Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Cuộc chiến âm thầm Việt Nam - Trung Quốc

Cuộc chiến âm thầm Việt Nam - Trung Quốc

"Thái độ cả tin vào thiện chí của người láng giềng này hay còn nguyên nhân nào khác của Hà Nội đã khiến Trung Quốc ngày một lấn sâu hơn vào lãnh hải Việt Nam, và mới đây nhất là vụ cắt dây cable tàu Bình Minh 2 làm cho người Việt Nam càng thêm phẫn nộ sau những cuộc chiến không cân sức nhằm lấn chiếm đất đai biển đảo của mình..."
*
Mặc Lâm (RFA) - Những cuộc chiến tranh gần đây giữa Việt Nam và Trung Quốc cho thấy sự theo đuổi liên tục ý đồ bành trướng nước lớn của phương Bắc chưa bao giờ ngưng nghỉ.
Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4 Mặc Lâm tìm hiểu quá trình lấn đất chiếm biển của Trung Quốc qua bài viết sau đây nhằm làm sáng tỏ hơn một vấn đề đang gây phẫn nộ trong dư luận Việt Nam sau sự cố tàu Bình Minh 02.

1979 - Trung Quốc tấn công toàn bộ biên giới phía Bắc

Source Wikipedia - Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979. Trung Quốc đem quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước (hướng mũi tên đen).
Rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc đã đem một lực lượng hùng hậu tiến vào tấn công Việt Nam. Áp dụng chiến thuật biển người bất kể tổn thất, quân đội Trung Quốc tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam. Có tổng cộng 9 quân đoàn và hai sư đoàn tiến chiếm các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoàng liên Sơn, Lai Châu. Quảng Ninh, và Hà Tuyên.
Đến ngày 28 tháng 2 năm 1979, chỉ trong vòng 11 ngày ngắn ngủi quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để.
Mãi đến ngày ngày 5 tháng 3 năm 1979, do áp lực và sự phản đối của quốc tế, Bắc Kinh tuyên bố hoàn thành mục tiêu chiến tranh là dạy cho Việt Nam một bài học. Đến ngày 18 tháng 3 năm 1979 quân Trung Quốc đã hoàn toàn rút khỏi Việt Nam.
Theo tuyên bố của phía Trung Quốc: quân Trung Quốc có 6.900 người chết, 14.800 người bị thương và 240 người bị bắt. Quân Việt Nam có 60.000 người chết và bị thương, 1.600 người bị bắt.
Cuộc chiến tranh biên giới 1979 tuy ngắn ngủi nhưng tổn thất về người và tài sản của nhân dân và quân đội Việt Nam phải được gọi đích danh là nghiêm trọng nếu so với cuộc chiến chống lại miền Nam kết thúc trước đó 4 năm. Sai lầm chiến lược và chiến thuật nào đã đẩy Việt Nam từ một đồng minh thân thiết trở thành kẻ thù của Bắc phương trong một thời gian ngắn ngủi? phải chăng dã tâm của Bắc Kinh đã được Hà Nội nhìn thấy nhưng do chủ quan và tư tưởng hữu nghị đã làm cho lãnh đạo Hà Nội mất cảnh giác và xem thường khả năng tiến hành chiến tranh của Trung Quốc?
Quân Trung Quốc đánh Lạng Sơn năm 1979
Quân Trung Quốc đánh Lạng Sơn năm 1979. Source DSWC china
Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Đại sứ Việt Nam tại Trung quốc từ năm 1974 cho tới năm 1987 cho biết những nguyên nhân chính khiến Việt Nam chủ quan với người đồng chí này như sau:
- Thứ nhất là tình báo của chúng ta quá kém hai nữa là chúng ta quá tin vào những người lãnh đạo Trung Quốc. Quá tin vào tình hữu nghị Việt Trung! Chúng ta cũng sơ hở ở chỗ là trước cuộc chiến tranh 79 thì tôi biết Trung Quốc đã làm rất nhiều con đường từ nội tỉnh của họ ra biên giới Việt Nam, thế nhưng mình không ngờ rằng đến năm 79 họ tiến quân theo những con đường đó sang đánh Việt Nam. Đó là một kinh nghiệm.
- Thứ hai nữa là mình mất cảnh giác. Tôi nhớ lại bắt đầu thì chúng ta cũng đã có báo động rồi nhưng đến trước hôm 17 thì Tổng Tham mưu trưởng của chúng ta lại hạ cấp báo động. Cho nên ngày 17 thì họ đánh chúng ta và chúng ta không có quân chủ lực ở trên đó, chỉ có dân quân và bộ đội địa phương thôi.

1984 - Lấn đất và tàn sát người Việt

Sau cuộc chiến 1979 Trung Quốc còn nhiều lần tiến hành cuộc chiến tranh lấn đất về sau. Từ ngày 2-4 đến 28-4-1984, Trung Quốc đã cho quân tập trung pháo binh bắn phá khu vực Vị Xuyên. Trong suốt 26 ngày đêm Trung Quốc đã bắn tổng cộng 30.000 viên đạn pháo cối các loại vào các điểm cao phòng thủ của Việt Nam và lấn sâu vào lãnh thổ VN khoảng 2km.
Cuộc tập kích bất ngờ cao điểm 1509 thuộc xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tình Hà Giang có lẽ là dã man nhất của quân đội Trung Quốc. Bất kể công pháp quốc tế về tội ác chiến tranh, lính Trung Quốc giết 3.700 bộ đội Việt Nam, dùng súng phun lửa đốt xác, đốt luôn cả thương binh còn sống vùi xuống mồ tập thể, biến cao điểm này thành địa danh Lão Sơn của họ.
Bộ đội Việt Nam bị bắt làm tù binh trong cuộc chiến biên giới 1979. Source DSWC China
Bộ đội Việt Nam bị bắt làm tù binh trong cuộc chiến biên giới 1979. Source DSWC China
Những khu vực bị Trung Quốc lấn sang biên giới cho tới nay vẫn không thể đòi lại được mặc dù nhiều cuộc đàm phán biên giới kéo dài từ năm 1989 tới nay. Các cột mốc di động vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam khiến toàn bộ Ải Nam Quan và phân nửa thác Bản Giốc biến mất vẫn đang là nỗi nhức nhối của người Việt.

Đó là trên đất liền, những vết tích vẫn còn lại dọc theo biên giới phía Bắc về cuộc chiến tranh xâm lược 1979.

1974 và 1988 - Trung Quốc đánh chiếm các hải đảo Việt Nam

Trên biển Trung Quốc đã đánh chiếm Hoàng Sa vào năm 1974 khi hòn đảo này đã từ rất lâu được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa gìn giữ với đầy đủ chứng từ về chủ quyền lãnh thổ.
Trước đó vào năm 1956 lợi dụng thời gian Pháp rút khỏi Việt Nam và Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chưa ổn định, Bắc Kinh đánh chiếm một phần Hoàng Sa. Năm 1974, lợi dụng thế muốn rút quân của Mỹ, và sự suy yếu của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, Bắc Kinh mặc cả với Mỹ trên lưng Việt Nam để đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa.
Đảo Hoàng Sa là đảo có người ở. Trên đảo lúc ấy có đài khí tượng và một đại đội lính Việt Nam Cộng Hòa đồn trú.
Trận hải chiến xảy ra vào lúc 10 giờ sáng ngày 19 tháng Giêng. Theo lời của phó Đề Đốc hải quân Hồ Văn Kỳ Thoại nguyên Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải là một trong các chỉ huy tham dự trận đánh với Trung Quốc cho biết thì thiệt hại của Việt Nam là 58 sĩ quan và thủy thủ đã bỏ mình trên chiến hạm. Trung Quốc đã chính thức chiếm đảo Hoàng Sa từ ngày đó đến nay.
Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết nhận định của ông về sự kiện lịch sử này, ông nói:
- Có thể nói sự kiện Hoàng Sa đặt trong tổng thể cái bối cảnh lúc đó là một bi kịch của dân tộc mình. Vào thời điểm ấy Mỹ đã có ý định rút khỏi Việt Nam và họ đã thỏa hiệp với Trung Quốc để lấy cơ hội đó để lấy Hoàng Sa. Trong khi đó thì giữa người Việt Nam với nhau thì đang kết thúc một thời kỳ lịch sử và tôi cho rất là bi hùng, đã thực hiện việc thống nhất quốc gia lãnh thổ.
Có thể nhìn nhận lại sự kiện đó như một bi kịch và nó để lại một bài học rất lớn rằng lợi ích quốc gia luôn luôn phải đặt lên hàng đầu. Những thế lực nước ngoài, đặc biệt là những nước lớn họ luôn luôn lợi dụng những cơ hội bao giớ cũng dành vị thế thuận lợi cho họ chứ không bao giờ cho một nước nhỏ nào khác. Còn riêng đối với những người lính Cộng hòa hay chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thực hiện nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc đó thì việc làm của họ là việc làm có công với đất nước và đáng đựơc tôn vinh.
Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư tham dự trận hải chiến với Trung Quốc năm 1974.Source lichsuvn.info
Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư tham dự trận hải chiến với Trung Quốc năm 1974.Source lichsuvn.info
Vẫn chưa ngừng ở đó, sáng ngày 14 tháng 3 năm 1988 tàu hải quân Việt Nam mang số hiệu HQ 604 đang thả neo tại đảo Gạc Ma phát hiện 4 tàu lớn của Trung Quốc tiến lại gần đảo và cử người vào cắm cờ trên đảo.
Với số đông áp đảo, lính trung Quốc đã ngang nhiên vào đảo giật cờ Việt Nam xuống và tấn công bộ đội hải quân Việt Nam đang đóng trên đảo đồng thời tấn công tàu HQ 604. Sau một cuộc giao tranh ngắn ngủi tàu 604 của Việt Nam bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển.
Trong trận chiến Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam có  3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 người tử trận, 11 người bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam 9 người bị bắt, 61 người vẫn mất tích và được xem là đã tử trận.
Sau ngày 14 tháng 3 ấy Việt Nam đã làm gì đối với những anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình cho tổ quốc?
Hình ảnh cuối cùng của tàu HQ 604 trước khi bị Trung Quốc bắn chìm cùng toàn bộ thủy thủ đoàn tại đảo Gạc Ma  ngày 14-03-1988 .RFA screen capture
Hình ảnh cuối cùng của tàu HQ 604 trước khi bị Trung Quốc bắn chìm cùng toàn bộ thủy thủ đoàn tại đảo Gạc Ma ngày 14-03-1988 .RFA screen capture
Chính phủ Việt Nam sau khi nối lại sợi giây hòa hiếu với Trung Quốc cũng là lúc mọi chi tiết về các cuộc chiến tranh do Trung Quốc phát động đều bị ngăn cấm không cho báo chí nhắc tới với giọng văn truy cứu trách nhiệm hay khơi dậy lòng yêu nước của dân chúng. Nhà báo Tống Văn Công nguyên Tổng biên tập báo Lao Động nói cảm nghĩ của mình về việc này như sau:
- Cái vụ Gạc Ma Trung Quốc thì khi nó bắn mình nó có quay phim, thế rồi nó chiếu phim lại cho hải quân chúng nó coi trong khi đó thì mình không dám nhắc lại. Lẽ ra cái ngày đó mình phải tổ chức kỹ lưỡng mà thậm chí mời nó đến dự nữa và đọc diễn văn đàng hoàng sòng phẳng coi như đó là một cái tội ác không được tái diễn nếu muốn hai bên bảo vệ 16 chữ vàng và bốn tốt.
Thái độ cả tin vào thiện chí của người láng giềng này hay còn nguyên nhân nào khác của Hà Nội đã khiến Trung Quốc ngày một lấn sâu hơn vào lãnh hải Việt Nam, và mới đây nhất là vụ cắt dây cable tàu Bình Minh 2 làm cho người Việt Nam càng thêm phẫn nộ sau những cuộc chiến không cân sức nhằm lấn chiếm đất đai biển đảo của mình.
Mặc Lâm (RFA)

Biển Đông đang sặc mùi dầu hỏa và bành trướng Trung Hoa

Biển Đông đang sặc mùi dầu hỏa và bành trướng Trung Hoa

N
guyễn Nghĩa 650 (danlambao) - Bất luận ý đồ của TQ là những gì qua sự kiện cắt dây thăm dò dầu khí của tầu Bình minh 02 tại hải địa cách bờ biển Việt nam 120 hải lý ngày 26/5/11, cắt dây kéo giữ thiết bị dàn trải cáp thu và gây rối 4 đường cáp thu phía bên trái tàu Viking II ngày 9/6/2011, thì từ nhữngsự kiện ấy, mùi dầu hỏa và mùi bành trướng cũng sặc lên nồng nặc.
Ba ngày trước ngày 26/5/11 máy bay trinh sát của TQ bay lượn trên vùng biển này. Sau ngày 26/5, họ lại bay trinh thám tiếp tục.
Ngày 23/5/2011, CNOOC (tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia TQ) đã tiếp nhận giàn khoan CNOOC 981, một giàn khoan khổng lồ để đưa vào phục vụ khai thác dầu khí trên biển Đông. Giàn khoan CNOOC 981 có số tiền đầu tư lên tới 923 triệu USD và có khả năng khai thác ở độ sâu 3.000m dưới biển, trong khi công suất các giàn khoan hiện có của Trung Quốc chỉ khai thác được ở độ sâu 500m. Giàn khoan trên sẽ được lắp đặt ở Biển Đông và đưa vào vận hành vào tháng 7/2011.
Địa điểm hoạt động của giàn khoan này có thể sẽ là 1 trong số 19 lô đã được công bố trên trang mạng của tập đoàn này. Cũng có thể là không. Với tính cách bất chấp lẽ phải của TQ ta có quyền đề cập tới cả phán đoán việc thử phản ứng của VN để đặt giàn khoan (bây giờ, hay trong tương lai ) ở một địa điểm rất gần VN.
Có thể chăng: địa điểm mà tầu Bình minh đang thăm dò có trữ lượng dầu đủ lớn làm TQ quan tâm ?
Sáng 9/6, tàu Viking II của Việt Nam bị một tàu cá Trung Quốc cắt dây kéo giữ thiết bị dàn trải cáp thu và gây rối 4 đường cáp thu phía bên trái tàu. Trung Quốc phá cáp thăm dò của Việt Nam, 'Trung Quốc đang sử dụng vỏ bọc bán quân sự trên Biển Đông 
Đây là phản ứng kiểu nước lớn, bất cần, thể hiện: ta mới là người quyết định tình hình Biển Đông chứ chính phủ Việt Nam, các cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn có ý nghĩa gì. Nếu Trung quốc muốn, Trung quốc cứ làm. Y hệt như khi Bộ trưởng ngoại giao Trung quốc khi chỉ vào Ngoại trưởng Singapore ở ASEAN 2010 Hà nội: nước các anh chỉ là nước nhỏ.
Đây là một sai lầm rất lớn của Trung quốc về ngoại giao. Nếu Việt nam tiếp tục kiềm chế tránh dùng quân sự, nhưng cương quyết bảo vệ lãnh hải và đưa các sự kiện này ra quốc tế. Việt Nam sẽ có uy tín trong Asean trước các vấn đề liên quan đến đoàn kết Asean và Trung quốc. 
Chính phủ Việt Nam cần sử dụng triệt để sự kiện liên tiếp các ngày 26/5 và 9/6 này nhằm chứng minh trước dư luận quốc tế, dư luận Asean và LHQ hành động xâm phạm chủ quyền có chủ tính này của Trung quốc, vạch trần sự giả dối của chủ thuyết “trỗi dậy một cách hòa bình của Trung quốc”. Ngoại giao Trung quốc sẽ bị ghi điểm trừ.
Đây cũng là chiến sách mới của Trung quốc, sau khi đã hiểu cách hành xử của Hoa kỳ. Hành xử này tương tự như Mao ngày xưa: Nếu mi không động đến ta, ta sẽ không động đến mi. Tức là: nếu các hành động của Trung Quốc chưa ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh hàng hải quốc tế, có thể Hoa kỳ chỉ lên tiếng theo kiểu: Phản đối những hành động không tôn trọng luật pháp quốc tế.
Để vô hiệu hóa các can thiệp của Hoa kỳ, Trung quốc sẽ sử dụng vỏ bọc bán quân sự trong các hành động tiếp theo.
Tuy nhiên phán đoán hành động của Trung quốc không thể không nghĩ tới câu: hư hư, thực thực. Nếu họ muốn nhân cơ hội này đánh chiếm nốt Trường Sa, thì trong những ngày này, cảnh giác của Việt nam phải phát huy cao độ. Đừng tin lời nói hòa bình của Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc. Binh pháp cho phép việc binh được dối trá.
Qua phản ứng của TQ sau các vụ việc này, ta rút ra 6 kết luận mà phải quan tâm.
1. Trong tương lai, TQ sẽ tiếp tục đánh tráo khái niệm "vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam "là lãnh thổ Trung Quốc". Các tầu hải giám của Trung Quốc thực hiện những công việc hữu trách bình thường của họ trong lãnh hải ấy là thực hiện trong lãnh thổ Trung Quốc.
2. Họ sẽ tiếp tục làm mập mờ với dư luận thế giới rằng: Việt Nam và Trung Quốc đã có thỏa thuận ngầm về các khu vực khai thác dầu hỏa. Việt Nam đã vi phạm thỏa thuận ấy. Những thỏa thuận ngầm ấy có đề cập cả tới những địa điểm năm trong vùng 200 hải lý của Việt Nam.
3. Trung Quốc đã chính thức trở lại học thuyết "Biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc".
4. Đường:"lưỡi bò chín đoạn" sẽ là cơ sở hoạch định lãnh hải Trung Quốc.
5. Để tránh sự can thiệp của Hoa kỳ, họ sẽ sử dụng vỏ bọc bán quân sự trong các hành động tiếp theo của họ.
6. Hoa kỳ sẽ có thể chưa cương quyết trong các ủng hộ quân sự cho Việt Nam như cảnh báo của giáo sư C.Thayer. Đây là sự trả giá cho chính sách ngoại giao của Việt Nam trong thập kỷ vừa qua.
Phản ứng của đảng và nhà nước Việt Nam là lên tiếng như bao lần về sự việc 26/5 trong buổi họp báo ngày 28/5/2011. Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh tại hội nghị Shangri-La 6/2011đã đề cập đến hành vi cắt cáp dò dầu khí của tầu Bình minh 02 ngày 26/5/11, tuy chưa gọi đích danh Trung quốc.
Ngày 9/6 ngay sau khi xẩy ra sự việc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam xác nhận việc tàu cá Trung Quốc cắt cáp tàu địa chấn Việt Nam xảy ra sáng 9/6/1.
Việc không công khai đàn áp dân chúng, thanh niên tuần hành tự phát ngày 5/6/11 tại Hà Nội và Sài Gòn, chứng tỏ nhà nước Việt Nam đã sợ trưng ra dư luận thế giới bộ mặt nhu nhược trước Trung Quốc của họ, bộ mặt vi phạm nhân quyền của họ qua vụ án xấu xa Cù Huy Hà Vũ.
Bên cạnh việc lên tiếng ngoại giao, giữ các cuộc biểu tình trong vòng kiểm soát của đảng và nhà nước Việt Nam, ta cũng ghi nhận họ vẫn bắt tạm giam những bloggers đã ủng hộ tích cực các cuộc biểu tình năm 2007, như Người Buôn Gió, Mẹ Nấm, Bùi Chát...
Để vạch trần hơn nữa trước thế giới hành động nghiêm trọng này của Trung Quốc,Việt Nam cần đưa các vụ việc này lên LHQ.
Trung tướng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh trong 1 cuộc họp báo tại Shangri-La đã phát biểu:
“Việt Nam sẽ cố gắng hết sức để những sự việc như vừa rồi không leo thang, không tái diễn. Tuy nhiên, nếu như một bên nào đó muốn leo thang thì Việt Nam cũng sẽ có hành động để bảo vệ chủ quyền của mình, không thể ngồi im được.”
Ta hãy xem khả năng tự bảo vệ mình của Việt Nam ra sao?
Trung Quốc là một trong những quốc gia sớm nhất thế giới đã tổng kết nghệ thuật chiến tranh. Tác phẩm tiêu biểu là binh pháp Tôn Tử.
Đặng Tiểu Bình còn hơm hĩnh nói rằng: Người Trung Quốc không làm việc gì mà không tính toán.
Người Việt Nam ta nói thẳng ra với bè lũ bành trướng phương bắc rằng: Người Trung Quốc có tính toán, nhưng rất có thể các người đã tính sai. Các người hay sai nhất khi những tính toán có liên quan đến người Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam.
Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã trả lời các tính toán chiến tranh của Tôn Tử. Vua Trần Nhân Tông đã rõ ràng chỉ mặt bành trướng Trung Quốc và dặn dò di chúc:
“Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên, cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra nơi biên ải, các việc trên khiến ta nghĩ đến chuyện khác lớn hơn, tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta, họ gậm nhấm đất đai của ta. Dần dần họ sẽ biến giang sơn của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn: một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ này như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau”.
Tuy vậy, ta phải cùng nhau bình tâm mà tự phê bình mình rằng: Người Việt Nam đã không lường hết tính toán về lãnh thổ cụ thể là Biển Đông của người Trung Quốc từ 1949 đến nay. Hay nói rõ hơn, ban lãnh đạo ĐCS VN đã không lường hết thâm độc của các viện trợ quốc tế vô sản của Trung Quốc cho Việt Nam thời gian này, đã sao nhãng với bảo vệ lãnh hải trước bành trướng của Trung Quốc ra Biển Đông.
Cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam - Trung Quốc 1979, ngoài lý do trực tiếp là Việt Nam ngã hẳn theo Liên-Xô, đưa quân vào Cămpuchia, còn có lời cảnh cáo gián tiếp của Trung quốc: Việt Nam không được nghĩ đến giải phóng Hoàng Sa, nếu không hậu quả sẽ như cuộc chiến này.
Ngày hôm nay, nhìn các sự kiện xẩy ra ở Biển Đông trực tiếp liên quan đến lãnh hải Việt Nam, ta không thể không xót xa. Hai chuỗi các hòn ngọc lấp lánh trên Biển Đông: Hoàng Sa, Trường Sa thì đã để Trung quốc chiếm mất Hoàng Sa. Trường Sa từ 1984 cũng mất thêm một số đảo, gây hại lớn cho an ninh lãnh hải: làm bàn đạp cho các mưu tính quân sự, cũng như những đòi hỏi vô lý của họ về chủ quyền lãnh hải.
Vì vậy, việc giải mã những hành động gần đây của Trung Quốc và một đối sách dài hạn cho Biển Đông và an ninh lãnh thổ, lãnh hải là rất cần thiết đối với dân tộc Việt Nam thời Trung Quốc phát triển và bành trướng quyết liệt.
Tham vọng của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa đã có từ lâu, chủ yếu do vị trí chiến lược của hai quần đảo này. Nhật Bản cũng chiến đóng Hoàng Sa và Trường Sa trong thế chiến thứ 2 là ví dụ. Việc chiếm hoàn toàn Hoàng Sa 1974 bằng vũ lực từ trong tay của VNCH đã nói lên quyết tâm của bành trướng Trung Quốc.
Lúc này do các khảo sát địa chất của Hoa Kỳ, việc Biển Đông chứa đựng một tài nguyên lớn về khoáng sản nhất là dầu hỏa đã được dư luận thế giới đề cập đến.
Thế nhưng mặc dù kinh nghiệm 1974 và ý đồ rõ ràng của Trung Quốc với Biển Đông,1988 Việt Nam vẫn không chuẩn bị kỹ để đối phó với hải chiến. Một số đảo của Trường Sa do Việt Nam nắm giữ chủ quyền lại bị Trung Quốc chiếm bằng vũ lực năm 1988.
Nếu tính toán đến một trận hải chiến với Trung Quốc trong tương lai, Hải quân Việt nam phải có phương án dành lại cho được quần đảo Hoàng Sa và những đảo Trường Sa đã mất cho Trung Quốc 1988 cùng với việc hiển nhiên là bảo vệ an toàn cho các đảo đang thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Quan sát Đặng Tiểu Bình trong hải trận 1974 thì thấy rõ: Trung Quốc lúc đó rất sợ sự chống trả quyết liệt của VNCH. Nếu thời điểm ấy, cả VNDCCH cũng lên tiếng phản đối Trung Quốc, và nếu VNCH kiên trì chống trả, chịu một hi sinh lớn hơn, thì chắc Trung Quốc không chiếm nổi Hoàng Sa. Nhưng sự việc đã không theo ý muốn, VNDCCH khi đó là một nước nhận viện trợ quốc tế vô sản của Trung Quốc, là một nước bị trói buộc bởi chủ nghĩa quốc tế vô sản, VNDCCH đã ngầm ủng hộ Trung quốc.
Như vậy thì đoàn kết dân tộc lúc nào cũng là yếu tố số 1 để bảo vệ tổ quốc. 
Thứ nữa là việc quang minh chính đại thông báo với dư luận trong nước, dư luận thế giới về những hành vi ngang ngược của Trung Quốc, vạch trước các âm mưu của Trung Quốc về Biển Đông, cũng như thực hiện đoàn kết với các nước có tình huống bị Trung Quốc khiêu khích như Việt Nam để tranh thủ dư luận thế giới, tranh thủ sức mạnh mềm để bảo vệ biên cương, lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam.
Bây giờ ta hãy xem kế hoạch bành trướng của Trung Quốc ra Biển Đông trong vòng 3 năm qua. Sau 3 thập niên tăng trưởng liên tục, kinh tế Trung Quốc đã mang cho nhà nước cộng sản này ngân sách khổng lồ. Cùng với kế hoạch 4 hiện đại hóa, quân đội Trung Quốc đã có tiến mạnh về tổ chức và trang bị vũ khí. Các khó khăn kinh tế của Hoa Kỳ đã thúc đẩy Trung Quốc mạnh dạn hơn trong kế hoạch bành trướng Biển Đông của họ.
Tháng 9/2009, Trung Quốc công bố "đường lưỡi bò ", cơ sở để qui 80% diện tích Biển Đông làm lãnh hải của Trung Quốc.
Để có cớ dùng vũ lực, đầu năm 2010, họ tuyên bố Biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.
Mặc dầu có khó khăn vướng víu trong hai cuộc chiến tranh khác, Hoa Kỳ đã phản ứng như một nhà đầu tư lão luyện khi thấy cổ phiếu Biển Đông có thể tăng giá. Họ mua ngay ngày 23/7/ 2010. Tại Hà nội, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố: Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia ở Biển Đông.
Tuyên bố này của Ngoại trưởng Hoa Kỳ đã đưa họ trở lại vị trí hiện diện tích cực tại Biển Đông sau 2 thập kỷ mờ nhạt. Sự hiện diện trở lại, ý đồ tham gia tích cực trên bàn cờ chiến lược Biển Đông chắc chắn sẽ mang lại cho Hoa Kỳ những lợi nhuận không nhỏ.
Ta hỏi việc này có lợi gì cho Việt nam ?
Cái lợi trước mắt là cho đến ngày hôm nay 9/6/2011, Trung Quốc vẫn chưa dám hải chiến, chiếm nốt các đảo do Việt Nam cai quản trong địa phận Trường Sa. Động tác này,Trung Quốc đã chuẩn bị rất tâm huyết. Họ tặng lãnh đạo Việt Nam 16 chữ và 4 điều tốt, ru ngủ ý thức cảnh giác của Việt Nam. Họ trồng rừng biên giới mà thực tế là xây trận địa ém quân. Họ tạo các bẫy nợ nần để Việt Nam lệ thuộc hơn vào họ. Họ khai thác Tây Nguyên để đưa người vào địa bàn chiến lược này...
Tất cả chỉ để lệ thuộc Việt Nam vào chính sách chư hầu của họ, để chuẩn bị chiếm nốt Trường sa của Việt Nam.
Việc bao giờ Trung Quốc ra tay? Họ chỉ chờ khi tình hình cho phép là ra tay. Khâu chuẩn bị như trên trình bầy đã tiến hành chu đáo.
Như trong trận Xích bích: Tất cả đã sẵn sàng, chỉ còn chờ gió đông.
Nhưng trời lần này không chiều người Trung Quốc.
Cụm từ ” Trung Quốc có lợi ích cốt lõi tại Biển Đông " đã không được Hoa kỳ thông cảm.
Dường như Trung Quốc bị bất ngờ trước phản ứng của Hoa Kỳ tại Hà Nội ngày 23/7/2010. Phản ứng của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì là biểu hiện. Để Hoa Kỳ có thể thể hiện mạnh mẽ ý định của mình, để tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton có hậu thuẫn, sức mạnh, đầu tiên phải có được sự ửng hộ của nước chủ nhà, của Hà Nội. Trung Quốc đã không đánh giá hết được phản ứng của Việt Nam.
Sau 7/2010 là thời gian có vẻ như Trung Quốc muốn rút lại tuyên bố Biển Đông là quyền lợi cốt lõi nhằm tránh mất mặt trước thế giới khi Hoa Kỳ chống phá.
Đầu tiên họ tung ra các cuộc tập trận trên biển Hoàng hải. Sau đó họ khoe khoang các máy bay hiện đại, máy bay tàng hình, rồi tầu sân bay...
Hồ Cẩm Đào thăm Hoa Kỳ tháng 1/2011.
Tháng 5/2011 Tổng tham mưu trưởng QDDGPND TQ thăm Hoa Kỳ, có bài phát biểu cam kết phát triển hòa bình.
Dường như những động thái này của họ có tác dụng.
Hoặc họ đã nắm được chiến lược Hoa Kỳ.
Thế là sự việc cắt cáp thăm dò của tầu Bình minh02 được thực hiện trong vùng lãnh hải 200 hải lý của Việt Nam. Có vẻ như lần này họ lại tự tin là Việt Nam sẽ không dám phản kháng như trong quá khứ.
Họ muốn qua vụ việc này gián tiếp khẳng định với Hoa Kỳ sự trở lại của học thuyết cốt lõi của họ ở Biển Đông. Chủ quyền của Trung Quốc sẽ được hoạch định theo đường lưỡi bò chín khúc.
Năm nay thái độ của Hoa Kỳ là hòa hoãn hơn 2010. Có vẻ như Hoa Kỳ chỉ quan tâm đến an toàn hàng hải quốc tế mà không muốn can dự vào các bên trong các tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải. Như vậy giới hạn chịu đựng đứng ngoài cuộc của Hoa Kỳ là an ninh hàng hải quốc tế.
Nắm được điều này, cùng với việc trá hình của các tầu hải giám, Trung Quốc đã ngang ngược vi phạm sâu lãnh hải Việt Nam và cắt cáp dò dầu khí của Việt Nam. Thái độ tiếp tục ngang ngược của Trung Quốc ngày 9/6 có thể là một phản ứng dọa nạt sau các cuộc tụ tập phản đối Trung quốc của thanh niên sinh viên và nhân dân Việt Nam tại Hà Nội và Sài Gòn, sau phản ứng chỉ mang tính ngoại giao của chính phủ Việt Nam. Sự cố Viking II cũng có thể là một hành động nhằm cảnh cáo thẳng vào lãnh đạo Việt Nam vì đã để xẩy ra các tụ tập trên, vì đã làm bẽ mặt Trung Quốc trước Hội nghị Shangri-La (6/2011). Hoặc nghiêm trọng hơn,có thể là một tính toán nhằm gây hỏa mù, dương đông kích tây, bất ngờ hải chiến, chiếm nốt Trường Sa.
Thái độ của Hoa kỳ gợi cho người Việt nam một số suy nghĩ:
1. Việt Nam không thể để xẩy ra trường hợp các Công ty lớn thăm dò dầu khí của Hoa kỳ rút hết khỏi Việt Nam do nhận các hợp đồng có ích lợi kinh tế hơn của Trung Quốc. Lúc này là Hoa Kỳ chơi con bài Việt Nam, chỉ câu lợi về mình.
2. Để Hoa Kỳ tiến hành thúc đẩy mạnh mẽ các quan hệ thân thiện với Việt Nam, để có thể tiến tới một liên minh chiến lược mà quyền lợi biển đảo, lãnh thổ của Việt Nam cũng được Hoa Kỳ ràng buộc coi trọng: Việt Nam phải có cải cách dân chủ.
Thực tế, việc Việt nam tiếp tục hô hào trung thành với CN Mác- Lênin là trái ngược với bản chất xã hội Hoa Kỳ. Việc chính quyền Việt Nam đàn áp đối lập, đè nén nhân quyền, nhất là vụ xét xử Cù Huy Hà Vũ đã đẩy Việt Nam đến giới hạn của sự tin tưởng của Hoa Kỳ.
Ngoại trưởng Hoa Kỳ trong năm nay đã có phát biểu quan trọng về tự do Internet, về sự lố bịch của lãnh đạo Trung Quốc như những thằng hề hòng ngăn cản tiến bộ xã hội.
Trên tinh thần này, ta hiểu, trong tương lai gần nếu Việt Nam không cải cách dân chủ, khó nhận được sự hợp tác mạnh mẽ từ phía Hoa kỳ.
Từ nay, Biển Đông đã bước vào giai đoạn mới của kế hoạch bành trướng Trung Quốc. Có thể Trung Quốc sẽ thường xuyên gây hấn những vụ việc tương tự. Có thể Trung Quốc tăng cường cản trở việc khai thác dầu hỏa ngoài khơi của Việt Nam.
Trước đây, Việt nam thường tự hào với ngoại giao đánh đu ở giữa hai nước lớn Trung Quốc và Liên-Xô. Ngày nay chính quyền Việt Nam cũng muốn lặp lại chiến thuật ấy giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc nhằm câu lợi về mình. Việt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi nước trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam đừng quên rằng: các nước cộng sản hiện chỉ còn Trung Quốc, Cu Ba, Bắc Triều Tiên mà thôi. Việt Nam cũng đừng quyên rằng trong quan niệm của thế giới ngày nay, CNCS đồng nghĩa với độc tài, phát xít, phản nhân quyền...
Để kết thúc bài tiểu luận này, tôi xin phép trích ý kiến của một giáo sư am hiểu về tình hình Việt Nam, giáo sư C. Thayer:
"Việt Nam không thể thật sự trông mong Hoa Kỳ giúp đỡ. Việt Nam không phải là nước ký hiệp ước đồng minh với Hoa Kỳ như là Philippines, cũng không phải là đối tác chiến lược với Hoa Kỳ như Singapore. Mặc dù Việt Nam đã bắn tiếng muốn đẩy mạnh công cuộc hợp tác quốc phòng với Hoa Kỳ, tuy nhiên Hoa Kỳ quan ngại sẽ bị ‘lừa phỉnh’ trong cuộc tranh chấp song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc.
“Việt Nam đang phải trả giá vì đã nhượng bộ và chiều ý Trung Quốc trong thời gian quá dài, trong khi đó lại do dự và miễn cưỡng trong việc phát triển mối quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ. Nếu những mối quan hệ này đã được phát triển từ khoảng một thập niên qua thì nay Việt Nam đã ở vị trí tốt hơn để hợp tác với Hoa Kỳ trong vấn đề này”
Để 10 năm sau, chúng ta có một Việt nam độc lập tự chủ hoạch định kế hoạch tương lai của mình, để quan hệ Việt Nam - Hoa kỳ thật sự là đồng minh chiến lược, ngay hôm nay, Việt Nam phải CẢI CÁCH DÂN CHỦ.
  Nguyễn Nghĩa 650 (danlambao)   danlambaovn.blogspot.com

Có mắt cũng như không

Có mắt cũng như không

Phạm Trần - Những hình ảnh oai hùng và các bài tường thuật của các nhà báo tự do về hai cuộc xuống đường biểu tình chống TQ của hàng trăm người dân vào sáng ngày 5 tháng 6 (2011) tại Hà Nội và Sài Gòn (Tp Hồ Chí Minh) đã tràn ngập cả thế giới, thế mà ở Việt Nam, nơi mang tiếng có trên 700 tờ báo và nhiều Đài truyền hình và Truyền thanh của nhà nước với cả chục ngàn phóng viên hành nghề mà có rất ít người biết có biến cố này.
Tại sao vậy ?
Bởi vì Ủy ban Tuyên giáo Trung ương, cơ quan “cai trị” báo chí và các cơ quan truyền thông của đảng, do Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã ra lệnh cho các báo không được viết bài, đăng hình.
Duy nhất chỉ có Thông tấn Xã Việt Nam (TTXVN), hãng thông tin chính thức của Chính phủ và của đảng Cộng sản Việt Nam đã được lệnh phổ biến bản tin xuyên tạc sự kiện này nguyên văn như sau :
“ Về việc một số người tụ tập gần ĐSQ Trung Quốc
Ngày 5/6, một số phương tiện truyền thông ở ngoài nước loan tin về việc đã xảy ra "các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc" trước cửa Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Đó là thông tin sai sự thật.
Trên thực tế, sáng 5/6, có một số ít người đã tự phát tụ tập, đi ngang qua Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc ở Thành phố Hồ Chí Minh để thể hiện tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, bày tỏ thái độ phản đối việc các tàu hải giám của Trung Quốc cản trở hoạt động, cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 khi tàu này đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Những người này cho rằng, hành động của các tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, vi phạm Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.
Những người này tụ tập một cách trật tự, bày tỏ thái độ một cách ôn hòa, và sau khi được các đoàn thể, các cơ quan chức năng của Việt Nam giải thích, họ đã tự giải tán, ra về.”

Bản tin phản quốc, hạ nhục lòng yêu nước của người dân và xuyên tạc sự thật này tự nó đã phản ảnh 2 điều: gian dối và sợ hãi.
Gian dối vì nói sai sự thật là hành động tán tận lương tâm của người làm báo.
Sợ hãi đến nhu nhược và hèn hạ không dám gọi cuộc biểu dương có biểu ngữ và bích chương lên án hành động xâm lược của Trung Hoa ở Biển Đông là “các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc” đã thể hiện thái độ cúi đầu, khúm núm của kẻ bề tôi sợ làm mất lòng anh láng giềng “to xác, xấu tính” như lời viết của một bích chương cầm tay của người biểu tình tại Sài Gòn.
Những người biểu tình, khoảng ngót 300 trăm người ở Hà Nội và nhiều đến gần vài ngàn người ở Sài Gòn, phần nhiều là Thanh niên, Thiếu nữ, Sinh viên và học sinh chứ không chỉ “có một số ít người” như tin xuyên tạc, hạ cấp của TTXVN.
Cả hai đoàn người biểu tình , kẻ trước người sau, đã từng nhóm nhỏ tìm cách tập trung từ 8 giờ sáng trước Tòa Đại sứ Trung Hoa tại Hà Nội và Tòa Tổng Lãnh sự quán của Bắc Kinh tại Sài Gòn, dù bị công an, bảo vệ chìm nổi và cảnh sát chận đường, xua đuổi, vẫn hiên ngang đối diện từ xa với hai mục tiêu để hô vang nhiều khẩu hiệu chống Tầu : “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”, “Trung Quốc, hàng xóm to xác xấu tính”, “Tẩy chay hàng Trung Quốc”, “Thanh niên Việt Nam tiến lên quyết tâm bảo vệ Tổ Quốc”, “Đả đảo Trung Quốc xâm lược”, “Việt Nam muôn năm”.
Thế mà, TTXVN lại bẻ cong chữ nghĩa cho rằng số người biều tình đã “ tự phát tụ tập, đi ngang qua Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc ở Thành phố Hồ Chí Minh để thể hiện tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc…” coi như họ “đi dạo phố” ngang qua 2 mục tiêu chứ không biểu tình chống ai !
Vậy lúc người dân tuần hành qua đường này, phố nọ, cố phá vỡ hàng rào cản của công an, bảo vệ, cảnh sát để chửi vào mặt bọn người Tầu đang lấp ló bên trong hai Tòa nhà ngoại giao của họ thì các “cán bộ” làm báo ở đâu mà không thấy hàng chục tấm biểu ngữ dài hơn chục mét giăng cao trên đầu người mầu vàng, chữ đỏ và hàng trăm tấm biển giấy to, nhỏ viết các hàng chữ : “China, hàng xóm to xác-xấu tính” , “Peace-Respect For Vietnam”, “Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam”, “Phản đối Trung Quốc Gây Hấn”, “Đời đời các người sẽ bị nguyền rủa”, “Đời đời các người sẽ bị qủa báo”, hay “Công lý và Hòa bình trên Biển Đông.” v.v…
Có thanh niên, thiếu nữ còn mang các Bích chương vẽ hình “hình hải tặc trên cờ của Trung quốc”, hay hình “Đầu cá há miệng toan đớp lấy lá cờ Việt Nam”.
Ngoài bản tin xuyên tạc trắng trợn của TTXVN, các báo chính thống của đảng và nhà nước như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Tạp chí Cộng sản, Hà Nội Mới đều không đăng tin biểu tình, kể cả bản tin TTXVN. Họ đã lờ đi coi như không hế có chuyện người dân phản đối TQ tại Hà Nội và Sài Gòn trong buổi sáng ngày 5-6 (2011).
Sự sợ hãi làm phật lòng TQ của báo chí Việt Nam theo lệnh Ban Tuyên giáo Trung ương không làm cho ai ngạc nhiên vì từ nhiều năm qua, chính Nhà nước và các viên chức đảng cũng chỉ dám nói “tàu lạ” đã tấn công các thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam ở quanh vùng Hòang Sa và Trường Sa chứ không dám nói đích danh là tầu của Trung Quốc.
Ngay cả các cấp chỉ huy Bộ đội Biên phòng cũng chỉ dám nói “tàu lạ”, hay “tàu nước ngoài” thay vì chỉ đích danh tàu của Trung Quốc.
Bằng chứng như bản tin của phóng viên Công Minh viết trên Báo Biên Phòng ngày 30/05/2011: “Một tàu lạ chạy từ hướng vùng biển Thái Lan đến gần rồi bất ngờ nã đạn xối xả vào tàu của ông Khanh. Hậu quả, một thuyền viên bị trúng 2 viên đạn, chết ngay trên tàu. Thành tàu, boong tàu… còn nhiều dấu đạn.
Sáng 29/5, Thiếu tá Võ Văn Sử - Đồn trưởng Đồn Biên phòng 692 Sông Đốc (Bộ đội Biên phòng tỉnh Cà Mau), cho biết: Đơn vị vừa tiếp nhận và hoàn chỉnh hồ sơ ban đầu để bàn giao cho Công an tỉnh Cà Mau về vụ tàu cá số hiệu CM 6927 của ông Nguyễn Tuấn Khanh (hành nghề lưới đèn, ngụ khóm 1, thị trấn Sông Đốc, Trần Văn Thời, Cà Mau) giao cho Lâm Văn Tịnh (ngụ xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời) làm Thuyền trưởng, đang hoạt động khai thác trên biển thì bất ngờ bị một tàu khác dùng vũ khí tấn công.
Theo tường trình của Thuyền trưởng Tịnh, vào khoảng 4h15' ngày 28/5, khi anh đang điều khiển tàu hoạt động trên vùng biển giáp ranh giữa Việt Nam với Thái Lan thì bị một tàu lạ chạy từ hướng vùng biển Thái Lan đến gần rồi bất ngờ nã đạn xối xả vào tàu của mình. Hậu quả, thuyền viên tên Huỳnh Văn Trà (21 tuổi, quê xã Khánh Bình Tây Bắc) bị trúng 2 viên đạn, chết ngay trên tàu. Thành tàu, boong tàu… còn nhiều dấu đạn khác. Bị tấn công bất ngờ, Thuyền trưởng Tịnh ra lệnh cho thuyền viên trên tàu tắt đèn, tháo chạy ngay vào đất liền để trình báo với cơ quan chức năng.”
Đây là vùng biển giữa Vũng Tầu và đảo Côn Sơn, nơi ngư dân Việt Nam thường xuyên báo cáo gặp nhiều tàu của Trung Quốc vào sâu trong lãnh hải Việt Nam để đe dọa hay tịch thu tài sản.
Không chỉ có vậy, ngày 31-5 (2011), các tàu Trung Quốc đã ngang nhiên xâm nhập hải phận Vũng Tàu phá rối cuộc thăm dò của Tàu Viking II do Công ty Dầu Hỏa thuê của một Công ty Pháp. Đến ngày 9-6 (2011), một chiềc tàu đánh cá khác của Bắc Kinh đã xâm nhập vùng biển này để cắt giây cáp thăm dò của tàu Viking II.
Sự kiện này xẩy ra chỉ trong vòng 2 tuần lễ sau vụ tàu Bình Minh 2 và sau các lời hứa hẹn giải quyết các vụ xung đột bằng giải pháp hòa bình của Thượng tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc tại Tân Gia Ba trong cuộc họp ngày 3-6 (2011) với Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, đại tướng Phùng Quang Thanh.
Bản tin của VNNET ngày 9-6 (2011) đã viết như sau về biến cố này: “Bà Nguyễn Phương Nga (phát ngôn viên Bộ Ngọai giao CSVN) trong buổi họp báo chiều nay đã xác nhận: vào lúc 6h sáng ngày 9/6, tàu Viking 2 do PetroVietnam thuê đang tiến hành hoạt động thăm dò thì bị tàu cá Trung Quốc mang số hiệu 6226, cùng hai tàu ngư chính yểm trợ mang số hiệu 311 và 303, chạy ngang qua mũi tàu sau đó đổi hướng và gia tăng tốc độ.
Tàu Viking 2 đã phát pháo hiệu cảnh cáo song các tàu này vẫn lao vào, bộ phận cắt cáp chuyên dụng của tàu cá 6226 mắc vào tuyến cáp của Viking 2 khiến tàu thăm dò của Việt Nam không thể hoạt động bình thường. Hai tàu ngư chính 311 và 303 cùng một số tàu cá khác của Trung Quốc sau đó đã tiến vào giải cứu tàu 6226.
Cho biết khu vực xảy ra sự việc (lô 136/03 tại 6o47,5 Bắc, 109o17,5 Đông) nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theo luật pháp quốc tế, bà Nga nhận định hành động này của các tàu cá và tàu ngư chính Trung Quốc là hoàn toàn có chủ ý, được tính toán và chuẩn bị kỹ lưỡng.
"Hành động này của phía Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình, vi phạm Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước về việc duy trì hòa bình ổn định tại Biển Đông, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế đối với PetroVietnam", bà Nga nói.
ƯƠN HÈN RA MẶT
Lời phản kháng của Nguyễn Phương Nga nghe có vẻ “sướng tai” đấy, nhưng trong thực tế thì các quan chức Việt Nam đã hành động bỉ ổi ngược lại.
Bằng chứng thêm: cả thế giới đều biết TQ đã xua quân tấn công và chiếm 8 đảo của Việt Nam trong quấn đảo Trường Sa năm 1988, thế mà một viên Thượng tá Hải quân của CSVN, qua tường thuật của Đài Tiếng Nói Việt Nam (TNVN) , trong lễ tưởng niệm 64 chiến sỹ đã hy sinh trong cuộc hải chiến này (14-3-1988) ngay tại khu vực Trường Sa vào ngày 9-5-2010 cũng chỉ dám nói “lực lượng quân sự Nước Ngoài” đã tấn công và chiếm đóng một số vị trí của Trường Sa.
Hai thông tín viên Mạnh Hùng và Việt Cường viết: “Trong diễn văn đọc tại Lễ tưởng niệm, Thượng tá Trịnh Lương Vượng, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn M46, vùng D Hải quân nhấn mạnh: Với mưu đồ thôn tính Trường Sa, độc chiếm biển Đông, từ cuối năm 1987, đầu năm 1988, lực lượng quân sự “nước ngoài” đã ngang nhiên chiếm đóng một số bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia với phương châm “không dùng vũ lực để giải quyết những vấn đề tranh chấp trên biển”. Bất chấp lẽ phải, quân đội “nước ngoài” ngang nhiên tấn công quân sự, bắn chìm, bắn cháy 3 tàu vận tải của ta.”
Khi nói về tình hình hiện nay ở vùng biển Trường Sa, Trịnh Lương Vượng nói tiếp : “ Với toan tính và tham vọng thôn tính Trường Sa, độc chiếm biển Đông của “nước ngoài”, Trường Sa hôm nay vẫn chưa thực sự bình yên. Chúng tôi, những người hiện đang tiếp tục sự nghiệp của các đồng chí, xin thề trước anh linh của tổ tiên, trước hương hồn của các đồng chí, đồng thời xin nhắn nhủ tới các thế hệ mai sau, quyết tâm bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và xây dựng Trường Sa trở thành một huyện đảo giàu mạnh, ngang tầm với vị trí chiến lược trên Biển Đông”..
Tại sao lại phải “hèn nhát” đến thế nhỉ ? Xin hãy đọc tiếp :
BÁO TQ VÀO MẶT VIỆT NAM
Trong khi báo Việt Nam không dám đụng tới lỗ chân lồng của Trung Quốc thì một số báo Trung Quốc từ lâu nay, điển hình như Tờ Hòan Cầu Báo đã khinh Việt Nam ra mặt.
Ngay sau khi xẩy ra vụ 3 tàu Bắc Kinh tấn công, cắt cáp của tàu khảo sát Bình Minh 2 của Công ty Dầu hỏa Việt Nam ngày 26-5 trong hải phận tỉnh Phú Yên thì Hòan Cầu Báo lên mặt cảnh cáo Việt Nam : “ Trung Quốc là nước lớn, sức mạnh hơn hẳn Việt Nam".
"Trong thời gian qua, Trung Quốc luôn tìm cách tránh leo thang xung đột Biển Đông với Việt Nam, không muốn ép buộc Việt Nam phải thuận theo quan điểm của mình và Việt Nam biết rõ điều này."
Hoàn Cầu báo còn tố cáo Việt Nam thường xuyên tiến hành thăm dò dầu khí tại các khu vực tranh chấp là để “ thách thức lòng kiên nhẫn của Trung Quốc.”
Báo này hung hăng tiếp rằng : “Tuy nhiên sự kiềm chế của Trung Quốc không phải là không có giới hạn…Nếu Việt Nam cho rằng sự kiên nhẫn của Trung Quốc nhiều như muối ở Nam Hải (Biển Đông), thì họ đã vấp phải sai lầm chiến lược".
Trong khi đó, một người bình luận TQ có tên là Shih Chi-ping đã lên đài truyền hình ở Bắc Kinh nói rằng: “VN phản đối Trung Quốc (TQ) đưa ba tàu chiến cặp sát tàu dầu của họ, cắt đi dây cáp. VN nói TQ vi phạm lãnh hải của họ và cực lực phản đối. Phản đối cái gì? VN vào lãnh hải TQ. TQ hành xử đúng luật. VNnhận vơ là chủ quyền của họ. Chính hành động cực lực lên án của VN là hành động bất hợp pháp.”

Shih Chi-ping còn nói hỗn xược rằng :” TQ luôn khoan hồng với quá khứ, bởi vì đó là quá khứ. TQ đã hình thành với các quốc gia khu vực bản Tuyên bố ứng xử trong vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). TQ hy vọng giải quyết các tranh chấp qua con đường đối thoại hòa bình. Tuy nhiên nếu VN không dừng lại thì TQ bắt buộc phải dùng vũ lực. Do đó bất kỳ lúc nào TQ cũng chuẩn bị sẵn sàng. Khi tình thế bắt buộc sẽ phải tát cho anh chàng VN vỡ mặt.”(theo Ifeng.com, bản dịch của TTL, 7-6-011,Bauxite Vietnam)
KHÔN NGOAN HAY NHU NHƯỢC ?
Trong khi đó, Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam đưa tin từ Hội nghị an ninh khu vực tại Tân Gia Ba: “Chiều 3-6, Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã có cuộc tiếp xúc song phương với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Thượng tướng Lương Quang Liệt.
“Trên tinh thần láng giềng đoàn kết, hữu nghị, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã nêu rõ sự việc tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02 ngày 26-5 đã bị tàu hải giám của Trung Quốc cắt cáp khi tàu Bình Minh 02 đang hoạt động sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đại tướng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh: “Vụ việc đang gây bức xúc trong dư luận nhân dân và khiến lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam lo ngại”.
Trước thái độ “hòa nhã” của Thanh, Thượng tướng Lương Quang Liệt chối quanh : “ Chúng tôi xin nói rõ là Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc không có hành động can dự nào vào sự việc vừa diễn ra”.
Đúng là 3 tàu của Bắc Kinh tấn công Bình Minh 2 không phải là tàu quân sự của Bộ Quốc phòng Trung Hoa, nhưng chúng đã làm theo lệnh của nhà nước TQ để phá họai công tác thăm dò về khả năng dầu hỏa của Việt Nam, tức là phá họai kinh tế.
Mặt khác,trong bài phát biểu sáng ngày (5/6) tại diễn đàn an ninh cấp cao ở Tân Gia Ba, Lương nói rằng: “Chỉ bằng cách ủng hộ dân chủ trong quan hệ quốc tế và tôn trọng lợi ích cốt lõi cũng như những mối quan tâm lớn của nhau mới có thể khiến khu vực châu Á – Thái Bình Dương thực sự tìm thấy hòa bình lâu dài, ổn định và hòa hợp”.
Mấy chữ “lợi ích cốt lõi” của Trung Cộng đã được nhà cầm quyền Bắc Kinh sử dụng vài năm gần đây để chỉ rõ chủ quyền bất khả phân của họ ở Biển Đông, giống như quyền lợi của họ tại Tây Tạng mà họ đã chiếm được trong thập niên 1950.
Nhưng chủ quyền ở Biển Đông lại bao gồm cả hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam mà Bắc Kinh đã tự nhận từ khi phổ biến bản đồ có hình “lưỡi bò”, hay còn được gọi là “đường 9 đọan” có diện tích từ 80 đến 85 phần trăm diện tích của Biển Đông!
Lập trường “nói một đàng làm một nẻo” của Trung Cộng không chỉ đe dọa Việt Nam mà cả Phi Luật Tân nữa, nhưng chính phủ Phi Luật Tân đã hành động đúng Công pháp Quốc tế là tố cáo Trung Hoa trước Liên Hiệp Quốc mỗi khi có các tầu quân sự hay dân sự của Bắc Kinh xâm nhập gây hấn hay đe dọa ngư dân Phi trong khu vực đảo Trường Sa mà Phi Luật Tân cũng tranh chấp chủ quyền vớib Tầu, Việt Nam, Brunei, Mã Lai Á và cả Đài Loan nữa.
Ngược lại CSVN chưa bao giờ dám tố cáo Bắc Kinh trước Liên Hiệp Quốc hay kiện ra trước Tòa án Quốc tế.
Thái độ nhu nhược của Việt Nam trong vụ tầu Bình Minh 2 không mới vì theo lời Nguyễn Chí Vịnh, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam thì trước đây thì tàu Trung Cộng cũng đã cắt cáp của các tàu thăm dò đáy biển của Việt Nam nhưng khi ấy xẩy ra ngoài khu đặc quyền kinh tế 200 hải lý hay trong vùng “tranh chấp”, thay vì sâu trong nội dịa Việt Nam như vụ tàu Bình Minh, chỉ cách bờ biển Phú Yên trên 200 cây số, hay 80 hải lý bên trong lãnh hải 200 hải lý của Việt Nam.
Nhưng CSVN còn chứng minh nỗi sợ hãi Phương Bắc qua các hành động:
-      Hàng năm không dám cho dân tổ chức truy điệu các chiến sỹ và người dân, khỏang 40 ngàn người đã hy sinh trong cuộc chiến biên giới với Trung Quốc năm 1979. Trong khi đó, báo chí TQ không ngớt ca ngợi công lao của các Tướng lãnh TQ đã “dạy cho Việt Nam” bài học năm 1979.
-      Việt Nam cũng không dám đòi lại phần lãnh thổ đã bị TQ chiếm mất ở điểm Cao 1509 thuộc xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang, bây giờ TQ gọi là Lão Sơn.
-      Việt Nam đã để cho TQ vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên và dành nhiều ưu đãi cho các Công ty TQ vào làm ăn, thiết lập cơ sở ngay trong lãnh thổ Việt Nam.
-      Việt Nam cũng đã dại dột cho các Công ty ở Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan thuê đất rừng dài hạn 50 năm trồng cây kỹ nghệ tại ít nhất 10 tỉnh dọc biên giới chiến lược.
-      Việt Nam không được quyền tự do vào thanh tra các khu vực kinh doanh ngay trên lãnh thổ Việt Nam của các Công ty Trung Hoa. Người dân Việt Nam cũng không được đến gần nên không biết bên trong chúng làm gì.
-      Việt Nam cũng không kiểm soát được có bao nhiều ngàn công nhân Trung Hoa đang có mặt ở Việt Nam. Các con số chính thức của Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội chỉ nhìn nhận trên dưới 40 ngàn, nhưng con số bán chính thức được báo chí bên Việt Nam đưa ra là từ 70 ngàn đến 120 ngàn người. Con số thật là bao nhiêu, không ai biết vì người Trung Hoa ra vào Việt Nam hàng ngày như đi qua nhà hàng xóm!
Đó là nguy cơ có ngày sẽ mất nước không còn là điều mơ hồ nên việc báo chí nhà nước không dám đăng tin và in hình người dân biểu tình chống TQ ở Sài Gòn và Hà Nội ngày 5-6 (2011) cũng là điều dễ hiểu.
Bởi vì ngay chính quyền có mắt mà cũng đã cúi gằm mặt xuống, không dám ngẩng mặt lên mà nhìn thẳng vào mắt người Phương Bắc huống chi mấy anh nhà báo tép riu có mắt cũng như không ?
(06/011)
Phạm Trần
gửi Dân Làm Báo

Nguyễn Chí Vịnh là người Trung Quốc?

Nguyễn Chí Vịnh là người Trung Quốc?

Nguyễn Văn Chiến (tienve) - Những gì Nguyễn Chí Vịnh phát biểu làm người đọc ngơ ngác vì nhiều lúc người đọc tưởng ông ta là hoá thân của bà Khương Du, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc...
*
Ngày 5.6.2011 báo điện tử VTCNews đăng bài phỏng vấn Nguyễn Chí Vịnh, Trung tướng Thứ trưởng Quốc phòng, không ghi rõ tên phóng viên.
Bài phỏng vấn có với nhan đề “Nếu bạo lực vũ trang, quân đội sẽ tham gia”, được trích từ câu trả lời cuối cùng của Nguyễn Chí Vịnh: “Còn nếu với một hành động là bạo lực vũ trang thì dứt khoát quân đội sẽ tham gia bảo vệ”.
Góp ý:
Ra tay khi dân mình, nước mình bị ngoại bang sử dụng “bạo lực vũ trang” là nhiệm vụ hàng đầu, nhiệm vụ tối thượng của quân đội.
Đó là chuyện dĩ nhiên, không cần phải nhắc.
Chẳng lẽ nhà nước thành lập quân đội chỉ để bồng súng duyệt binh mà Nguyễn Chí Vịnh phải “nếu” ở đây?
Bởi vậy, bên cạnh việc “nhìn kỹ những gì Nguyễn Chí Vịnh làm”, chúng ta cũng cần phải phân tích kỹ “những gì Nguyễn Chí Vịnh nói”.
Để tiện bàn, tôi xin chia các câu trả lời dài lê thê của Nguyễn Chí Vịnh cho từng câu hỏi ra từng đoạn nhỏ để tiện “đặt vấn đề”.
* 
VTC: Thưa Trung tướng, trong tất cả các cuộc họp từ khi diễn đàn khai mạc tới nay, vấn đề biển Đông luôn được nhắc đến với hàm ý không đồng tình về sự vô lý của Trung Quốc (Trung Quốc). Ông có nghĩ rằng, ngay tại hoặc sau diễn đàn, Trung Quốc sẽ có những điều chỉnh phù hợp?  
Nguyễn Chí Vịnh: Nói đến biển Đông, người ta thường nhìn vào vấn đề tranh chấp và xung đột. Nhưng cần phải nhìn biển Đông một cách toàn diện để tìm đến căn nguyên của những vấn đề đó. Trước hết, biển Đông là một khu vực ngày càng đem lại nhiều lợi ích cho các quốc gia, không chỉ các quốc gia ven biển. Ví dụ như giao thông hàng hải, tài nguyên trên bờ, nguồn lợi thủy sản và rất nhiều nguồn lợi khác.
Vì vậy, ai cũng muốn can dự vào để có lợi ích ở đó. Sự can dự của các nước vào đây càng ngày càng nhiều, với những lợi ích khác nhau. Đương nhiên có những lợi ích cùng chia sẻ, nhưng cũng có những mâu thuẫn, tranh chấp vì lợi ích. Vì thế, nói tranh chấp biển Đông không chỉ nói giữa Việt Nam và Trung Quốc, mà tất cả những nước có lợi ích ở khu vực.
Tiếng nói của cộng đồng quốc tế tại đây, theo tôi hiểu, là họ nói vấn đề chung đó, rằng đây là "sân" chung, trước hết phải tôn trọng chủ quyền của các nước theo luật pháp quốc tế, không ai được quyền giữ làm "sân" riêng của mình, không ai được quyền khống chế biển Đông, không ai được quyền tài phán ở các khu vực tranh chấp.
Góp ý:
- Chuyện này ai cũng biết, các em sinh viên mặt búng ra sữa tham gia biểu tình trước cơ quan ngoại giao Trung Quốc đều biết. Thân làm tướng với bao trọng trách thế mà ngay giữa tình thế nóng bỏng này ông còn lập lại mấy kiến thức vỡ lòng trên để làm gì?
- Nguyễn Chí Vịnh đã mắc bẫy Trung Quốc hay thay mặt Trung Quốc để phát biểu: “không ai được quyền tài phán ở các khu vực tranh chấp”?
- Nhưng thế nào là “khu vực tranh chấp”, hãy xét qua hai bằng chứng thực tế.
- Bằng chứng 1: Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thế nhưng Trung Quốc cho tàu hải giám chạy vào “hành xử chủ quyền”, thế là khu vực này biến thành “khu vực tranh chấp”. Như thế thì Việt Nam “không có quyền tài phán” hay chăng?
- Bằng chứng 2: Trường Sa của Việt Nam. Nhưng Trung Quốc đưa ra các “bằng chứng lịch sử” để tuyên bố đó là của Trung Quốc, thì tự dưng quần đảo này thành “khu vực tranh chấp”. Theo lý lẽ của Nguyễn Chí Vịnh thì Việt Nam “không có quyền tài phán” hay sao?
Nguyễn Chí Vịnh: Còn sự việc vừa qua đối với tàu Bình Minh 02 của chúng ta là một trong nhiều sự việc khiến người ta quan tâm. Quan tâm cái gì? Năm ngoái, Trung Quốc đưa ra khái niệm "đường lưỡi bò" và năm nay họ chính thức gửi tài liệu lên LHQ. Người ta đặt câu hỏi liệu hành động này có phải là một bước đi đầu tiên để biến "đường lưỡi bò" từ lời nói sang hiện thực hay không. Đây là câu hỏi của cộng đồng thế giới chứ không còn là của riêng Việt Nam, bởi nếu đó là sự thật thì sẽ phương hại đến lợi ích của tất cả các nước có liên quan.
Góp ý:
- Quan tâm đến chủ quyền của Việt Nam, đến sự an nguy của các ngư dân Việt Nam nói riêng và quyền sinh tồn của dân tộc Việt Nam nói chung chứ còn quan tâm cái gì khác?, Nguyễn Chí Vịnh không biết gì hết hay sao?
- Trong “lợi ích chung” của các nước tại Biển Đông thì lợi ích của Việt Nam mang tính sống còn: nếu thiên hạ chỉ bị gãy tay, què chân thì Việt Nam sẽ bị cắt cổ. Lẽ đơn giản là nếu ý đồ của Trung Quốc thành đạt, thì Việt Nam là nước lãnh hậu quả lớn nhất: hải phận chỉ còn là “lạch nước” nhỏ dọc theo bờ biển hình chữ S, do đó sẽ bị bóp nghẹt, không thể ngóc đầu lên nổi.
- Do đó Việt Nam phải hành động tích cực, mang tính dẫn đường cho các nước khu vực và cộng đồng thế giới. Việt Nam không thể đơn giản ngồi đó khoanh tay chờ cộng đồng thế giới phản ứng và “kỳ vọng” vào lòng hiếu hoà của Trung Quốc!
Nguyễn Chí Vịnh: Tôi hoàn toàn kỳ vọng vào sự điều chỉnh, sự nhận thức đúng đắn hơn của Trung Quốc trước những tiếng nói của cộng đồng quốc tế như vậy. Mà có điều chỉnh hay nhận thức đúng hơn thì cũng là vì lợi ích của Trung Quốc mà thôi. Trung Quốc bây giờ cần gì? Thứ nhất là môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Thứ hai, vô cùng cần, là một hình ảnh đẹp trên thế giới, cũng để phát triển. Hình ảnh đẹp đó không phải cho thêm phần mỹ miều, mà, rất thực tế, là để họ phát triển kinh tế, phát triển quan hệ chính trị và uy tín của mình. Đứng về góc độ lợi ích như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng sự điều chỉnh của Trung Quốc.
Góp ý:
- Hãy nghe những tuyên bố chính thức của chính phủ Trung Quốc từ ngày 26.5.2011 đến nay thì sẽ thấy họ đã “điều chỉnh” và “nhận thức đúng đắn” như thế nào!
- Trung Quốc sẽ không bao giờ điều chỉnh theo “kỳ vọng hoà bình” của Nguyễn Chí Vịnh. Mỹ còn mạnh, còn đỡ đầu ASEAN, thì Trung Quốc còn chùn bước. Mỹ mà lép vế, ASEAN tan rã, Trung Quốc sẽ lấn tới và Việt Nam sẽ bị chết ngạt ngay.
VTC: Liên quan đến vụ tàu Bình Minh 02, một chuyên gia luật quốc tế tại Singapore đưa ra ý kiến Việt Nam nên đưa vụ này lên Tòa án Trọng tài quốc tế. Tòa án này có thể giải quyết vụ kiện bất chấp Trung Quốc có đồng ý ra tòa hay không. Trung tướng nghĩ sao về ý kiến này?
Nguyễn Chí Vịnh: Tôi cho đó là một lựa chọn. Nhưng, theo tôi, để xác định về chủ quyền, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý... thì Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) đã nói rõ. Không cần tòa án nào cả. Theo tôi, trước hết và sau cùng vẫn là Việt Nam và Trung Quốc giải quyết với nhau. Cho nên, giải pháp mà chúng ta kiên trì lựa chọn là giải quyết với Trung Quốc, công khai và minh bạch. Chúng ta công khai cho cộng đồng quốc tế biết, như ở hội nghị hôm nay, để người ta có tiếng nói và để Trung Quốc suy nghĩ về hành vi của mình.
Góp ý:
- Luật đã nói rõ, nhưng cần phải có tiếng nói uy tín của một cơ quan tài phán hay một định chế quốc tế như Toà án Quốc tế hay Liên Hiệp Quốc tế để phân định rõ ràng trắng đen.
- Nói như Nguyễn Chí Vịnh thì đảng có thể dẹp hết toà án, nhà tù tại Việt Nam vì mọi thứ đã có “luật phân định rõ ràng” hay sao?
- Trên thực tế, Nguyễn Chí Vịnh đang đại diện cho quyền lợi của Trung Quốc khi phát biểu: “Theo tôi, trước hết và sau cùng vẫn là Việt Nam và Trung Quốc giải quyết với nhau”.
- Quan điểm của Nguyễn Chí Vịnh cực kỳ nguy hiểm. Trên thực tế, Nguyễn Chí Vịnh đang cổ xuý cho phương pháp “Song phương” trong việc giải quyết mâu thuẫn Biển Đông mà Trung Quốc hằng chủ xướng.
Nguyễn Chí Vịnh: Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là hết sức vững vàng, hết sức đúng đắn, khôn khéo và linh hoạt. Đó là kinh nghiệm bảo vệ Tổ quốc được đúc kết từ hàng ngàn năm lịch sử. Đó là gì? Là tăng cường hợp tác, tăng cái đồng về lợi ích, giảm bớt cái bất đồng, trong khi ta vẫn giữ vững chủ quyền lãnh thổ. Việt Nam luôn kiềm chế và không để vấn đề vượt qua tầm kiểm soát mà ranh giới là xung đột. Nói như thế, chúng ta cần rất kiên trì - kiên trì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, kiên trì giữ hòa hiếu, hữu nghị với nước láng giềng. Không còn cách nào khác.
Góp ý:
- “Vững vàng, hết sức đúng đắn, khôn khéo và linh hoạt” kiểu gì mà từ năm 2005 Trung Quốc đã liên tiếp xâm lấn, bắn giết và cướp bóc ngư dân Việt Nam?
- Nguyễn Chí Vịnh còn bày đặt nói sử nữa. Thời Lý, khi không thể giảm bớt cái bất đồng thì phải hành động, và Lý Thường Kiệt đã mang quân sang Trung Quốc đánh phủ đầu, triệt hạ thành Ung Châu.
- Cũng “đúc kết” lịch sử, Nguyễn Trãi đã viết: “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau / Song hào kiệt thời nào cũng có”.
- Còn thời này? Đám lãnh tụ đang run sợ như Nguyễn Chí Vịnh không đáng gọi là “hào kiệt”, dù lon lá và huy chương đeo kín ngực. Dòng máu “hào kiệt” nếu có, nó chỉ đang âm ỉ hay hâm nóng trong những bạn trẻ sinh viên đã bất chấp lời đe doạ của mấy ông hiệu trưởng bán nước, bất chấp lời hù doạ của cán bộ địa phương và đoàn thể, bất chấp ánh mắt rình mò của những nhân viên an ninh chìm nổi canh gác trước các trụ sở ngoại giao Trung Quốc tại Việt Nam, để cất lên tiếng đòi hỏi chủ quyền của tổ quốc mình.
Nguyễn Chí Vịnh: Tôi nhắc lại, đưa ra tòa án quốc tế cũng là một lựa chọn. Nhưng trước hết và sau cùng vẫn là giải quyết với Trung Quốc. Và vì vậy, sự lựa chọn của Đảng và Nhà nước ta sẽ giải quyết được vấn đề, dù là rất lâu dài.
Bây giờ mọi người nhìn vào sự kiện ngày 26/5 một cách rất bức xúc. Tôi đồng ý. Nhưng nếu nói về kết quả, chúng ta hãy nhìn: Trước hết, Trung Quốc đâm tàu, cắt cáp của ta, ta phản đối, đòi bồi thường, sửa xong ta lại tiếp tục thăm dò ở chỗ ấy, ta có bỏ chỗ ấy đâu! Thứ hai, chúng ta tuyên truyền rộng rãi cho cộng đồng thế giới để họ nhìn thấy cái nào đúng, cái nào sai, cái nào đẹp, cái nào xấu.
Sự kiện quá rõ ràng, mọi người đều biết rõ. Còn đối với Trung Quốc, một lần nữa ta nói với họ rằng:“Các đồng chí đã, thứ nhất, vi phạm luật pháp quốc tế; thứ hai, xâm phạm chủ quyền Việt Nam; thứ ba, không tôn trọng các điều khoản Tuyên bố các bên về ứng xử ở biển Đông đã ký với ASEAN".
Chúng ta cũng nói với họ rằng: "Chúng tôi đã làm đúng với nhận thức chung của lãnh đạo hai nước là kiềm chế, là giải quyết song phương, là công khai minh bạch, và tuyệt đối "không sử dụng vũ lực". Đồng thời, chúng ta cũng chứng minh quyết tâm bảo vệ chủ quyền của đất nước. Tóm lại, tôi muốn nói, hãy nhìn sự kiện 26/5 một cách tích cực về phía Việt Nam.
Góp ý:
- Đưa ra một giải pháp lâu dài thì phải phân đoạn lộ trình, chỉ ra từng mục tiêu cao thấp, dự báo diễn biến tình hình trong ngắn hạn và dài hạn và đưa những “kịch bản” khác nhau và những biện pháp khác nhau như “hạ sách”, “trung sách”, “thượng sách”.
- Trên thực tế thì ngày mai, ngày mốt hay tuần sau Trung Quốc sẽ đưa ra phản ứng như thế nào, “đảng ta” hoàn toàn mù tịt. Bằng chứng là “đảng ta” hốt hoảng, hoàn toàn bối rối trước vụ cắt cáp tàu Bình Minh. Như thế thì có tư cách gì mà cao giọng khẳng định “sẽ giải quyết được vấn đề, dù là rất lâu dài”?
- Cứ cho là “Sửa xong ta không bỏ”. Nhưng trên thực tế thì Trung Quốc vẫn tiếp tục khẳng định vùng biển ấy là “ao nhà của họ”. Cứ cho “ta phản đối, ta đòi bồi thường”. Nhưng trên thực tế Trung Quốc vẫn khẳng định là họ luôn làm đúng, họ không thừa nhận họ sai và không chịu bồi thường. Thế thì gọi là “chủ trương sáng suốt và đúng đắn” ở chỗ nào?
- Nếu muốn “tuyên truyền rộng rãi cho cộng đồng thế giới” thì tại sao không đưa ra toà án quốc tế, không mời gọi cộng đồng thế giới tham gia, mà lại chủ trương cách giải quyết song phương kiểu như Trung Quốc muốn: “trước hết và sau cùng vẫn là giải quyết với Trung Quốc”?
- Như có thể thấy từ năm 2005 đến nay Trung Quốc chủ trương gây hấn trên Biển Đông, họ không hề kiềm chế gì cả. Nói rằng “nhận thức chung của lãnh đạo hai nước là kiềm chế” là tự dối mình, tự huyễn hoặc mình hay phát biểu vì quyền lợi của Trung Quốc.
- Tưởng tượng cảnh anh A và anh B. Anh A liên tục đập phá, chiếm đoạt đất đai nhà cửa của gia đình anh B, không coi luật pháp ra gì, không coi anh B ra gì. Việc này khiến thân nhân của anh B “bức xúc”, nhao nhao phản đối. Anh A quay lại nói với thân nhân của mình: “bức xúc cái gì”, “hai bên cần phải kiềm chế”, “ta kỳ vọng A sẽ tự điều chỉnh”, “ta sẽ khiến A hồi tâm, dù là lâu dài”. Trong khi anh B lải nhải như thế thì anh A vẫn tiếp tục đập phá, chiếm đoạt đất đai nhà cửa của gia đình anh B. Anh B này chính là Nguyễn Chí Vịnh!
- Tại sao anh B/Nguyễn Chí Vịnh chủ trương như vậy? Chỉ vì anh cần đến anh A/Trung Quốc để giữ địa vị của cái đảng của anh. “Theo Mỹ thì mất đảng, theo Trung Quốc thì mất nước, thà mất nước còn hơn mất đảng”. Chính vì vậy nên Nguyễn Chí Vịnh cũng gọi giới lãnh đạo Trung Quốc là “đồng chí”!
VTC: Thưa Trung tướng, có người cho rằng tại sao lực lượng của ta không phát hiện sớm và can thiệp đối với tàu hải giám của Trung Quốc mà để họ tiến sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của ta?
Nguyễn Chí Vịnh: Trước hết, vùng đặc quyền kinh tế là của ta, ta có toàn quyền quản lý, khai thác, xây dựng..., và bảo vệ chủ quyền. Nhưng theo UNCLOS, tàu các nước có thể đi lại vô hại trong khu vực này thì chúng ta không có quyền ngăn cấm, thậm chí ta còn có trách nhiệm bảo vệ họ. Vấn đề ở đây là, khi họ hành động uy hiếp, cắt cáp tàu Bình Minh 02 của ta là họ đã vi phạm luật pháp Việt Nam và luật quốc tế.
Quân đội đương nhiên có trách nhiệm bảo vệ vùng biển, vùng trời và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, đây là sự va chạm giữa hai con tàu dân sự. Đây là vụ va chạm dân sự, nên hai chủ thể va chạm phải giải quyết với nhau trên cơ sở luật pháp quốc tế và báo cáo lên các cơ quan luật pháp, cơ quan quản lý của hai nước. Tuy nhiên, quân đội phải theo dõi sát tình hình, không để sự việc diễn biến phức tạp, leo thang. Còn nếu với một hành động là bạo lực vũ trang thì dứt khoát quân đội sẽ tham gia bảo vệ.
Góp ý:
- Tàu Bình Minh là tàu dân sự, tài hải giám Trung Quốc cũng là tàu dân sự. Nhưng hành động quấy rối, phá hoại tài sản của tàu hải giám trên đã mang tính “hình sự”.
- Vấn đề không phải là chỉ riêng hai tàu “Bình Minh” và hải giám như hai “chủ thể độc lập tự do”, do đó Nguyễn Chí Vịnh không thể lập luận là “hai chủ thể va chạm phải giải quyết với nhau”.
- Vấn đề ở đây là hai chiếc tàu đại diện cho hai quốc gia: tàu Bình Minh thăm dò tài nguyên cho Việt Nam, tàu hải giám Trung Quốc “bảo vệ hải phận Trung Quốc”. Sự va chạm giữa hai tàu này chính là va chạm của hai quốc gia.
- Đó là hành động mang tính hình sự, thì phải giải quyết theo phương pháp hình sự. Theo Nguyễn Chí Vịnh thì phải “giải quyết “trên cơ sở luật pháp quốc tế”, do đó cách tốt nhất là đưa ra toà án quốc tế hay Liên Hiệp Quốc. Tại sao Nguyễn Chí Vịnh lập đi lập lại rằng chỉ cần giải quyết với Trung Quốc trên cơ sở song phương?
- Trước một biến cố như vậy thì trách nhiệm của nhà nước là phải tích cực điều tra, củng cố hồ sơ pháp lý và ngoại giao của mình. Nhà nước là cái gì mà ngồi đó khoanh tay đợi người trong cuộc “báo cáo lên các cơ quan luật pháp, cơ quan quản lý?”
- Nguyễn Chí Vịnh nói: “Còn nếu với một hành động là bạo lực vũ trang thì dứt khoát quân đội sẽ tham gia bảo vệ”. nghĩa là nếu Trung Quốc không cho tàu hải quân tiến vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gây sự, mà cứ cho ngư dân Trung Quốc lái tàu to tông bể ghe đánh cá của Việt Nam, cho tàu Ngư chính hay Hải giám vào quậy phá là được. Lúc này hải quân Việt Nam sẽ khoanh tay đứng nhìn, Nhà nước sẽ chờ dân “báo cáo lên”, và lãnh đạo đảng sẽ kiên trì kỳ vọng rằng Trung Quốc sẽ “tự điều chỉnh”?
- Việc đưa các tàu “dân sự” như “Ngư chính” và “Hải giám” vào lãnh hải của Việt Nam là trò lưu manh của Trung Quốc. Tức là Trung Quốc dùng trò này để “hành xử chủ quyền” trên Biển Đông và khủng bố ngư dân Việt Nam. Tại sao những người có trách nhiệm như Nguyễn Chí Vịnh không tương kế tựu kế, thành lập những đội tàu tương tự để bảo vệ ngư dân và “hành xử chủ quyền”?
*
Tóm lại, những gì Nguyễn Chí Vịnh phát biểu làm người đọc ngơ ngác vì nhiều lúc người đọc tưởng ông ta là hoá thân của bà Khương Du, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc.
Nhà văn Vũ Thư Hiên cho biết vào thập niên 60 ông Nguyễn Chí Thanh (đại tướng, tổng cục trưởng tổng cục chính trị) đã đặt Cục Đồ Bản của Trung Quốc in bản đồ 1/1000, là thứ bản đồ dùng cho pháo binh. Ông dẫn lời nhận xét của cha mình sau khi ở tù về nghe tin này: “Đó là bí mật quốc gia, không một nước nào tự nguyện trao cho nước khác. Sao nó ngu thế! Sao nó bậy thế!” (Đêm giữa ban ngày, trang 230)
Bây giờ con trai của Nguyễn Chí Thanh là Nguyễn Chí Vịnh đi theo chủ trương của Trung Quốc để “giải quyết song phương” các tranh chấp Biển Đông. Nguyễn Chí Thanh lại còn thắc mắc là người Việt Nam “bức xúc cái gì” khi nghe tin Trung Quốc ngang ngược xâm phạm chủ quyền!
Nguyễn Chí Thanh và Nguyễn Chí Vịnh, hết phiên cha ngu nay đến phiên con ngu chăng?
Hay là hết phiên cha bán nước, nay đến phiên con bán nước?

Kinh tế Trung Quốc Xác To Bụng Xấu Tuesday, June 07, 2011 6:55:58 PM

Kinh tế Trung Quốc Xác To Bụng Xấu
Tuesday, June 07, 2011 6:55:58 PM Bookmark and Share



Ngô Nhân Dụng

Ðồng bào biểu tình tuần hành tại Sài Gòn ngày Chủ Nhật vừa qua mang một khẩu hiệu rất gợi hình: Trung Quốc To Xác Xấu Bụng! Ðó là một cách dịch bằng hình ảnh rất cụ thể hai chữ Bá Quyền.
Bắt chước lối nói bình dân đó, có thể mô tả tình trạng kinh tế của Trung Quốc bằng một hình ảnh: Xác To, Bụng Xấu.
Xác To: Sản lượng kinh tế của Trung Quốc đứng hàng thứ nhì trên thế giới, và trong vài ba thập niên nữa sẽ lên hàng thứ nhất. Một con số nổi bật là số dự trữ ngoại tệ. Vào Tháng Ba, số ngoại tệ dự trữ tại Ngân Hàng Trung Ương ở Bắc Kinh (tên chính thức là Nhân Dân Ngân Hàng) đã lên tới 3,000 tỷ đô la Mỹ, tăng gần một phần tư trong 12 tháng.
Bụng Xấu: Kinh tế Trung Quốc đang bị một “mối họa tâm phúc,” tiếng ta gọi là đau bụng, một chứng đau bụng kinh niên, ngày càng trầm trọng thêm vì hệ thống tài chánh đang trên đường phá sản với những món nợ khổng lồ không thể thanh toán được! Tình cảnh này không khác gì những đại ngân hàng sụp đổ ở Mỹ vào năm 2007, sau khi cho vay để người ta mua nhà rồi con nợ không trả được. Năm 2008 Tổng Thống Gorges W. Bush đã phải bỏ ra 700 tỷ đô la để cứu, sau khi để cho một anh phá sản! Cơn sốt địa ốc và chứng khoán ở Trung Quốc trầm trọng không thua gì ở Mỹ bốn năm trước. Khi các ngân hàng lâm cảnh vỡ nợ, Hồ Cẩm Ðào hay Tập Cận Bình cũng sẽ phải cứu. Số nợ không đòi được của các ngân hàng thương mại Trung Quốc có thể lớn đến 1,200 tỷ đô la! Trong khi đó, số nợ của Ngân Hàng Nhân Dân cũng đang tăng lên chính vì muốn thu hút ngoại tệ vào trong tay! Tình trạng “nợ xấu” này là hậu quả của cơ cấu kinh tế mất cân bằng và việc cải tổ chính trị chậm chạp. Cho nên ông Ôn Gia Bảo đã phải báo động hai lần là nếu không thay đổi chính trị thì kinh tế sẽ ngưng trệ!
Tóm lại, kinh tế Trung Quốc là hình ảnh một anh to béo vạm vỡ nhưng ruột gan đầy bệnh tật!
Tại sao hệ thống ngân hàng Trung Quốc sinh ra chứng bệnh “Báng” đầy những nợ xấu trong bụng như thế? Nguyên do là chính sách của đảng Cộng Sản Trung Hoa dùng các ngân hàng của nhà nước cho các doanh nghiệp nhà nuớc vay, gọi là “phát tiền” thì đúng hơn, vì các tiêu chuẩn thẩm định tín dụng thường được bỏ qua. Ðặc biệt từ năm 2008, một khối tiền khổng lồ được đổ ra để “kích thích kinh tế.” Chính quyền Trung Quốc không dùng số tiền đó vào việc kích thích người dân tiêu thụ nhưng họ đưa tiền cho các công ty quốc doanh đầu tư thêm, mà phần lớn các vụ đầu tư đó không có lợi. Hậu quả là tỷ lệ lạm phát ngày càng lên cao. Từ năm ngoái Bắc Kinh đã cố chặn bớt số tiền cho vay lại, bằng cách tăng lãi suất; bắt các ngân hàng thương mại phải giữ một số tiền dự trữ cao hơn, năm 2009 giữ 15%, năm nay tăng thành trên 20%.
Nhưng các đảng viên cao cấp đang điều khiển các ngân hàng của nhà nước đã có nhiều cách lách để vẫn tiếp tục cho các doanh nghiệp nhà nước vay tiền với lãi suất thấp do nhà nước ấn định. Một phương pháp là đi vòng quanh, dùng một con đường khác. Họ lập ra những “công ty tín thác” (trust companies), cũng có tiền vô tiền ra nhưng không bị kiểm soát chặt chẽ như các ngân hàng. Các công ty tín thác gọi vốn đầu tư của các đại gia, của các doanh nghiệp nhà nuớc dư tiền mặt, hứa hẹn suất lời cao. Sau đó họ đem tiền cho vay, với một lãi suất cao gấp bội, đưa tiền vào những dự án kinh doanh nhiều rủi ro hơn. Không ai kiểm tra để biết số nợ xấu của các công ty tín thác là bao nhiêu, vì họ không phải báo cáo như các ngân hàng. Theo tuần báo kinh tế Quan Sát ở Trung Quốc, tại thành phố Ôn Châu nổi tiếng là một trung tâm sản xuất đồng hồ, bật lửa và giầy dép cho cả thế giới, có 1000 công ty tín thác hoạt động như vậy. Họ cho chủ nhân các xí nghiệp tư vay với lãi suất cao tới 5% một tháng, tức gần 80% một năm, hàng chục lần lãi suất mà các xí nghiệp quốc doanh vay ngân hàng! Ði vay như vậy đầy rủi ro. Nếu có lúc nào thị trường thế giới ngưng lại không mua hàng nữa vì kinh tế các nơi bị suy thoái; hay vì bị hàng các nước khác, như Ấn Ðộ, Indonesia, Mã Lai cạnh tranh, thì các xí nghiệp tư trên sẽ khó trả được nợ. Số nợ xấu trên toàn quốc sẽ tăng vọt!
Nhưng các ngân hàng của nhà nước còn có nhiều cách khác để có thể tiếp tục cho vay thêm mà vẫn giữ đủ tiền dự trữ theo tỷ lệ 20% mà Ngân Hàng Trung Ương đòi hỏi. Họ đem “bán” các món nợ họ đã cho vay, các công ty tín thác do họ lập ra đứng ra mua. Thế là giảm bớt ngay con số nợ ghi trên sổ sách. Những công ty tín thác con mới gom các món nợ đã mua lại thành từng “bó” rồi chia mỗi bó thành nhiều “dụng cụ đầu tư” nhỏ, giống như các chứng khoán. Ngân hàng mẹ sẽ mua chứng khoán này rồi đem bán lại cho các thân chủ nào muốn được mức lời cao. So với lãi suất trả cho các món tiền ký thác trong ngân hàng thì những món “dụng cụ đầu tư” mới này hấp dẫn hơn nhiều! Công việc gom lại rồi phân chia ra này không khác gì việc các ngân hàng đầu tư ở Mỹ đã làm trong mấy năm trước 2007, họ cũng gom các món nợ địa ốc lại rồi chia ra các đơn vị nhỏ mà đem bán cho các nhà đầu tư khắp thế giới! Hậu quả khi giá nhà xuống đã gây ra cơn khủng hoảng tín dụng đến bây giờ vẫn chưa thuyên giảm.
Năm 2009, chính quyền Trung Quốc đã cấm các ngân hàng và công ty tín thác của họ không được mua đi bán lại với nhau như thế nữa. Ngay lập tức, người ta thay đổi phương pháp. Một ngân hàng sẽ bán các món nợ mình làm chủ cho một ngân hàng khác, ngân hàng thứ hai này bán lại cho một công ty tín thác, rồi công ty tín thác mới gom các món nợ đó lại, chia thành nhiều đơn vị nhỏ bán lại cho ngân hàng thứ nhất. Cứ như vậy, lại tiếp tục vòng quay đưa các “dụng cụ đầu tư” mới tới cho các thân chủ y như hồi trước!
Thủ thuật mua đi bán lại này mang lại lợi lớn. Mỗi công ty tín thác chỉ cần làm công việc trên giấy tờ khi gom các món nợ lại rồi đem chia ra. Họ lấy công bằng một mức lời rất nhỏ, dưới 3%, nhưng nhờ khối lượng lớn nên cũng giầu to! Như công ty Anh Ðại Tín Thác (Yingda International Trust), trong năm 2009 chỉ lấy tiền hoa hồng và tiền công bằng 0.17% (17 phần 10 ngàn) trên số tiền 147 tỷ đồng Nguyên mà họ phụ trách. Nhưng họ đã kiếm được 240 triệu Nguyên (gần 40 triệu Mỹ kim), mà tất cả họ chỉ làm những công việc giấy tờ. Trong năm 2010, các công ty tín thác ở Trung Quốc đã hoán chuyển các món nợ trị giá trên 2,000 tỷ đồng nguyên, tương đương với hơn 300 tỷ Mỹ kim! Những việc ra tiền làm này được dành cho những người “quan hệ tốt” với ban giám đốc các ngân hàng. Chúng giúp các ngân hàng có thể cho vay thêm sau khi đã “bán” các món nợ cũ đi, giúp cho những người có “quan hệ tốt” được đầu tư thu lợi nhiều hơn; tất cả là những món lợi lớn lo cho các người biết đi đúng cửa!
Theo công ty Fitch, chuyên về thẩm định tín dụng (credit-rating) quốc tế thì trong 11 tháng đầu năm 2010 các ngân hàng đã chuyển được 2,500 tỷ đồng Nguyên qua các công ty tín thác. Ngân Hàng Nhân Dân thì cho con số chính thức, chỉ tới 1,600 tỷ Nguyên. Tương tự, Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc báo cáo chỉ có 1.14% các món nợ của các ngân hàng là nợ xấu, nhưng Fitch kiểm tra kỹ hơn thì thấy tỷ lệ nợ xấu lên tới 6%, nếu tính đủ những món nợ mà các cơ quan chính quyền địa phương đi vay.
Tổng số vay nợ trong cả nước Trung Hoa là 48 ngàn tỷ đồng Nguyên trong năm 2010, nếu tính 6% nợ xấu thì cũng tới 2,900 tỷ Nguyên, tương đương với 1,200 tỷ đô la Mỹ, hơn một phần ba số ngoại tệ dự trữ! Công ty Fitch đã hạ thấp điểm tín nhiệm của Trung Quốc trong tháng trước; và đây là lần đầu tiên nước này bị hạ thấp điểm tín dụng kể từ năm 1999 đến nay. Theo phân tích của Fitch thì nếu chính phủ Bắc Kinh muốn đem tiền cứu các ngân hàng như chính phủ Mỹ đã làm năm 2008 thì số tiền chi ra sẽ lớn bằng 30% tổng sản lượng nội địa, tức là hơn 1,600 tỷ đô la Mỹ. Con số đó hơn gấp đôi số tiền 700 tỷ mà Tổng Thống Bush đã dùng để cứu các ngân hàng lớn, mà sau ba năm nhiều ngân hàng Mỹ đã hoàn trả lại, với tiền lãi đầy đủ, chỉ có một số nhỏ bị mất. Còn ở Trung Quốc, nếu nhà nước có đem tiền ra cứu các ngân hàng thì cũng khó đòi lại! Số dự trữ ngoại tệ trên 3,000 tỷ đô la sẽ hao mất một nửa khi tai nạn này xẩy ra!
Nhưng số tiền dự trữ đó, tự nó là một hiện tượng xấu, chính nó gây ra những tai nạn khác trong nền kinh tế Trung Quốc. Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc thu vào một số tiền khổng lồ như thế chỉ vì họ muốn giữ giá trị đồng Nguyên thấp, sợ nếu nó lên giá so với đô la Mỹ thì hàng xuất cảng của họ sẽ tăng giá, khó bán. Ngân Hàng Trung Ương mua các ngoại tệ đem vào nước Tầu, do các xí nghiệp của họ xuất cảng hoặc do các nhà đầu tư ngoại quốc đem vào. Khi đem tiền vào, người ta đem đổi, mua lấy nhân dân tệ mà dùng, nhiều người mua sẽ khiến đồng tiền nước Tầu lên giá. Ðể ngăn lại, hễ có đồng Mỹ kim, đồng Yen hay Euro nào qua cửa ải là Ngân Hàng Trung Ương mua vét cho hối suất không lên. Lấy tiền đâu để đi mua vét như vậy? Họ có thể vay trong công chúng, hoặc sử dụng quyền in đồng Nguyên để dùng, cứ mỗi đồng in ra lại ghi vào sổ sách như một món nợ mới!
Có hai hậu quả trong công việc in tiền để mua ngoại tệ này. Một là Ngân Hàng Nhân Dân “nêu gương xấu” chuyên làm ăn thua lỗ! Từ bao năm nay họ liên tiếp đem một đồng tiền đang trên đà lên giá (đồng Nguyên tăng giá gần 5% trong hai năm 2009, 2010) đổi lấy một đồng tiền đang dần dần xuống giá (Mỹ kim), cứ thế hết năm này sang năm khác. Chính quyền Trung Quốc đã kêu gọi chính phủ Mỹ hãy giữ vững giá đồng đô la, nhưng Mỹ bỏ ngoài tai vì chính sách của họ là hạ giá đồng đô la để bớt nhập cảng, tăng xuất cảng! Có nhà kinh doanh nào dại dột cứ đem một món hàng đang lên giá đổi lấy một món hàng liên tục xuống giá, hết năm này sang năm khác hay không?
Hậu quả thứ hai là chính sách in thêm tiền để thu mua ngoại tệ này góp phần sinh ra lạm phát. Muốn ngăn lạm phát phải tăng lãi suất. Nhưng mỗi lần tăng lãi suất thì chính Ngân Hàng Trung Ương này phải trả tiền lãi cao hơn trên những món nợ mà họ vay để lấy tiền đi mua ngoại tệ! Chính thức, tổng số nợ của nhà nước Trung Quốc chỉ lớn bằng 17% tổng sản lượng nội địa. Nhưng khi tính hết các số nợ không chính thức thì các công ty tài chánh quốc tế đoán tỷ lệ thật lên tới 160% GDP.
Cuối cùng thì ai sẽ trả các món nợ và tiền lãi cho Ngân Hàng Nhân Dân? Chính là Nhân Dân Trung Hoa! Dân chúng sẽ “đóng góp” vào việc trả nợ qua nhiều hình thức: Thuế má cao, lương bổng thấp, tiền lời rất thấp khi gửi ngân hàng (hiện nay lãi suất gửi đã là số âm khi tính tới lạm phát). Dân chúng bị ép, thắt lưng buộc bụng ra sao họ cũng phải chịu. Nhưng hiện tượng trên lại gây một hậu quả khó khăn cho chính đảng cầm quyền. Vì khi dân chúng bị lấy bớt tiền thì họ cũng bớt tiêu thụ! Có lúc trong tổng sản lượng nội địa của Trung Quốc có tới 60% là do dân tiêu thụ; ngày nay tỷ lệ tiêu thụ chỉ còn là 36% GDP. Trong khi đó, đầu Tháng Ba năm nay chính ông Ôn Gia Bảo mới nói đảng Cộng Sản Trung Hoa đang chuyển hướng chính sách kinh tế, muốn dân chúng tiêu thụ nhiều hơn thay vì hoàn toàn tùy thuộc việc xuất cảng và bị tình hình kinh tế thế giới lôi cuốn!
Tóm lại, phải thấy là nền kinh tế Trung Quốc hiện mang hình ảnh một anh khổng lồ mà trong ruột gan đầy bệnh tật. Ai mang bệnh Báng thì biết, cái bụng cứ phì lên, trông thật là Xác To. Nhưng nhìn vào sâu mới thấy Bụng Xấu, rất xấu.