sen vẫn tuyên bố :“Không có sự giúp đỡ của Việt Nam, chúng tôi sẽ chết”. Hun Sen cho biết quân tình nguyện Việt Nam đã đóng vai trò giải phóng Campuchia”. Hun Sen nói: “Tôi đã nói với họ (Việt Nam) là nếu họ rút quân và Pol Pot quay trở lại thì nhiều người sẽ bị giết Tháng 1-1989, Hun Sen nói thêm: “Chính phủ Việt Nam không muốn để quân ở lại. Phía chúng tôi yêu cầu họ như thế”. Đó là một bản lĩnh của một nhà lãnh đạo tài ba, rất trung thực với lịch sử.
Tại sao Hun Sen cộng sản vẫn sống tốt trong thể chế đa đảng ? Theo sách “Hun Sen – nhân vật xuất chúng của Campuchia”, Nhà xuất bản Văn Học ấn hành, bản quyền tiếng Việt của Youbooks. HARISH & JULIE MEHTA (LÊ MINH CẨN dịch), Hun Sen là một người lãnh đạo luôn biết chấp nhận thử thách. Ông tuyên bố : “Tôi muốn trở thành một nhân vật có thế lực và làm được điều gì đó cho đất nước tôi”. Ông đã cố tranh thủ sự ủng hộ của cử tri bằng những lời hứa hẹn và thật sự đem lại cho họ một số những điều ấy, xây dựng trường học, đường sá và các kênh mương tưới tiêu ở khắp nước. Ông đã trở lại với những người đã bỏ phiếu cho ông và mang lại những thứ họ cần – trường học, hệ thống kênh mương thủy lợi. Ông chuyện trò với họ, hút chung một điếu thuốc và họ đã đáp lại tình cảm của ông.   Với thắng lợi trong cuộc bầu cử vào năm 2003, một lần nữa người dân đã đặt niềm tin vào ông. Vào giữa năm 1999, ông đã cảnh báo với các đảng viên của mình là hãy dẹp bỏ hành động tham nhũng và hành vi thiếu đạo lý. Tại một đại hội đảng được giữ kín gồm 200 đại biểu, Hun Sen nói: “Nếu bất cứ viên chức nào phạm phải hành vi sai trái, họ sẽ bị thay thế, nếu không sẽ bị sa thải”. Chiến lược toàn diện của ông xoay quanh sự ăn khớp của ba yếu tố – sự ổn định chính trị, nguồn viện trợ và sự đầu tư nước ngoài. Với sự ổn định chính trị và cơ sở hạ tầng vật chất thích đáng, vấn đề chỉ còn là thời gian trước khi nguồn vốn đầu tư của các công ty tuôn vào để tạo ra việc làm và đưa người dân Campuchia đến gần hơn với giấc mơ hòa bình và thịnh vượng.”. Năm 2013 này, Đảng CPP của Hun Sen lại thắng lợi trong bầu cử, sẽ cùng Funcinpec liên hợp thành lập chính phủ. Và khả năm Hun Sen lại làm Thủ tướng Cămpu chia thêm một nhiệm kỳ nữa. Nhiều người Việt Nam không đồng tình với Hun Sen việc  ông đang “đi đêm” Trung Quốc để kiếm viện trợ, nên không đồng tình  với việc thông qua Quy tắc ứng xử Biển Đông giữa Asean- Trung Quốc năm 2012 ( DOC). Tôi cũng ở trong số đó.  Nhưng đối với  nhân dân Cămpuchia, Hun Sen đang trở thành một lãnh tụ công sản xuất chúng.
Hun Sen muốn biến Campuchia thành một con hổ kinh tế châu Á. Chính điều tâm huyết với dân với đất nước đó đã củng cố quyền lực và uy tín của Đảng nhân dân Cămphuchia ( CPP) trong một thể chế đa đảng, mà Hun Sen là người cầm lái. Không sợ đa đang chỉ sợ đảng không mạnh.
Còn nếu theo thể chế độc đảng thì rất dễ sa vào sự lộng hành quyền lực ở các cấp từ Trung ương đến địa phương để vơ vét làm giàu cho mình, tham nhũng phát triển không ngăn chặn được,  đẩy nhân dân vào cảnh lầm than đói khổ. Đảng suy thoái đến độ nào đó thì thành phản động, phản lại  quyền lợi nhân dân và đất nước. Nếu không có đảng đối lập bên cạnh thì không có đối chứng để cảnh tỉnh, để cạnh tranh, dẫn đến độc tài. Đa đảng làm cho con người tự do dân chủ hơn, đất nước được quản lý tốt hơn .
Suy nghĩ từ đảng CPP của Hun Sen, tôi thấy ràng, đảng nào đưa lại thịnh vương cho dân thì họ theo đảng đó. Đảng nào kém  cỏi trong lãnh đạo, ngày càng suy thoái nghiêm trọng, đảng viên, cán bộ từ Trung ương đến địa phương suốt ngày chỉ lo tìm mọi cách thu vén, làm giàu cho mình, tìm mọi cách để đè đầu cưỡi cổ xã hội, thì dân thù ghét, bất hợp tác, chính sách đề ra không thực hiện được, như cái cây mục ruỗng, không cần xô vẫn đổ . Đó là chân lý mà người cộng sản Hun Sen đã nắm được và đang làm chủ nó.   
Ngô Minh
(Blog Ngô Minh)

Đông La - "Dư luận viên" đại thắng

Cựu Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc trên VTV1 sượng sùng thanh minh vai trò trưởng đoàn đưa “Kiến nghị lật pháp” chỉ là chuyện bất ngờ, trước khi ký tên ông đã đề nghị thay đổi một số nội dung nhưng không được, và ông cũng không tham gia soạn thảo bản Dự thảo Hiến pháp riêng, tóm lại ông không phải là người chủ chốt mà chủ yếu bị lôi kéo, bị lợi dụng trong vụ “lật pháp”!
truongduynhat cho là  Nguyễn-Đình-Lộc-trở-cờ, “tự tát vào mặt mình”; Đoan Trang: “không thể biện minh”; có người khuyên: “ông Nguyễn Đình Lộc hãy tự sát chính trị”; Tương Lai: “điều đó sẽ rất hại uy tín cho một người từng là Bộ trưởng và nhất là một trí thức chân chính”; Huệ Chi “có thể cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc đã chịu sức ép?; v.v…
Còn tôi thì thấy hành động của ông Nguyễn Đình Lộc là dũng cảm. Nếu ông trực tiếp soạn thảo và hoàn toàn tâm đắc với những văn bản đó giờ ông chối thì mới là “trở cờ”, mới “tự tát vào mặt mình”. Còn làm như trên, ông chỉ thanh minh, đã vạch ra cho bàn dân thiên hạ thấy bản chất nhí nhố của nhóm “lật pháp”. Chính ông đã tát một cú trời giáng vào mặt những người chủ xướng là “Lươn” Huệ Chi (Từ câu “ca dao” nổi tiếng: Mọi người nói với Đổng Chi/ Huệ Chi nó có cái gì như lươn) và Giáo sư Tai Ương (TL); và đồng thời tát vào mặt những “đứa” a dua lăng nhăng như Trương Duy Nhất, Đoan Trang v.v…
Tôi cũng thấy việc sớm tỉnh ngộ là may cho ông, nếu ông kiên quyết cách ly luôn thì tốt hơn, nếu ông biết bản chất thực sự của đám “dân chủ bầy đàn”.
Như chuyện tiền bạc: Xuân Diện, Phương Bích và Bùi hằng đã “cắn nhau vì tiền”; Cu Vinh (Quang Vinh em Quang Lập) đã lợi dụng vụ Đoàn Văn Vươn làm tiền; Nguyễn Thanh Giang ăn chặn tiền của Nguyễn Gia Kiểng gởi về cho các “chiến hữu” v.v…
Những người cấp tiến luôn to giọng đổi mới thì lại có cách nhìn lộn ngược, như Chu Hảo đã ca ngợi Huy Đức là “trong sáng”; Trần Mạnh Hảo ca ngợi Phát xít Nhật; Nguyễn Quang Lập biện hộ cho tội ác ở những “địa ngục trần gian”; Nguyên Ngọc đã đỡ đầu và luôn ca ngợi những kẻ phỉ nhổ vào cuộc chiến giành độc lập, cho cuộc chiến tranh đó chỉ mang lại “nỗi buồn”, khóc như cha chết trong ngày chiến thắng; v.v…
Và những người chủ trò như Huệ Chi, Tương Lai thì luôn tận dụng mọi việc, mọi cơ hội để chống đối, mục đích chính của họ là lật đổ chế độ chứ không phải vì dân vì nước, nên từ các nhân vật quấy rối như Bùi Hằng, Thục Vy, Phương Uyên đến chuyện góp ý cho Hiến Pháp, họ luôn ở trên tuyến đầu kích động.
Chuyện góp ý cho Hiến Pháp của các vị cái sai chính chính là những quan điểm lộn ngược vô cùng nguy hiểm. Như Quân đội lẽ ra cần phải trung thành với người lãnh đạo, nếu không không chỉ là đội quân rô-bốt đánh thuê mà còn là một trung tâm quyền lực có thể đảo chính bất cứ lúc nào.
 Những bài học của lịch sử, thời phong kiến, khi vua hiền, tướng giỏi như giai đoạn đầu nhà Trần, nhà Lê, chúng ta đã đánh thắng những đội quân xâm lược hùng mạnh nhất; nhưng giai đoạn cuối, vua hèn, cận thần xúi bậy, nhà Trần đã mất ngôi dẫn đến chuyện dân ta mất nước; cuối nhà Lê thời Trịnh-Nguyễn phân tranh nội chiến, dân ta nồi da xáo thịt cùng cực đến dường nào! Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị được Khổng Minh phò trợ từng suýt đốt chết Tư Mã Ý, Tổ phụ của nhà Tấn; nhưng đến đời con là Lưu Thiện đớn hèn hàng giặc, cháu nội nhục quá đã bắt cả nhà tự sát trước bàn thờ Lưu Bị!
Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta đang cần có một Đảng mạnh như hồi đánh thắng Điện Biên Phủ, như hồi bắn rơi B52 trên bầu trời Hà Nội và khi lãnh đạo Chiến dịch HCM giành Toàn thắng, để chỉnh đốn, để đấu tranh giai cấp trong giai đoạn mới (chống nhóm lợi ích), lập lại kỷ cương phép nước, thưởng phạt công minh, làm theo đúng lời dạy của Bác Hồ:
-Không sợ hàng thiếu, chỉ sợ phân phối không công bằng;
- Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên".
Vậy mà họ lại đòi tước quyền lãnh đạo của Đảng, đòi cách ly quân đội với đảng, phải chăng họ lại muốn nội chiến như thời Trịnh-Nguyễn, hay tệ hơn là thời Loạn 12 sứ quân, giai đoạn giữa nhà Ngô và nhà Đinh?
Cái dốt của bọn “chấy thức” Trâu bò, Lươn rắn, ễnh Ương là không hiểu rằng, với chính trị xã hội thì cái quan trọng nhất là sự phù hợp chứ không phải là hay, là tốt. Bởi có cái hay cái tốt của người áp dụng không phù hợp ở ta sẽ gây đại họa!
Tôi tin là ông Nguyễn Đình Lộc từng là Bộ trưởng không đến nỗi quá ấu trĩ về luật, về chính trị xã hội. Qua sự phân bua của ông trên ti vi, tôi hiểu là ông đã dây vào cái nhóm “lật pháp” do cái tính cả nể, dĩ hòa vi quý, một thói xấu của bản tính Việt. Ngay tôi đây, có thằng tôi ghét như chó, nhưng thấy nó cứ nhăn nhở quỵ lụy là lại tặc lưỡi bỏ qua không chấp, để rồi bị nó lợi dụng, cuối cùng không chịu nổi thì chửi nhau, tạo cớ cho bọn đểu bu vào xiên xẹo, bực cả mình. Mong ông kiên định vượt qua cái tai ách này, đừng chấp làm gì cái dư luận của đám sâu bọ, rắn rết; cái chính là ông có vượt qua được cái tính cả nể hay không? Vì thực ra, có người có suy nghĩ khác mình, nhưng về tình cảm, ta vẫn quý mến họ!
Trước thời điểm xảy ra “hiện tượng” Nguyễn Đình Lộc, 2 ông Minh Thuyết và Nguyễn Trung, theo  Tư Mã Thiên:
“Trong bản kiến nghị 72, cựu đại sứ Nguyễn Trung đứng ở vị trí thứ 62 và cựu đại biểu quốc hội Nguyễn Minh Thuyết đứng ở vị trí thứ 59. Về cơ bản, kiến nghị mà ông Nguyễn Trung và ông Nguyễn Minh Thuyết ký là đề nghị đa đảng, có đa đảng tất nhiên sẽ dẫn đến phi chính trị hóa quân đội, có thể chế tam quyền phân lập, có sở hữu tư nhân về đất đai…”
Nhưng chỉ sau đó vài ngày… thì cả ông Nguyễn Trung và ông Nguyễn Minh Thuyết đều đã quên những gì mình đã ký”.
Như vậy cái gì đã gây ra những hiện tượng trên?
Phải chăng công đầu chính là của những “dư luận viên”, chính họ bằng blog của mình đã đi đầu trong việc nã pháo vào những trò đấu tranh dân chủ nhí nhố và đỉnh điểm là trò “lật pháp” đó, mà riêng tôi cũng kịp thời đóng góp liên tiếp 3 bài viết. Sau đó, các phương tiện thông tin chính thống, nhất là VTV1, mới lên tiếng và phát huy được lợi thế của mình.
Vậy tôi có là “dư luận viên” không?
Cũng đã có những kẻ comment gọi tôi là “văn nô”, là “dư luận viên”. Tôi thấy cũng tốt thôi, nếu điều đó góp phần làm ổn định và phát triển xã hội.
Nhưng thực tế tôi đã đi trước rất lâu.
Ngay từ năm 1997, tôi đã viết bài phê bình ra tấm ra món đầu tiên trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội “đánh” Đỗ Minh Tuấn, làm rung rinh cả giới sĩ phu Bắc Hà khụng khiệng, chiếu trên chiếu dưới, và được trao tặng thưởng năm đó. Tôi  đã đến Văn nghệ Quân đội ở Lý Nam Đế và được chào đón như thượng khách. Ông Anh Ngọc nói vừa ăn vừa đọc bài của tôi hay quá làm rơi cả đũa; ông Nam Hà ôm lấy tôi: “Đông La đây à”! v.v… Một đời viết có được những khoảnh khắc đó quả là thú vị! Tiếp theo đó tôi đã gởi bài sang tận Đức đăng trên Talawas phê phán Bùi Tín, gởi sang Ba Lan đăng trên Đàn chim Việt phê phán Dương Thu Hương; gởi sang Mỹ đăng trên Giao điểm“đánh” Trần Mạnh Hảo. Như vậy cái chương trình “dư luận viên” mà ông Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội tuyên bố đã đi sau tôi rất nhiều. Thậm chí, khi Trần Mạnh Hảo hung hăng chống phá, báo chí chính thống im lặng, tôi đã từng viết thư gởi thẳng cho ông Tô Huy Rứa:

 

Còn chuyện bạn Hòa Bình e ngại là những bài viết giá trị của tôi liệu có đến được những nơi cần đến không? Tôi nghĩ là có vì đã có một lần một người bạn dự cuộc họp về báo chí của Ban Tư tưởng VHTƯ đã gởi cho tôi biên bản cuộc họp, trong đó có nhắc đến bài viết “Cuộc đối thoại ông chẳng bà chuộc” của tôi về chuyến Dương Thu Hương đi Mỹ:

 

Cái chính là sau khi đọc tôi cũng như những  ý kiến có giá trị của mọi người, những người có trọng trách cần phải làm gì? Như nhiều vấn đề tôi viết trong những truyện ngắn cách đây gần 30 năm nhưng vẫn còn nguyên đó, vẫn đang được bàn thảo sôi nổi trên nghị trường.
 Tôi là một nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, đã có những công trình được áp dụng vào thực tế và đã và sẽ in nhiều sách, vì vậy tư duy của tôi luôn mang tính khoa học, luôn logic và thống nhất. Tôi cũng luôn đứng cao hơn hoàn cảnh bản thân mình để viết vì cái chung, vì điều tối thượng là sự ổn định và phát triển của đất nước. Chỉ thế thôi!

TPHCM, 25-3-2013
Đông La
(Blog Đông La

'Hãy để BĐS chết': 15 vấn đề chất vấn TS Alan Phan

CLB Bất động sản Hà Nội vừa có văn bản trao đổi với Tiến sĩ Alan Phan, nguyên Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa, xoay quanh quan điểm nên để thị trường BĐS 'chết', nhà băng 'chết'...gây sốc dư luận gần đây.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa Ảnh minh họa.
1. Ông cho rằng, doanh nghiệp BĐS “chết”, nhà băng “chết”, chứng khoán tụt giảm… cũng không sao, miễn là Chính phủ bảo đảm người dân sẽ không mất tiền. Vậy, xin ông cho biết giải pháp mà Chính phủ cần phải làm để bảo đảm người dân sẽ không mất tiền nếu tình trạng nêu trên xảy ra?
2. Hầu hết các dự án nhà ở thương mại, người dân đã đóng một phần tiền, thậm chí là rất nhiều tiền nếu phá sản chủ đầu tư không tiếp tục xây và không thể giao nhà cho họ, cũng không có khả năng hoàn trả tiền; vậy ai sẽ là người mất tiền?
3. Hiện nay, các doanh nghiệp BĐS thường chỉ có từ một đến vài chục phần trăm vốn tự có, phần còn lại là vay ngân hàng (mà ai cũng biết ngân hàng là DN kinh doanh từ tiền gửi tiết kiệm của nhân dân). Vậy nếu các doanh nghiệp BĐS phá sản, kéo theo hệ thống ngân hàng có thể sẽ sụp đổ; lúc này thực chất, ai sẽ là người mất tiền?
4. Ông đã nhận định rằng, để thị trường rơi tự do, giá nhà có thể giảm thêm 30-50% nữa. Vậy theo ông, khi giảm đến mức đó mới là “giá trị thực” (bằng mức đầu tư của doanh nghiệp) hay đã thấp hơn? Tóm lại là, theo ông, nếu giá BĐS giảm tới 50% thì đã bằng giá thành đầu tư dự án hay còn xuống sâu hơn nữa mới bằng giá thành xây dựng?
5. Theo đánh giá của ông, giá bất động sản tại Việt Nam được hình thành từ những cơ sở nào? Và ông căn cứ vào cơ cấu giá như thế nào để đưa ra nhận định đó?
6. Giá nhà ở Việt Nam hiện nay có thể chưa phù hợp với thu nhập của phần lớn người dân Việt Nam. Song như chúng ta đã biết, để tạo nên một sản phẩm BĐS, hiện nay chúng ta phải nhập khẩu rất nhiều các nguyên vật liệu, trang thiết bị cao cấp (Việt Nam chưa sản xuất được hoặc có sản xuất cũng chưa đạt yêu cầu của người tiêu dùng), điều này góp phần rất lớn làm đội giá BĐS lên cao. Vậy có phù hợp không khi chúng ta lấy mặt bằng thu nhập của người dân để đòi hỏi giá nhà phải tương xứng?
7. Căn cứ vào cơ sở khoa học nào để ông đưa ra nhận định: Không cần giải cứu, địa ốc sẽ đi lên sau 4-5 năm?
8. Như ông cũng biết, đa phần các doanh nghiệp BĐS tại Việt Nam hiện nay là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ là động lực phát triển của nền kinh tế và tạo công ăn việc làm. Nếu bây giờ thúc đẩy cho họ phá sản hết thì bao giờ chúng ta mới khôi phục được hạ tầng kinh tế này?
9. Ông có biết, hiện nay tại Việt Nam, có bao nhiêu ngành, lĩnh vực sản xuất và bao nhiêu người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động của thị trường BĐS (công nghiệp phụ trợ, công nghiệp vật liệu, xây dựng, bán hàng, quản lý…) hay không? Nếu để thị trường BĐS “rơi tự do”, phá sản dây chuyền, điều gì sẽ xảy ra và cuộc sống của những người hoạt động trong lĩnh vực này cũng như gia đình họ sẽ ra sao?
10. Ông có thiện chí giới thiệu hoặc tham gia cùng những nhà đầu tư có tiềm lực tài chính manh ở Mỹ hay Trung Quốc đến Việt Nam đầu tư những dự án nhà ở giá rẻ không? Người dân sẽ đánh giá rất cao tư cách và trách nhiệm của Ông nếu Ông làm được việc này.
11. Hạ tầng, cảnh quan đô thị của Việt Nam (ít nhất là 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP. HCM) hiện nay như thế nào nếu đem so sánh với các đô thị khác trong khu vực và trên thế giới? Theo ông, nếu không phát triển thị trường BĐS thì chúng ta làm thế nào để cải tạo được diện mạo đô thị, làm sao tiến kịp thế giới?
12. Xin ông cho biết, bài học “Hãy chết đi” mà Tổng thống Ford đã áp dụng cho New York (Mỹ) có được quốc gia nào áp dụng thành công (để khắc phục và vượt qua khủng hoảng thành công, vừa đảm bảo quyền lợi toàn dân, vừa thúc đẩy xã hội phát triển) sau đó nữa không? Lý do gì mà người ta lại không đi theo con đường đó?
13. Ông cho rằng, thị trường BĐS Việt hiện chưa thu hút nhiều nhà đầu tư ngoại và trong thời gian tới họ sẽ không đầu tư dài hạn, mua đất giải phóng mặt bằng sau đó triển khai dự án... Đây là nhận định cá nhân hay dựa vào khảo sát nào, thưa ông?
14. Được biết đến như một doanh nhân với 43 năm kinh nghiệm tại thị trường Mỹ và Trung Quốc. Nhưng ông đã có nhiều nghiên cứu với thị trường Việt Nam hay chưa? Và kinh nghiệm thực tế của ông với thị trường BĐS Việt Nam là gì?
15. Hiện nay, cộng đồng doanh nghiệp là các hội viên trong CLB BĐS Hà Nội rất mong muốn được tổ chức một hội thảo về những vấn đề ông đã nêu ra cho thị trường BĐS Việt Nam. Ông có sẵn sàng về Việt Nam để tham dự Hội thảo này với vai trò diễn giả, trả lời các câu hỏi của các doanh nghiệp và công chúng trong nước hay không?
CLB Bất động sản Hà Nội cho biết sẵn sàng tranh luận công khai, sòng phẳng, khách quan trên cơ sở thực tế và khoa học, đến nơi đến chốn với TS Alan Phan về các vấn đề đã nêu.
(Tiền phong)

Xuất khẩu tài nguyên thô: “Ăn thịt” chính mình!

Hình minh họa
Xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản đã và đang mang về cho Việt Nam hàng chục tỉ đô la Mỹ mỗi năm. Nhưng, nhiều ý kiến cho rằng cách phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên thô chẳng khác gì “ăn thịt” chính mình.
Từ thô tới thô!
Chỉ trong vòng bảy năm, tính từ cuối năm 2005, sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam tăng gần 2,5 lần, cao su (thiên nhiên) xuất khẩu cũng tăng hai lần. Nhưng thành quả này cũng phải trả giá rất đắt, vì trong cùng thời gian đó, chỉ riêng ở khu vực Tây Nguyên 206.000 héc ta rừng đã biến mất.
Trong thập niên 80 của thế kỷ trước, xuất khẩu tài nguyên từng là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của Việt Nam. Giờ đây, tuy tỷ lệ doanh thu từ các mặt hàng khoáng sản chỉ còn chiếm khoảng một phần mười tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng Việt Nam vẫn là một nền kinh tế phát triển dựa vào tài nguyên.
Thật vậy, theo nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, công nghiệp khai khoáng đóng góp 10-11% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu các loại khoáng sản trên 9,6 tỉ đô la Mỹ, trong đó nhiều nhất vẫn là dầu thô (8,228 tỉ đô la Mỹ) và than đá (1,238 tỉ đô la Mỹ). Tuy nhiên, nếu tính cả giá trị của những ngành mà Việt Nam đã phải trả giá bằng chính những tài nguyên quý giá nhất (rừng, đất đai) để có được, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tài nguyên là rất lớn.
Cho đến nay, các nhà địa chất đã phát hiện được ở Việt Nam trên 5.000 điểm mỏ với 60 loại khoáng sản khác nhau, từ khoáng sản kim loại như: đồng, chì, kẽm, sắt, mangan, crom, titan, molybden, wolfram, thiếc, bauxite... cho đến các khoáng sản phi kim loại là nguyên liệu của ngành phân bón, vật liệu xây dựng, và khoáng sản năng lượng (dầu khí, than). Tuy nhiên, do phần lớn là khai thác, sơ chế rồi xuất khẩu dưới dạng thô, nên nó không có đóng góp gì đáng kể cho sự phát triển của các ngành công nghiệp.
Việc các cơ quan quản lý nhà nước ngó lơ cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản thô, thay vì lấy nguồn tài nguyên khoáng sản làm “mồi” để thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến, khiến cho Việt Nam mất dần cơ hội để phát triển những ngành công nghiệp quan trọng, những lĩnh vực phụ trợ có sức lan tỏa lớn.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2009-2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1-2,6 triệu tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) với điểm đến chủ yếu là Trung Quốc, và chỉ mang lại giá trị 130-230 triệu đô la Mỹ. Riêng năm 2012, lượng khoáng sản xuất đi có giảm, chỉ còn gần 800.000 tấn, bằng đường chính ngạch. Nếu cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số lượng còn lớn hơn nữa. Chẳng hạn như vào năm 2008, chỉ riêng xuất lậu quặng titan ước tính đã lên đến 200.000 tấn.
Ở một số lĩnh vực, và dưới sức ép của Chính phủ, doanh nghiệp khai khoáng cũng có “đầu tư vào khâu chế biến” để xuất khẩu, nhưng thực tế chỉ là “ít thô” hơn mà thôi. Ngay những cơ sở tinh luyện đồng, dù được một số doanh nghiệp giới thiệu là “công nghệ cao”, nhưng công nghệ ấy cũng chỉ làm được đồng có độ tinh khiết 99,9%, chưa đủ “sạch” so với yêu cầu chung của các ngành công nghiệp sử dụng đồng làm nguyên liệu, vốn chỉ sử dụng đồng tinh khiết đến 99,99%.
Lợi có đủ bù đắp thiệt hại!
Cho đến nay, khai thác tài nguyên để xuất khẩu vẫn là ngành kiếm được nhiều lợi nhuận, nhưng cái lợi đó chỉ chảy vào một nhóm nhỏ doanh nghiệp. Việc khai thác ồ ạt tài nguyên và khoáng sản để xuất khẩu khiến cho nền kinh tế đã, đang và sẽ tiếp tục phải trả giá trong nhiều năm nữa.
Trước hết là sự lãng phí. Tại hội thảo “Tài nguyên khoáng sản và sự phát triển bền vững ở Việt Nam” diễn ra vào cuối tháng 11-2011, các diễn giả đã đưa ra con số trên 2.000 doanh nghiệp với 4.218 giấy phép khai khoáng đã được cấp. Điều đáng nói ở đây là sự cấp phép dễ dãi, mà một số chuyên gia kinh tế cho là do nhóm lợi ích chi phối, cộng với sự “dễ dãi” cả về công nghệ khai thác, làm cho tài nguyên bị thất thoát rất lớn.
Chẳng hạn như thất thoát trong khai thác than hầm lò đến 40-60%; khai thác apatit tổn thất 26-43%; khai thác quặng kim loại tổn thất 15-20%... Ngoài ra, do các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến nguồn quặng chính, nên không tận thu được các khoáng sản đi kèm khác cũng như các quặng nghèo. Ví dụ, độ thu hồi vàng từ quặng chỉ được 30-40%.
Tiếp đến, việc các cơ quan quản lý nhà nước ngó lơ cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản thô, thay vì lấy nguồn tài nguyên khoáng sản làm “mồi” để thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến, khiến cho Việt Nam mất dần cơ hội để phát triển những ngành công nghiệp quan trọng, những lĩnh vực phụ trợ có sức lan tỏa lớn. Đây mới là thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế.
Hơn nữa, việc mở đường cho khai thác tài nguyên mà không gắn với phát triển công nghiệp chế biến còn đẩy nhanh tốc độ “chảy máu tài nguyên”. Khi các ngành công nghiệp nội địa phát triển thì tài nguyên cũng không còn. Công nghiệp chế biến gỗ là một ví dụ điển hình. Trong suốt thập niên 1980 và những năm đầu thập niên 1990, Việt Nam xuất khẩu ồ ạt nguyên liệu gỗ. Mỗi năm, hàng triệu mét khối gỗ tròn và gỗ xẻ đã được đưa xuống tàu để xuất khẩu. Giờ đây, khi ngành công nghiệp sản xuất đồ gỗ phát triển thì nguồn gỗ nội địa cũng không còn. Chúng ta cũng có thể tìm thấy một ví dụ tương tự đang xảy ra với ngành khai thác than.
Đáng ngại hơn, việc phát triển kinh tế dựa chủ yếu vào việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên thô còn làm triệt tiêu động lực phát triển khoa học công nghệ. Đây là sự khác biệt giữa những nền kinh tế nghèo tài nguyên, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore... và những nền kinh tế giàu tài nguyên như Nigeria, quốc gia đã kiếm được 350 tỉ đô la Mỹ từ xuất khẩu dầu thô từ năm 1965-2000 và giờ đây đang là một trong những nước nghèo của thế giới. Các nhà kinh tế gọi đó là lời nguyên tài nguyên, là “căn bệnh Hà Lan”.
Ở Việt Nam, “lời nguyền tài nguyên” rõ nét nhất có lẽ là ở lĩnh vực nông nghiệp. Để có sản lượng cà phê, cao su, tiêu, tôm... xuất khẩu tăng liên tục, chúng ta đã phải trả giá bằng hàng triệu héc ta rừng. Chỉ trong năm năm, 2006-2011, 124.000 héc ta rừng ngập mặn ven biển đã biến mất để nhường chỗ cho các ao tôm, ao cá, tương đương diện tích bị mất trong 63 năm trước đó.
Việc gia tăng sản lượng dựa vào tăng diện tích canh tác đã góp phần thủ tiêu động lực phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp (để tăng sản lượng thông qua tăng tăng suất).
Và, giờ đây chúng ta đang phải trả giá và sẽ còn phải trả giá nhiều hơn trong tương lai.
Tấn Đức
(TBKTSG)

Lời hứa của Thủ tướng đứng trước nguy cơ tổn thương

Lời hứa của Thủ tướng đứng trước nguy cơ tổn thương bởi sự “lời qua tiếng lại” ngày càng gia tăng giữa các bộ...
Hứa trước Quốc hội hồi tháng 10 năm ngoái, Thủ tướng có nói rằng Chính phủ sẽ đoàn kết nhất trí, hết lòng hết sức làm việc. Nhưng, lời hứa này, đang đứng trước nguy cơ tổn thương, bởi sự “lời qua tiếng lại” ngày càng gia tăng giữa các bộ.
Sự việc gần đây nhất, Ngân hàng Nhà nước đăng tải chính thức trên website của mình để bác bỏ phát ngôn của một thứ trưởng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong cuộc họp báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh dịch vụ và đầu tư ngày 26/3/2013, về gói tín dụng 30.000 tỷ đồng dành cho đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi, sự việc lẽ ra chỉ cần hai “nhà” ngồi lại với nhau là đủ, chứ không nhất thiết phải ầm ĩ như vậy.
Câu chuyện có hay không sự tranh chấp thực hiện số định danh cá nhân giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an cũng là đề tài khiến dư luận đang bàn tán râm ran.
Bộ Công an thì cho rằng “Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu quốc gia liên quan đến quản lý dân cư” do Bộ Tư pháp xây dựng có nhiều điểm trùng với Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia mà Bộ Công an đang triển khai. Còn Bộ Tư pháp thì khẳng định “làm từ gốc”.
Tỏ ra nhanh chân hơn, ngày 19/3, Bộ Tư pháp gửi thông báo rộng rãi cho giới truyền thông giới thiệu toàn bộ về đề án của bộ mình. Một thành viên trong ban soạn thảo đề án của Bộ Tư pháp nói: “Số định danh là số của Chính phủ nhưng Bộ Công an lại đang muốn làm theo hướng của riêng mình. Chúng tôi xây dựng đề án này theo chỉ đạo của Chính phủ để điều chỉnh việc Bộ Công an đang làm”.
Đi sau một bước, trả lời báo chí ngày 25/3, Thiếu tướng Trần Văn Vệ, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội (Tổng cục 7 - Bộ Công an) nhận định: “Việc trùng nhau này có thể dẫn đến lãng phí, tốn kém ngân sách”.
Được đẩy lên cao trào như vậy, nên khi Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Bộ Tư pháp) Ngô Hải Phan có “kết” lại rằng cả hai bộ Công an và Tư pháp cùng phối hợp thực hiện và sự phối hợp chặt chẽ giữa hai ngành Công an và Tư pháp theo tiến độ đề ra sẽ bảo đảm đến 2020, toàn bộ công dân nước ta đều có số định danh cá nhân, thì dư âm về sự “tranh giành” giữa hai bộ vẫn là khó phai.
Nổi tiếng với các phương án thu phí bất chấp sự phản ứng dữ dội từ dư luận, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng bỗng nhiên trở nên rất lắng nghe khi cho rằng “vì tiếp thu ý kiến của dân” nên ông quyết định rút lại đề xuất phạt xe không chính chủ.
Theo dự thảo Nghị định 71 được Bộ Giao thông Vận tải lấy ý kiến các ban ngành và người dân ngày 26/3, nội dung phạt chủ phương tiện không chuyển quyền sở hữu phương tiện đã được bãi bỏ. Mặc dù, trước đó, cả hai bộ Công an và Giao thông khi ngồi cùng nhau đều đã tỏ ra khá đồng thuận về quy định này.
Không giấu sự “tổn thương” khi trong chốc lát thành cô đơn như vậy, Bộ Công an thể hiện tinh thần quyết phạt. Kết quả là do không thống nhất được hai bộ Công an và Giao thông trong việc loại bỏ hay duy trì quy định xử phạt hành vi không sang tên đổi chủ cho phương tiện, nên dự thảo tờ trình Thủ tướng Chính phủ, ban soạn thảo đã đặt quy định này trong nhóm các vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

Về một lời hứa của Thủ tướng
Ngân hàng Nhà nước đăng tải chính thức trên website của mình để bác bỏ phát ngôn của một thứ trưởng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Lại có một “va chạm” khác. Chiếc mũ bảo hiểm đã không chỉ còn là chiếc mũ, khi ngày 14/3, Bộ Tư pháp ra thông cáo báo chí “bác” thông tư liên tịch giữa 4 bộ Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Công an, Giao thông - Vận tải đã ký.
Bộ Tư pháp dẫn giải rành mạch: Vừa qua liên Bộ Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Công an, Giao thông - Vận tải đã ký Thông tư liên tịch số 06 ngày 28/02/2013 quy định về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh và sử dụng mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy (sau đây gọi tắt là Thông tư số 06).
Sau khi ký Thông tư số 06, dư luận xã hội đã thể hiện việc không đồng tình với quy định “Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe đạp máy đội mũ bảo hiểm không phải mũ bảo hiểm quy định tại khoản 1 điều 3... khi tham gia giao thông sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ” (khoản 2 điều 10 Thông tư số 06)...
Sau khi khẳng định, quy định buộc người dân phải biết mũ thật, mũ giả và là căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính nêu ra tại Thông tư số 06 là thiếu thuyết phục, Bộ Tư pháp có cho biết đã chủ trì cuộc họp với các cơ quan, tổ chức có liên quan để thống nhất dừng phát hành Thông tư này. Bộ Tư pháp còn nêu rõ, tại cuộc họp đó, trong 4 bộ đã cùng tham gia đặt bút ký vào thông tư liên tịch, 3 bộ đều có đại diện đến dự, chỉ vắng đại diện Bộ Công an.
(Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Vụ giết người ở Vĩnh Yên: Chưa tìm thấy sự liên quan của con rể chủ tịch tỉnh

Mặc dù đã triệu tập nhiều lần đối với con rể của đương kim Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc nhưng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc cho rằng vẫn chưa tìm thấy mối liên hệ giữa ông này và các bị can trong vụ án mạng gây xôn xao tại Vĩnh Phúc cách đây hai tuần.
Trao đổi với báo chí chiều ngày 28.3, thượng tá Nguyễn Văn Việt - Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật từ xã hội Công an tỉnh Vĩnh Phúc cho biết, đến thời điểm hiện tại, không có bất cứ tài liệu nào liên quan đến các đối tượng khác ngoài 6 bị can đã bị bắt.
Như Thanh Niên Online đã thông tin, vào đêm 14 rạng sáng ngày 15.3, nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh (27 tuổi, ngụ ở P.Hội Hợp, TP.Vĩnh Yên) đã bị sát hại dã man.
Từ ngày 18.3 đến 21.3, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã lần lượt khởi tố, bắt tạm giam 4 tháng đối với các bị can về hành vi "giết người"; gồm: Phùng Mạnh Tuấn (21 tuổi, ở Tam Dương, Vĩnh Phúc); Phùng Đức Tú (tức Đen, 19 tuổi, trú ở Tam Dương); Nguyễn Văn Tính (16 tuổi, ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng); Nguyễn Văn Định (30 tuổi, trú Vĩnh Bảo, Hải Phòng) và Đặng Quốc Tú (33 tuổi; trú thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ) và  Nguyễn Văn Bính (ảnh, còn gọi là Bình "cong", 16 tuổi).
Nguyên nhân dẫn đến vụ án mạng, theo ông Việt, là do mâu thuẫn bột phát ngay tại quán ăn đêm hôm đó.
“Với những tài liệu của cơ quan điều tra, đến thời điểm hiện tại, có thể khẳng định không có tài liệu nào khác cho rằng vụ việc có những nguyên nhân sâu xa khác và những đối tượng khác ngoài 6 bị can đã bị bắt” - thượng tá Việt khẳng định.
Không phủ nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập ông Trần Khánh Dũng, con rể của đương kim Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc Phùng Quang Hùng, nhưng thượng tá Việt cho biết: “Việc triệu tập ai, triệu tập như thế nào là việc của cơ quan điều tra nhằm hoàn thành nhiệm vụ. Còn các thông tin khác, chúng tôi vẫn đang điều tra, xác minh nên chưa thể có câu trả lời cuối cùng. Ban giám đốc chỉ đạo chúng tôi tiến hành điều tra tới cùng vụ việc, xử lý theo đúng quy định của pháp luật”.
Được biết, các bị can bị đã bị bắt giữ là nhân viên của một công ty chuyên về lĩnh vực xây dựng do ông Dũng làm giám đốc.
(Thanh niên)

Sự đoàn kết hiệp đồng giữa các thế hệ trong cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước trên tầm chiến lược

Sự khác biệt, mâu thuẫn, xung đột giữa thế hệ già và trẻ là điều bình thường trong các xã hội dân chủ. Tình trạng thế hệ trẻ phục tùng thế hệ già chỉ là một dấu chỉ của sự trì trệ, bảo thủ trong các chế độ phong kiến và độc tài.
Việc lên tiếng của Nguyễn Đắc Kiên trong bài viết “Trách nhiệm với chữ ký” có phần phê phán thái độ của ông Nguyễn Đình Lộc và cả ông Nguyễn Huệ Chi sau vụ ông Lộc “lên Tivi” để nói về chuyện Kiến nghị 72 là một sự kiện đáng chú ý, một dấu chỉ của xã hội dân chủ bắt đầu trưởng thành. Chưa kể đến ý kiến của Nguyễn Đắc Kiên phê phán Tổng bí thư Nguyễn Phú trọng, dẫn đến phong trào Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do, nằm trong sự đối lập giữa người dân với nhà cầm quyền, việc sau này có thể nói diễn ra giữa những người đấu tranh cho dân chủ.
Các thanh niên “thế hệ chiến tranh” trước đây đã từng lên án những người đi trước là để lại cho họ một gia tài rách nát với chiến tranh tàn khốc, đất nước phân ly, tương lai mù mịt. Thế hệ trẻ hiện nay cũng có thể oán trách cha anh đã để lại cho họ một chế độ độc tài toàn trị mà từ nhỏ đến lớn họ bị tuyên truyền nhồi sọ, thui chột tinh thần sáng tạo và bị tước đoạt nhiều quyền tự do đáng ra họ phải được hưởng từ khi đất nước thống nhất. Có thể khi thế hệ này già đi, họ lại bị thế hệ kế tiếp phê phán vì chưa làm được gì nhiều cho tương lai và cũng để lại nhiều gánh nặng. Tất cả đều trải qua tuổi trẻ, tuổi già và nằm trong “gọng kềm lịch sử”.
Khi tuổi già đến, mọi người sẽ ngẫm nghĩ nhiều về quá khứ nhưng khi còn tuổi trẻ, hầu như chẳng ai bận tâm suy xét gì nhiều chuyện đã qua. Thế mạnh của tuổi trẻ là nhiệt huyết, trong sáng, dũng cảm, dám nghĩ dám làm. Thế mạnh của tuổi già là từng trải, khôn ngoan, trầm tĩnh và kinh nghiệm trong xử sự, giải quyết tình huống. Nhược điểm của tuổi trẻ là nông nổi, thiếu kinh nghiệm, dễ chán nản. Nhược điểm của tuổi già là bảo thủ, ích kỷ, hèn nhát. Những điều chung này ai cũng biết và dĩ nhiên có ngoại lệ cho cả già lẫn trẻ. Thời hiện đại với cuộc cách mạng về công nghệ thông tin đã tạo ra một tình thế mới cho việc tiếp cận thông tin, tri thức và giao tiếp xã hội, trong đó người trẻ nhanh nhạy và có khả năng tiếp thu, sử dụng nhanh hơn người lớn tuổi.
Trong tình hình hiện nay, việc đấu tranh dân chủ hóa đất nước bắt đầu từ những người lớn tuổi và những năm gần đây có sự tiếp sức của những người trẻ, càng ngày càng trẻ hơn. Sự hợp tác giữa các thế hệ là điều đáng mừng vì công cuộc khó khăn gai góc này đòi hỏi sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc nhưng cũng sẽ phát sinh những vấn đề cần có sự giải quyết khôn ngoan, hợp lý mà ý kiến của Nguyễn Đắc Kiên trong vụ việc nói trên và vô số bình luận trái chiều nhau trên mạng đã trở thành sự kiện cho nhiều người suy ngẫm.
Ý kiến của Nguyễn Đắc Kiên rất thẳng thắn, buộc những người lớn trong cuộc và mọi người nói chung phải suy nghĩ. Nhưng nếu những điều Kiên đề nghị được thực hiện (ấn định thời gian lấy chữ ký, lập đoàn đại biểu, yêu cầu chính quyền công khai trao đổi tranh luận) được thực hiện thì tình hình sẽ đi đến đâu? Nếu nhà cầm quyền vẫn lờ đi như lâu nay thì công việc tiếp theo sẽ là gì, hay cũng là những vụ việc phản ứng theo tình thế mà phía những người đấu tranh cho dân chủ chỉ chạy theo chứ không hề chủ động.
Một số người đã nói đến sự cần thiết của một chiến lược dài hạn cho cuộc đấu tranh nhưng cho đến nay ai đã làm được việc đó, với lộ trình rõ rệt, có chỗ cho mọi người trong cuộc đấu tranh? Thực tế có thể cũng đã có người, tổ chức đề ra được chiến lược như thế nhưng chưa tạo ra được sự chú ý hay đồng thuận trong đa số, trước hết là những người đấu tranh cho dân chủ vì nhiều lý do. Một trong những lý do là nhiều người bị hút vào những vụ việc có tính cách thời sự, gây chấn động, đôi khi nhỏ nhặt, mà quên đi chuyện đường dài. Mặt khác sự chia rẽ, óc kỳ thị, tính hẹp hòi, bảo thủ, kể cả sự kiêu ngạo vô lối đã làm cho người ta không những không chịu thừa nhận nhau mà còn kích bác, đả phá nhau. Trong khi đó những người cầm quyền của chế độ toàn trị lại có sẵn chiến lược dài hạn và những sách lược ngắn hạn, trung hạn để đối phó với sự nổi dậy của người dân. Việc sửa đổi Hiến pháp hiện nay là điều đã được chuẩn bị kỹ càng tuy họ vẫn bị bất ngờ trước một số phản ứng của người dân.
Thành phần thức tỉnh để đấu tranh cho dân chủ hiện nay là ai, chiếm bao nhiêu phần trăm dân số? Nổi bật là trí thức, văn nghệ sĩ, cựu đảng viên – quan chức và những người trẻ chiếm bao nhiêu phần trăm trong tầng lớp của họ? Chưa có sự thống kê chính thức nhưng nhìn thực tế e rằng còn quá ít. Và lực lượng đông đảo ủng hộ họ để khi cần có thể trở thành sức mạnh vật chất trong cuộc đấu tranh là ai, hàng ngàn, hàng vạn hay hàng triệu người, trên những địa bàn chiến lược nào? Chưa ai có hiểu biết cặn kẽ hoặc có thẩm quyền, ngoài những phỏng đoán mà phần lớn là chủ quan duy ý chí như đã từng được thực tiễn trắc nghiệm, để có thể khẳng định điều này. Chính vì thế cuộc đấu tranh hiện nay vẫn là một cuộc đấu chưa cân sức.
Tình hình như thế đòi hỏi một cuộc tổng duyệt và tập họp mọi thành phần có khả năng ủng hộ dân chủ để chuyển hóa chế độ độc tài toàn trị. Các thành phần này có quá khứ khác nhau, lợi ích cục bộ khác nhau, cách suy nghĩ và ứng xử khác nhau nhưng có cùng chung khát vọng tự do dân chủ và ước mơ đất nước hòa bình, phát triển. Tất cả sẽ tập hợp thành lực lượng, sức mạnh đích thực của dân tộc.
Thành phần, cá nhân nào cũng có nhược điểm nhất định. Nếu cứ vì nhược điểm mà tấn công lẫn nhau thay vì tấn công đối phương, chưa kể đến một số người chỉ chuyên “chửi cho sướng miệng” bất chấp lợi ích chung hoặc với mục đích gây chia rẽ, thì chuyện thành công chỉ là “nhiệm vụ bất khả thi”. Nếu ta đặt mình vào vị trí của người khác ta sẽ hành xử như thế nào trong tình huống đó hay cũng chỉ như thế và có khi còn tệ hơn. Một chút thiện vẫn hơn một chút ác, dĩ nhiên hơn toàn ác.
Cuộc tranh đấu hiện nay rõ ràng là chưa cân sức trong toàn cảnh mâu thuẫn lớn nhất của thời đại giữa nhân dân bị trị và chế độ độc tài toàn trị. Trong ngắn hạn và trung hạn, lực lượng dân chủ có thể vẫn còn ở trong thế yếu nhưng dài hạn, nếu biết dựa vào và khơi dậy sức mạnh của dân tộc, chắc chắn lực lượng dân chủ sẽ chiếm thượng phong và giành chiến thắng vì nhân dân không thể chấp nhận mãi sự đày đọa của một thiểu số độc tài. Trong viễn cảnh đó, sự đoàn kết hiệp đồng chiến đấu giữa các thế hệ để đấu tranh hiện nay nhất định cần một cương lĩnh có tầm chiến lược, trong đó có chỗ và cơ hội hành động cho mọi người khao khát tự do dân chủ, kể cả lối thoát cho những người cộng sản và Đảng Cộng sản để tránh một bi kịch lịch sử tiếp theo, chắc chắn sẽ có rất nhiều hận thù, máu và nước mắt.
28/3/2013
Tiêu Dao Bảo Cự
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Ai thực sự kiểm soát Biển Đông?

Vừa qua trong lúc đài truyền hình và báo chí Trung Quốc liên tục đưa tin về cuộc tập trận của Hạm đội Nam Hải tại Biển Đông thì phản ứng chính chính thức của Việt Nam vẫn yên lặng, duy chỉ có VTV như thường lệ phát tin dự báo thời tiết "trời quang mây tạnh tại cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa"... Người nghe không khỏi phân vân: Vậy ra, chỉ còn một việc có thể thực hiện trọn vẹn "quyền chủ quyền" mà không phải thỉnh thị báo cáo và chờ đợi sự phê duyêt của cấp cao nhất. Đó là dự báo thời tiết về Biển Đông bao gồm cả toàn bộ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Chỉ đến khi một số tàu cá của ngư dân miền Trung bị tàu Kiểm ngư vũ trang của TQ rượt đuổi, trong đó một tàu của Quảng Ngãi bị bắn cháy cabin, thì các kênh chính thức của Việt Nam mới lên tiếng. Sự lên tiếng này là muộm mằn và chưa đủ độ mạnh cần thiết. Đó là chưa nói sự lên tiếng đó có phần là để trấn an dư luận công chúng.
Khách quan mà nói, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà xảy ra các vụ rượt đuổi và bắn cháy tàu cá như vậy; toàn bộ đều nằm trong khuôn khổ của đợt tập trận của hải quân Trung Quốc tại Biển Đông. Xét về mọi phương diện, việc tập trận như vậy là vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Tường Sa, nơi mà cho đến nay chưa hề có nước nào công nhận là thuộc chủ quyền của Trung Quốc, và cả thế giới đều biết Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa  năm1974, rồi chiếm một số đảo tại Trường Sa năm1988. Do đó, có thể khẳng định mọi sự chiếm đóng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Biển Đông đều là phi pháp, và tàu bè Trung Quốc chỉ có một quyền hợp pháp duy nhất là "đi lại vô hại" trên Biển Đông mà thôi. Tuy nhiên lâu nay phía Trung Quốc cậy thế mạnh của nước lớn không những cho tập trận bừa bãi mà còn rất nhiều lần xâm hại tài sản và tính mạng của ngư dân Việt Nam, Philipine và các nước khác ven Biển Đông ngay bên trong những vùng ngư trường truyền thống của họ. Mọi việc làm của phía Trung Quốc đều nhằm mục đích thâm độc là "biến không thành có" để thiết lập quyền kiểm soát trên thực tế và tiến tới độc chiếm toàn bộ Biển Đông.

Một cảnh tập trận của Hạm đội Nam Hải  (ảnh của CCTV)
Nhận xét về âm mưu này của TQ,  một phân tích gia phương Tây mới đây nói như sau:
"Trung Quốc đang xây dựng vị trí bất khả thách thức của mình tại Hoàng Sa trong khi khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa thông qua việc tăng cường  sự có mặt  trên biển bằng các hạm đội hải quân và không quân.

So với thời kỳ mà sự chiếm đóng cụ thể tại các đảo có nghĩa là tất cả, thì  giờ đây TQ chuyển chiến lược sang cách thống trị bằng sức mạnh hàng hải".... "Họ sẽ có thể thống trị khu vực bất kể là đảo hay biển và điều này  sẽ cho phép họ tăng cường và bảo vệ bất cứ mọi nỗ lực nhằm khai thác dầu khí tại đây trong những năm tới”
.
Ông này còn nói thêm: “Chừng nào Việt Nam  chưa bố trí các trận địa tên lửa đạn đạo và tăng cường các  hệ thống ra đa dày đặc tại các đảo của mình, hoặc  hợp tác  thật chặt chẽ với Mĩ , thì TQ có thể tiếp tục với chiến lược nói trên”.
Tuy nhiên, về phần mình, do những lý do cố hửu,Việt Nam luôn đề cao ý thức tự kiềm chế tránh đụng độ với Trung Quốc. Với phương châm đó, mọi bước đi đều được thận trọng cân nhắc kĩ và quyết định từ cấp cao nhất của Việt Nam. Nhưng thực tế ngày càng  cho thấy thái độ kèm chế của phía Việt Nam thường không được phía Trung Quốc quý trọng, trái lại còn lợi dụng hoặc phản bội khiến Việt Nam ngày càng thất thế. Mới đây  Thiếu tướng về hưu Lê Văn Cương có đúc kết rằng Trung Quốc đã 5 lần phản bội Việt Nam, đó là những lần phản bội vô cùng tai hai mà người Việt Nam ai cũng biết. Tuy vậy người Trung Quốc chưa bao giờ chịu nhận lỗi trước người Việt Nam, kể cả vụ bắn cháy tàu cá mới đây nhất,NgườiPhát ngôn NG  Trung Quốc đã chính thức  lên tiếng biện minh đó là "hành động chính đáng"(!?). Nếu đã có một lần xin lỗi, đó là khi Mao Trạch Đông bày tỏ với Lãnh đạoViệt Nam thời kỳ còn là "môi hở răng lạnh"  lấy làm tiếc về ách đô hộ tàn bạo của các Vương triều phong kiến xưa kia. Nhưng đó chỉ là những lời tuyên truyền sáo rỗng như đã được minh chứng bằng 5 lần phản bội Việt Nam của bản thân ông ta và những kẻ kế vị sau này. Sống bên cạnh một cường quốc như Trung Quốc, không phải chỉ Việt Nam mà tất cả các nước xung quanh đều là nạn nhân của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán. Cậy sức mạnh và số đông, phía Trung Quốc không muốn "chơi theo luật" nhằm dẽ bề thao túng và chén ép từng nước nhỏ yếu hơn mình.

Một ngư dân VN trong khoang tàu bị Trung Quốc bắn cháy
Giờ đây người Việt Nam không khỏi chạnh lòng nhớ lại những "ngày xưa tươi đẹp" (happy old days) khi làm chủ biển đảo của mình và dân chài được tự do vươn khơi ra lộng quăng chài kéo lưới ... Nhưng bây giờ vừa mới dong buồm đã gặp "tàu lạ" ngay trước cửa! Chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi nhanh như kẻ cướp, mạnh như kẻ điên khùng, ngày đêm ráo riết lùng sục rượt đuổi cướp phá ngay bên trong vùng đặc quyền kinh tế, chứ không chỉ trong vùng ngư trường bao đời của cha ông để lại. Chúng lăm lăm vòi rồng, súng phun lửa và cả đại pháo để trấn áp những con thuyền đánh cá nhỏ nhoi bất chấp sinh mạng con người trên đó. Thực chất đó là những hành động khủng bố quốc tế trá hình bất chấp luật lệ quốc tế. Nhưng quốc tế thì tỏ ra bất lực trước một nước Trung Quốc tràn đầy khát khao bành trướng thế lực.Vậy đâu là sức mạnh của thời đại như chính người Việt Nam vẫn thường đề cao từ kinh nghiệm của chính mình? Phải chăng sức mạnh thời đại ngày nay nằm ở luật pháp quốc tế, điều mà Việt Nam có nhiều lợi thế nhưng chưa tận dụng? Phàm cái gì kẻ thù lo sợ, cái đó là điểm yếu của họ. Vậy muốn tránh chiến tranh nóng, Việt Nam cần phát huy đầy đủ lợi thế pháp lý của mình trước khi quá muộn. Hơn lúc nào hết, đây là lúc Việt Nam cần rút ra bài học từ quá khứ và kết hợp với những nhân tố mới của sức mạnh thời đại ./.
Trần Kinh Nghị 

Trung Quốc: Dàn đồng ca trơ trẽn chối tội bắn tàu cá Việt Nam

Dù bằng chứng về vụ tàu chiến Trung Quốc nổ súng vào tàu của ngư dân Việt Nam trên vùng biển Hoàng Sa đã rất rõ ràng và đầy đủ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cùng với giới truyền thông nước này vẫn ra sức chối tội bằng những tuyên bố tiền hậu bất nhất và ngang ngược.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lương Thanh Nghị cho biết, hôm 20/3 vừa qua, tàu cá mang số hiệu QNg 96382 TS của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi trong lúc đang hoạt động nghề cá bình thường tại ngư trường truyền thống thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị tàu Trung Quốc truy đuổi và nổ súng bắn cháy cabin.
Khi chiếc tàu QNg 96382 TS trở về đất liền, vụ việc đã được báo cáo và sau khi điều tra, xác minh thông tin chính xác, đến ngày 25/3 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm đến Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối sự việc nói trên đồng thời yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt các hành vi phi pháp, trái với công ước và luật pháp quốc tế, vi phạm DOC và phải bồi thường cho các ngư dân của Việt Nam.
Phản ứng với những lời tố cáo này của Bộ Ngoại giao Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã có những tuyên bố rất ngang ngược, thể hiện sự bất chấp đạo lý một cách trắng trợn khi cho rằng việc bắn tàu cá Việt Nam là ‘chính đáng và cần thiết’.
“Danh không chính” thì tất nhiên “ngôn sẽ không thuận” nên ngay trong các tuyên bố của mình, đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tự để lộ sự xảo trá khi lúc đầu lên tiếng phủ nhận sự việc, cho rằng phía Trung Quốc không gây ra các hư hại cho tàu cá của Việt Nam nhưng ngay sau đó Hồng Lỗi lại thừa nhận hành động trên và còn tuyên bố đây là hành động nhằm ‘dạy cho các ngư dân phải tránh xa’ vùng biển thuộc chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam, nhưng ông này cho rằng thuộc chủ quyền Trung Quốc.

Một trong 4 chiếc tàu cá của ngư dân Việt Nam bị tàu chiến Trung Quốc tấn công hôm 20/3. (Ảnh: Tân Hoa Xã)
Khi “nhạc trưởng” đã lên tiếng, theo thông lệ “dàn đồng ca” của giới truyền thông được sự hậu thuẫn của Bắc Kinh đã đồng loạt “cất lời”.
Điển hình nhất là Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV), nhật báo Quân Giải phóng (tờ báo của quân đội) và một loạt các cổng thông tin điện tử khác của nước này đã “nhại giọng” Bộ Ngoại giao Trung Quốc khi cho rằng Trung Quốc đã có hành động “hợp pháp và hợp lý” và tiếp tục phủ nhận việc nổ súng vào tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi dù chính người phát ngôn Hồng Lỗi đã thừa nhận trước đó.
“Việt Nam đã lên kế hoạch thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế bằng việc ‘đóng vai nạn nhân’”, Wu Shicun – giám đốc Viện nghiên cứu quốc gia về Biển Đông của Trung Quốc phát biểu trên tờ China Daily đồng thời tiếp tục luận điệu vu cáo ngư dân Việt Nam “xâm phạm trái phép” vào quần đảo Tây Sa (cách gọi của Trung Quốc về quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam).
Sự tiền hậu bất nhất này còn tiếp tục thể hiện ở việc lúc đầu phía Trung Quốc phủ nhận việc tàu chiến của họ đã có hành động bắt nạt các ngư dân của Việt Nam nhưng sau đó chính Bộ quốc phòng Trung Quốc buộc phải thừa nhận đã có nổ súng trong vụ đụng độ này. Sự thừa nhận này đã lập tức gây ra một làn sóng quan ngại trên khắp thế giới bởi việc một tàu chiến có vũ trang đầy đủ chủ động tấn công vào những ngư dân trong tay không một tấc sắt là hoàn toàn trái với đạo lý và luật pháp quốc tế.
Để chữa cháy cho lời thừa nhận “hớ” này, một quan chức hải quân Trung Quốc đã phát biểu với tờ Thời báo Hoàn cầu rằng “thực tế là tàu chiến của họ chỉ bắn pháo sáng lên không trung và 2 quả pháo ấy đã cháy hết”. Chưa hết, Thời báo Hoàn cầu và một số tờ báo khác của Trung Quốc đã vu cáo Việt Nam để bịt mắt dư luận trong nước của họ rằng “Việt Nam đã thêu dệt” ra câu chuyện này để bôi nhọ Trung Quốc.
Trên trang web của Bộ Quốc phòng, Trung Quốc còn tuyên bố rằng: “…Xuất phát từ việc bảo vệ đại cục trong mối quan hệ giữa quân đội hai nước Trung - Việt, tàu hải quân Trung Quốc từ trước đến nay chưa từng bắt giữ tàu cá Việt Nam”.
Vậy những lần tàu cá của ngư dân Việt Nam bị bắt giữ hàng tháng trời ở đảo Trụ Cẩu, bị tịch thu ngư cụ và hải sản đánh bắt được, bị cướp lương thực và nước ngọt (với đầy đủ video clip đang còn tồn tại trên mạng Internet) là do ai? Không lẽ là đám cướp biển giả dạng quân đội Trung Quốc? Và Hồng Lỗi cũng như Bộ Quốc phòng Trung Quốc sẽ trả lời thế nào với câu hỏi: Có bao giờ ngư dân của Trung Quốc tự đốt tàu của mình khi đang lênh đênh trên biển với hàng chục sinh mạng trên đó hay không?
Chỉ trong một thời gian ngắn, từ ban đầu là phủ nhận đến công nhận việc có nổ súng, sau đó là biện hộ rằng “chỉ bắn pháo sáng” rồi ngang nhiên tuyên bố đó là hành động “chính đáng và cần thiết”… chính Trung Quốc và giới truyền thông nước này đã tự thể hiện hành động nhằm mục đích “chối tội” và bào chữa cho hành động phi pháp, vô nhân tính của họ.
Nếu còn nhớ vụ tàu chiến Trung Quốc đã “khóa radar vào mục tiêu và sẵn sàng nổ súng” vào một tàu khu trục của Nhật Bản trong vùng biển Hoa Đông gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hồi cuối tháng 1 vừa qua, người ta sẽ thấy luận điệu chối tội và thói quen phát ngôn “tiền hậu bất nhất” của Trung Quốc đã không chỉ xảy ra một lần.
Khi đó, sau lời tố cáo của Nhật Bản, lúc đầu Trung Quốc cũng lên tiếng “chối bay chối biến” hành động được cho là có thái độ rất khiêu khích và hiếu chiến này va khẳng định “đó là những lời tố cáo vô căn cứ với ý đồ bôi nhọ hình ảnh của quân đội Trung Quốc và khiến công luận quốc tế hiểu lầm”. Đến khi Nhật Bản trưng bày đầy đủ các bằng chứng, một đại diện của Bộ Quốc phòng Trung Quốc cũng đã phải thừa nhận và thanh minh rằng “hành động này không được lên kế hoạch trước và là một quyết định khẩn cấp do thuyền trưởng của tàu đưa ra”.
Nhưng dù có cố tình “lượn lẹo” hay ngang ngược thì những hành động của Trung Quốc vẫn không thể che giấu được động cơ thâm độc của họ trước con mắt của cộng đồng quốc tế. Từ Washington, ngày 26/3, ông Patrick Ventrell, phó phát ngôn tạm quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ nói rằng nước này "quan ngại" khi nghe tin về vụ việc và Mỹ đang tìm hiểu các thông tin thêm.
"Chúng tôi cực lực phản đối việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực hay cưỡng ép của bất cứ bên nào để thúc đẩy tuyên bố chủ quyền của họ trên Biển Đông”, ông Ventrell nói. Ông bình luận rằng, vụ việc này cho thấy rất cần thiết phải có một bộ quy tắc ứng xử để xử lý các tranh chấp "một cách minh bạch và có nguyên tắc".
Bình luận về những hành động bắn cháy tàu cá của ngư dân Việt Nam, tổ chức tập trận đánh chiếm đảo hay rầm rộ kéo tàu chiến đến bãi đá James Shoal chỉ cách thành phố biển Bintulu của Malaysia có 80km, cách Brunei 200km, nhưng cách đất liền Trung Quốc tới 1.800km... rồi tuyên bố đó là “Cực Nam của lãnh hải Trung Quốc” “Chúng ta đang mất dần uy tín của mình với các đồng minh và bạn bè khi không tham gia vào vấn đề này. Trung Quốc diễn giải việc Mỹ không hành động có nghĩa là bật đèn xanh để nước này lấn tới”, ông Auslin nói trên tờ USA Today (Mỹ).
Lê Trí
(Infonet)

Nguyễn Chánh - Hãy "giải mã" bằng cách tôn trọng những người đã và đang hy sinh tranh đấu cho dân tộc

Thưa Ba,
Hà Sĩ Phu là ai vậy Ba? Tình cờ con thấy được T. K. T. trên Facebook, không ngờ nhà văn nhi đồng trước 75 này vẫn còn sống để viết về kỷ niệm cũ và chê xã hội bây giờ. Hay nhưng không tích cực như ông Hà này mà con đoán qua bài này là người miền Nam một thời "thân Cộng"?
Ba không bình luận nhưng con có cảm giác là Ba đồng ý với ông này. Con cũng thích và đồng ý với chủ trương "giải mã", nhưng thấy lý luận "Hai khử một" ngây thơ. Rõ ràng ông Hà, cũng như nhiều người khác, vẫn bị vướng mắt vào danh từ, vào hai chữ "Cộng sản" mà không thấy rằng "nguời đáng kính" của ông không được kính vì họ là tư bản hay Cộng sản mà vì trước hết họ là "người chân chính", là "thế hệ dấn thân" cho dân tộc.
Quan điểm này của con rất phổ thông trong thế giới tự do. Mỗi lần lái xe từ phi trường vô thủ đô trên Lee Highway con đều cảm thấy phục dân Mỹ. Là tướng cầm đầu quân miền Nam, Robert E. Lee làm cho Lincohn thất điên bát đảo. Không có một người nào trong lịch sử lại gây ra nhiều thảm trạng trên đất Mỹ như vậy. Và dĩ nhiên là chế độ nô lệ mà Lee phục vụ thì quá tệ. Nhưng dân Mỹ đã nhìn lại cuộc đời của ông, những dằn vặt trong quyết định bỏ Bắc về Nam để mà khâm phục và tôn trọng Lee, an American, not Lee a Confederate General. Lịch sử loài nguời, cả lịch sử VN, có nhiều nhân vật mâu thuẫn, khác chiến tuyến nhưng đếu "đáng kính" và "được kính". Ngày trước ở Đà Lạt, gần trường Võ Tánh là trường Bùi Thị Xuân, vợ Trần Quang Diệu là tướng Tây Sơn đã hạ thành Qui Nhơn, bức tử Võ Tánh, Ngô Tùng Châu. Ngày nay họ đều được coi là anh hùng dân tộc.
Nhưng lính tráng mọi nơi đều được huấn luyện phải phân biệt bạn thù, thiện ác rõ rệt giống như dạy con nít để bắn chém không run tay. Con có cảm tưởng là nền giáo dục Việt Nam (cũng như mấy ông cha, mấy ông mục sư ở đây) không tạo điều kiện để vượt qua cái tinh thần quân đội ấu trĩ đó. Chống Cộng hay theo Cộng, nguời Việt thường thương ghét rất rõ ràng, tuyệt đối và hay lý luận xà quành để rồi cuối cùng choảng nhau chỉ vì ngôn từ. Hà Sĩ Phu cũng không là ngoại lệ.
Muốn "giải mã" cho những đảng viên ông cho là đáng kính, Hà Sĩ Phu kêu họ phải hoàn toàn từ bỏ Cộng sản. Nếu không thí theo "quy luật Hai khử một" của ông, họ sẽ là "Bố mày, sao lưu manh thế" hay là "Bố mày, sao ngu dốt thế". Những người tự nhận là "Cộng sản chân chính" mà ông Hà cho là đáng kính thì cũng theo chính ông hoặc là quân lưu manh hoặc là dân ngu đần. Con đọc mà phải cười ra tiếng. Nếu không nghĩ là ông ta chắc thuộc thế hệ của Ba và là người vẫn có lòng với đất nước thì con đã chọc là "trí thức nửa mùa" rồi. Ông ham lý luận mà quên rằng ông kính họ vì họ là người có nhân cách và đã một thời dấn thân cho dân tộc và ông không chấp nhận đuợc là họ lại không cùng quan điểm, hay đúng hơn là không cùng danh từ với ông.
Con người chân chính không cần định nghĩa, sống gần là biết. Còn thế nào là người "Cộng sản chân chính"? Con cũng như Ba và rất nhiều người khác đều công nhận lý tưởng bình đẳng không giai cấp, làm tùy sức, hưởng tùy nhu cầu rất cao đẹp. Chỉ có điều là lý tưởng đó hơi không tưởng (theo con nghĩ) và phương pháp vô sản chuyên chính lại trái ngược với bản chất con người. Ngày nay những nước mang danh Cộng sản, Tàu, Việt Nam, Bắc Hàn đều khác xa với lý tưởng Cộng sản, thực chất không khác gì những tập đoàn độc tài lo trục lợi cá nhân của Marcos, Suharto, Saddam... những con người và chế độ "thoái hoá" đã từng một thời tàn sát dân họ trên danh nghĩa "chống Cộng". Thế thì người theo lý tưởng Cộng sản chống lại "Cộng sản thoái hoá" có gì thiếu lương thiện đâu. Và ai dám nói họ ngu mà không biết ngượng khi những nước Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy không đổ máu, không súng đạn mà xã hội càng lúc càng tiến gần tới lý tưởng Cộng sản một cách tự nhiên và dân chủ. Một trăm năm trước, ai dám nói rằng không cần bạo lực để chống lại tệ nạn xã hội. Dân trí thức nửa mùa ngày nay cũng khôi hài như mấy em sinh viên mới bập bễnh cơ học lương tử đã dám cười là Newton sai lầm. Newton sai thật, nhưng mấy em không đủ tài để chê. Người "Cộng sản chân chính" Việt Nam hôm nay có ai còn kêu gọi vô sản chuyên chính, hay quyết tiêu diệt người không cùng quan điểm không? Con nghĩ là không.
Vậy thì thay vì lý giải tào lao, hãy "giải mã" bằng cách tôn trọng những người đã và đang hy sinh tranh đấu cho dân tộc thay vì lo phè phỡn tư lợi cá nhân dù là họ ở phe nào. Sự bất đồng quan diểm và đường lối đưa đến những lựa chọn khác nhau mà người duy nhất có đủ tư cách sẽ không phải là đảng viên, là thầy tu, hay là giới trí thức mà là toàn dân, mỗi người một lá phiếu. Theo con đây chính là cách thực tiễn để "lấy đích dân chủ - độc lập - phú cường làm sợi dây liên kết" để cùng chống tham nhũng, chống bạo quyền thay vì tối ngày cãi vã vì những ngôn từ và khái niệm đã xa vời thực tế trong khi bọn vô liêm sỉ tiếp tục đào khoét.
Bất đồng quan điểm chính trị là chuyện thường, biết tôn trọng người có nhân cách và khí độ dù khác phe, khác quan điểm là chuyện thường ở những nước tiến bộ (Mỹ có vẻ hiện đang đi lùi ở đây) mà dân Việt Nam thường không có. Thay vì "lý" (một chiều và ngây thơ) nên dùng "lòng" mà những người có tư cách và tâm hồn ai cũng có thể cảm nhận để "giải mã". Thời Chiến tranh Vùng Vịnh lần đầu, con còn là sinh viên. Một bữa ngồi ăn đọc báo chung với mấy thằng bạn, cả Việt lẫn Mỹ. Trả lời phóng viên hỏi về tình hình quân đội Iraq, tướng Schwarzkofp trả lời là Saddam và bộ hạ sống trong nhung lụa, không có gì phải sợ như Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Tụi con tất cả đều khoái trá nói với mấy thằng Mỹ "Yup, don't mess with us". Ngay cả những đứa có người thân từng đi cải tạo và cuối tuần vẫn chạy xuống Santa Ana biểu tình chống Cộng cũng đã vô tình để tinh thần dân tộc lên trên những ý niệm chính trị ngu ngơ.
Chuyện chính là phải có được quyền bầu cử và quyền đối lập. Cộng sản, tư bản, cộng hoà, dân chủ, đảng xanh, đảng vàng gì cũng được... tự do chính trị là bước căn bản đầu tiên, là mục tiêu chung của những người "chân chính" mà mọi tập đoàn độc tài để tư lợi đều tìm mọi cách để cản trở. Tập trung chống lại chuyện đó, thay vì "chống Cộng" hay "theo Cộng" như nhũng tay đồ gàn lắm lý luận, thiếu thực chất.
Con hứng chí viết ào ạt nhưng tự tâm vẫn biết rằng mình sống thoải mái ở Mỹ, không có tư cách phê bình những người đang đứng mũi chịu sào, tranh đấu cho dân tộc. Chỉ tiết rằng "thế hệ dấn thân" nay đã là những ông già bà lão. Con không biết những Ngô Kha, Lê Khắc Cầm [hai trí thức “dấn thân” nổi tiếng ở Huế trước 1975; Ngô Kha là liệt sĩ – BVN] ngày nay để ngưỡng mộ. Không thấy có "thanh niên tranh đấu", "thanh niên phụng sự xã hội" nhưng thấy nhiều "thanh niên thời trang". Không trách họ được, nhưng con cũng không có nhiều hy vọng như Ba.
Đi Montréal về, tụi con sẽ thu xếp lên San Jose.
Con
Chánh
Nguyễn Chánh
(BVN)

Chủ tịch tỉnh Quảng Bình yêu cầu làm rõ thông tin mang 'sổ đỏ' Di sản Thế giới đi 'cầm cố' cho Trung quốc

Sau khi báo Tiền Phong đăng bài “Mang sổ đỏ di sản thế giới đi cầm cố”, ngày 28/3, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình Nguyễn Hữu Hoài đã có công văn hỏa tốc yêu cầu Ban quản lý Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha - Kẻ Bàng báo cáo sự việc.
Động Thiên Đường thuộc VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
            Ảnh: H.Nam
Động Thiên Đường thuộc VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
Ảnh: H.Nam.

Công văn cũng yêu cầu BQL VQG Phong Nha - Kẻ Bàng có biện pháp khắc phục, thu hồi những sổ đỏ mang đi cầm cố nhằm không làm mất hình ảnh cũng như thể diện của Di sản Thiên nhiên Thế giới của Phong Nha - kẻ Bàng.
Trong lúc đó, có thông tin từ nội bộ VQG Phong Nha - Kẻ Bàng cho biết, 11 sổ đỏ nói trên đang nằm trong tay của một công ty Trung Quốc. 
Ông Tạ Đình Hà - Trưởng phòng Nghiệp vụ Văn hóa (Sở VH-TT&DL Quảng Bình), cho biết: Nếu đúng như thông tin mà báo phản ánh thì BQL VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, mà cụ thể là ông Giám đốc Lưu Minh Thành, đã vi phạm nghiêm trọng Luật di sản văn hóa. 
Đất và rừng Phong Nha - Kẻ Bàng là đất di sản được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Mọi hoạt động trên vùng đất di sản như san lấp thay đổi hình dạng đất đai hay xây dựng công trình, khuôn viên đều phải báo cáo Bộ VH-TT&DL và nếu được Bộ đồng ý mới được thực hiện. 
(Tiền phong)
-----------------

Vụ cầm cố sổ đỏ Di sản Phong Nha-Kẻ Bàng: Sổ đỏ trong tay công ty Trung Quốc?
Thứ sáu, 29/03/2013, 07:58 (GMT+7)

(SGGP).- Liên quan đến việc ông Lưu Minh Thành, Giám đốc VQG Phong Nha-Kẻ Bàng cầm cố 11 sổ đỏ cho một cá nhân Trần Thị Trường (Nam Lý, Đồng Hới, Quảng Bình), ngày 28-3 một số cán bộ Hạt kiểm lâm Phong Nha-Kẻ Bàng cho biết, số sổ đỏ trên đã được trao tay cho một công ty nước ngoài chưa xác định tung tích.

Trong cuộc làm việc với PV Báo SGGP, bà Trần Thị Trường, người ký nhận 11 sổ đỏ, nói: “Hiện chạy dự án nên sổ đỏ di sản đã bàn giao cho một công ty Trung Quốc để kêu gọi vốn”. Thực chất của việc ông Lưu Minh Thành đưa sổ đỏ Di sản Phong Nha-Kẻ Bàng cho bà Trường với cam kết trong vòng 60 ngày, tính từ ngày 19-4-2011 phải có dự án, nhưng đã quá hạn nhiều năm mà bà Trường vẫn không hoàn trả 11 sổ đỏ. Làm việc với chúng tôi, bà Trường nói mình “quen biết” với nhiều lãnh đạo cấp cao, còn  lấy nhiều sổ đỏ từ tỉnh Nghệ An để chạy dự án bảo vệ hàng chục ngàn hécta rừng cho địa phương này.

Cùng ngày, trước thông tin Báo SGGP nêu, ông Nguyễn Hữu Hoài, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình đã ký văn bản hỏa tốc yêu cầu Ban quản lý VQG Phong Nha-Kẻ Bàng báo cáo sự việc và có biện pháp khắc phục hậu quả nhằm không ảnh hưởng đến hình ảnh di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO trao tặng.
(SGGP)

Trong một động thái bất ngờ, Việt Nam lấy ý kiến công dân về việc sửa đổi hiến pháp

Đổi lại, một nhóm 72 trí thức nổi bật tại Hà Nội bất ngờ công bố đề xuất hiến pháp của họ qua một phiên bản trực tuyến trên mạng Internet.
Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu 90 triệu công dân tại nước này đóng góp ý kiến ​​công khai về bản dự thảo hiến pháp, và sự kiện này đã dấy lên một loạt các bài phê bình công khai hiếm hoi từ các trí thức, cựu quan chức cũng như các nhóm xã hội dân sự.
Đối với một xã hội dân chủ thì đây là loại phản ứng bình thường nhưng trong một đất nước một đảng hạn chế các quyền tự do ngôn luận và bất đồng chính kiến​​ như Việt Nam thì điều này rõ ràng là rất bất thường.
Thời gian góp ý đã được đưa ra hồi tháng Giêng, khi chính phủ ban hành cuộc vận động kêu gọi cải cách hiến pháp lần đầu tiên kể từ năm 1992. Một nhóm 72 trí thức và các cựu quan chức nổi bật tại Việt Nam đã nhanh chóng công khai bản đề xuất hiến pháp riêng của họ qua mạng Internet – một động thái mà các nhà phân tích cho rằng đã làm Hà Nội bất ngờ.
Mặc dù các phản ứng của những nhà quan sát vẫn còn lẫn lộn nhưng hầu hết họ đều đồng ý rằng vẫn còn quá sớm để biết liệu những ý kiến phê bình đó có hiệu quả hay không.
“Những bản kiến nghị được nhiều người ký tên không phải là mới, nhưng việc này tái thể hiện lại các đề xuất trong quá khứ”, ông Carlyle Thayer, nhà phân tích chuyên về Việt Nam tại Đại học New South Wales ở Australia, cho biết qua một e-mail. “Điều thay đổi lớn nhất là mạng Internet và các trang blog được dùng để truyền tải những ý tưởng chính trị một cách nhanh chóng và rộng rãi hơn so với trước đây khi các tài liệu được in bằng máy rônêô. Một số đông đảo các cựu lãnh đạo trong đảng hiện nay cũng nhận thức được các đề xuất rằng cần phải thay đổi chính trị.
Nhóm này đang kêu gọi Việt Nam tổ chức các cuộc bầu cử dân chủ, truyền thông tự do, sở hữu đất đai tư nhân, và bản đề đề xuất hiến pháp của các trí thức cũng tấn công một điều khoản hiện hành [điều 4] đảm bảo quyền lực chính trị toàn diện dành cho Đảng Cộng sản. Những yêu cầu công khai như thế thường rất hiếm ở Việt Nam, điều mà những người bất đồng chính kiến ​​và các blogger thường xuyên bị kết án nhiều năm tù khi họ đề cập đến tự do về chính trị.
Bản kiến nghi cũng được đưa ra giữa thời điểm khi chính phủ đang phải vật lộn để duy trì tính hợp pháp của họ khi ngành ngân hàng và khủng hoảng cản mức trở tăng trưởng kinh tế tại nước này. Một số nhà đầu tư gần đây đã thất vọng về nền kinh tế Việt Nam, nước từng được xem là một trong những nền kinh tế triển vọng nhất tại châu Á, mặc dù xuất khẩu đã giúp bù đắp lại sự suy giảm trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài.
Hồi cuối tháng Hai vừa qua, bản kiến nghị của nhóm trí thức đã được nhiều người bình luận trên các trang blog tại Việt Nam, trong đó có một nhà báo lên tiếng chỉ trích cách Đảng xử lý quá trình sửa đổi hiến pháp trên blog cá nhân của ông. Sau đó tức khắc ông đã bị sa thải khỏi cơ quan báo nhà nước mà ông đang cộng tác. Việc sa thải chỉ gây thêm nhiều căng thẳng giữa lúc các nhà phê bình đang thúc đẩy chính phủ cải cách các chính sách chính trị.
“Bất kể kết quả lấy ý kiến [hiến pháp] như thế nào, đây là một bước tiến tới dân chủ và tự do,” nhà báo Nguyễn Đắc Kiên cho biết trong một e-mail.
Tuy nhiên, theo một chuyên gia tư vấn làm việc với các nhóm xã hội dân sự yêu cầu được giấu tên vì vấn đề chính trị nhạy cảm rằng họ đang âm thầm nắm bắt cơ hội để vận động chính phủ thay đổi thông qua các kênh chính thức.
Cô cho biết các nhóm này từ lâu đã ngần ngại việc công khai chỉ trích các chính sách của chính phủ, nhưng cuộc tranh luận về cải tổ hiến pháp trong thời gian gần đây đã mở ra không gian để họ thúc đẩy Quốc hội cải cách những vấn đề như giáo dục, lao động, di cư, HIV/AIDS, và nhiều vấn đề khác.
“Tôi không nghĩ rằng tất cả các điểm mà chúng tôi đưa ra sẽ được chấp nhận”, cô nói tại một quán cà phê ở Hà Nội. “Nhưng điều quan trọng là tham gia vào các cuộc thảo luận bởi vì tại thời điểm này quyền con người [tại Việt Nam] vẫn còn chưa thích đáng”.
Thời gian góp ý được dự kiến sẽ ​​kết thúc trong tháng này, nhưng gần đây chính phủ đã kéo dài thời hạn đến hết tháng Chín. Một nhà nghiên cứu tại Hà Nội chuyên về xã hội dân sự nói rằng trong khi các cuộc kêu gọi góp ý kiến đã mở ra không gian cho một số vận động ngày càng gia tăng của các nhóm này, tuy nhiên, việc này không bắt đầu đánh dấu bất kỳ sự cải cách đáng kể nào từ các lãnh đạo Việt Nam.
“Đây chỉ là lớp phấn bên ngoài”, theo lời của một nhà nghiên cứu – người yêu cầu giấu tên vì ông không muốn gây nguy hiểm cho công việc của ông. “Về các vấn đề cơ bản hơn như dân chủ và quân đội, chính sách đang ngày càng được thắt chặt hơn”.
Ông chỉ ra bản dự thảo hiến pháp mới đây bao gồm nhiều ngôn ngữ trong đó yêu cầu quân đội phải tiếp tục trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiến pháp hiện nay đòi hỏi [quân đội] trung thành với “Tổ quốc và nhân dân”.
Hà Nội, Việt Nam – 26 tháng 03, 2013
 
Hiền Trang chuyển ngữ, CTV Phía Trước
© Bản tiếng Việt Tạp chí Phía Trước

Sự thật 'bức điện tối mật' của Đại sứ Mỹ về Tướng Nguyễn Văn Hưởng (Kỳ 1)

Ngày 31/8/2011, BBC bản tiếng Việt đăng bài: “Tướng Hưởng than phiền về biển Đông”. Nội dung bài báo là đăng lại bức điện mật của Đại sứ Mỹ báo cáo về cuộc gặp của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng – Thứ trưởng Bộ Công an với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa kỳ – John Negroponte và Phó trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ – Scott Marciel vào ngày 11/9/2008, với sự tham gia của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak. 
 
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng trong một lần gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông Michael Michalak

Theo BBC thì nội dung bức điện là, trong cuộc gặp này, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đã trách Hoa Kỳ không đứng về phía Việt Nam trong vấn đề biển Đông.

Bức điện còn viết: “Ông Hưởng còn thể hiện ý kiến rằng an ninh khu vực, hòa bình và thịnh vượng không thể có được nếu như không có sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực này và nói thêm sự có mặt của Hoa Kỳ có thể điều phối quan hệ trong khu vực”.

Chúng tôi cũng có trong tay hai bức điện của Đại sứ quán Hoa Kỳ và thấy nội dung cuộc họp đã không được phản ánh trung thực, bởi lẽ Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng chưa hề có lời nào như thế (hoặc tương tự như thế), trong các cuộc gặp với John Negroponte và Scott Marciel cùng Đại sứ Michael Michalak.
 
Đại tá an ninh Nguyễn Như Phong, nguyên là Phó tổng biên tập Báo Công an Nhân dân, phụ trách chuyên đề An ninh thế giới tuần – là người được dự nhiều cuộc gặp giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với phái đoàn Hoa Kỳ, cũng rất ngạc nhiên trước sự việc này. Nay ông Phong hiện đang là Tổng Biên tập báo Năng lượng mới đã viết về sự thật của bức điện này để bạn đọc hiểu rõ sự thực về những cuộc gặp này và từ đó sẽ thấy được sự cắt xén nội dung bức điện nhằm “đổi trắng thay đen”, “thọc gậy bánh xe” của BBC. 
 
Được sự cho phép của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, báo Năng Lượng mới đã đăng tải nguyên văn biên bản cuộc đối thoại giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Negroponte, Phó trợ lý Ngoại trưởng Scott Marciel và Đại sứ Michael Michalak.

KỲ 1
Theo BBC thì nội dung bức điện là, trong cuộc gặp này, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đã trách Hoa Kỳ không đứng về phía Việt Nam trong vấn đề biển Đông. Bức điện còn viết: “Ông Hưởng còn thể hiện ý kiến rằng an ninh khu vực, hòa bình và thịnh vượng không thể có được nếu như không có sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực này và nói thêm sự có mặt của Hoa Kỳ có thể điều phối quan hệ trong khu vực”.
Chúng tôi cũng có trong tay hai bức điện của Đại sứ quán Hoa Kỳ và thấy nội dung cuộc họp đã không được phản ánh trung thực, bởi lẽ Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng chưa hề có lời nào như thế (hoặc tương tự như thế), trong các cuộc gặp với John Negroponte và Scott Marciel cùng Đại sứ Michael Michalak.
I. Cuộc gặp của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Mỹ John Negroponte.
Cuộc gặp được tổ chức vào ngày 11/9/2008 tại phòng khách Tổng cục An ninh, 15 Trần Bình Trọng, Hà Nội.
Tham dự cuộc họp về phía Việt Nam có các ông: Thứ trưởng Nguyễn Văn Hưởng; ông Tô Lâm, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh và một số cán bộ giúp việc khác. Phiên dịch cho phía Việt Nam là Phan Thanh Mỹ.
Về phía Hoa Kỳ gồm các ông: John Negroponte, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Mỹ; Scott Marciel, Phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Đông Á – Thái Bình Dương; Michael Michalak, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam; Brian Aggeler, Tham tán chính trị Sứ quán Mỹ; Monica Lam, Thư ký Đại sứ Mỹ; Vương Thanh, phiên dịch.

Sau những lời chào hỏi xã giao, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:
- Tôi biết ngài từng ở Sài Gòn khá lâu. Hôm nay gặp nhau, tôi muốn nghe chút tâm sự của ngài?
 Negroponte:
- Lần đầu tiên tôi trở lại Việt Nam kể từ năm 1973, cũng là một thời gian khá dài. Tôi có thời gian làm việc 4 năm ở Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn ngày xưa.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:
- Từ đó ngài đã có lần nào quay lại chưa?
Negroponte:
-Chưa, bây giờ quay lại Việt Nam tôi thấy điều kiện và hoàn cảnh đã khác nhiều. Cũng nhờ những nỗ lực của hai chính phủ, chúng ta đã gặt hái được những điều tốt đẹp.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:
- Tôi đồng ý. Tôi rất vui mừng được đón tiếp ngài tại Bộ Công an. Quan hệ tốt của hai nước đã tạo cơ hội cho các cơ quan có cơ hội cùng làm việc. Tôi cũng đã có cơ hội được đến thăm Hoa Kỳ 3 lần, được tiếp kiến ngài Tổng thống và phải nói thực rằng, đánh giá sự phát triển của hai nước chúng ta ngày càng toàn diện. Xin cảm ơn Đại sứ đã gửi tôi bức ảnh chụp với Tổng thống Bush. 
Tôi biết rằng ngài Thứ trưởng trong chuyến đi Việt Nam lần này giải quyết rất nhiều vấn đề trong quan hệ hai nước. Hôm nay Bộ Công an được tiếp ngài, hy vọng được nghe ý kiến của ngài về quan hệ với Bộ Công an.
Negroponte:
- Trước hết tôi thấy rằng hai quốc gia chúng ta còn nhiều lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp tục làm việc, công tác với nhau nhiều hơn. Tôi biết cách đây một tuần, cộng sự viên của chúng tôi, ông Kappes đã có dịp được làm việc với ngài. Ông Kappes với tôi có một thời gian dài được làm việc gần gũi với nhau, khi mà lúc đó đó tôi là Giám đốc tình báo quốc gia. 
Tôi là người thuyết phục ông Kappes trở lại làm việc cho chính phủ vì ông đó đã về hưu nhưng tôi thuyết phục thì ông ấy trở lại. Đấy là một trong những lĩnh vực mà chúng ta có thể hợp tác. Chúng tôi đã làm việc với ngài Bộ trưởng và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao để nói lên mong muốn của chúng tôi để những nhân viên của chúng tôi ở Tổng lãnh sự quán (TLSQ) Mỹ tại TPHCM có được những cơ hội để thực hiện công việc lãnh sự của họ sâu rộng ra
Bởi vì những sự việc tới hạn hiện tại họ đang gặp phải, họ có cơ hội nới rộng những dịch vụ lãnh sự ở những nơi tôi nghĩ họ nên có mặt ở đó. Tôi mong ngài hiểu rằng, tất cả những gì chúng tôi muốn làm hoàn toàn không có ý định giấu giếm trong công việc lãnh sự mà bổn phận chúng tôi phải làm. Việc này chúng tôi sẽ làm việc với Bộ Ngoại giao Việt Nam. 
Chúng tôi muốn nói với ngài là để tất cả nhân viên của Bộ Công an Việt Nam biết được sự di chuyển của nhân viên Hoa Kỳ khi họ thực hiện bổn phận của họ. Tôi nói với ngài để tỏ lòng biết ơn nếu trong tương lai ngài Đại sứ của chúng tôi có cơ hội được làm việc với ngài để giải nghĩa những chi tiết về những việc mà tôi vừa trình bày.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:
- Tôi rất hiểu ý nghĩa của việc TLSQ tiến hành công việc. Trong quan hệ của chúng ta ngày càng phát triển thì việc mở rộng các hoạt động, phạm vi của cơ quan đại diện các ngài thì  tới được các tỉnh, thành phố khác là cần thiết. Tôi thông báo cho ngài rằng, trong khi chưa hoạt động một cách chính thức thì các hoạt động của ngài Đại sứ và bộ phận khác vẫn bình thường, từ trước tới giờ, chúng tôi đã tạo điều kiện cho các ngài tốt và sẽ tiếp tục như vậy.
Chúng tôi cũng nói với ngài rằng, chúng tôi không coi hoạt động của nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đe dọa an ninh Việt Nam. Điều này tôi đã khẳng định với ngài Đại sứ trong một dịp làm việc cách đây khoảng một tháng. Tuy nhiên, chúng tôi có tính đến đặc điểm từng vùng miền. Đặc điểm vùng miền này là vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Khmer. Ở đây cũng có những mối quan hệ về đường biên giới, cho nên những bước mở rộng của chúng ta còn phụ thuộc vào những đặc điểm này và chúng ta phải tính toán những bước đi cho phù hợp.
Chúng tôi khẳng định trong những cái như vậy cũng không có trở ngại gì đối với nhân viên của ngài Đại sứ. Tóm lại, tôi rất ủng hộ ý kiến của Bộ Ngoại giao. Tôi ghi nhận ý kiến của ngài và sẽ có phản ứng tích cực.
Negroponte:
- Tôi có một điều muốn làm rõ, nếu tôi nói sai thì ngài Đại sứ sẽ sửa cho tôi. Trong việc lãnh sự, ví dụ như xảy ra tại Cà Mau thì hiện thời bây giờ nhân viên lãnh sự của Hoa Kỳ xuất phát từ Hà Nội phải đến Cà Mau làm việc, nhân viên của Hoa Kỳ tại TPHCM lại không được phép đến Cà Mau làm việc.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng (quay sang hỏi các cán bộ giúp việc):
- Có phải như thế không?
Một sĩ quan trả lời:
- Báo cáo anh, không hẳn là như thế. Đứng về mặt phạm vi thì đúng là theo quy định của hai bên thì phạm vi hoạt động lãnh sự của TLSQ tại TPHCM thì chỉ trong phạm vi đấy thôi. Cũng như TLS của ta ở San Francisco thì Hoa Kỳ cũng chỉ cho (hoạt động) trong phạm vi đấy thôi. Thế nên về mặt nguyên tắc thì khó nhưng trên thực tế ta vẫn tạo điều kiện cho họ đi.
Negroponte:
- Chúng tôi không giới hạn hoạt động của TLSQ Việt Nam tại San Francisco. Tôi nghĩ rằng, về việc này chúng ta cần phải có một cuộc đối thoại để có thể tìm được một giải đáp thực tế cho vấn đề này. Tôi chỉ đề nghị thế thôi.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:
-  Những vấn đề cụ thể tôi sẽ làm việc với ngài Đại sứ nhưng tôi nghĩ không có giới hạn nào. Tôi chưa thấy có việc nào Sứ quán phải cử nhân viên từ Hà Nội vào, tôi nghĩ các nhân viên của TLSQ tại TP HCM khi đi thì các ngài có thể thay mặt Đại sứ ở đây, không có gì cản trở. 
Chúng tôi sẽ kiểm tra lại, chúng tôi sẽ điều chỉnh. Tôi nghĩ ngài Đại sứ có thể ủy quyền TLSQ đi gặp. Sao phải từ ngoài này vào? Ngày hôm nay tôi mới được nghe thấy việc này. Tôi sẽ làm việc với ngài Đại sứ. Nếu đúng như vậy thì từ khi tôi gặp ngài Đại sứ, TLSQ có thể đi thay các ngài từ Hà Nội vào.
Negroponte:
- Rất vui mừng. Cảm ơn ngài.
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:
- Tôi nghĩ sau này có mở rộng phạm vi hoạt động thì đó chỉ là cái chính thức thôi, còn phạm vi hoạt động các ngài thì các ngài đại diện ở đây thì chúng tôi không hạn chế về việc đó.
Hôm nay có ngài Thứ trưởng ở đây cùng ngài Đại sứ, tôi cũng nói về việc hết sức là nội bộ quan hệ của chúng ta, một điều mà việc tiếp xúc địa phương ở Việt Nam, nhân viên của các ngài có nhiều vấn đề mà địa phương người ta phàn nàn. 
Tôi nhận được rất nhiều ý kiến của địa phương, người ta rất khen ngài Đại sứ trong thời gian vừa qua đã chịu khó xuống các tỉnh, thăm các nơi nghèo khó, thăm các trại mồ côi… 
Người ta rất trân trọng ngài Đại sứ về một số nghĩa cử. Thế nhưng một số nhân viên TLSQ Mỹ tại TP HCM gần đây thường hay gặp không chính thức rồi chính thức đối với những người mà địa phương cho rằng, đó là những người mà không tốt với chính quyền, hay nói thẳng ra đó là những kẻ chống đối. 
Tôi cho rằng những việc gặp như vậy sẽ không có lợi cho địa phương, làm cho những người có thái độ xấu không hợp tác với chính quyền, họ cho rằng phía Hoa Kỳ và Đại sứ ủng hộ họ. Điều này làm cho quan hệ giữa địa phương và TLSQ Hoa Kỳ tại TP HCM chưa được thân thiết. Nhân viên các ông thường xuyên gặp những người luôn có những hành động, việc làm chống đối chính quyền. 
Chúng tôi hiểu rằng việc đó sẽ giúp cho các ngài tìm hiểu thông tin, về khía cạnh này, khía cạnh khác cho nên phía Bộ Công an không có ý kiến gì về việc này. Thậm chí tôi có nói với ngài Đại sứ rằng có thể đi gặp thêm một số người nữa. 
Tôi nghĩ rằng, để giải quyết vấn đề này đôi khi các ngài ở TLSQ khi gặp thì nên thông báo cho chính quyền địa phương, những người này không liên quan gì đến TLS hoặc số nhân viên của phía Hoa Kỳ. Tôi nói về vấn đề này có tính chất xây dựng, làm thế nào để giúp cho địa phương và cơ quan lãnh sự có quan hệ tốt. Tôi cũng nói với ngài Thứ trưởng rằng, mặc dù như vậy nhưng mà các địa phương cũng không có hành vi gì cản trở các nhân viên ngoại giao làm việc cả. 
Đây là vấn đề nhạy cảm. 
Chừng mực nào đó thì một số cán bộ địa phương người ta nghĩ rằng các ngài đứng sau những người có hành vi chống đối. Chúng tôi muốn sau này, giữa cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ có đường thông tin chính thức với chúng tôi, có những hợp tác để giúp ích chúng tôi tìm hiểu thông tin về nhân sự. Gần đây, có một số trường hợp các ngài tự đi xác minh, tự đi tìm hiểu thì gây cho địa phương những thắc mắc. 
Trong quá trình hoạt động quan hệ thì vẫn còn có những tồn tại như vậy, chúng ta phải hợp tác làm thế nào để sự phối hợp đó được tốt; người ta tôn trọng cái quyền của địa phương người ta, chúng ta thì có những việc riêng và làm thế nào để chúng ta có những thông tin được tốt.
Đại sứ Michalak:
- Tôi khẳng định với ngài Thứ trưởng rằng, trong việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước chúng ta, nhất là quan hệ giữa Hoa Kỳ và dân tộc Việt Nam ngày càng tốt. Vì vậy nên những vấn đề quan tâm của tôi về TLSQ  cũng là những vấn đề mà chúng tôi thấy rằng chúng ta cần có sự hợp tác rất tốt, chúng ta tạo điều kiện cho những nhân viên của TLSQ và địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ của họ.
Negroponte:
- Vâng thưa ngài, tôi muốn nói với ngài một điều đầu tiên là nếu như ngài nghĩ lại và thấy rằng tất cả những chuyện gì xảy ra giữa mối quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam trong 8 năm qua, trong thời kỳ của Tổng thống Bush thì tôi cho rằng ngài sẽ đến một kết luận rằng mối quan hệ giữa hai nước chúng ta đã có những bước tiến rất tốt. 
Vâng thưa ngài, chúng tôi muốn nói rằng chúng tôi không có một chú ý nào trong cuộc gặp với người nào đó hoặc có chú ý nào đe dọa đến Việt Nam. Đã có những cuộc đối thoại giữa hai ngài Tổng thống và ngài Chủ tịch nước của hai quốc gia đã có những cuộc trao đổi rất nhiều từ các cấp của hai quốc gia, tại sao chúng ta lại biết rõ được những điều tốt xảy ra, chú ý nào đe dọa đến Việt Nam. 
Vâng, tất cả những hoạt động của chúng tôi đã xảy ra là vì chúng tôi muốn hiểu rõ thêm suy nghĩ của những người dân Việt Nam và đây có thể nói những khác biệt trong lịch sử, chính trị, hoặc là những quan điểm trong quá khứ giữa hai nước chúng ta nhưng chuyện đó không phải là quan trọng. 
Vâng, dựa theo tất cả những điều phát biểu của ngài, tôi thấy rằng, trong tương lai giữa ngài và ngài Đại sứ của chúng tôi ở đây sẽ phải gặp nhau thường xuyên hơn nữa để chúng ta có những dịp để mà bàn làm cho những việc hiện thời đã hữu ích rồi càng hữu ích thêm.
(Còn nữa) 
  (Ba cây gậy) 

Công an, dân quân nổ súng, đánh người quên đội MBH?

Phát hiện có người không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, công an và xã đội xã Trà Đa hăng máu xông vào công ty nọ nổ súng, đánh người, còng tay lôi về trụ sở xã... đánh tiếp.
Việc bé xé thành to
Theo trình bày của ông Trần Xuân Thắng và Lê Đình Kết (đều là nhân viên Công ty TNHH MTV Cường Thịnh Phát, trụ sở lô C5, KCN Trà Đa, TP. Pleiku, Gia Lai), khoảng 23h ngày 20-3, sau cuộc nhậu hai ông chạy xe máy về công ty mà không đội mũ bảo hiểm.
Phát hiện có đông người đuổi theo phía sau ông Thắng và ông Kết chạy vào nhà máy trốn. Bảo vệ Công ty là Trần Ngọc Sơn vớ cây rựa chạy ra nhưng phát hiện nhóm người đuổi theo là công an và dân quân tự vệ xã Trà Đa nên cũng vội bỏ hung khí chạy trốn.
Lúc này, ông Trần Xuân Cường - phó Giám đốc Cty vội can thiệp và hứa sẽ đưa nhân viên phạm luật lên công an xã tường trình vào sáng hôm sau. Bất ngờ nhóm “thi hành công vụ” rút súng ngắn ra, người khác thì lên đạn AR15 hướng nòng về phía ông Cường rồi dùng dùi cui và báng súng đập vỡ kính cửa, dùng súng bắn vào phòng bảo vệ rồi lôi Thắng, Sơn và Kết đang trốn ra đánh đấm liên hồi.
Mặc kệ ông Cường và các nhân viên quỳ lạy van xin, họ còng tay cả ba ông về trụ sở công an xã đánh tiếp. Mãi đến 2 giờ sáng 21/3, giám đốc Cty là ông Trần Xuân Thám đến xin mới chỉ bảo lãnh được Thắng ra. 4 giờ sáng, công an xã Trà Đa gọi Cty đến đưa Sơn đi cấp cứu. 7 rưỡi sáng Kết thất thểu về với thương tích đầy người. Cả ba đều phải cấp cứu ở bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai.

Thắng bị đánh chảy máu đầu
Thắng bị đánh chảy máu đầu.
Lạm dụng “thi hành công vụ”
Trao đổi với PV Tiền Phong về vụ việc xảy ra vào rạng sáng ngày 21/3 tại Cty TNHH MTV Cường Thịnh Phát, trụ sở tại KCN Trà Đa, TP Pleiku, ông Hồ Lý Thuyết - Bí thư Đảng ủy xã cho biết: tổ công tác hôm ấy gồm 9 công an và xã đội Trà Đa.
Ông Thuyết cũng cho rằng: Việc lực lượng công an và dân quân xã xâm nhập vào bên trong Công ty Cường Thịnh Phát là đụng đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân. Dù đi bắt tội phạm thì khi đụng chạm đến chỗ ở của công dân phải có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền là Công an, Viện Kiểm sát nhân dân TP. Pleiku. Đằng này chỉ là bắt giữ người vi phạm giao thông. Việc xã đội trưởng Nguyễn Thanh Lương tự ý sử dụng súng quân dụng vô nguyên tắc cần được tiếp tục xem xét.
Ông Lê Trọng Thủy - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự TP. Pleiku xác nhận : Ông Lương đã không báo cáo việc trưng dụng súng quân dụng với lãnh đạo Bộ chỉ huy để xin ý kiến chỉ đạo. Biên bản trưng dụng súng thì đến ngày 24/3 Xã đội Trà Đa mới gửi lên cho Bộ chỉ huy.
Công an TP. Pleiku đang điều tra làm rõ các vấn đề liên quan.
Hoàng Sơn
(Tiền phong) 

 Thành lập sư đoàn chống phản động


Số 01/2013/CV-F84           SƯ ĐOÀN CHỐNG PHẢN ĐỘNG - BINH ĐOÀN QUYẾT THẮNG.


                                                             CÔNG VĂN

(V/v vận động các fanpage lập event kêu gọi thành viên report một số trang phản động - với khẩu hiệu "cộng đồng mạng chung tay làm sạch facebook chào mừng ngày 26/3 và 30/4 - 1/5")

Kính gửi:
  • -Người dùng facebook.
  • -Ban admin các fanpage.
  • -Các đồng chí trong Mặt trận chống phản động.
Như các bạn đã biết, trên facebook từ lâu đã xuất hiện nhiều trang của các thành phần phản động với nội dung tuyên truyền chống phá Nhà nước, xuyên tạc các chủ trương chính sách của Đảng, tuyên truyền cho đa nguyên chính trị, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh, bóp méo sự thật.... Nguy hiểm hơn, lợi dụng tình hình chính trị và tình hình thế giới, những tranh chấp biển đảo, chúng chĩa mũi nhọn vào chính quyền để kích động nhân dân, rêu rao những luận điệu sai trái làm nhân dân mất niềm tin vào Đảng. Những luận điệu này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến một bộ phận người dùng facebook có nhận thức chính trị ko rõ ràng, hiểu sai căn bản của Chủ nghĩa xã hội, làm cho một bộ phận giới trẻ hiểu sai và có những hành vi quá khích chống chính quyền. Đặc biệt bằng tuyên truyền trên mạng chúng đã phát động nhiều cuộc biểu tình trái phép diễn ra ở Hà Nội và TP HCM. Hành động của những thế lực phản động này đe dọa đến An ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và làm thay đổi nhận thức một bộ phận giới trẻ theo hướng sai trái, dẫn tới dễ bị lôi kéo vi phạm pháp luật.
Sư đoàn chống phản động - Binh đoàn Quyết Thắng, phiên hiệu F84Q1 được lập ra để góp phần chống lại những thế lực phản động, tuyên truyền các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bẻ gẫy các luận điệu của bọn phản động đưa ra, giúp giới trẻ hiểu rõ âm mưu thâm độc của chúng và trang bị tư tưởng chính trị vững vàng cho một bộ phận còn chưa nhận thức rõ, trực tiếp đấu tranh chống phản động, theo dõi, cảm hóa giáo dục hoặc cô lập các phần tử phản động. Sư đoàn đã hoạt động được hơn 1 năm và là một bộ phận trong Mặt trận chống phản động bên cạnh nhiều đơn vị và các fanpage yêu nước khác.
Căn cứ thực tiễn, các biến động tình hình thế giới cũng như trong nước, các sự vụ xảy ra gần đây, nhất là nước ta đang phải đối mặt với Trung Quốc xâm lược biển đảo, trong nước đang có đợt sửa đổi Hiến pháp, lại gần đến ngày 30/4 - được nhiều kẻ thù của chế độ coi là ngày "quốc hận", bọn phản động chắc chắn sẽ có nhiều hoạt động gây kích động, tuyên truyền xuyên tạc và kêu gọi biểu tình. Xác định được rằng, căn cứ tuyên truyền trên mạng của chúng chính là các fanpage phản động mà page "Nhật ký yêu nước" ( http://www.facebook.com/nhatkyyeunuoc1) là một điển hình cùng nhiều page phản động khác. Nhiệm vụ khả thi nhất đặt ra là phải đánh sập các trang đó, tiêu diệt căn cứ tuyên truyền của chúng và cũng là cảnh tỉnh cho những bạn trẻ bị chúng lôi kéo lừa gạt. F84Q1 kêu gọi tất cả mọi người thực hiện những điều sau:
1. Hãy vào trang "Nhật ký yêu nước" theo link trên hoặc bất kì một trang phản động nào bạn biết, nhấn report, không nhấn like. Chia sẻ cho bạn bè vào report cùng.
2. Những ai là admin các page hãy tạo event từ nay đến hết ngày 30/4 kêu gọi thành viên page mình vào report các trang phản động. Sau đó, hãy vận động các page mà bạn của các bạn làm admin tạo event report những trang đó. Việc này sẽ tạo ra một hiệu ứng lan tỏa. Mục tiêu chính của chúng tôi lần này là trang "Nhật ký yêu nước" là trang đã tổ chức những cuộc biểu tình trái phép thời gian gần đây. Cần khoảng 400k report, rất khó khăn nhưng nếu cộng đồng mạng đoàn kết sẽ làm được!
3. Các page tăng cường tuyên truyền về truyền thống lịch sử dân tộc, về các chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là thời gian này sắp đến ngày thành lập Đoàn 26/3 và dịp 30/4 - 1/5. Kêu gọi các thành viên cảnh giác với các thế lực phản động và luận điệu xuyên tạc của chúng.
Chỉ cần bỏ ra 2 phút để report sau đó chia sẻ cho bạn bè cùng làm là bạn đã góp phần làm sạch cộng đồng mạng, chung tay chống bọn phản động. Hãy thể hiện mình là người có trách nhiệm với đất nước, và thể hiện sự đoàn kết của cộng đồng facebook Việt Nam trong hành động lần này.
F84Q1, cơ quan đại diện http://www.facebook.com/TruongSaHoangSalacuaVN
T/L Sư trưởng
Chủ nhiệm Chính trị
(Tập viết báo)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét