Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 19 tháng 5, 2011

MỘT LẦN ÐẾN RO RÓ

MỘT LẦN ÐẾN RO RÓ
[20.05.2011 01:24 - Nhịp Cầu Thế Giới Online]
(NCTG) “Trong sâu thẳm, ai cũng muốn con mình được học và đi ra khỏi cái thôn Ro Ró kia, được nhìn thấy đường cái, có xe máy ô tô chạy ầm ầm mà lũ trẻ chỉ được nghe qua lời cô giáo kể. Tôi có thể nhìn thấy điều đó trong ánh mắt của lũ trẻ khi chia tay chúng tôi, những ánh mắt hỏi nhiều điều mà chúng tôi không dám hứa hay trả lời, có thể đơn giản chỉ là bao giờ thì cô quay lại đây lần nữa?”

Khung cảnh nên thơ


Ro Ró hay Rò Ró (phiên âm từ tiếng dân tộc Pakoh, Vân Kiều) đều gợi lên sự cô lập, bé nhỏ, xa hun hút. Đó là 1 thôn miền núi thuộc Xã Avao, Huyện Đakrong, tỉnh Quảng Trị, nơi chúng tôi đã “nằm vùng” một tuần khi xây dựng bộ tài liệu sách, tranh, truyện giáo dục mầm non cho trẻ em dân tộc thiểu số vùng này.

Dẫn vào thôn là một con đường độc đạo ven theo con núi, có đoạn dốc dựng ngược khiến những người lười tập thể thao như tôi mặt mày xanh lét, tim đập thình thịch, tưởng đứt hơi mới leo được lên đến nơi sau gần 2 tiếng đồng hồ thở phì phò. Cả thôn có khoảng 30 nóc nhà, hoàn toàn biệt lập với thế giới bên ngoài, khung cảnh khá thơ mộng với triền núi phủ đầy hoa dại, xa xa là bò, lợn, dê, gà thả rông đi lại thoải mái tung tăng.

Đoàn chúng tôi có 7 anh em gồm 2 anh tư vấn, 2 chị em nhóm dự án của tôi, cùng với 1 cô giáo và 1 thầy giáo người dân tộc đi làm phiên dịch, kết nạp thêm bà mẹ trẻ người Pakoh. Chúng tôi đã liên hệ để ở tại nhà văn hóa của thôn, thực ra là 1 căn nhà sàn đơn sơ vách nứa làm nơi hội họp của thôn khi có công chuyện, còn ăn uống thì tại nhà anh Vàng, trưởng thôn, mới ngoài 40 tuổi mà đã có 6 đứa con. Đồ đạc chúng tôi mang đi đủ thứ lỉnh kỉnh, nào là nồi xoong, bát đĩa, đèn pin, túi ngủ, thuốc men, sách vở, tài liệu, cũng vài thùng nặng è cổ.


Các cô đang tác nghiệp


Căn nhà sàn nơi cả đoàn tá túc, giữa tháng 6 mà gió vù vù rét run cả đêm, đám bọ chét từ lưng đàn dê dưới nhà sàn bắt đầu tung hoành nhảy nhót và cắn phá. Đến ngày thứ hai, tôi là người đầu tiên thấy ngứa, ngứa khắp nơi, không còn chỗ nào thoát, dù đã có người đi tiền trạm cho chuyến này mà không ai nhớ ra chi tiết phải mang thuốc bôi chống côn trùng.

Thấy tôi bị ngứa, gãi cành cạch như khỉ, các anh giai xúm vào trêu, tôi gầm gừ “hãy đợi đấy”. Y như rằng hôm sau có hai “tên” khác bắt đầu gãi, nốt bọ chét đốt sưng đỏ và ngứa vô cùng, không làm ăn gì được ngoài việc ngồi gãi, gãi cả đêm.

Nhiệm vụ của chúng tôi đợt này là đi sưu tầm các bài hát, thơ, truyện, chụp ảnh các loại nhạc cụ, quần áo, thu âm các câu chuyện kể của già làng, các loại nguyên liệu thô để về xây dựng bộ tài liệu cho trẻ. Ban ngày thì tôi và Lành (cô bạn nhỏ làm cùng) tập trung lũ trẻ ở thôn, làm thế nào để biết được các cháu thích gì, vẽ gì về ngôi trường mơ ước của mình thật khó, vì lũ trẻ cả đời chưa bao giờ đi ra khỏi cái thôn đó, biết gì mà mơ ước.
 
Thay vì hì hụi khai thác thông tin, Lành và tôi xoay ra dạy bọn trẻ cách giữ vệ sinh, Lành thì cắt móng tay cho cả đám, còn tôi thì sẵn năng khiếu nên cắt tóc xoèn xoẹt bằng kéo hẳn hoi cho hơn 10 chiến sĩ, rồi lôi chúng ra vòi nước tắm gội sạch sẽ bằng xà phòng thơm hiệu Lux hẳn hoi.
 

Ðứng vẹo cả người để cắt tóc chỗ khó


Nhà anh Vàng có 6 đứa con lít nhít, đứa lớn bế đứa bé vẹo cả sườn. Đến bữa ăn thì chủ yếu có cơm và muối trắng dầm với ớt, cho chút dầu ăn vào rồi ăn bốc ngon lành. Chúng tôi đưa tiền nhờ anh Vàng mua gà, mua cá để ăn chung cùng gia đình anh cho vui, bữa cơm nào cũng tối thui vì điện cực yếu, chỉ thắp sáng được 1 bóng đèn duy nhất, nếu bật bóng khác thì bóng này tự tắt (hình như thủy điện bà con tự làm thế là tốt lắm rồi).

Trẻ em ở đây hay bỏ học sớm vì cha mẹ nghĩ đi học chẳng để làm gì, cùng lắm hết lớp 9 rồi lại bỏ đi làm rẫy và trông em, lấy chồng lấy vợ sớm cho xong nghĩa vụ. Để xây dựng đề xuất hay kế hoạch cho một dự án chăm sóc giáo dục trẻ thơ, chúng tôi cần nhiều các kết quả đầu ra hoành tráng như giảm tỉ lệ trẻ bỏ học đến bao nhiêu phần trăm, nâng cao năng lực cho bao nhiêu giáo viên, xây được bao nhiêu trường học, bao nhiêu nhà vệ sinh, v.v...

Nhưng riêng đối với tôi, chỉ cần làm sao cho cha mẹ thay đổi quan niệm về việc giữ vệ sinh cho trẻ đã là cả một vấn đề to lớn, nếu làm được thì là một kỳ tích vì đây đã là văn hóa của họ. Trẻ em ở vùng này không mặc quần áo, có quần áo cũng không mặc, để thế cho nó mát. Đứa lớn hơn chút thì mặc gọi cho là có, còn đứa dưới 3 tuổi thì cứ “thiên nhiên” như thế này.


Trang phục “thiên nhiên” của trẻ em vùng núi

 
Nhìn bọn trẻ tôi nghĩ đến con mình ở nhà sung sướng và may mắn gấp vạn lần, thế nhưng đám trẻ ở đây lại có sự vô tư hồn nhiên mà không phải đứa trẻ thành phố nào cũng có. Chúng chơi chung với nhau, chia sẻ và nhường nhịn, đồ chơi thì không có gì thế nên không có cảnh tranh giành cũng phải. Khi chúng tôi chia kẹo, chúng đứng chờ đến lượt, không nhao nhao đòi phần mình, cũng thi thoảng có cậu ăn gian, xin một lần rồi lại cất vào túi xin tiếp lần khác.

Người Pakoh, Vân Kiều có truyền thống gia đình rất đáng học tập, họ yêu thương con cái, ít khi đánh mắng chửi con, có thể bao bọc và nuôi con hàng xóm nếu như bố mẹ chúng qua đời. Sự nghèo nàn, lạc hậu làm họ chưa quan tâm đến việc học hành và phát triển trí tuệ, thể chất của con, nhưng tình thương và sự đùm bọc luôn hiện hữu dưới mỗi mái nhà tranh ấy.

Tôi rất cảm động khi gặp cậu bé Lung, bị tàn tật cụt 2 chân, Lung có cặp mắt rất buồn, nhưng có lẽ sống ở cái thôn xóm này, với lũ trẻ thò lò mũi xanh, đầu tóc rối bời khét mùi nắng, Lung lại may mắn hơn rất nhiều vì sẽ không phải chứng kiến sự khác biệt, sự xa lánh của bạn bè mà tủi thân. Lung chơi đùa với bạn, cậu di chuyển bằng tay và đầu gối rất nhanh nhẹn như một chú khỉ con - nhìn Lung tôi không sao tránh khỏi bùi ngùi, dù không muốn thể hiện ra ngoài cho em biết.
 

Lung đang chơi cùng các bạn


Phần vui nhất là các buổi chiều, tôi và cả đoàn tổ chức trò chơi cho các em, thực ra là khuyến khích các em chơi các trò dân gian của dân tộc mình để đoàn quay phim và ghi âm làm dữ liệu. Bọn trẻ khoái chí, được “vui chơi có tổ chức”, chúng chơi và hát hò thoải mái, cười vang cả xóm. Bà con cũng vui lây vì thấy mấy đồng chí người Kinh cả tuần “ba cùng” với dân bản. Tối đến, mấy anh tư vấn vác đèn pin đi xuống nhà các già làng để nghe kể chuyện, còn bọn tôi thì tụ tập các mẹ, các chị để nghe hát ru và ghi âm rồi dịch ngay tại trận, mệt nhưng vui và thân thiết.

Kết thúc tuần làm việc, anh Vàng đưa chúng tôi xuống núi, anh vác đồ hộ chúng tôi mà đi phăm phăm không biết mệt, lũ trẻ nhà anh thì bịn rịn, chia tay các cô mà mặt buồn rười rượi, sự có mặt của chúng tôi trong một tuần làm khuấy động cả thôn xóm nhỏ, vui vẻ nhộn nhịp hẳn lên, vì thế đứa nào cũng buồn thiu, thật tội nghiệp.

Chúng tôi không thu thâp được nhiều như mong đợi, văn hóa dân gian của hai dân tộc vùng dọc đường Trường Sơn này đã bị mai một rất nhiều. Các câu chuyện dân gian đa phần đã tam sao thất bản, thêm vào đó, có nhiều yếu tố bạo lực và tình yêu oan trái nên chỉ áp dụng được rất ít. Các thành viên của dự án đã phải sử dụng các hình ảnh quen thuộc và gần gũi với văn hóa của bà con để sáng tác và chuyển thể nhiều các tác phẩm khác để xây dựng nên bộ tài liệu.


Cuốn sách “Một ngày của bé”


Bìa cuốn sách thơ tôi viết về một ngày của em bé người Pakoh, Vân Kiều với những hình ảnh tươi đẹp được minh họa để phần nào giúp các em muốn đi học hơn mỗi ngày. Bộ tài liệu dù chưa hoàn hảo nhưng khi nghĩ về nó tôi thấy vui vì trên giá sách tại các lớp mầm non tại các thôn bản ngày lại có thêm nhiều sách, nói như các bà, các mẹ là có cái chữ về làng.

Trong sâu thẳm, ai cũng muốn con mình được học và đi ra khỏi cái thôn Ro Ró kia, được nhìn thấy đường cái, có xe máy ô tô chạy ầm ầm mà lũ trẻ chỉ được nghe qua lời cô giáo kể. Tôi có thể nhìn thấy điều đó trong ánh mắt của lũ trẻ khi chia tay chúng tôi, những ánh mắt hỏi nhiều điều mà chúng tôi không dám hứa hay trả lời, có thể đơn giản chỉ là bao giờ thì cô quay lại đây lần nữa?
Bài và ảnh: Mai Quỳnh Anh, từ Hà Nội




 Bản để in In trang này |  Lưu dạng file Lưu để đọc sau |  Gửi tin qua email Email bài này |  Thảo luận Ý kiến của bạn


Những tin khác:



Lên đầu trang

Trung Quốc và Việt Nam từ chối can thiệp xung đột biên giới Campuchia-Thái Lan

Trung Quốc và Việt Nam từ chối can thiệp xung đột biên giới Campuchia-Thái Lan

2011-05-19
Trung Quốc và Việt Nam tuy đều là bạn tốt với Campuchia, nhưng đểu từ chối can thiệp một khi Campuchia có giao tranh với Thái Lan vì vấn đề biên giới. Dư luận Campuchia đang đặt dấu hỏi về tình bạn này.
RFA photo
Lính Cambodia nơi biên giới Meanchey, 26-4-2011

Thủ tướng Campuchia Hun Sen cho biết trong một bài phát biểu hôm thứ Tư, ngày 18/5, rằng để giải quyết vấn đề xung đột biên giới giữa Campuchia và Thái Lan, chỉ có cách đề nghị Tòa án Quốc tế làm rõ ý nghĩa và phạm vi phán quyết năm 1962. Đó sẽ làm cơ sở cho một giải pháp sau cùng cho cuộc xung đột biên giới trong khi hai nước bạn là Trung Quốc và Việt Nam không thể giúp được Campuchia. Theo lời ông Hun Sen, vừa qua Chính phủ Campuchia đã từng ngỏ lời yêu cầu Trung Quốc và Việt Nam can thiệp để hòa giải cuộc giao tranh đang leo thang vì Campuchia dứt khoát không thể rút quân ra khỏi khu vực biên giới mà Thái Lan tuyên bố là khu vực đang có tranh chấp.

Đặt quyền lợi riêng trên tình bạn. 
Dân Thái tị nạn chiến tranh biên giới
Dân Thái tị nạn chiến tranh biên giới

Ông Hun Sen cho biết phía Trung Quốc và Việt Nam đều trả lời rằng Campuchia và Thái đều là bạn, nhưng hai nước này đã không phân biệt bạn tốt hay xấu trong khi Thái Lan thường nổ súng gây xung đột ở khu vực biên giới. Ông nói điều này rất khó vì Trung Quốc và Việt Nam cũng có quan hệ tốt và hưởng được lợi ích từ Thái Lan. Riêng Việt Nam sẽ có cuộc tập trận hải quân chung với Thái Lan sắp tới. Còn nước Lào, tuy là bạn của Campuchia nhưng cũng đang cần có quan hệ tốt với Thái Lan.
Giáo sư Sok Touch, nhà phân tích chính trị độc lập Campuchia, nhận định rằng các nước tư bản không bao giờ coi trọng quan hệ hữu nghị chính vì họ chỉ lo cho lợi ích riêng. Theo lý luận triết học của Trung Quốc thì không có bạn và cũng không có thù, bất cứ nước nào có thể đem lại lợi ích cho họ thì họ sẽ tiếp tục duy trì quan hệ.

Đầu tư vào Thái Lan mạnh hơn.

Vẫn theo giáo sư, vừa qua Trung Quốc đã viện trợ cho Campuchia rất nhiều mà không cần đặt điều kiện như các nước phương Tây. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đang đầu tư rất mạnh vào thị trường Campuchia, ngoài các hàng hóa tiêu dùng mà Trung Quốc đang chiếm thị phần thì các ngành năng lượng, khai thác mỏ và các công trình xây dựng đường lộ Trung Quốc vẫn đứng vị trí thứ nhất ở đây.
Còn riêng Việt Nam, hiện nay nước này cũng đang thâm nhập thị trường khá mạnh. Các mặt hàng chính mà Việt Nam xuất khẩu sang Campuchia gồm xăng dầu, sắt thép, máy móc thiết bị, sản phẩm hóa chất, hàng thủy sản. Ngoài ra, nước này còn đầu tư vào các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, và viễn thông.
bạn vẫn là bạn tuy nhiên những nước có dân số đông như Trung Quốc và Việt Nam thì đương nhiên họ buộc phải nhìn về thị trường kinh tế ở Thái Lan
GS Sok Touch, nhà phân tích chính trị.
Thế nhưng hoạt động xúc tiến đầu từ của Trung Quốc và Việt Nam vào Thái Lan còn lớn hơn tại Campuchia gấp mấy lần. Hiện nay, Trung Quốc đang nắm hơn 60% thị phần thị trường kinh tế Thái Lan. Thái Lan là nước phát triển, điều này khiến Trung Quốc lẫn Việt Nam không hề dám nhúng tay vào vấn đề xung đột biên giới mặc dù đã biết Thái Lan là bên xâm lăng. Giáo sư Sok Touch nhận định thêm:
“Họ không muốn biết bên nào đúng, bên nào sai mà họ phải nghĩ đến lợi ích của họ. Dó đó, bạn vẫn là bạn tuy nhiên những nước có dân số đông như Trung Quốc và Việt Nam thì đương nhiên họ buộc phải nhìn về thị trường kinh tế ở Thái Lan.”
Phát ngôn viên đảng Sam Rainsy là ông Yim Sovann đã có nhận định rằng đương nhiên các doanh nghiệp và nhà đầu tư của Trung Quốc và Việt Nam thích Thái Lan hơn Campuchia. Nạn tham nhũng, và việc không thực thi pháp luật vẫn còn tồn tại ở xứ này, nhưng một phần do Thái Lan là nước giàu cho nên hai nước kia buộc phải đứng ngoài cuộc.

Hiệp định Paris 1991 giúp giải quyết vấn đề?

Theo ông Yim Sovann, riêng Việt Nam càng không thể đứng ra để giúp hòa giải vì thứ nhất đã có mâu thuận về lợi ích, thứ hai Việt Nam cũng là nước đang xâm lăng chủ quyền Campuchia bằng cột mốc biên giới. Ông nhấn mạnh, nếu chính phủ ông Hun Sen sử dụng
Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 7-5-2011
Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 7-5-2011
Hiệp định Paris năm 1991 để giải quyết vấn đề xung đột ở khu vực biên giới thì 18 nước tham gia ký kết Hiệp định Paris sẽ giúp giải quyết được vấn đề.
Thủ tướng Hun Sen cũng cho biết trong bài phát biểu Liên Hiệp Quốc, các nước láng giềng Campuchia và Hiệp định Paris năm 1991 cũng không thể giúp hòa giải được xung đột biên giới với Thái Lan. Ông Hun Sen nhắc nhở các quan chức cao cấp của Lào và Miến Điện đang có mặt tại buổi lễ khai trương xây dựng đường lộ số 41 ở tỉnh Kampong Speu rằng, nếu Thái Lan xâm lăng Campuchia thành công thì hai nước này cũng sẽ bị Thái Lan xâm lăng tương tự tuy nhiên ông Hun Sen không nghĩ Thái Lan dám đụng độ với Việt Nam.

Lão tướng trên nghị trường

Thứ năm, ngày 19 tháng năm năm 2011

Lão tướng trên nghị trường

Quốc hội khóa 12 để lại một loạt “ngôi sao nghị trường” mà người dân dễ dàng nhớ tên: Nguyễn Minh Thuyết, Phạm Thị Loan, Nguyễn Đình Xuân, Lê Văn Cuông… Thế nhưng cách đây 20 năm, vào thời kỳ vai trò của Quốc hội trong đời sống chính trị nước ta còn là cái gì đó hết sức xa lạ, rất khó có một đại biểu can đảm như ông, người “dám” lớn tiếng với một bộ trưởng ngay giữa Hội trường: “Anh nói như thế với ai thì được, anh nói với tôi vậy là không xong đâu. Tôi có tư liệu. Anh lôi thôi, tôi cho anh chết đứng ngay!”.

Vị đại biểu có cách chất vấn đanh thép, nảy lửa, với ngôn từ dân dã đó là Trung tướng Nguyễn Quốc Thước.

Ông Nguyễn Quốc Thước là đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An ba khóa 8, 9 và 10 (từ năm 1987 đến năm 2002), trong một giai đoạn mà sinh hoạt Quốc hội ở Việt Nam còn rất mới mẻ và do đó, đầy chuyện phải kiêng dè. Bây giờ, đại biểu Quốc hội có thể đứng lên chất vấn chính phủ công khai giữa Hội trường, lại có truyền hình trực tiếp cho dân xem, chứ ngày ấy làm gì có chuyện đó. Ông Thước bảo: “Khóa 8 thì đã bắt đầu Đổi Mới rồi nhưng mọi sự vẫn chưa vào guồng, bàn trên nghị quyết thế thôi chứ thực tế chưa có gì. Nhất là hoạt động của cơ quan lập pháp thì lúc bấy giờ chỉ là để hợp thức hóa nghị quyết của Đảng. Không bàn cãi gì cả. Đảng quyết rồi thì cứ thế mà giơ tay. Đại biểu nhiều lúc băn khoăn lắm nhưng không giơ tay không được”.

Sinh năm 1926, tham gia cách mạng khi mới 19-20 tuổi, gần như cả đời ông Thước đấu tranh: thời chiến, ông là anh “bộ đội Cụ Hồ” đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ; tới thời bình, ông lại làm đại biểu Quốc hội, chiến đấu không khoan nhượng với thói quan liêu, xa rời dân, kém năng lực và dối trá. Ông nói to và dõng dạc, chất giọng sang sảng, phong cách quyết liệt, thậm chí nảy lửa. Có lẽ vì trực tính như thế, nên ông va chạm với không ít người.

Người “bạo miệng”

15 năm, tôi về quê Nghệ An, đi đâu dân người ta cũng đồng tình với tôi. Nhưng tôi biết lãnh đạo tỉnh không ưng tôi. Có lần Thường vụ Tỉnh ủy nhắc tôi phải phát biểu theo nghị quyết, theo Đảng. Tôi bảo thẳng: “Đúng, tôi theo Đảng, nhưng tôi là đại biểu của dân, thì tôi cũng phải nói lên ý kiến dân chứ. Có những cái Đảng quyết chưa đúng mà dân nói, thì tôi phải lên tiếng để dân còn bàn chứ””.

Ông Thước bảo, thực sự chuyện đứng về phía lãnh đạo để gò ép đại biểu Quốc hội trước kia nặng nề lắm. Ép, có thể chỉ đơn giản là vận động, “bỏ nhỏ” từ trong mỗi đoàn đại biểu Quốc hội, tới trưởng đoàn, tới bản thân đại biểu, rồi đưa ra cuộc họp đảng đoàn, nhắc đi nhắc lại đến mấy lần. Như Khóa 9, có vụ việc về giao thông, tỷ lệ lúc đầu chỉ là 60% ủng hộ chủ trương, thế là “trên” thực hiện “ép” trong các đoàn, ép trưởng đoàn, dần dần tỷ lệ được nâng lên 70%, rồi 80%.

Hỏi ông Thước có bị “gò” bao giờ chưa, và như thế nào, ông cười khà khà: “Tôi ở bên quân đội. Xét cương vị của tôi thì “các ông ở tỉnh” chưa dám vỗ vai nhắc nhở. Nhưng dặn dò tôi thì nhiều lắm, kiểu như là “Thôi, cái gì là chủ trương của Đảng, của Bộ Chính trị rồi thì bác đừng bàn nữa”.

Có lần ông Thước đã nói một câu nổi tiếng với ông Đỗ Mười. Tại một phiên họp Quốc hội, ông Đỗ Mười có ý than: “Tôi làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đấy, nhưng không điều khiển được các bộ trưởng nữa. Cứ như thể họ làm loạn!”. Ngay lập tức ông Thước lên tiếng: “Thưa anh Mười, thưa Quốc hội, tôi xin đề nghị thế này: Nếu anh Mười làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tương đương Thủ tướng bây giờ – NV) mà không điều khiển nổi các bộ trưởng thì anh từ chức đi. Như tôi làm Tư lệnh Quân khu IV, tôi đã ra lệnh, thì người dưới phải chấp hành. Nếu không chấp hành, thì hoặc anh ta đúng tôi sai, tôi phải nghỉ; hoặc anh ta sai, tôi đúng, anh ta phải nghỉ”. Ông Thước nói xong, đến khi ra khỏi Hội trường, mấy nhà báo quen thân ghé tai ông, nửa đùa nửa thật: “Bác ơi, bác chết đến nơi rồi”. Ông cười ầm: “Chết thế nào được. Tôi chả sợ ai cả. Tôi chỉ sợ tôi nói sai thôi”.

Nhiều người không dặn dò, tỉ tê với ông sau hậu trường, thì lại tỏ ra bực bội, khó chịu ra mặt mỗi khi thấy ông. Có người cáu kỉnh nói: “Bác nhiều lời quá đi!”, ông đáp ngay: “Tôi mới nói được 1% ý kiến của dân thôi đấy, chứ dân còn nhiều ý kiến lắm. Những vấn đề gai góc, gay cấn, nóng bỏng… còn rất nhiều. Bao nhiêu tiếng nói của dân mà tôi phát biểu trong có 15 phút, hết thế nào được”.

“Còn nợ dân nhiều lắm”

Lần Quốc hội bàn về dự án mở rộng cảng Cái Lân, ông Thước được biết các nhà khoa học đã phản đối việc đánh mìn dưới nước để mở cảng. Tuy nhiên một vị bộ trưởng lại phản hồi rằng khoa học công nghệ giờ đã tiến bộ, có thể đánh mìn mà không làm ảnh hưởng gì tới môi trường sinh thái. Lão tướng Nguyễn Quốc Thước đứng dậy, gay gắt: “Thời chiến, chúng tôi ném có một quả lựu đạn mà cá chết nổi đầy sông, cả trung đoàn bộ đội ăn không hết. Cá chết một ít thì sau đó cả đàn sẽ không vào vùng nước ấy nữa đâu – con vật nó biết chỗ nào nguy hiểm để nó tránh chứ. Thế mà nay anh lại nói đánh mìn hàng tấn không làm chết cá, không ảnh hưởng môi trường. Anh qua mặt ai chứ không qua mặt tôi được đâu”. Người bị chất vấn lúng túng, câu trả lời thường chỉ là “bác thông cảm, cái này là chủ trương đã duyệt rồi…”.

Câu chuyện đánh mìn mở rộng cảng Cái Lân đó, sau này không được nhắc lại nữa. Mọi chuyện vẫn diễn ra. Cũng không ai tiến hành đo đạc xem cá có chết hay không, chết nhiều hay ít, môi trường bị ảnh hưởng thế nào. Ông Thước có phần cay đắng: “Gần 10 năm qua rồi, Quốc hội khóa ấy cũng xong rồi. Bao nhiêu vụ việc đã trôi qua là xong hết”.

Mở rộng Hà Nội, khai thác bauxite Tây Nguyên, xây đường sắt cao tốc Bắc-Nam, sản xuất điện hạt nhân… Nhiều vấn đề nóng bỏng như thế đã được đặt ra trước Quốc hội. Có dự án như đường sắt cao tốc, Quốc hội vừa bác ở kỳ họp trước, đã lại thấy cơ quan đầu tư chuẩn bị đưa ra kỳ họp sau. Ông Thước không nén nổi bức xúc. Nhưng ông phải thừa nhận, có nhiều việc Quốc hội không thay đổi được, đại biểu còn nợ dân nhiều lắm.

“Tướng về hưu” mà không hưu

Sau Khóa 10, ông Thước nghỉ hưu ở một ngôi nhà trên đường Bưởi (Hà Nội). Ngôi nhà này từng là nơi chứng kiến rất nhiều lần cử tri đến gặp ông, cung cấp thông tin, trao đổi, gửi gắm. Họ tin ông, bởi vì họ biết, không bao giờ lão tướng Nguyễn Quốc Thước quay lưng lại với người dân. Ngay cả bây giờ, về hưu đã gần 10 năm, ngày ngày chăm sóc người vợ đau ốm, ông vẫn không ngừng đọc báo, xem tivi, theo dõi thời sự, thỉnh thoảng lại bảo cháu in bài vở trên mạng ra cho ông đọc. Và cùng với nhiều tướng lĩnh, cựu chiến binh, ông thường xuyên gửi thư, kiến nghị, đóng góp ý kiến cho Đảng và Nhà nước, dù rằng như ông nói, “chưa bao giờ được trả lời”.

Hỏi ông làm đại biểu Quốc hội bây giờ khó hơn hay dễ hơn ngày trước, ông bảo dễ hơn nhiều vì dân chủ mở rộng rồi, đại biểu không còn phải chịu đủ loại sức ép, không bị áp đặt như xưa nữa. Trầm ngâm một lát rồi ông giải thích, cũng phải hiểu cho chính quyền địa phương và đại biểu Quốc hội các khóa trước. Thời bao cấp, cơ chế tập trung, xin-cho rất nặng nề, mọi chương trình ngân sách tỉnh đều do Trung ương duyệt. Địa phương nào nói khác với Đảng, với Chính phủ là… hết tiền. Ông kể, trong tỉnh ủy từng có vị giám đốc sở công nghiệp, trẻ và có năng lực. Khi ông khuyên vị này có ý kiến về một vấn đề mà “ai cũng thấy nhưng không ai dám lên tiếng”, anh ta trần tình: “Bác ơi, bác nói thế thì được, chứ em mà mở miệng ra thì ngày mai, “trên” không cho chương trình, dự án, không cấp ngân sách nữa là tỉnh… chết luôn”. Tóm lại thời đó, chính quyền tỉnh mà dám nói điều gì ngược với Trung ương là tỉnh ấy gặp khó khăn.

Cái khó ấy bây giờ vẫn tồn tại, dù cơ chế phi tập trung hóa đã cho phép địa phương được tự chủ nhiều hơn. Vì ngoài chuyện kinh tế, lãnh đạo tỉnh còn cần tạo dựng uy tín, cần lấy phiếu “trên Trung ương”. Và kể cả không có những ràng buộc về lợi ích, thì theo ông Thước, người ta vẫn phải sợ một cái gì đấy, ít nhất cũng là mối quan hệ tình cảm trên dưới. Từ đây dẫn đến việc “làm gì có ông chủ tịch, ông bí thư kiêm đại biểu Quốc hội nào chất vấn Thủ tướng Chính phủ cho ra trò đâu?”. Cho nên, phải tăng cường đại biểu chuyên trách là vì thế. Ông Thước cũng cho rằng, số đại biểu không dám phát biểu vì không hiểu biết về một vấn đề nào đó thật ra không nhiều; số biết nhiều mà im lặng không nói mới thật sự đông đảo.

Với tấm lòng tha thiết vì đất nước như ngày nào, vị đại biểu lão thành nhắn nhủ các dân biểu tương lai: “Có nhiều đại biểu hỏi tôi: “Bác ở quân đội mà sao lĩnh vực nào bác cũng biết cả?”. Tôi nói thế này, gần suốt cả đời tôi chỉ có đi đánh giặc, thời bình mới làm đại biểu. Dân người ta thấy tôi có trách nhiệm đối với họ nên có việc gì họ cũng tìm đến tôi, cung cấp thông tin cho tôi để tôi nghiên cứu mà phát biểu. Cho nên, làm đại biểu Quốc hội là phải có bản lĩnh và tính chiến đấu, mà cái quan trọng nhất là phải xuất phát từ lợi ích của dân. Có thế thì mới đứng vững được”.