Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

Không thể thành Phù Đổng trong 9 năm!

Không thể thành Phù Đổng trong 9 năm! In Email
Thứ bảy, 23 Tháng 4 2011 08:44
http://www.topnews.in/healthcare/sites/default/files/human-height.jpg
Đọc báo thấy thủ tướng mới phê duyệt chiến lược phát triển chiều cao người Việt đến năm 2020.  Đây là vấn đề y tế công cộng, khá chuyên môn, nhưng chẳng hiểu sao phải cần đến thủ tướng.  Nhưng quan trọng hơn, tôi thấy lấn cấn về cơ sở khoa học của chiến lược này, và tính khả thi của dự án rất thấp. Tôi có lí do để nói rằng mục tiêu khó khả thi.

Cách đây 5 năm, Tổng cục Thể thao có một dự án nâng chiều cao người Việt tốn đến 444 tỉ đồng. Nhưng trong đề án đó có rất nhiều vấn đề về cơ sở khoa học và mục tiêu quá lãng mạn.  Mới đây, theo chiến lược do thủ tướng phê chuẩn, “Đến năm 2020, chiều cao trung bình của thanh niên sẽ từ 1,65m; tăng thêm 4 cm so với hiện nay, … tuổi thọ trung bình là 75 (hiện nay: 73).” Có ba vấn đề cần phải bàn trong chiến lược này: đó là tuổi thọ trung bình, chiều cao, và tính khả thi của chiến lược nâng cao chiều cao trong vòng 9 năm.
 Trước hết, chúng ta thử bàn về tuổi thọ trung bình. Từ số liệu trên, chúng ta có thể suy luận rằng tuổi thọ trung bình hiện nay là 73.  Con số này hợp lí không?
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thì tuổi thọ trung bình năm 2009 là 72.8 (nam 70.2 và nữ 75.6).  Như vậy, cũng có thể kì vọng năm nay, tuổi thọ trung bình là 73.

Nhưng năm 2009, tính toán của các chuyên gia UNDP cho thấy tuổi thọ trung bình của người Việt đã là 74.3 năm, đứng hàng 54 trên thế giới (xem nguồn ở đây).  Còn World Bank thì cho rằng tuổi thọ trung bình năm 2009 là 74.6.

So sánh hai nguồn thông tin trên cho thấy số liệu của Việt Nam thấp hơn ước tính của các chuyên gia quốc tế.  Chẳng biết phía nào tính toán đúng, nhưng tôi nghĩ các chuyên gia UNDP và World Bank có kinh nghiệm hơn.  Nếu tuổi thọ trung bình hiện nay là 74.6 thì chúng ta đã xấp xỉ tuổi 75 rồi!  Do đó, dự án có thể đã sai ngay từ giả định!  Đặt ra mục tiêu 75 tuổi cho 9 năm tới để làm gì?  Tại sao không đặt mục tiêu 78 tuổi ?

Vấn đề quan trọng hơn là giả định về chiều cao hiện nay. Cứ theo số liệu của dự án thì chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam hiện nay là 161 cm (chẳng biết cho nam hay nữ, nhưng hãy giả định là trung bình cho 2 giới).  Nhưng tôi nghĩ con số này không hợp lí.  Tôi kiểm tra lại số liệu chúng tôi (tức là tôi và đồng nghiệp trong nước) làm nghiên cứu ở Việt Nam tuổi từ 18 đến 30, chọn ngẫu nhiên từ các quận huyện, thì thấy như sau: Chiều cao trung bình ở nam giới: 170 cm (độ lệch chuẩn: 6.3 cm), nữ giới 156 cm (độ lệch chuẩn: 5.8 cm), và trung bình cho nam và nữ là 162 cm (độ lệch chuẩn: 9.2 cm).  Tức là, số liệu thực tế cho thấy chiều cao hiện nay đã cao hơn giả định của dự án!

Vấn đề kế tiếp là tính khả thi của việc tăng chiều cao. Từ nay đến năm 2020 chỉ 9 năm.  Trong vòng 9 năm, chúng ta có khả năng tăng chiều cao đến 4 cm không?  Dựa vào bằng chứng khoa học nào để đề ra chỉ tiêu như thế?  Chưa thấy văn bản dự án nên không thể bình luận được, nhưng dựa vào y văn từ Việt Nam và trên thế giới, tôi nghĩ rất khó hoàn thành mục tiêu tăng chiều cao.  Tôi nghĩ khó hoàn thành mục tiêu bởi vì y văn trong và ngoài nước cho thấy khó có thể tăng 4 cm trong vòng 10 năm.  Một số bằng chứng như sau:

  • Nghiên cứu của Viện dinh dưỡng [1] trên những người 16-60 tuổi cho thấy trong 30 năm 1976-2006, chiều cao ở nam tuổi từ 16-25 tăng 2.7 cm trên 10 năm.  Nói cách khác, cứ 10 năm thì chiều cao thanh niên Việt tăng 2.7 cm.  Thật ra, con số tăng này cũng đáng nghi ngờ, bởi vì tác giả chưa làm nghiên cứu prospective.
  • Trong thực tế, tỉ lệ tăng trưởng chắc còn thấp hơn.  Thật vậy, một nghiên cứu prospective ở Trung Quốc [2] cho thấy trong 3 thập niên, chiều cao thiếu niên Trung Quốc chỉ tăng 5.3 cm (thành thị) và 5 cm (nông thôn), tức khoảng 1.7 cm trên 10 năm.
  • Mới đây, một tổng quan khác của TJ Cole, người chuyên nghiên cứu chiều cao và cũng là chỗ quen biết của tôi, cho biết trong vòng 40 năm (1950 – 1990), chiều cao thanh niên Nhật chỉ tăng 4 cm.
  • Ở Mĩ, một nghiên cứu công phu có tên là Fels Study cho thấy sau 50 năm, chiều cao người Mĩ chỉ tăng 4.8 cm.  Do đó, với những dữ liệu trong y văn, tôi có lí do để đặt dấu hỏi về tính khả thi của chiến lược mà thủ tướng đã phê chuẩn.

Tóm lại những phân tích trên cho thấy mục tiêu tăng chiều cao trong 9 năm tới có lẽ rất khó khả thi, còn mục tiêu tăng tuổi thọ có cần thiết không khi mà chúng ta đang xấp xỉ mục tiêu đó.  Những thảo luận này làm tôi nhớ đến cách đây 5 năm, người ta có kế hoạch “Nâng cao tầm vóc và thể lực người Việt Nam” với kinh phí 444 tỉ đồng, và tôi có vài dòng bình luận.  Nay đọc bản tin này làm tôi nhớ chuyện xưa và phải nói một lần nữa, chúng ta không thể thành Phù đổng trong 9-10 năm được.  Không biết dự án mới này tốn bao nhiêu tiền của dân?   

Tham khảo:
[1] Nguyen Cong Khan, Ha Huy Tue, Le Bach Mai, Le Gia Vinh, Ha Huy Khoi. Secular trends in growth and nutritional status of Vietnamese adults in rural Red river delta after 30 years (1976-2006).  Asia Pac J Clin Nutr 2010;19:412-416.

[2] Xin-Nan Zong, Hui Li, Zong-Han Zhu. Secular trends in height and weight for healthy Han children aged 0–7 years in China, 1975–2005. Am  J Hum  Biol 2011 (in press).
[3] Tim J Cole. The secular trend in human physical growth: a biological view. Economics & Human Biology 2003; 1: 161-168.
Xem thêm: Không thể thành Phù Đổng trong 20 năm!
Ghi thêm:  Một bản tin chi tiết trên một trang web địa phương cung cấp thông tin cụ thể hơn.  Theo thông tin này thì đến năm 2020, chiều cao của nam đạt 167 cm và nữ 157 cm, nhưng không cho biết ở độ tuổi nào. Nếu là độ tuổi thanh niên thì chúng ta đã đạt rồi, cần gì đề ra mục tiêu?!  Nếu là toàn dân thì tính từ tuổi nào (chẳng lẽ tính từ lúc mới sinh ra?)  Kế đến là giả định nữ thấp hơn nam 10 cm là hoàn toàn sai. Không có cộng đồng dân số nào mà nữ thấp hơn nam đến 10 cm cả; trong thực tế mức độ khác biệt là 5 đến 7 cm mà thôi.  Chỉ những thông tin đơn giản này cũng cho thấy một dự án tốn nhiều tiền mà được xây dựng trên những cơ sở khoa học hết sức mong manh (nếu thật sự có cơ sở khoa học). Đó là chưa nói đến chiến lược và phương pháp can thiệp gì để nâng chiều cao của cả một dân số. Chẳng hiểu sao những dự án lớn của Nhà nước lúc nào cũng quá phiêu lưu và lãng mạn. 
nguon: http://nguyenvantuan.net/health/2-health/1248-khong-the-thanh-phu-dong-trong-9-nam

EVN lỗ 8.000 tỉ đồng: “Thượng đế” phải gánh

EVN lỗ 8.000 tỉ đồng: “Thượng đế” phải gánh

Thứ Sáu, 22/04/2011 22:55

Ông Đinh Quang Tri, Phó Tổng Giám đốc EVN, cho biết đối với khoản lỗ 8.000 tỉ đồng, đang chờ kết quả kiểm toán để phân bổ vào giá điện năm 2011

Ngày 22-4, Bộ Công Thương đã tổ chức họp báo về việc triển khai giá điện theo cơ chế thị trường. Theo Quyết định số 24/2011 của Thủ tướng Chính phủ, giá điện sẽ được điều chỉnh theo cơ chế thị trường kể từ ngày 1-6 và mỗi năm được tăng giá tối đa 4 lần.
Chưa chốt thời điểm tăng giá
Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết kể từ ngày 1-6, về nguyên tắc, giá điện được tăng tối đa 4 lần trong năm. Giá điện sẽ được điều chỉnh khi có biến động của các thông số đầu vào là giá nhiên liệu, tỉ giá, cơ cấu sản lượng điện phát. Khoảng cách tối thiểu giữa hai lần điều chỉnh liên tiếp là 3 tháng.
Trường hợp giá đầu vào biến động làm giá bán điện giảm từ 5% trở lên, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phải giảm giá bán điện ở mức tương ứng. Nếu giá điện tăng bằng hoặc hơn 5%, EVN được tăng giá 5% sau khi được Bộ Công Thương chấp thuận. Nếu giá điện cần thiết điều chỉnh ở mức trên 5%, EVN có trách nhiệm báo cáo liên bộ Tài chính – Công thương thẩm định và Bộ Công Thương có trách nhiệm trình Chính phủ phê duyệt.
Sửa chữa đường dây tải điện ở TPHCM. Ảnh: HỒNG THÚY 
Về cơ chế giám sát, kiểm tra để thực hiện việc điều chỉnh giá điện công khai minh bạch, hằng năm, EVN báo cáo liên bộ giá thành sản xuất kinh doanh điện của các khâu để liên bộ Tài chính – Công thương kiểm tra, xác nhận và quyết định việc điều chỉnh giá bán điện cũng như trích quỹ bình ổn giá. Trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương yêu cầu EVN tạm dừng việc tăng giá bán điện hoặc hiệu chỉnh cho lần điều chỉnh kế tiếp.
Đây là một trong những bước cần thiết để thực hiện lộ trình thị trường hóa ngành điện với 3 cấp độ: hình thành thị trường phát điện cạnh tranh (năm 2014); bán buôn điện cạnh tranh (từ năm 2014-2022) và bán lẻ cạnh tranh sau năm 2022. Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng nhấn mạnh: “Tại thời điểm này, chưa thể nói được giá điện có tăng vào ngày 1-6 hay không vì chưa đủ số liệu tính toán và chưa có thông tư hướng dẫn”.
Phân bổ lỗ vào giá điện
Một điểm mới trong cơ chế điều hành giá điện là Chính phủ cho phép hình thành quỹ bình ổn giá điện và các giải pháp khác để giảm thiểu tác động bất lợi tới ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội. Bà Nguyễn Thanh Hương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Giá (Bộ Tài chính), cho biết đây là vấn đề phức tạp vì điện không như mặt hàng khác.
 
Lắp đặt trạm biến áp trên đường Võ Văn Kiệt - TPHCM. Ảnh: TẤN THẠNH
Quỹ bình ổn được hình thành từ chi phí giá bán điện nên khi có trích quỹ, gi bán điện cao hơn. Do đó, chỉ khi nào xử lý hết các khoản “treo” của EVN, Bộ Tài chính mới quyết định trích lập quỹ và chưa thể xác định được thời điểm bắt đầu thực hiện.
Theo ông Đinh Quang Tri, Phó Tổng Giám đốc EVN, các khoản “treo” của EVN bao gồm khoản lỗ 8.000 tỉ đồng do phát điện giá cao năm 2011 và hơn 17.000 tỉ đồng do chênh lệch tỉ giá. Đối với khoản lỗ 8.000 tỉ đồng, đang chờ kết quả kiểm toán để phân bổ vào giá điện năm 2011.
Còn khoản chênh lệch tỉ giá 17.000 tỉ đồng đang chờ Bộ Tài chính cho phép trích dần thay vì hạch toán ngay để tránh làm đội giá điện lên cao. “Việc tăng giá điện theo cơ chế thị trường sẽ thận trọng, không thực hiện vào các thời điểm nhạy cảm để giảm thiểu tác động đến đời sống nhân dân và nền kinh tế” – ông Tri nói.
Tô Hà

Trách nhiệm của nhà nước và các cơ quan chức năng qua việc đình công tại Công ty Marumitsu

Trách nhiệm của nhà nước và các cơ quan chức năng qua việc đình công tại Công ty Marumitsu

BKL (22/04/2011) – Công ty Marumitsu là doanh nghiệp có 100% vốn của Nhật Bản, công nhân đã đồng loạt đình công biểu tình bất bạo động tại cửa công ty thuộc Khu công nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh, ngoại thành Hà Nội. Công nhân Công ty Marumitsu mà 98% là phụ nữ.  
Để giải quyết vấn đề đình công tại Công ty Marumitsu:
• Căn cứ : Thông tư Liên tịch Số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN
Trách nhiệm thi hành: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì cùng Sở Y tế và Liên đoàn Lao động các tỉnh, Người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này trong doanh nghiệp;
• Căn cứ: NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 195/CP NGÀY 31-12-1994 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI
Điều khoản thi hành: Điều 16.- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
• Nhận thấy:
1. Lương khg đủ sống – do không kìm chế được lạm phát – do ngoại tệ bị phá giá : thay đổi giá trị thì việc kéo theo đồng lương phải thay đổi là điều tất nhiên .
2. Năm lý do đình công còn lại, thuộc trách nhiệm của công đoàn. Công đoàn phải xem xét thấu đáo về nội quy, điều lệ của công ty này đã thực hiện ra sao? Tại sao có tình trạng vi phạm ? vi phạm từ thời điểm nào ?
3. Nếu thực tế có những việc xảy ra đúng như các công nhân nêu lên thì rõ ràng có rất nhiều sai phạm đã xảy ra công ty này. Các cơ quan chúc năng phải vào cuộc. không thể để tình trạng bỏ lửng không đoái hoài dến người lao động- cho dù có những bằng chứng nói lên sai phạm của công nhân (nếu có!)
4. Các cơ quan chức năng nhà nước phải giải quyết thấu đáo vấn đề về lương bổng – về diều kiện bảo hộ lao động – về những Áp lực công việc quá lớn và quá khắt khe. Có thật xảy ra hay không? Tai sao lại tồn tại được đến hôm nay những phi lý ấy???
5. Cơ quan y tế tại tỉnh phải làm rõ các trường hợp thai  lưu thai sảy … có liên quan đến điều kiện môi trường làm việc .
“Công nhân, họ đã gởi kiến nghị lên Ban Giám đốc Công ty đề nghị được giải quyết quyền lợi, nhưng công ty một mực không chấp nhận”  cho nên buộc họ phải đình công, biểu tình ôn hòa bất bạo động trước cửa công ty.- không thể chấp nhận chuyện vi phạm , chà đạp người lao động đến vậy. Cần phải làm rõ việc : ai đã ra lệnh từ chối không đáp ứng yêu cầu chính đáng của người lao động ỏ công ty này? Ít nhất họ phải chịu trách nhiệm về mặt hành chính đã là nguyên nhân để xảy ra bất ổn tại địa phương. Phải chịu trách nhiệm về việc vi phạm luật lao động – luật về an toàn lao động
“Ông chủ còn thuê công an cùng bọn lưu manh côn đồ cùng cảnh sát giao thông đến, dùng dùi cui điện và chĩa súng hù dọa công nhân, để bắt họ vào trong công ty và đánh đập một cách tàn nhẫn, làm mất hết tinh thần của công nhân.”
Sự việc này cần làm rõ, phía nạn nhân cần cung cấp bằng chứng, chứng cứ liên quan – hình ảnh vết tích,giấy y chứng – và các cơ quan chức năng sớm vào cuộc để bảo vệ và trả lại công bằng cho người lao động. Cần đưa ra ánh sáng, và truy cứu trách nhiệm kẻ nào đã đánh đập công nhân gây nên bức xúc trong cộng đồng
Không có văn bản nào quy định công ty này phải bóp hầu họng người lao động để lấy tiền cứu tế nạn nhân thiên tai tại Nhật. Do vậy, khi công ty còn hoạt động kinh doanh trên đất nước sở tại thì phải hoạt động và tuân theo luật sở tại là nước Việt Nam! Các cơ quan chức năng phải bảo vệ người lao động đến cùng.
Việc cứu giúp nạn nhân thiên tai tại Nhật , không phải chỉ là trách nhiệm của riêng người lao động tại các công ty này. Và cũng không phải là việc bắt buộc người lao động phải gánh vác.
Nếu muốn được giúp đỡ, công ty có thể làm đơn đề nghị nhà nước việt nam cứu xét miễn giảm thuế trong một thời hạn nhất định.
Mặt khác , cần phải thấy chỉ sau một vài thập niên , sức khỏe người lao động phải suy giảm-nên nếu phải lao động trong môi trường yếu kém càng làm sức khỏe công nhân càng kém – và gánh nặng sẽ xã hội sẽ đặt lên vai cộng đồng người dân , đó là vấn đề các cơ quan chức năng cần phải quan tâm hơn trong vai trò quản lý và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Đất nước ta giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc , sao có thể để xảy ra việc một công ty 100% vốn nước ngoài lại tự ý muốn hà khắc , đánh đập người lao động? lại muốn trả lương ra sao tùy thích , bât chấp pháp luật của nươc sở tại! Là một nước XÃ HỘI CHỦ NGHĨA mà 1 anh tư bản được tự tung tự tác ?
Cần phải làm rõ việc và xử lý hành chính người nào đã ra lệnh từ chối không đáp ứng yêu cầu chính đáng của người lao động ỏ công ty này? truy cứu trách nhiệm kẻ nào đã đánh đập công nhân gây nên bức xúc trong cộng đồng
DanQuevn09 (báo không lề)
Be the first to like this post.

5 Responses to Trách nhiệm của nhà nước và các cơ quan chức năng qua việc đình công tại Công ty Marumitsu

  1. Pingback: Trách nhiệm của nhà nước và các cơ quan chức năng qua việc đình công tại Công ty Marumitsu | dânlầmthan
  2. Người dân VN mình cũng như mấy thằng cha lãnh đạo tầm nhìn chỉ cần tiền, chịu thua thiệt để có tiền, đến khi thua thiệt quá mới lên tiếng khi đó xem và ngẫm lại mình thấy mình ngố, nếu như không muốn nói trình độ văn hóa ngắn.
  3. Đó là ….. Công nông là nồng cốt xây dựng cái …CNXH đó mà
  4. Sao lai lao the ha?CA la canh tay phai cua dang,”chi biet con dang con minh” ma dang la dang cua giai cap cong nhan .Ong chu nao lai thue CA , cung voi bon luu manh ,con do, danh dap ,hu doa bat nhot cong nhan .The thi CA cua dang va luu manh,con do la cung mot loai nhu nhau a .The thi dang CSVM quang vinh muon nam tro thanh dang cuop a .Dung co ma lao nhe .
  5. Chấp nhận “tư tưởng nô lệ” để kiếm được đồng tiền, đã ăn vào não trang của lãnh đạo công đoàn , chính quyền rồi, vì sao ta hãy dọc đoạn này của một ông tự ứng cử đại biểu quốc hội gần đây là ô.Hoàng Hữu Phước ( GĐ công ty tư nhân VN ): Vua quang Trung sau khi đánh thắng quân thanh đã sang trung quốc quỳ xuống ôm gối vua nhà Thanh để ……giữ độc lập (?)
    Thật hết biết, nhục nhả đến nhường đó mà cũng muốn làm đại biểu QH .

Nên nêu vấn đề biên giới với TT Nguyễn Tấn Dũng?

Nên nêu vấn đề biên giới với TT Nguyễn Tấn Dũng?

2011-04-22
Quan hệ hợp tác song phương giữa Campuchia-Việt Nam ngày càng bền chặt, kinh tế, thương mại hàng hóa giữa hai nước trong những năm gần đây luôn ở trạng thái xuất siêu với mức thặng dư ngày càng lớn.
Photo by Quốc Việt
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị phát triển khu vực tam giác CLV tại Campuchia ngày 16/11/2010.
Người dân xứ Chùa Tháp có suy nghĩ gì về vấn đề quan hệ hợp tác lĩnh vực biên giới, kinh tế và thương mại nhân chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại nước này?

Biên giới và thương mại

Đảng đối lập Sam Rainsy kêu gọi chính phủ nêu vấn đề biên giới, kinh tế, thương mại bất bình đẳng với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nhân ông này dẫn đầu đoàn Việt Nam thăm làm việc tại Campuchia và đến khai trương trụ sở chứng khoán Campuchia-Việt Nam. Ông Dũng và Thủ tướng Hun Sen sẽ đồng chủ trì Hội nghị xúc tiến đầu tư Campuchia-Việt Nam lần thứ 2 từ ngày 23-24/4.
Phát ngôn viên đảng Sam Rainsy Yim Sovann nói rằng, các cơ chế hợp tác giữa Campuchia-Việt Nam như Ủy ban hỗn hợp Campuchia-Việt Nam về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật; Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới Campuchia-Việt Nam…, các cơ chế này đều bất bình đẳng vì Việt Nam là nước phát triển, đồng thời là nước từng quản lý Campuchia trong thập niên 80 cho nên bằng mọi cách Việt Nam phải gây áp lực lên chính phủ của ông Hun Sen.
Ông nói rằng, hai vấn đề lớn cần phải nêu trước ông Dũng và cần được giải quyết là vấn đề biên giới và kinh tế, thương mại. Phía Việt Nam đang hối thúc Campuchia hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên bộ trong năm 2012, nhưng chính phủ nước này vẫn chưa thể hiện sự tôn trọng chủ quyền Campuchia. Thực tế, cột mốc biên giới ở các tỉnh Kampong Cham, Svay Riêng, Takeo và một số tỉnh khác giáp các tỉnh Việt Nam đều cắm lên đất dân một cách bừa bãi.
Hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam quá nhiều, đã làm ảnh hưởng khá mạnh đến thị trường kinh tế, đời sống của dân.
Ông Yim Sovann
Ông Yim Sovann nhấn mạnh, nếu hoạt động cắm mốc này vẫn tiếp tục, có nghĩa là chính phủ Việt Nam không tôn trọng chủ quyền Campuchia. Campuchia cũng không nên hợp tác với một đối tác có hoài bão xâm chiếm lãnh thổ của mình. Do đó, để hai bên hợp tác có lợi, Việt Nam cần phải tôn trọng các Hiệp ước, Hiến Pháp liên quan biên giới lãnh thổ.
Phát ngôn viên đảng đối lập còn khẳng định, quan hệ thương mại hàng hóa giữa Campuchia-Việt Nam cũng nằm trong tình trạng báo động. Tốc độ nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường Campuchia liên tục tăng trưởng. Các mặt hàng nhập khẩu chính của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn là xăng dầu, sắt thép, sản phẩm từ sắt thép, sản phẩm dệt may, sản phẩm hóa chất, phương tiện vận tải và phụ tùng và hàng hóa thủy sản…Còn phía Campuchia xuất khẩu sang Việt Nam chỉ có Cao su, gỗ và sản phẩm gỗ, nguyên phụ liệu thuốc lá và một số sản phẩm từ kim loại thường khác.
Ông Yim Sovann nhấn mạnh,“chúng ta phải làm thế nào để cân bằng hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu. "Hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam quá nhiều, đã làm ảnh hưởng khá mạnh đến thị trường kinh tế, đời sống của dân. Tôi khuyến khích chính phủ xây dựng xí nghiệp, công ty sản xuất, còn tốt hơn tăng mức nhập siêu từ các nước láng giềng. Nếu hàng hóa xuất nhập khẩu của hai nước được cân bằng, thì nó vừa có lợi cho nền kinh tế, vừa có lợi cho chính trị.”
Theo thông cáo báo chí của bộ Ngoại giao và hợp tác quốc tế Campuchia, ông Dũng sẽ tới sân bay Phnom Penh quốc tế vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 23-4. Sau đó, ông sẽ hội kiến cựu Quốc Vương Norodom Sihanouk; Chủ tịch Thượng nghị viện Chea Sim; Thủ tướng Hun Sen và gặp quyền Chủ tịch Quốc hội Ngoun Nhel.
Quyền Chủ tịch Quốc hội Ngoun Nhel cho Đài Á Châu Tự Do biết rằng, chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhằm tăng cường hợp tác và củng cố mối quan hệ láng giềng. Do đó, hai bên sẽ không bàn tới những vấn đề yêu cầu này.

Việt - Miên tuy hai mà một?

ntd-250.jpg
Cộng đồng người Việt sống tại Campuchia. Photo by Quốc Việt
Số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam cho thấy quan hệ thương mại hàng hóa giữa Campuchia và Việt Nam trong những năm gần đây luôn ở trạng thái nhập siêu ngày càng lớn. Cụ thể, trong năm 2006 tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu giữa Campuchia và Việt Nam đạt 934,6 triệu USD, trong đó Việt Nam nhập khẩu vào Campuchia là 765 triệu USD, Campuchia xuất khẩu sang Việt Nam là 170 triệu USD và thặng dư thương mại của Việt Nam là 595 triệu USD.
Campuchia là thị trường nhập khẩu đứng vị trí thứ 4 của các doanh nghiệp Việt Nam và là thị trường thứ 7 xuất khẩu hàng hóa sang Việt Nam. Số liệu sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy kim ngạch xuất nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2011 với Campuchia là 626,4 triệu USD, tăng 45% so với cùng kỳ năm 2009; trong đó Việt Nam nhập khẩu vào Campuchia là 498,4 triệu, tăng 44,3%. Còn Campuchia xuất khẩu sang Việt Nam là 127,9 triệu USD, tăng 47,7%.
Ông Lê Hoàng, người Việt sống tại xứ Chùa Tháp bày tỏ xung quanh vấn đề này rằng, chuyến thăm và làm việc của ông Dũng sẽ không giúp gì cho hơn một triệu người Việt sinh sống tại xứ này. Ông này sang Campuchia để củng cố quyền lực và kết nối chế độ Cộng sản. Ông Hoàng bày tỏ:
“Em thấy đâu có lợi gì đâu. Nói chung Việt Nam-Campuchia như một thôi. Họ qua đây để kết nối cho nó chặt thêm, họ bảo vệ chế độ cho nó cứng thêm chứ gì vì thấy tình hình không tốt giữa Thái và Campuchia đánh nhau đó. Con mắt người thường, thì nhìn Campuchia-Việt Nam là hai nước, còn con mắt của anh em mình thì chỉ nhìn một nước thôi, không hai đâu. Cách thức họ qua đây, họ có chỗ yếu nào để bảo vệ cho chế độ họ. Họ kết nối Việt Nam-Campuchia như là một. Em thấy, cái đó bất lợi cho dân chủ.”
Con mắt người thường, thì nhìn Campuchia-Việt Nam là hai nước, còn con mắt của anh em mình thì chỉ nhìn một nước thôi, không hai đâu.
Ông Lê Hoàng - Campuchia
Còn liên quan vấn đề kinh tế, thương mại, ông Lê Hoàng có nhận định: “theo em thấy đất nước Campuchia lệ thuộc Việt Nam. Không có ai giúp không đâu. Cũng như kinh tế, chủ đầu tư ở đây đều là những người Việt Nam quản lý hết. Họ học tiếng Campuchia, nhưng không phải là Campuchia. Thực chất em thấy rất rõ. Những người tới đây chùm người đầu não, tỷ phú, là người có tiếng như ông Sok Kung, thật ra nguồn gốc của ông này là người Việt Nam chính hiệu luôn. Còn hình thức họ kêu mở cửa thị trường, đầu tư, họ kêu gọi dân chủ chỉ là hình thức họ che lấp vỏ bên ngoài.”
Campuchia và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 24-6-1967. Từ đó, các nhà trí thức Campuchia trong và ngoài nước luôn lên tiếng quan hệ này là mối đe dọa số phận xứ Chùa Tháp vì người Campuchia không hiểu rõ chiến lược Việt Nam, chính phủ Việt Nam biết tổ chức quản lý dân thường và các nhà hoạt động chính trị một cách có hệ thống.

Thực trạng đất nước và những vấn đề nổi cộm trước mắt

nguon:


Thực trạng đất nước và những

vấn đề nổi cộm trước mắt

Nguyễn Trọng Vĩnh
Hòa bình được lập lại trên đất nước ta đã hơn 30 năm. Trong thời gian ấy các nước xung quanh ta phát triển rất mạnh và phồn vinh, từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan, v.v.
Nước ta, trong thời gian qua cũng đạt được một số thành tựu, như: xây dựng được hệ thống đường sá, cầu cống trên toàn quốc (tuy chất lượng chưa cao, nơi này nơi khác có hư hỏng lún sụt); mở rộng và nâng cấp một số sân bay, bến cảng; xây thêm được một số công trình thủy điện trọng yếu; phát triển được ngành dầu khí; có một số khu công nghiệp hoạt động tương đối có hiệu quả; xuất khẩu được khối lượng gạo lớn và số lượng nông, thủy sản quan trọng; bộ mặt các thành thị được nâng cấp, chỉnh trang phong quang, khởi sắc hơn; xóa đói giảm nghèo có kết quả nhất định; hoạt động ngoại giao năng động, vị thế quốc tế của nước ta được nâng cao; GDP hàng năm tăng với tỷ lệ có vẻ đáng kể, nhưng xét về nhân tố cấu thành và đi lên từ cơ sở xuất phát thấp nên giá trị thực không mấy.
Cùng trong bối cảnh quốc tế ấy, nước ta vẫn tụt hậu xa so với các nước xung quanh. Không những thế, tình hình nước ta còn rất nhiều điều đáng lo ngại và bức xúc:
1. Ngoài việc lấy đất để phát triển giao thông, mở các khu công nghiệp là cần thiết, còn thì do thu hút đầu tư địa ốc quá nhiều, xung quanh nhiều khu đô thị mới quá nóng, mở hàng trăm sân gôn, nên mất rất nhiều ruộng đất. Do người ta xây nhiều đập trên thượng nguồn sông Mêkông, có thể sẽ xây đập thủy điện Sayaburi (đang bàn thảo), và cũng do biến đổi khí hậu, tương lai đồng bằng sông Cửu Long Nam Bộ sẽ thiếu nước ngọt, nhiễm mặn, không có lượng phù sa, “vựa lúa” của chúng ta không còn dồi dào như hiện nay, chúng ta sẽ đối mặt với nguy cơ mất an ninh lương thực nếu còn phung phí ruộng đất canh tác của mình.
2. Lâm tặc và đầu nậu gỗ phá rừng vô tội vạ không kiểm soát và ngăn chặn được, lại do phá rừng trồng cà phê, làm rẫy, cho thuê hàng ngàn hecta rừng ven biên giới hàng 50 năm, người thuê cố nhiên cũng tự do phá, nên rừng mất quá nhiều, lũ lụt nghiêm trọng, khô hạn thất thường, hàng triệu dân khốn khổ, nên nếu không có biện pháp kiên quyết giữ rừng, và nếu lại khăng khăng làm đường sắt cao tốc vốn chưa có nhu cầu thực tế (và không chịu nghe biểu quyết bác bỏ của Quốc hội), thì sẽ phải phá bao nhiêu rừng nữa, tai họa sẽ còn thảm khốc đến thế nào?
3. Về quan hệ với Trung Quốc:
Trước sau ta luôn chủ trương “hữu nghị với Trung Quốc trên tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào nội bộ nhau, hợp tác cùng có lợi”. Thực tâm Trung Quốc lại không chấp nhận như thế. Họ xảo quyệt đưa ra “16 chữ” và “4 tốt” cốt để ru ngủ và hạn chế ta. Về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ta có đầy đủ cứ liệu lịch sử và pháp lý là thuộc chủ quyền của ta, nhưng ta quá ngây thơ và thật thà tuân thủ “16 chữ” và “4 tốt” (hoặc là quá mềm yếu, đánh mất bản lĩnh của người lãnh đạo biết tiếp nối tư tưởng độc lập tự chủ Hồ Chí Minh), nên không công bố công khai những cứ liệu lịch sử đầy sức thuyết phục ấy cho thế giới thấy chính nghĩa thuộc về ta, rằng Hoàng Sa, Trường Sa đích thực là của Việt Nam không thể tranh cãi. Ta đấu tranh thì họ thất lý. Ta không đối đầu quân sự với họ, ta đấu tranh chính trị ngoại giao đồng thời vẫn giữ quan hệ hữu nghị (hữu nghị cũng có đấu tranh). Không nên sợ hão rằng vì công khai tư liệu đấu tranh chính trị, ngoại giao mà Trung Quốc có thể vô cớ phát động chiến tranh toàn diện đánh ta. Họ đương tuyên bố “không xưng bá”, đương phô trương “bộ mặt đẹp, yêu chuộng hòa bình” với thế giới. Hơn nữa nội bộ họ hiện nay cũng đầy dẫy mâu thuẫn đe dọa mất ổn định. Giả sử chiến tranh có xảy ra đi nữa, dù giữa bên mạnh và bên yếu, không có bên nào không tổn thất. Tuy nhiên xét tình hình thực tế hiện nay thì Trung Quốc không và chưa vội bành trướng bằng thủ đoạn gây chiến, họ có cách khác: “chinh phục mềm và gặm dần”.
Tại sao ta không dám công khai giới thiệu cho toàn dân ta những cứ liệu lịch sử vững chắc của ta và của thế giới khẳng định hùng hồn Hoàng Sa, Trường Sa là của ta, trong khi Trung Quốc hễ có cơ hội là bày đặt ra nhan nhản đủ loại tư liệu và “chính thống hóa” chúng để giáo dục cho dân họ, từ trong giáo án các trường học, từ trên sách vở, báo chí, phát thanh truyền hình, nhằm nhồi nhét cho dân họ tin nhầm “Tây Sa”, “Nam Sa” là của Trung Quốc từ thuở xa xưa bị Việt Nam và Philipin “xâm chiếm” cần phải “thu hồi”? Chỉ về phương diện này thôi, phải nói, thật là khó hiểu và khó khăn khi muốn xác quyết với chính mình cũng như với người khác rằng người lãnh đạo của chúng ta hôm nay vẫn nối tiếp được truyền thống của cha ông, kiên cường lo lắng giữ vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc!
Trung Quốc luôn nhắc “16 chữ” và “4 tốt” giả dối, nói trăm lời “hữu hảo”, nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta. Chiếm quần đảo của ta, bao chiếm hải phận trong Biển Đông của ta với cái “lưỡi bò” phi pháp; dùng tàu lớn (tàu “lạ”) đâm chìm tàu cá của ngư dân ta; bắn, bắt ngư dân ta, tịch thu tàu, thuyền ngư cụ của họ đòi chuộc và bắt nộp phạt… Gần đây họ tập trận gần Trường Sa nhằm uy hiếp ta. Trong đất liền, Trung Quốc đã đứng chân được trên vị trí chiến lược Tây Nguyên xung yếu của ta, đã thuê dài hạn (50 năm) được hàng ngàn hécta rừng ven biên giới và đầu nguồn của nước ta, thuê dài hạn một đoạn bờ biển ở Đà Nẵng nói là để làm “khu vui chơi giải trí”, xây bao kín, người Việt Nam không được đến, họ làm gì trong đó ai biết. Họ dùng thủ đoạn bỏ thầu “thấp”, trúng thầu nhiều công trình trong Nam, trúng thầu xây dựng một loạt nhà máy nhiệt điện; họ dễ dàng đưa ồ ạt lao động của họ vào mà chúng ta không kiểm soát được. Đã có hàng vạn người Trung Quốc rải khắp nước ta từ núi rừng đền đồng bằng, ven biển cũng không ai kiểm soát. Hàng hóa Trung Quốc còn tràn ngập, chiếm lĩnh thị trường chúng ta. Hiện nay tỉnh Quảng Tây đương đàm phán với bên ta “lập khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới” giữa Bằng Tường và Đồng Đăng rộng 8,5km gọi là “1 khu vực 2 Quốc gia” và 1 “khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới” nữa giữa Đông Hưng và Móng Cái khoảng 10km2. Chúng ta rất cần tỉnh táo cân nhắc và cảnh giác trước những điều này, nói như người xưa, chỉ ngủ một mắt còn một mắt vẫn phải ngóng nhìn động tĩnh của anh láng giềng xấu chơi nơi biên giới! Người cầm chịch đất nước có làm được vậy hay không? Dân chúng đang mong họ trả lời câu hỏi ấy bằng những hành vi, động thái cụ thể – dù là tượng trưng – giúp mình có chút yên lòng. Thế mà, những tín hiệu qua lại ngoại giao con thoi trong những ngày gần đây lại có vẻ như là câu trả lời ngược với điều dân chúng mong đợi – những hoạt động ấy chưa làm “yên dân” chút nào cả, và xin đừng tưởng rằng người dân không biết gì. Người ta dễ dàng so sánh với Philippines, với Malaysia… với nhiều nước ASEAN khác, và bất kỳ một sự “quanh co” nào mà nhìn cho thật sâu là trái với các nguyên tắc ứng xử về Biển Đông đã được ASEAN đề xuất trong Hội nghị thượng đỉnh nhiều năm về trước đều gây lo ngại, nếu không nói là làm giảm sút niềm tin nghiêm trọng.
Ở Lào, Chính phủ Lào mở đặc khu kinh tế Bò Ten với Trung Quốc. Đến nay toàn bộ nhà ở, khách sạn, cửa hàng… đều là của Trung Quốc; 90% dân số là người Trung Quốc, 10% người Lào chỉ làm thuê lặt vặt, vô hình trung và nghiễm nhiên huyện Bò Ten trở thành thành phố của Trung Quốc rồi. Nhớ lại “điểm nối ray” năm xưa sâu vào đất ta khoảng trên 100m cách “Mục Nam quan”, nay đã thành đất của Trung Quốc mà khôn xiết lo lắng! Các vị lãnh đạo có biết, có quan tâm và thao thức cùng dân chúng hay không?
Tất cả tình hình trên đây cho thấy nước ta đang đứng trước nguy cơ trở thành một chư hầu hoặc thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc, không chóng thì chầy. Độc lập tự do phải đổi bằng xương máu của hàng triệu người Việt Nam ta, của nhiều thế hệ con em tinh hoa của dân tộc trong bao nhiêu năm trời rồi sẽ ra sao đây?!
4. Giàu nghèo phân hóa càng xa, bất công đầy dẫy. Một tầng lớp người chỉ độ 1,2% dân số giàu nứt đố đổ vách do tham nhũng, do buôn bán đất và chiếm đất, do đầu cơ, buôn lậu, do nhận hối lộ từ trong nước và nước ngoài, do ăn từ các dự án. Có những người có 5, 7 biệt thự. Họ ăn chơi phè phỡn, sống như đế vương. Trong khi đó thì đa số nông dân còn quá nghèo, đa số công nhân lương thấp, không có nhà ở, đời sống chật vật; có những người nghèo phải bới từng đống rác, túi rác để kiếm sống. Ốm đau thì người nghèo, người thu nhập thấp khó có đủ tiền chữa bệnh, có được nằm viện thì 2, 3 thậm chí 4 người 1 giường, thuốc men có hạn. Người giàu đi chữa bệnh nước ngoài không là gì, ở trong nước, sẵn tiền “dịch vụ” thì được săn đón, một mình một giường hoặc một phòng, được chăm sóc chu đáo.
Về học hành thì con nhà giàu nếu học trong nước thì ô tô đưa đón, muốn học trường nào tha hồ chọn; đi Tây, đi Mỹ học cũng dễ dàng thoải mái. Con nhà nghèo thì học hết T.H.P.T cũng khó, bỏ học giữa chừng cũng rất nhiều do học phí cao và nhiều khoản đóng góp khác, hoặc do phải nghỉ để giúp gia đình kiếm sống. Trong xã hội còn nhiều bất công nữa, ví như nông dân bị thu hồi đất thì được đền bù với giá rẻ mạt, nhà đầu tư địa ốc (thuộc các “nhóm lợi ích”) giành được đất ngon, xây nhà thì bán giá cao gấp hàng nghìn lần, thu lãi kếch xù; người vô tội thì có tội, kẻ có tội lại được thưởng; thiếu nữ bị dỗ bán dâm thì bị tù, nhiều kẻ mua dâm các em lại vô tội, v.v.
5. Công nghiệp của ta phần lớn là lắp ráp, gia công, phải nhập nguyên liệu nên xuất khẩu thu lợi về không nhiều, góp cho ngân sách không mấy; các tập đoàn kinh tế Nhà nước ngày càng bị Thanh tra Kiểm toán phát hiện cái thì lỗ vốn, cái thì thất thoát lớn và ngày càng lộ ra thêm những món nợ khổng lồ khó lòng trả được, nên tài chính quốc gia đã eo hẹp càng thêm eo hẹp, hàng năm liên tiếp nhập siêu lớn, tuy xuất khẩu nông, thủy sản khá nhưng dự trữ ngoại tệ mỏng, trong khi đó nợ nước ngoài quá nhiều, rất đáng lo ngại.
6. Lạm phát phi mã, đồng tiền mất giá, mọi thứ đều tăng vọt và tăng nhanh chưa có điểm dừng. Giá điện, giá xăng tăng càng đội giá thức ăn vật dùng hàng ngày tăng ngất ngưởng, không chỉ 20%, 30%, mà có thứ 50%, 100%, ảnh hưởng gay gắt đến bữa ăn, đến việc chữa bệnh, học hành của con cháu dân nghèo và người lương thấp. Từ khoảng 10 năm lại đây chưa bao giờ đời sống khó khăn bức xúc như hiện nay. Thêm vào đó, tham nhũng vẫn diễn biến, tội phạm, tệ nạn xã hội tăng, bất công xã hội tràn ngập khắp nơi… gây nên khủng hoảng lòng tin, tâm lý bất mãn, rất dễ dẫn đến mất ổn định.
Các mặt tình hình trên đây, nói thẳng ra, là hậu quả của 10 năm lãnh đạo của nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và 5 năm điều hành của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Trước tình hình bức bối như đã sơ bộ vạch ra ở trên, chúng ta phải làm gì? Thật là một câu hỏi khó. Đứng ở phía người dân mà nhìn, có những trách nhiệm không thể thoái thác, do ý thức chung lưng đấu cật để vực dậy đất nước là một nhân tố hàng đầu, chưa được đề cao. Nhưng đây đang nói về phía Nhà nước, người điều hành chính bộ máy hoạt động của toàn thể xã hội, nên chỉ xin nêu một biện pháp khẩn cấp:
Nhà nước cần phát huy dân chủ, nói thật mọi khó khăn với dân, lấy lại ít ra một phần lòng tin (đã mất) của dân đối với mình. Chính đây là khởi điểm để động viên toàn dân chung sức chung lòng nhằm tháo gỡ, vượt qua khó khăn trước mắt. Để làm được điều đó, trước mắt cần mở một cuộc hội thảo rộng rãi, không phân biệt, nghi ngờ, thành kiến, và tổ chức lấy lệ cốt đối phó hơn là thực lòng – như một Hội nghị Diên Hồng hiện đại, gồm các tri thức có chân tài thực học, các chuyên gia chính trị, kinh tế giỏi, và các tầng lớp thức giả khác, lắng nghe và tiếp thu ý kiến hay của họ để có kế sách hữu hiệu cứu nguy cho những bất cập từ lâu về kinh tế và xã hội, đồng thời phát huy tinh thần tự lực tự cường, độc lập tự chủ của cả dân tộc, trước hết là từ lãnh đạo cấp cao, thì mới dần dần cải thiện được tình hình để đưa đất nước tiến lên.
Thiết tưởng điều cấp bách cần làm ngay cho dân tộc ta không có gì hơn thế, và nếu không làm được thế e sẽ ngày càng nan giải.
N.T.V.
Nguồn: boxitvn

Đề Án Chiến Lược Hành Lang Trung-Lào-Campuchia (phần 1)

Đề Án Chiến Lược Hành Lang Trung-Lào-Campuchia 

http://img837.imageshack.us/img837/5898/200753439475343947.jpg
Trần Đông Đức
-
Lời Blog: Gần đây, Lào đòi xây đập Xayabury làm các nước Đông Nam Á lo lắng, trong đó có Việt Nam. Một nước Lào nhỏ sao lại cất công xây một trạm thuỷ điện to như thế đụng chạm đến quyền lợi các nước trong vùng. Cái gì cũng có nguyên nhân của nó. Blog Trần Đông Đức trên RFA dịch bài này với mục đích giới thiệu đề án của một “Ngũ Mao” kiến nghị nhằm cô lập Việt Nam vào 4 năm trước.
Cho dù, các đề án này thường có thái độ cường điệu một ít, giả thuyết một ít nhưng không thể phủ nhận được thực tế càng lúc Trung Quốc càng tiến gần và còn nhanh hơn những kiến nghị đề ra. Trong lúc, Trung Quốc đang ra nhiều mặt khác nhau để mua chuộc và tính toán, những bài viết này chính là góc tối trong dã tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay.
Mình xin dịch nguyên văn bài viết của một “Ngũ Mao” (đảng 50 xu) với bút danh “Thu Phục Lãnh Thổ Liên Minh” viết về chiến lược hành lang bao vây Việt Nam. Không thể phủ nhận bài viết đầy đủ các góc cạnh về địa lý lịch sử nhằm đối phó và cô lập Việt Nam một cách rất tường tận. Với tình hình nước Lào đắp đập hiện nay, rõ ràng Trung Quốc đang thực hiện chính sách hành lang không thể chối cãi.
Ghi chú: Với bài dịch này, mình để lại các từ ngữ như “Nam Sa”, Trường Sa; “Nam Hải”, Biển Đông; Trung Nam Bán Đảo, Bán Đảo Đông Dương làm ngữ cảnh để gần với sự thô lỗ đặc thù trong nguyên văn của tiếng Trung Quốc nhằm đưa đến bạn đọc một góc cạnh cho tính chất tham khảo.
Trần Đông Đức
 —————————–
Trung Quốc toàn lực đả thông Trung Nam bán đảo hành lang chiến lược đối phó với tiền tuyến Nam Sa
Việt Nam hung hăng tại quần đảo Nam Sa, dẫn tới sự phẫn nộ to lớn cho quốc dân. Gần đây trên mạng không ngừng nghe lời kêu gọi đánh nhau với Việt Nam. Liên Minh Thu Phục Lãnh Thổ (LMTPLT) vì vậy mà đã viết vài bài liên quan tới Việt Nam và Nam Sa. LMTPLT càng lúc càng phát hiện, bất luận là đối với Việt Nam, khống chế Nam Hải hay là tiến nhập Ấn Độ Dương, Trung Nam bán đảo phải là một miếng đất chiến lược đặc biệt quan trọng đối với nước ta. Trước mắt, thiết lập được chiến lược hành lang Trung Nam bán đảo đối với Trung Quốc có ý nghĩa to lớn.
I. Vân Nam và bốn chiến lược hành lang với Trung Nam bán đảo
Trung Nam bán đảo, trong từ ngữ gọi tên có nghĩa là “bán đảo của phía Nam Trung Quốc”, nhưng trong tiếng Anh gọi Trung Nam bán đảo là Indochina (Ấn-Độ-Chi-Na 印度支那, trong chữ Hán, lời người dịch), ý nghĩa là bán đảo nằm giữa Ấn Độ và China (tức Trung Quốc). Trung Nam bán đảo về mặt địa lý có sự phân biệt về nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa hẹp nói đến ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Thật ra, bán đảo Indochina (Đông Dương) trong tiếng Anh bao gồm cả năm nước Campuchia, Lào, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam. Nếu như chiếu theo sự hoạch phân rộng lớn hơn về bản đồ chính trị, Trung Nam bán đảo còn bao luôn tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Chính vì nguyên nhân này, ngày nay trên các diễn đàn quốc tế về hợp tác khu vực lại xuất hiện một từ ngữ mới, tức là Khu Vực Nguồn Dưới Mê Kông. Khu vực nguồn dưới Mê Kông bao gồm Trung Quốc (Tỉnh Vân Nam), Lào, Miến, Thái, Việt (như bản đồ). Chính là do nguồn sông này, lợi ích quốc gia của Trung Quốc và Trung Nam bán đảo gắn bó mật thiết bất khả phân. LMTPLT cho rằng, từ góc độ Trung Quốc mà nhìn, tiến vào Trung Nam bán đảo có bốn chiến lược thông đạo hay gọi là chiến lược hành lang, tức là:
Chiến lược 1: Trung Quốc Vân Nam — Miến Điện;
Chiến lược 2: Trung Quốc Vân Nam (hay là Quảng Tây) — Việt Nam;
Chiến lược 3: Trung Quốc Vân Nam — Miến Điện — Thái Lan (Nam tiến một bước tới bán đảo Mã Lai rồi tới Singapore);
Chiến lược 4: Trung Quốc Vân Nam — Lào — Campuchia — Vịnh Thái Lan è Nam Hải;
LMTPLT phân tích qua một chút về bốn chiến lược thông đạo này:
Thứ nhất: “Chiến lược lớn thông đường Trung Miến” là con đường tốt đẹp nhất để Trung Quốc tiến vào Ấn Độ Dương, đối với anh ninh quốc gia của Trung Quốc có ý nghĩa to lớn. LMTPLT trong bài “Miến Điện – Trung Quốc Tây Nam con đường tốt đẹp nhất để ra biển” và “Phá thế khốn cục của eo biển Malacca: Trung Quốc với ba chiến lược lớn để hướng ra Ấn Độ Dương đã tường tận giới thiệu, có hứng thú thì có thể tìm đọc.
Thứ hai: tình hình nếu như Việt Nam với nước ta có quan hệ tốt đẹp, không xâm hại lợi ích của Trung Quốc, thì việc thành lập hành lang Trung Việt khống chế Nam Hải đối với nước ta có ý nghĩa to lớn. Nhưng là do ở Việt Nam trước mắt đang xâm chiếm nhiều nhất các đảo ở Nam Sa, nước thù địch hưởng lợi nhiều nhất, từ góc độ thu phục Nam Sa mà nhìn, nói đến hành lang này không thể vô ý nghĩa được.
Thứ ba: hành lang thực sự là đang trong dự tính về con đường sắt quan trọng xuyên Á qua đường Đông Nam Á. Một khi thành hình thì đối với chính trị kinh tế và các phương diện khác của nước ta có ý nghĩa to lớn. Nhưng do liên quan đến nhiều nước, tạo thành một trò chơi đa phương, Ân Độ, Nhật Bản nhảy vào làm khó, Singapore thái độ tiêu cực, những quốc gia khác mỗi nước mỗi cách suy nghĩ. Ngoài ra vẫn còn gặp phải những nhân tố ảnh hưởng như thi công khó, thời gian dài, đầu tư nhiều, từ đó đến nay vẫn chưa đạt thành ý hướng thi công, trong đoản kỳ khả năng thực hiện không lớn, đối với việc kiểm soát Nam Hải vẫn chưa có ý nghĩa quá to lớn.
LMTPLT cho rằng, chỉ có chiến lược hành lang thứ tư tức là Trung-Lào-Campuchia đối với con đường Nam hạ của ta đặc biết có ý nghĩa to lớn trong việc tiến quân Nam Sa khống chế Nam Hải.
II. Ý nghĩa to lớn trong việc kiến lập hành lang Trung-Lào-Campuchia
LMTPLT trong rất nhiều bài viết đều đề xuất sách lược “chia để trị” đối với Đông Nam Á. Tức là lấy Nam Hải làm trục, lấy Trung Nam bán đảo làm trọng điểm, chia Đông Nam Á thành hai bộ phận “quốc gia bán đảo” và “quốc gia quần đảo”, áp dụng tuần tự trước gần sau xa và từng bước trước dễ sau khó, từng bước biến Đông Nam Á tạo thành sân sau chiến lược của nước ta, vì lợi ích căn bản nước ta phục vụ.
Đề án này chỉ dùng tới tình hình xâm lược Việt Nam gia tăng, chuyện phải thu phục Nam Sa, mà nói tới ý nghĩa thành lập chiến lược hành lang Trung Lào Cam.
TPLTLM phán đoán về mặt cơ bản là: Việt Nam về mặt thực tế trong thời gian về lâu về dài sẽ là nước thù địch với Trung Quốc, vấn đề Nam Sa trong vòng ít nhất là 20 năm thật khó giải quyết xong xuôi. Cho dù Việt Nam trong tương lai chắc chắn sẽ quay lại lấy hệ thống và thế chế chính trị Trung Quốc làm trọng tâm, nhưng sẽ trong một giai đoạn so đo nào đó tuột ra ngoài hệ thống Trung Quốc, điều này tạo nên một hiện thực uy hiếp Trung Quốc, mục đích chủ yếu thành lập hành lang Trung-Lào-Cam là để đối phó Việt Nam!
Ý nghĩa chủ yếu của việc thành lập hành lang này là:
1-     Phối hợp Nam Sa, đả thông con đường lục địa Tây Nam Trung Quốc. Trung Quốc đang lúc ra sức phát triển lược lượng hải, không quân, nhưng ưu thế thực sự của Trung Quốc vẫn là lục quân. Đối với Trung Quốc, lục lộ hiển nhiên có ý nghĩa to lớn. Do người Trung Quốc trong lịch sử chưa từng mở đường thông đến Ấn Độ Dương, và cũng chưa chiếm hữu toàn bộ Trung Nam bán đảo, lãnh thổ nguồn gốc của tổ tiên lại bị Nga Sa hoàng và Nhật Bản chiếm đi, khiến cho hiện tại Đông Bộ Trung Quốc bị bịt đường bởi các chuỗi đảo, Nam Bộ bị khốn bởi eo biển Malacca! Đông Bắc Bộ thì có Đông Bắc chiến lược khốn cục (bị bịt đường ra biển)! Vào những năm 70 của thế kỷ trước, các hòn đảo Nam Sa bị các nước nhỏ Đông Nam Á xâm chiếm, trở thành một cục diện của hiện tại! Để đả thông con đường “Nam Hải Lục Lộ”, chúng ta hiển nhiên có thể thông qua thành lập hành lang Trung-Lào-Cam trực thông Nam Hải, từ lục địa ứng phó Nam Sa!
2-     Cô Lập Việt Nam, hình thành cái thế của ba mặt giáp kích. Việt Nam Nam Nam Bắc hẹp dài, chiến lược thọc sâu đọ nông, ở chiến lược trên mặt đất có thế xấu về thiên nhiên, ở thế nước nhỏ lực yếu lại mang ảo tưởng lấy ít địch nhiều, thật là không phải là phúc cho dân cho nước này. Do hai nước Lào, Campuchia trực tiếp biên giới với Việt Nam, Trung Quốc lại cùng Lào và Việt Nam tiếp giáp biên giới, Trung Quốc một khi đã ổn định hành lang chiến lược Trung-Lào-Cam, sẽ từ hướng Bắc, hướng Tây và hướng Đông từ Nam Hải đối với Việt Nam hình thành thế của ba mặt giáp kích! khiến Việt Nam như bị thột vào lưng, như xương mắc họng, tạo nên sức kìm giữ cực đại, ít nhất là làm mất khả năng toàn lực đầu tư vào việc xâm chiếm các đảo Nam Sa của ta.
3-     Cơ hội chiến thắng, vì tương lai của phương án nối liền eo đất Kra (trên bán đảo Mã Lai thuộc về Thái Lan và Miến Điện). Tương lai một khi eo đất Kra được khai tạc thành công, địa vị chiến lược các nước như Campichia sẽ tuỳ thời tăng lên. Trung Quốc nếu như ra tay trước tại nơi này thành lập được “căn cứ địa” bền vững, tức không những chỉ lấy thế ngang mặt Việt Nam, mà còn có khả năng thuận lợi tiến vào kênh đào Kra chiếm thế thượng phong! Đây là một chiến lược thông đạo trong tương lai của nước ta dựa vào con kênh đào Kra (từ Vịnh Thái Lan xuyên qua Ấn Độ Dương), ý nghĩa hiển nhiên không cùng một dạng.
4-     Đáng mặt nước lớn, kiến lập căn cứ chiến lược bền vững. Việt Nam một khi đối với nước ta triệt để đối đầu, đặc biệt là sau khi nước ta dùng vũ lực thu phục lãnh thổ Nam Sa, không loại trừ khả năng đánh trả nước ta, có khả năng dẫn vào các nước ngoài khu vực như Mỹ, Ấn Độ thậm chí là Nhật Bản. Nếu như những quốc gia trên trú quân ở Vịnh Cam Ranh, đối đầu với thế cục Nam Hải, các đảo Nam Sa cùng các tuyến hàng hải tạo thành sứ uy hiếp to lớn. Nhưng nếu như nước ta tại Lào, Cam đứng vững, lấy chiến lược thông đạo hỗ trợ, tức thì có đủ lực giao chiến với Việt Nam và nước đồn trú nào đó trong tương lai, làm cho những uy hiếp trở khó khăn đối với nước ta, bảo vệ sự cân bằng chiến lược.
(Còn tiếp 1 kỳ)
Theo: http://rfavietnam.com/node/557

Đề Án Chiến Lược Hành Lang Trung-Lào-Campuchia (Kết)

http://img837.imageshack.us/img837/5898/200753439475343947.jpg
Trần Đông Đức (RFA)
-
Ba: Điều kiện đầy đủ cho việc thành lập hành lang Trung-Lào-Cam
Hiện tai, Trung Quốc có đủ một số điều kiện căn bản nhất cho việc thành lập hành lang Trung-Lào-Cam, chỉ cần lợi dụng đầy đủ, tích cực chỉ đạo, khôn ngoan vận dụng, thành lập hành langTrung-Lào-Cam là có thể thành công được.
1- Trung Quốc và Trung Nam bán đảo tiếp nhưỡng, có được ưu thế thành lập chiến lược hành lang Trung-Lào-Cam. Ưu thế về địa hình là điều tiện lợi quan trọng nhất. Trung Quốc là láng giềng quan trọng của các nước Trung Nam bán đảo, bản thân lại là nước quan trọng trong khu vực nguồn sông Mê Kông, con sông Lan Thương (ra khỏi biên giới xưng thành Mê Kông) liên kết hầu hết các nước với nhau trong Trung Nam bán đảo. Ngoài ra, nước ta lại là tiếp giáp với Lào trên Trung Nam bán đảo, với Campuchia cũng cách nhau không xa, chỉ có hai nước là đến Vịnh Thái Lan của Nam Hải mà không phải qua nhiều quốc gia. Loại địa hình này quá ưu thế để tạo thành hành lang chiến lược Trung-Lào-Cam với nhiều tiện lợi to lớn.
2- Trung Quốc đối với Lào, Campuchia có ơn tái tạo, hai bên quan hệ hữu hảo. Năm 1979, đang được độc lập không lâu thì Việt Nam nhanh chóng theo con đường xâm lược, tự cho rằng có Liên Xô đằng sau đỡ lưng, cuồng vọng bước vào con đường vũ lực với thủ đoạn tạo dựng giấc mộng “Liên Bang Đông Dương”, xâm lược Lào, xâm lược Campuchia. Đặng công (Đặng Tiểu Bình) nhìn xa trông rộng, tránh việc ở biên giới phía Nam xuất hiện một nước có bản tính xâm lược nhằm mục tiêu vào nước khác, cất quân tự vệ phản kích, chống Việt Nam tiểu bá dưới ngọn cờ chống xâm lược, cho quân xuống Nam, đẩy lùi áp lực của Liên Xô, gây thương vong nặng nề, làm cho Việt Nam cuối cùng phải triệt thoái, bảo vệ chủ quyền quốc gia và lãnh thủ hoàn chỉnh của Lào, Campuchia, duy trì hòa bình thế giới, đối với hai nước có ơn tái tạo, song phương quan hệ hoàn toàn tốt đẹp. Đây cũng là điều làm chúng ta có điều kiện căn bản thành lập hành lang chiến lược Trung-Lào-Cam
3- Địa vị chiến lược của Lào, Campuchia là một hạng, nước lớn ngoài khu vực can thiệp ít, lực cản nhỏ. Địa vị chiến lược của Lào, Cam và Miến Điện căn bản không giống nhau, chính vì nguyên nhân này, nước ta thành lập hành lang chiến lược không tạo nên sự phản đối của nước lớn nằm ngoài khu vực, vô hình trung làm cho chúng ta giảm kinh trở lực, tạo nên khả năng thành công rất lớn. Hiện nay hành lang chiến lược Trung-Lào-Cam đến gần với tương lai sau khi con kênh đào Kra khai thông thì càng thuận lợi hơn. Trên thực tế, hai nước Lào, Campuchia chỉ quan trọng đối với Trung Quốc và Việt Nam, nhưng do, làm sao Việt Nam về mặt tổng thể sao lại là đối thủ của Trung Quốc?
4-Chiến lược định vị thích hợp đối với lợi ích hai nước Lào, Campuchia. Pakistan công khai xưng là hành lang chiến lược với Trung Quốc, đây chính xác là địa vị chiến lược của quốc gia. Điều này đối với sự phát triển quốc gia có sức xúc tiến tác dụng không nói mà thành. Lào, Campuchia ở Đông Nam Á là những nước nhỏ, từ trước tới nay, hầu như ít nghe qua, kinh tế phát triển chậm, quốc lực không mạnh. Những thứ này cùng với sự chưa chuẩn xác trong sự tìm kiếm định vị chiến lược của bản thân quốc gia tạo nên tầm vóc quan hệ, cũng như với Trung Quốc chưa thực thi được kế hoạch hành lang chiến lược Trung-Lào-Cam tạo nên tiềm năng quan hệ tất yếu.
5-Sáng tạo thể chế lợi ích đặc thù Trung-Lào-Cam, thực hiện phát triển cộng đồng. Chính phủ Trung Quốc cần phải xếp Lào, Campuchia ngay hàng thứ hai sau Miến Điện về mặt kinh doanh lâu dài. Ba nước này là khối đá chiến lược của Trung Quốc đặt chân lên Trung Nam bán đảo. Người Trung Quốc chỉ cần đặt chân ổn định lên ba quốc gia này, tức thì các nước lớn ngoài khu vực đều không có dám bén gót. Người Pakistan đã đề xuất Trung Quốc đầu tư vào đường tàu cao tốc để cùng trỗi dậy với Trung Quốc, với tuyên ngôn hào hùng cùng phồn vinh, làm mỗi người Trung Quốc vì thế rạng ngời! tạo thành người anh em của Trung Quốc, Lào và Campuchia còn có lý do nào để ra ngoài Trung Quốc đây hả? Trung Quốc cần phải cùng hai nước này ký ngay văn kiện kiến lập hành lang chiến lược Trung-Lào-Cam, dùng hình thức pháp luật để ổn định quan hệ hữu hảo song phương. Đối mặt với sự uy hiếp cộng đồng phía Việt Nam, Trung Quốc cần phải đủ sức kiến lập được quan hệ đồng minh ngay. Một khi quan hệ liên minh được xác định, Trung Quốc sẽ mãi mãi bảo hộ hai nước không bị Việt Nam xâm lược, đồng thời, Trung Quốc sẽ tăng thêm sức đầu tư và viện trợ, tận lực giúp đỡ hai nước này đi đến giàu có. Người Trung Quốc nhất quán cùng người làm thiện, đối với hai nước này không có một dã tâm nào về lãnh thổ, hai nước này cần gì phải đề phòng! Đến lúc hình thức cụ thể của hành lang chiến lược Trung Lào Cam được thành lập, tôi có thể thấy rằng việc thành lập đường sắt Trung-Lào-Cam có thể thực hiện. Tuy việc chuyên chở đường sắt cao so với giá cước đường biển, nhưng trước mặt đối với hình thế an toàn gay go của eo biển Malacca, ý nghĩa của con đường thông đất hiển nhiên vẫn rất to lớn. Xét cho cùng, nhiều chỗ thông đạo, nhiều con đường ra, nhiều phần an toàn, nhiều phân bảo chứng. Chúng ta không thể nhìn ngắn mọi chuyện lấy tiền tài làm thành thước đo duy nhất. Hàng hóa Trung Quốc hoặc là các vật tư chiến lược một khi thông qua hành lang chiến lược Trung-Lào-Cam sẽ ngồn ngộn không dừng chuyển vận đến Nam Hải, viện trợ Nam Sa. Đây chính là con đường chiến lược của Trung Quốc đe dọa quân thù. Quân lực Trung Quốc cũng có thể tương ứng để tiến vào hành lang chiến lược này. Đây chính là cơn ác mộng bắt đầu cho Việt Nam. Ở một trình độ nhất định, Việt Nam cũng chắc sẽ bắt đầu đến bàn đàm phán, vì hòa bình mà sáng tạo điều kiện để giải quyết tranh chấp Nam Sa. Đương nhiên đây là đang ở dạng tiền đề Trung Quốc đáp ứng giải quyết trong hòa bình. Chiến lược hành lang chiến là để đối phó với việc dùng vũ lực giải quyết Nam Sa tạo hiệu quả như cọp thêm cánh. Các quan chức Trung Quốc cần cân nhắc kiến nghị này của Liên Minh Thu Phục Lãnh Thổ.
Có bạn nói rằng, Lào và Campuchia hiện tại là thành viên trong khối ASEAN, mà ASEAN là dùng một giọng điệu, sợ rằng Lào và Campuchia không thể cùng Trung Quốc hợp tác. Liên Minh Thu Phục Lãnh Thổ cho rằng, chúng ta không thể xem bề mặt mà xem hiện tượng, về bản chất quan hệ họ hàng gần xa giữa nước này với nước kia là sứ mệnh ích lợi. ASEAN không phải là một khối “thiết bản”, về mặt thực tế mãi mãi không là một khối đồng nhất. Hãy nhìn thời kỳ Chiến Quốc, sách lược “Hợp Tung” không thể thành công, dùng thế “Liên Hoành” cắt đất cho Tần cuối cùng rồi sẽ thành công, nước Tần thôn tính lục quốc thiên hạ thu về một mối là nguyên nhân đích thực, vẫn là các nước có tên?? Đối mặt với sự tồn vong sinh tử của quốc gia trong thời Chiến Quốc chính là như thế. Lào và Campuchia nào có lý do nhìn Trung Quốc với lòng thù hận khi chưa gặp phải sự uy hiếp nào về an ninh từ Trung Quốc để rồi xa lánh Trung Quốc? Có thể nói rằng, chỉ cần Trung Quốc đem lại lợi ích đủ lớn, Lào và Campuchia có thể cùng Trung Quốc hợp tác đầy đủ, thì việc thiết lập một sự gần gũi đặc thù về quan hệ đồng minh chắc chắn nằm trong khả năng.
Trần Đông Đức dịch từ
Categories: Uncategorized
Be the first to like this post.
  1. kool
    Tháng Tư 22, 2011 lúc 14:20 | #1
    Chu nghia Banh truong,Ba quyen cua Trung Hoa Han toc dang troi day o the ky 21 nay.
  2. hongha123
    Tháng Tư 22, 2011 lúc 15:09 | #2
    Thục sự là nguy cơ nhãn tiền rồi !
  3. Dân Việt
    Tháng Tư 22, 2011 lúc 16:01 | #3
    Lưỡi bò ở biển Đông, lưỡi cá sấu ở dọc biên giới Lào, Campuchia, lưỡi cọp ở Tây Nguyên, hàng hà vô số lưỡi rắn ở các tỉnh cho thuê rừng biên giơí, lưỡi linh cẩu ở các công trình Tàu cộng làm ở VN, lưỡi ma quỹ sa tăng đang ăn cơm VN thờ ma Tàu Cộng. Than ôi! hồn thiêng đất nước VN ta hãy hiện về thức tỉnh nhà CQCSVN hãy dừng lại đi cơn tham, sân, si. Mọi tiền của đều là phù du và trở về cát bụi. Hãy cho con cháu một cơ hội thoát khỏi kiếp nô tỳ và suốt đời mang tiếng mang dòng họ Lê Chiêu Thống!!!
  4. Tháng Tư 22, 2011 lúc 20:08 | #4
    Đúng vậy,ý đồ và tham vọng của Trung Quốc nằm gọn trong ” Đề án chiến lược hành lang Trung-Lào-Campuchia “.Những người lãnh đạo CS Hà Nội có sáng mắt ra chưa ? để thấy được mưu đồ và tham vọng của bọn Đế quốc Tàu Cộng mà có chiến lược thích ứng để cứu nguy Tổ Quốc và Dân Tộc, hay là vì quyền lợi cá nhân và đảng phái mà qùy gối dâng đất nước này cho kẻ thù ?
  5. Ok
    Tháng Tư 23, 2011 lúc 05:19 | #5
    Bạn hiền. Hảo hảo. hai cu LL, DT ko còm bài này.
    • kool
      Tháng Tư 23, 2011 lúc 08:31 | #6
      3 ban DT,VHT va LL khg bao gio co y kien ve de tai Mau Quoc Tau Khua.

Gửi phản hồi