Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Viêm ruột thừa

Viêm ruột thừa
TS. Trần Bình Giang Khoa Phẫu thuật cấp cứu bụng, Bệnh viện Việt Đức
             Viêm ruột thừa là cấp cứu hay gặp nhất trong bệnh lý ngoại khoa bụng. Tại Pháp, tỷ lệ viêm ruột thừa từ 40 đến 60 trường hợp cho 100.000 dân. Tại Mỹ vào khoảng 1% các trường hợp phẫu thuật là do viêm ruột thừa. ở Việt Nam, theo Tôn Thất Bách và cộng sự, viêm ruột thừa chiếm 53,38% mổ cấp cứu do bệnh lý bụng tại bệnh viện Việt Đức. Bệnh rất hiếm gặp ở trẻ em dưới 3 tuổi, tăng dần và hay gặp nhất ở thanh thiếu niên, sau đó tỷ lệ gặp giảm dần theo tuổi nhưng không hiếm gặp ở người già. Tỷ lệ nam/nữ ở người trẻ là 2/3, sau đó giảm dần và ở người già tỷ lệ này là 1/1.
Tuy là một bệnh rất thường gặp nhưng viêm ruột thừa chỉ được nhắc tới trong y văn từ khoảng 500 năm trước. Lúc đầu bệnh được gọi là bệnh "Viêm quanh manh tràng" vì người ta tìm thấy ổ viêm ở vùng hố chậu phải trên mổ tử thi mà nguồn gốc được cho là xuất phát từ manh tràng.
            Mặc dù từ năm 1827, Melier đã mô tả đúng nguồn gốc của "ổ mủ vung hố chậu" là do viêm ruột thừa, nhưng chỉ tới năm 1886 Fitz mới xác định và chính thức gọi là viêm ruột thừa ở những trường hợp mà trước đây gọi là viêm quanh manh tràng và tác giả gợi ý là cắt bỏ ruột thừa có thể giải quyết được bệnh. Năm 1898, Mac Burney mô tả dấu hiệu lâm sàng của viêm ruột thừa chưa vỡ, trong có điểm đau vùng hố chậu phải nay gọi là điểm Mac Burney. Năm 1889, lần đầu tiên Senn thông báo 1 trường hợp chẩn đoán chính xác ruột thừa viêm chưa vỡ và mổ cắt ruột thừa thành công. Đường mổ ruột thừa áp dụng phổ biến hiện nay thường được gọi là đường Mac Burney thực ra do Mc Arthur thực hiện đầu tiên.
            Cần phải nghĩ đến viêm ruột thừa trước bất cứ bệnh nhân nào đến khám do đau bụng. Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng, thay đổi tuỳ theo từng bệnh nhân nên có thể nhầm với các bệnh khác dẫn đến chẩn đoán sai hay muộn. Mondor đã đề nghị gọi là " Những bệnh viêm ruột thừa". Cho tới nay việc chẩn đoán viêm ruột thừa vần phải dựa chủ yếu vào thăm  khám và theo dõi lâm sàng, tất cả các phương pháp cận lâm sàng đều chỉ có tác dụng tham khảo. Không có cách nào dự phòng và dự đoán tiến triển của viêm ruột thừa. Cách  tốt nhất để hạ thấp biến chứng và tránh tử vong là chẩn đoán sớm và mổ cắt bỏ ruột thừa trước khi  nó vỡ hay hoại tử.
I. GIẢI PHẪU :
            Về mặt bào thai học, ruột thừa là phần nối tiếp với đáy manh tràng, do phần này bị thoái hoá dần tạo thành. Trong quá trình phát triển của trẻ em phần trước và bên phải manh tràng phát triển nhanh hơn, làm gốc ruột thừa xoay dần ra sau và vào trong tới vị trí hay gặp ở người lớn. Ruột thừa bình thường ở người lớn dài khoảng 8 - 10 cm. Thành ruột thừa gồm lớp thanh mạc bọc ngoài, lớp cơ rất mỏng gồm lớp dọc do 3 dải cơ dọc của manh tràng dàn mỏng, lớp cơ vòng tiếp nối với cơ của manh tràng để xác định gốc ruột thừa. Lớp dưới niêm mạc gồm các nang bạch huyết chỉ có rất ít khi mới sinh, phát triển mạnh từ 12 đến 20 tuổi, từ 30 tuổi số nang này thoái hoá dần và hầu như mất hết sau 60 tuổi. Lòng ruột thừa hẹp được lợp bởi tế bào biểu mô đại tràng. Phần gốc ruột thừa luôn nằm hằng định so với manh tràng. Phần đầu ruột thừa thay đổi tuỳ từng người, phần lớn nằm trong phúc mạc. Có khoảng 5% ruột thứ nằm ngoài phúc mạc sau manh tràng. Nếu quá trình quay của ruột có rối loạn, manh tràng và ruột thừa có thể nằm lạc vị trí ở trong khoảng từ góc lách tới hố chậu phải. Trong trường hợp đảo ngược phủ tạng ruột thừa nằm ở hố chậu trái.
II. SINH LÝ BỆNH - GIẢI PHẪU BỆNH:
            Viêm ruột thừa gây ra do nhiễm khuẩn trong lòng ruột thừa bị bít tắc. Sự quá sản tổ chức lim pho ở thành ruột thừa là nguyên nhân chính gây tắc lòng ruột thừa. Ngoài ra có thể gặp các nguyên nhân tắc khác: sỏi phân, ký sinh trùng( giun đũa chui vào ruột thừa), các dị vật ( hạt quả)...
            Khi lòng ruột thừa bị tắc gây ứ đọng dịch tiết dẫn tới tăng áp lực trong lòng ruột thừa, ứ trệ tuần hoàn, vi khuẩn phát triển chuyển chất tiết thành mủ. Giai đoạn đầu quá trình này gây viêm, phù thành ruột thừa và có những nốt loét ở niêm mạc ruột thừa. Khi mổ thấy trong ổ bụng có nước dịch tiết trong, vô khuẩn ở vùng hố chậu phải, ruột thừa sưng to mất bóng, các mạch máu giãn to trên thành ruột thừa. Đây là viêm ruột thừa xung huyết.
            Nếu tiếp tục phát triển, quá trình viêm càng làm tăng áp lực dồn tới ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch và thiếu máu nuôi dưỡng. Vi khuẩn phát triển ra thành ruột thừa. Khi mổ trong ổ bụng có dịch đục, ruột thừa viêm mọng, có giả mạc xung quanh, trong lòng chứa mủ. Giai đoạn này là viêm ruột thừa mủ.
            Trong trường hợp khi mạch máu ruột thừa bị tắc do huyết khối nhiễm trùng do vi khuẩn yếm khí dẫn tới hoại tử ruột thừa, thấy trên ruột thừa có những nốt hoại tử hay toàn bộ ruột thừa màu cỏ úa, mủn nát.
            Giai đoạn cuối cùng khi ruột thừa bị thủng dẫn tới mủ chảy ra ngoài. Nếu được khu trú bởi tổ chức xung quanh gồm ruột, mạc nối, phúc mạc dính lại sẽ tạo thành ổ áp xe ruột thừa.
            Trong trường hợp mủ chảy vào ổ phúc mạc tự do sẽ gây viêm phúc mạc toàn thể.
            Ở một số trường hợp, trong quá trình viêm ruột thừa chưa vỡ, phản ứng bao bọc của tổ chức xung quanh tạo ra đám quánh ruột thừa.
III. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG:
1. Triệu chứng cơ năng:
            Bệnh bắt đầu bằng đau bụng ở hầu hết bệnh nhân, chỉ trừ những trường hợp bị liệt tuỷ sống cắt ngang hoặc là ở người rối loạn tâm thần không tiếp xúc được. Điển hình là đau âm ỉ ở vùng hố chậu phải, lục đầu có thể ở vùng trên rốn hay quanh rốn nhưng rồi khu trú ở vùng hố chậu phải. Trẻ em thường đau quanh rốn và trẻ nhỏ chủ yếu là quấy khóc. Nếu kèm theo sốt thì phải rất chú ý khám phát hiện, tránh bỏ sót viêm ruột thừa,
            Kèm theo đau, buồn nôn là dấu hiệu hay thường gặp. Có thể xuất hiện nôn nhất là ở trẻ em. Các dấu hiệu rối loến tiêu hoá khác như chán ăn, táo bón, ỉa chảy cũng có thể gặp.
            Bệnh nhân thấy người mệt mỏi, gây sốt.
2. Triệu chứng thực thể:
            - Quan sát người bệnh thấy dấu hiệu "vẻ mặt nhiễm trùng": vẻ mặt hốc hác, môi khô, lưỡi bẩn. Đo nhiệt độ thường ở khoảng 37,5 - 38oC. Khi sốt cao hơn cần phải nghĩ đến và tìm các nguyên nhân khác.
            - Khám tại chỗ: cần khám nhẹ nhàng, tay thầy thuốc ấm. Khám từ vùng không đau tới vùng đau, phát hiện các dấu hiệu:
            + Phản ứng thành bụng: Khi khám nhẹ nhàng vùng hố chậu phải, thấy cơ thành bụng vùng này căng hơn những vùng khác của ổ bụng, càng ấn sâu xuống, cảm giác co cơ càng tăng, bệnh nhân đau phải nhăn mặt hay đẩy tay thầy thuốc ra ngoài.
            + Tìm các điểm đau: Điểm Mc Burney: ở giữa đường nối gai chậu trước trên đến rốn. Điểm Lanz: nơi nối giữa1/3 phải và 2/3 trái đường liên gai chậu trước trên. Điểm Clado: là nơi gặp của đường liên gai chậu trước trên và bờ ngoài cơ thẳng to phải. Điểm đau trên mào chậu phải: gặp ở viêm ruột thừa sau manh tràng.
            + Dấu hiệu co cứng thành bụng vùng hố chậu phải thường là dấu hiệu của giai đoạn ruột thừa viêm tiến triển muộn.
            + Tăng cảm giác da vùng hố chậu phải: bệnh nhân rất đau khi mới chạm vào vùng này, gặp ở một số ít bệnh nhân.
            + Dấu hiệu Blumberg: Bệnh nhân đau khi thầy thuốc đột ngột bỏ tay đang đè ở vùng hố chậu phải.
            + Dấu hiệu Rovsing: bệnh nhân đau bên phải khi đẩy dồn hơi trong đại tràng từ bên trái sang bằng cách ép vào vùng hố chậu trái.
            + Thăm trực tràng hay thăm dò âm đạo ở phụ nữ là việc phải làm ở tất cả các bệnh nhân nghi ngờ viêm ruột thừa , Khi thăm khám, ngón tay chạm vào thành phải trực tràng hay bờ phải túi cùng âm đạo sẽ làm bệnh nhân đau.
3. Thăm khám cận lâm sàng:
            - Xét nghiệm công thức máu thường thấy số lượng bạch cầu tăng, tuy nhiên không tăng song song với mức độ tổn thương ruột thừa. Trong công thức bạch cầu, số bạch cầu đa nhân trung tính tăng. Tuy nhiên ở một số bệnh nhân nhất là người già số lượng bạch cầu có thể hoàn toàn bình thường.
Chụp Xquang không chuẩn bị bụng không thấy dấu hiệu gì đặc biệt. Riêng ở trẻ nhũ nhi, dấu hiệu viêm ruột thừa muộn được phát hiện qua phim chụp bụng không chuẩn bị với hình ảnh nhiều mức nước hơi của các quai ruột non tập trung ở hố chậu phải.
            - Gần đây, khi siêu âm ổ bụng phát triển, một số tác giả sử dụng tìm các dấu hiệu ruột thừa viêm nhưng chưa có những tiêu chuẩn rõ ràng và chưa được áp dụng rộng rãi.
            - Soi ổ bụng chẩn đoán trong những trường hợp khó, nhất là ở phụ nữ là một phương pháp đang được theo dõi đánh giá.
IV. CÁC THỂ LÂM SÀNG:
1. Thể lâm sàng theo lứa tuổi:
 a) Viêm ruột thừa ở trẻ em:
            Viêm ruột thừa rất hiếm gặp ở lứa tuổi nhũ nhi, việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn do trẻ chưa biết nói, khó hợp tác khi khám nên thường để muộn khi đã viêm phúc mạc. Khi trẻ nhũ nhi quấy khóc kèm theo sốt, nên nghĩ tới viêm ruột thừa, chụp bụng không chuẩn bị có một dấu hiệu rất quan trọng là thấy nhiều hình mức nước hơi tập trung ở hố chậu phải. Việc điều trị vì vậy chậm trễ và có nhiều biến chứng.
            Ở trẻ 2-5 tuổi, việc khai thác bệnh sử vẫn còn khó khăn, vì vậy các dấu hiệu lâm sàng cần được chú ý thăm khám kỹ. Rất có thể bỏ sót chẩn đoán nếu trong chờ có đủ các dấu hiệu điển hình. Những triệu chứng sốt, ỉa chảy, nôn, trằn trọc quấy khóc, co chân bên phải gấp vào bụng là những dấu hiệu rất có thể của viêm ruột thừa. Bụng chướng là dấu hiệu rất hay gặp. Thăm trực tràng một cách nhẹ nhàng rất có giá trị chẩn đoán đối với những thầy thuốc có kinh nghiệm vì nếu thăm trực tràng một cách thô bạo sẽ làm đứa trẻ đau đớn và mất hết mọi giá trị.
            Ở lứa tuổi trên dưới 1tuổi, tỷ lệ viêm ruột thừa vỡ xấp xỉ 100%, dưới 2 tuổi là 70 - 80% và tới 5 tuổi thì tỷ lệ này là 50%
 b) Viêm ruột thừa ở phụ nữ có thai:
            Tỷ lệ gặp viêm ruột thừa ở phụ nữ có thai tương đương với người bình thường. Trong 6 tháng đầu của thai kỹ, triệu chứng không có nhiều khác biệt so với phụ nữ bình thường. Trong 3 tháng cuối, dấu hiệu lâm sàng có thay đổi do tử cung to đẩy manh tràng lên cao và xoay ra ngoài nên điểm đau dâng cao à lệch ra thắt lưng. Do ảnh hưởng của nội tiết tố gây giữ nước làm phản ứng thành bụng giảm độ nhạy cảm dẫn tới chẩn đoán chậm. Viêm ruột thừa ở người có thai rất nhanh chóng dẫn đến hoại thư vì vậy chuẩn đoán đúng và chỉ định mổ sớm trước khi hoại thư là điều cần thiết để bảo vệ tính mạng cho bà mẹ và thai nhi.
 c) Viêm ruột thừa ở người già
            Các triệu chứng đau, chán ăn, buồn nôn rất thường gặp ở người già nhưng ít rầm rộ hơn. Đau bụng chậm khu trú vào vùng hố chậu phải. Phản ứng thành bụng ở người già rất kín đáo, chướng bụng hay gặp. Nhiều người già không có sốt. Có thể sờ thấy khối ở hố chậu phải trong thể u.
            Nhiều trường hợp viêm ruột thừa ở người già thể hiện bằng dấu hiệu tắc ruột, chụp Xquang ổ bụng thấy hình ảnh quai ruột giãn và mức nước hơi ở hố chậu phải cần nghĩ tới viêm ruột thừa.
2. Thể lâm sàng theo cause:
 a) Viêm ruột thừa thể nhiễm độc:
            Hay gặp ở trẻ em hoặc những người cơ thể khoẻ mạnh, cường tráng như những vận động viên. Bệnh nhân có tình trạng sốc nhiễm trùng, nhiễm độc: li bì, nhiệt độ 39-400C, mạch nhanh nhỏ, thở nông, có thể tụt huyết áp, đầu chi tím lạnh. Khám bụng thấy dấu hiệu rất nghèo nàn: bụng chướng nhẹ, nắn bụng đau không rõ, không rõ phản ứng. Thăm trực tràng cũng không thấy rõ. Cần được mổ sớm và cho kháng sinh liều cao, hồi sức tích cực. Khi mổ thấy có ít dịch thối ở hố chậu phải, ruột thừa hoại tử một mảng hay toàn bộ.
 b) Viêm ruột thừa thể tắc ruột:
            Hay gặp ở người già. Bệnh diễn biến chậm, bệnh nhân có dấu hiệu đau bụng cơn kèm theo có sốt. Xquang bụng thấy có bóng hơi, mức nước hơi ở hố chậu phải hay tiểu khung.
 c) Viêm ruột thừa do ký sinh trùng:
            Hay gặp viêm ruột thừa do giun đũa ở trẻ em. Bệnh nhi vào viện vì đau bụng dữ dội, thường sau tẩy giun không đủ liều. Không sốt hay sốt nhẹ. Khám vùng hố chậu phải thấy đau, phản ứng nhẹ. Khi mổ có thể thấy ruột thừa ngọ nguậy, nắn ngoài cứng. Có thể ở đầu ruột thừa hoại tử có giun thò ra.
 d) viêm ruột thừa do lao:
            Trên bệnh nhân đã biết đang bị lao hay không biết. Bệnh diễn biến chậm, đau và phản ứng hố chậu phải không rõ rệt. Khi mổ thấy ruột thừa sưng to và rải rác có hạt màu trắng trên thanh mạc ruột và phúc mạc, có hạch mạc treo, có dịch vàng trong ổ bụng. Xét nghiệm giải phẫu bệnh thấy hình ảnh lao. Cần điều trị lao tích cực. Có nguy cơ dò và bục mảng ruột thừa.
3. Thể lâm sàng theo vị trí:
            a - Viêm ruột thừa sau manh tràng: Bệnh nhân đau lan ra sau, khi khám thấy hố chậu phải đau không rõ. Có khi chân phải co lại do kích thích cơ đái chậu. Nắn điểm trên mào chậu bệnh nhân đau chói.
            b - Viêm ruột thừa tiểu khung: Thường có dấu hiệu về tiết niệu như đái rắt, đái buốt. Khi khám trên bụng thấy điểm đau lệch xuống thấp ở hố chậu phải. Thăm trực tràng hay âm đạo rất quan trọng để chẩn đoán.
            c - Viêm ruột thừa dưới gan: Do ruột quay chưa hết, manh tràng nằm ở ngay dưới gan. Rất dụ nhầm với viờm tỳi mật vỡ cú sốt, đau và phản ứng dưới sườn phải. Siêu âm thấy túi mật, đường mật chính bỡnh thường là phương tiện chẩn đoán phân biệt tốt.
            d - Viêm ruột thừa bên trái: ở người đảo ngược phủ tạng. Khi bệnh nhân đau hố chậu trái kem theo sốt cần chú ý thăm khám toàn thõn để phát hiện đảo ngược phủ tạng, ruột thừa nằm ở bên trỏi.
viờm ruột thừa trong bao thoỏt vị: trỏnh nhầm với thoỏt vị nghẹt
V. TIẾN TRIỂN:
1. Viờm phỳc mạc:
            Thường sau khoảng 48h ruột thừa viêm không được điều trị kịp thời sẽ vỡ gây viêm phúc mạc. bệnh nhân đau tăng, sốt tăng cao tới 39-40oC. khi mới vỡ mủ ở hố chậu phải, thấy toàn vùng hố chậu phải co cứng, nắn rất đau. Nếu không được khu trú, các dấu hiệu viêm phúc mạc toàn thể xuất hiện: đau bụng tăng lên, lan khắp bụng, suy sụp, hốc hác, nhiệt độ 39-40oC, có thể có rét run. Bụng chướng, nắn đau chói và có cảm ứng phúc mạc khắp bụng, nhưng khám kỹ thấy đau nhất ở hố chậu phải, và nếu hỏi kỹ sẽ phát hiện được các dấu hiệu khởi đầu đều xuất phát từ hố chậu phải.
            Viêm phúc mạc do viêm ruột thừa ở người già thường biểu hiện bởi bệnh cảnh tắc ruột, xảy ra 3-5 ngày sau khi bắt đầu đau. Có dấu hiệu cảm ứng phúc mạc cùng với dấu hiệu tắc ruột cơ giới do giả mạc dính các quai ruột gây ra.
2. Viờm phỳc mạc thỡ 2:
            Bệnh viờm ruột thừa tiến triển sau 24- 48 giờ thấy bớt giảm, bệnh nhân đỡ hay hết sốt, hết đau, sau đó đột ngột đau lại dữ dội vùng hố chậu phải. Toàn thân suy sụp nhanh cùng với dấu hiệu viêm phúc mạc toàn thể rừ..
3. Áp xe ruột thừa:
            Là thể viêm phúc mạc khu trú do ổ mủ của viêm ruột thừa được bao bọc bởi tổ chức xung quanh như mạc nối, các quai ruột dính lại. Tiếp theo cơn đau do viêm ruột thừa, các triệu chứng dịu bớt, sau 3-5 ngày bệnh nhân thấy đau lại tăng lên, sốt dao động. Khám vùng hố chậu phải thấy một khối căng, nắm đau chói, liền với gai chậu, có khi thấy da vùng này tấy đỏ lên do ổ mủ sắp vỡ ra ngoài.
            Có thể gặp thể áp xe ruột thừa trong ổ bụng khi khám thấy một khối đau chói, có thể di động, nằm cách với gai chậu, lệch về phía trong.
4. Viờm phỳc mạc thỡ 3:
            Khi ổ áp xe ruột thừa không được điều trị. bệnh nhân đột ngột đau tăng lên, tiếp theo là triệu chứng viêm phúc mạc toàn thể do ổ áp xe vỡ vào ổ phúc mạc. Đây là một thể viêm phúc mạc nặng do bệnh tiến triển lâu trên một cơ thể suy kiệt vỡ nhiễm trựng.
5. Đám quánh ruột thừa:
            Gặp ở một số trường hợp ruột thừa ở giai đoạn viêm được các tổ chức xung quanh bao bọc lại. Thường bệnh nhân đến viện vào ngày 4-5 sâu khi đau bụng. Khám thấy dấu hiệu nhiễm trùng nhẹ, sốt nhẹ 37,5-38,5oC. Khám bụng thấy vùng hố chậu phải có một đám chắc, ranh giới khụng rừ, nắm vào đau ít. Đây là trường hợp bệnh lý của ruột thừa duy nhất khụng nờn mổ ngay mà nờn cho khỏng sinh và theo dừi. Quỏ trỡnh viờm cú thể tụ thoỏi trào hay khu trỳ lại thành ổ ỏp xe ruột thừa.
6. Viờm ruột thừa món tớnh:
            Một số tác giả phương tây nêu ra nhưng chưa được công nhận rộng rãi. Khi có dờu hiệu viêm ruột thoó không rõ, sau vài ba ngày tự khỏi, có thú tái phát sau một thời gian.
VI. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT:
1. Với các nguyên nhân khác trong ổ bụng: Thủng ổ loét dạ dày - tá tràng, viêm túi mật cấp, viêm tuỵ cấp. Ở trẻ em, cần phân biệt đau bụng do viêm ruột thừa vớ lồng ruột cấp, viêm túi thừa Mekel hoặc viêm hạch mạc treo, viêm ruột. Ở phụ nữ có thể nhầm với viêm phần phụ, chửa ngoài tử cung vỡ, vỡ nang hoàng thể, xoắn u nang buồng trứng. Ở người già có thể nhầm với tắc ruột và u manh tràng. Một số bệnh lý khác tuy hiếm gặp cũng có thể nhầm với viêm ruột thừa như: viêm túi thừa đại tràng, viêm hoại tử mạc nối lớn, tắc mạch mạc treo, vỡ phồng động mạch chủ bụng. Các bệnh lý do tiết niệu: cơn đau quặn thận hay viêm đường tiết niệu  , viêm cơ đái chậu bên phải
2. Một số bệnh nội khoa như viêm thuỳ dưới phổi phải, một số trường hợp sốt do virus có thể gây đau vùng hố chậu phải đặc biệt là ở trẻ em.
VII. NGUYÊN TẮC CHẨN ĐOÁN
            Viêm ruột thừa đòi hỏi được chẩn đoán sớm. mặc dù có nhiều tiến bộ, các phương tiện thăm dò cận lâm sàng không có nhiều giá trị trong chẩn đoán viêm ruột thừa. Trước một trường hợp đau bụng có sốt đến khám, người thầy thuốc cần thăm khám tỷ mỉ, có hệ thống để phát hiện các dấu hiệu như phản ứng thành bụng, điểm đau vùng hố chậu phải. Đặc biệt việc theo dõi, khám lại nhiều lần, so sánh các dấu hiệu giữa các lần khám giúp ích nhiều cho việc chẩn đoán.
VIII. ĐIỀU TRỊ :
1. Khi đã chẩn đoán viêm ruột thừa, chỉ định mổ tuyệt đối.
 a) Mổ theo phương pháp kinh điển : Với ruột thừa viêm đến sớm trong vòng 24h chưa vỡ: Chon đường mổ Mac Burney ở vùng hố chậu phải để cắt ruột thừa. Khi chẩn đoán viêm phúc mạc do viêm ruột thừa: đường mổ cần rộng rãi để cắt ruột thừa, lau sạch và kiểm tra ổ bụng. Áp xe ruột thừa:Khi áp xe đã hình thành, trích dẫn lưu ổ mủ, ruột thừa sẽ mổ cắt sau từ 3-6 tháng. Với áp xe ruột thừa trong ổ bụng, mổ bụng lấy bỏ ổ áp xe, cắt ruột thừa ngay. Duy nhất trường hợp đám quánh ruột thừa: không mổ mà điều trị tích cực và theo dõi. Nếu tiến triển thành áp xe ruột thừa sẽ xử lý như áp xe, nếu đám quánh giảm dần rồi hết sẽ mổ cắt ruột thừa sau khoảng từ 3-4 tháng.
b) Phẫu thuật nội soi điều trị viêm ruột thừa: Với sự phát triển của phẫu thuật nội soi, ngày nay tại nhiều trung tâm ngoại khoa, phẫu thuật nội soi đã trở thành phương pháp được áp dụng có hiệu quả trong điều trị bệnh lý viêm ruột thừa cấp. Phẫu thuật nội soi cho phép quan sát rộng rãI toàn bộ ổ bụng, có thể nhìn rõ, rửa, hút sạch ở những khu vực khó tiếp cận bằng mổ kinh điển. Với phẫu thuật nội soi, không còn kháI niệm ruột thừa lạc chỗ. Phẫu thuật nội soi có thể chỉ định trong viêm ruột thừa cấp, viêm phúc mạc ruột htừa, thậm chí một số trường hợp áp xe ruột thừa. Chống chỉ định với người có thai 3 thánh cuối do thai chèn ép không tạo được khoảng trống và một số ít các chống chỉ định đang ngày càng thu hẹp.
2.Điều trị kháng sinh trong viêm ruột thừa.
            Kháng sinh kết hợp chứ không thay thế mổ cắt bỏ ruột thừa. Nhiều nghiên cứu tiền cứu cho thấy rõ tác dụng rõ rệt của việc dùng kháng sinh ngay từ khi khởi mê có tác dụng giảm tỷ lệ nhiễm trùng rõ rệt nhất là nhiễm trùng vết mổ. Do đặc điểm vi khuẩn chí của ruột thừa nên Flagyl dùng đơn độc ( khi ruột thừa chưa vỡ mủ) hay phối hợp với một kháng sinh phổ rộng khác ( trường hợp ruột thừa đã vỡ) rất có tác dụng trong điều trị sau mổ viêm ruột thừa.
IX. KẾT LUẬN:
            Viêm ruột thừa là một cấp cứu hay gặp nhất trong công việc của người thầy thuốc ngoại khoa. Nguyên tắc chuẩn đoán đối với viêm ruột thừa là dựa vào thăm khám và theo dõi lâm sàng. Khi đã chuẩn đoán viêm ruột thừa, chỉ có mổ mới sớm hy vọng tránh được những biến chứng và hậu quả nguy hiểm do ruột thừa vỡ gây ra. Phát triển hệ thống chăm sóc sức khoẻ ban đầu, tuyên truyền hướng dẫn cho nhân dân biết các dấu hiệu nghi ngờ đầu tiên để đến khám bệnh, người thầy thuốc khám bệnh ban đầu cần sớm nhận biết các triệu chứng, không lạm dụng thuốc nhất là thuốc giảm đau và kháng sinh, đồng thời gửi bệnh nhân đến cơ sở ngoại khoa là cách tốt nhất hạ thấp tỷ lệ chuẩn đoán và điều trị muộn viêm ruột thừa.

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011

513. TRUNG QUỐC VỚI VẤN ĐỀ BIỂN ĐẢO

513. TRUNG QUỐC VỚI VẤN ĐỀ BIỂN ĐẢO

Đăng bởi anhbasam on 05/05/2011
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TRUNG QUỐC VỚI VẤN ĐỀ BIỂN ĐẢO

(Báo “Hải quân nhân dân” Trung Quốc)
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ Tư, ngày 4/5/2011
TTXVN (Bắc Kinh 28/4)
Từng hòn đảo ngoài khơi tàng trữ nguồn nước, nguồn thuỷ sản, khoáng sản và nguồn lực du lịch, là sự đảm bảo quan trọng để kinh tế và xã hội Trung Quốc phát triển bền vững. Hải đảo với tư cách là trận địa quốc phòng tiền duyên, thông tới tiền đồn ở ngoài khơi như những cứ điểm tiến công, là tiêu chí được công nhận về điểm xuất phát cơ sở…, đó là điểm giữ tiền tiêu để bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, ý nghĩa chiến lược của đảo ngày càng bộc lộ rõ. Tuy nhiên, không biết từ khi nào, chúng ta đã bỏ qua việc bảo vệ hải đảo.
I – Khai thác tranh cướp, phá hoại nghiêm trọng: Hải đảo trở thành “vật hy sinh” cho phát triển kinh tế.
Theo con số thống kê của Cục hải dương và nghề các tỉnh Quảng Đông, năm 1990 toàn tỉnh có tất cả 1.431 hòn đảo lớn nhỏ, đến nay đã giảm xuống còn hơn 1.100 đảo. Không chỉ có thế, hiện tượng mất đảo đã trở thành vấn đề chung của các tỉnh ven biển: Tỉnh Liêu Ninh đã mất 48 đảo, số lượng các đảo bị mất đã chiếm tới 18% tổng số đảo ban đầu; Tỉnh Hà Bắc đã mất 60 đảo, giảm 46%; Tỉnh Phúc Kiến mất 83 đảo, giảm 6%; Tỉnh Hải Nam mất 51 đảo, giảm 22%….
Đối với những cư dân sinh sống ở gần đảo, hiện tượng mất đảo quy mô lớn đã không còn là việc hiếm thấy: Mỗi ngày có rất nhiều tàu liên tục ra khai thác cát ở ngoài biển, những đường dẫn lớn ra tới vùng nước sâu để chở cát vào đất liền, giống như nhiều cánh tay dài vươn ra cướp lấy từng đảo. Đảo cứ nhỏ dần mỗi ngày rồi mất hẳn, nhưng không có bất cứ sự ghi chép nào về thực tế này.
Nguyên nhân mất đảo có rất nhiều, các đảo dạng như bãi cát không có nham thạch cố định, dễ bị các nhân tố tự nhiên như sóng, gió làm cho mất đi, nhưng nhiều đảo hơn mbị mất là do lấp biển, các công trình như đê biển, cầu cống biến thành bán đảo, chuỗi đảo hoặc thành đất liền, mất đi tính chất vốn có của đảo; Nghiêm trọng nhất là do phát triển không có trật tự đã tạo nên sự phá hoại do bàn tay con người, đê đập, du lịch, nuôi trồng, cửa biển và các công trình phối hợp đồng bộ, khai thác dầu trên biển, đảo quặng và lấp biển, tất cả đều đem lại tai hại chưa từng có.
Các ngành nghề biển ở Trung Quốc phát triển theo lối quảng canh chỉ chú trọg số lượng chủ yếu còn là do quan niệm sai lệch. Từ thời cổ xưa rất nhiều đảo không có người ở là các nhà tù thiên nhiên để đi đày, giam giữ và tàn sát tù nhân. Hiện nay còn rất nhiều người vẫn chưa nhận rõ được tính chất quan trọng của đảo, nhất là các đảo không có người ở, luôn cho rằng chẳng qua chỉ có vài cây mọc, một số bãi san hô, dù sao cũng không thể ở được, khai thác cát, đánh bắt, nuôi trồng cũng chẳng có gì lãng phí. Chính do quan niệm sai lầm chỉ quan tâm lợi ích trước mắt như vậy nên đã dẫn đến tình trạng phá hoại mà không cách nào xoay chuyển nổi, không chỉ phá hoại bản thân các đảo mà nguồn rừng sú vẹt cũng bị đe doạ nghiêm trọng.
II- Đường cơ sở lãnh hải, nguồn sinh tồn: Nâng cao ý nghĩa quốc gia trong bảo vệ biển đảo
Trung Quốc có tới 6.921 đảo có diện tích trên 500 mét vuông, số đảo và bãi đá dưới 500 mét vuông cũng có gần 10 nghìn đảo bãi. Theo quy định trong “Công ước Liên hợp quốc về luật biển”, mỗi quốc gia lãnh hải có thể coi các đảo ven biển của nước mình là các điểm xuất phát cơ sở, nối các đảo, cũng là các điểm xuất phát cơ sở này lại với nhau sẽ tạo thành một đường cơ sở, có thể lấy đường cơ sở này làm ranh giới để hoạch định vùng lãnh hải 12 hải lý là vùng nước thuộc phạm vi quản lý chủ quyền của nước đó, bên ngoài lãnh hải 12 hải lý là vùng giáp ranh, lại tiếp tục hướng ra ngoài là vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý. Trong số 77 điểm xuất phát cơ sở để xác định lãnh hải mà Trung Quốc đã công bố (năm 1996), có 67 điểm là thuộc các đảo không người ở. Nếu các đảo không người ở này bị phá hoại hoặc bị mất đi thì các điểm xuất phát cơ sở và đường cơ sở cũng mất đi, đồng thời cũng tự động để mất đi từng ấy quyền lợi được ưu đãi.
Khi một đảo mất đi cũng có nghĩa là tất cả mọi nguồn nước và nguồn tài nguyên khoáng sản dưới đảo đó đều sẽ mất đi. Nhật Bản ngay từ rất sớm đã ý thức được vấn đề này. Bãi đá Okinotori (Okinotori reef) khi nước triều lên chỉ có 5 mỏm đá nhô lên khỏi mặt nước, chưa bao giờ được người Nhật chú ý, nhưng sau khi “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” được công bố, Nhật Bản đã lập tức gia công củng cố cho tư cách “đảo” của Okinotori reef. Năm 1987, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng phương thức “Hội thảo đặc biệt về đối sách ứng cấp đảo Okinotori”, từ năm đó bắt đầu xây dựng công trình đê bọc xung quanh để ngăn cho đảo khỏi bị phong hoá và khỏi bị ngập. Từ tháng 4/1988 đến tháng 10/1989, Nhật Bản đã chi tổng cộng 28,5 tỉ yên, đặt ghép 9.900 tảng chắn sóng được làm bằng sắt ở xung quanh các mỏm đá Okinotori Bắc và Okinotori Đông, phun tưới xi măng lên toàn bộ bề mặt mỏm đá làm lớp bảo hộ. Sau khi hoàn thành công trình, Chính phủ Nhật Bản lại đầu tư 5 tỉ yên để tiếp tục gia cố, năm 2006 đầu tư khoản lớn đến 7,55 triệu USD nuôi trồng san hô với ý đồ sử dụng san hô để làm cho đảo Okinotori “sinh trưởng”. Có chuyên gia phân tích nếu Okinotori được xác nhận là đảo thì không những có được khu đặc quyền kinh tế rộng 400 nghìn km vuông, mà sẽ còn được quyền xây dựng cơ sở quân sự mới ở trên đảo. Nếu được như vậy thì pham vi tuần tra của tàu và máy bay Nhật Bản có thể được mở rộng ra hơn 2.000 km, mà vùng biển như vậy chính là tuyến đường tất yếu để Trung Quốc tiến ra Thái Bình Dương ở phía Đông, Mỹ tiến vào Đông Á từ phía Tây và Nga đi xuống phía Nam.
Biển là nguồn của cải vô giá và là không gian phía sau để các nước trên thế giới phát triển kinh tế – xã hội. Biển vừa là cơ sở tài nguyên chiến lược quan trọng về năng lượng, khoáng vật, thực vật và kim loại quý hiếm quan trọng, lại cũng là bộ phận cấu thành cơ bản của hệ thống nâng đỡ sự sống của toàn cầu, là kho báu về tài nguyên và cỗ máy điều tế quan trọng về môi trường. Đảo với tư cách là bộ phận cấu thành quan trọng của hải dương, trong khi khai thác sử dụng, con người cũng đồng thời phải coi biển là hệ thống nâng đỡ sự sống để quan tâm bảo vệ.
III- Nắm rõ thực tình, lập pháp chuyên ngành: Tạo ra “thần hộ mệnh” bảo vệ đảo
Năm 2005, có 908 cuộc điều tra chuyên ngành về khu vực bờ biển hải đảo được triển khai toàn diện ở Trung Quốc đã hoàn thành, bản “Danh sách hải đảo Trung Quốc” cũng sẽ được công bố chính thức. Trên cơ sở điều tra thực địa, lần đầu tiên các nhân viên công tác đã áp dụng kỹ thuật vệ tinh dao cảm có độ phân giải cao và kỹ thuật rađa quét tia lade ba chiều (LiDAR) tiên tiến trên thế giới được áp dụng trong ngành hàng không; đã điều tra rõ các số liệu cơ sở về vị trí khu vực bờ biển của các hải đảo, loại hình hải đảo, chiều dài đường bò biển và loại hình, diện tích, phân bổ và đặc trưng khu vực ngập thấp giữa các đảo, nắm vững một cách có hệ thống hiện trạng và tiềm lực nguồn tài nguyên môi trường bờ biển các hải đảo Trung Quốc, cung cấp những căn cứ khoa học cho việc quản lý tổng hợp và phát triển kinh tế biển bền vững như phát triển sử dụng biển, bảo vệ môi trường sinh thái, phòng chống và làm giảm thiên tai, đã làm mới lại toàn diện các số liệu về vùng bờ biển hải đảo Trung Quốc.
Đồng thời, ngày 26/12/2009, “Luật bảo vệ hải đảo Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa” đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 11 thông qua, và bắt đầu thi hành từ ngày 1/3/2010. Bộ luật nói trên là quy định pháp luật chuyên ngành đầu tiên của Trung Quốc về hải đảo, đã lấp lại khoảng trống trong làm luật về hải đảo của Trung Quốc. Luật nói trên được ban bố thực thi đã làm cho nghìn vạn hải đảo của Trung Quốc có được vị “thần hộ mệnh”.
“Luật bảo vệ hải đảo” đã thể hiện rõ công việc bảo hộ sinh thái của hải đảo, tạo ra thể chế quản lý hải đảo, xác lập cục diện mới về bảo vệ phát triển hải đảo, có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật biển của Trung Quốc, xác định rõ địa vịi pháp lý của hải đảo, bảo vệ tài nguyên, hệ thống sinh thái đảo và thúc đẩy phát triển sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên biển đảo.
Trung Quốc cũng đồng thời tăng cường công tác phê duyệt và quản lý các công trình sử dụng biển có liên quan đến đảo, quy định chặt chẽ trong phê duyệt xây dựng các công trình kiến trúc hoặc cơ sở thiết bị ở các bãi cát trên đảo có người ở, hạn chế các hành vi làm thay đổi đường biên giới các đảo có người ở như khai thác cát, vây lấp biển…. cấm xây dựng các công trình mới nối liền các đảo bằng các đê đập thực tế. Đối với các đảo trọng điểm khôi phục đã được xác định trong quy hoạch bảo vệ, cần tổ chức triển khai bảo vệ hệ thống sinh thái ở các đảo có người ở và khu vực biển xung quanh các đảo đó.
Kinh tế cần phát triển nhưng tuyệt đối không thể trả giá bằng cách phá hoại moi trường sinh thái biển. Trung ương Đảng, Chính phủ đã hết sức coi trọng phát triển và bảo vệ biển, yêu cầu phải “chỉnh đốn lại trật tự, kiểm soát quy mô, sử dụng hợp lý”, đặc biệt là trong “Quy hoạch 5 năm lần thứ 12” đã đề ra yêu cầu cao hơn về việc “có kế hoạch phát triển đều cả đất liền và biển khơi”, “nâng cao năng lực tổng hợp về phát triển, kiểm soát và quản lý biển”.
IV- Đi đầu gương mẫu, mở rộng tuyên truyền: Lực lượng hải quân trở thành nòng cốt bảo vệ hải đảo
Hải đảo là bốt tiền tiêu để bảo vệ quyền lợi và lợi ích biển, là tiền đồn trấn thủ cửa ngõ quốc gia, phòng vệ kẻ thù xâm nhập, địa vị đặc biệt của cán bộ chiến sĩ hải quân trong bảo vệ biển đảo được cả xã hội quan tâm.
Để làm thay đổi ý thức truyền thống coi trọng đất liền coi nhẹ biển của cư dân trên các hải đảo, cũng giống như cách làm của Hạm đội Đông Hải ở khu vực quần đảo Châu Sơn, Chiết Giang đã chủ động có biện pháp cứu đảo, cán bộ chiến sĩ kho xăng dầu thuộc Ban hậu cần, cảnh vệ mặt nước hải quân thuộc Hạm đội Nam Hải phụ trách các đảo khu vực phía Đông tỉnh Quảng Đông đã phổ biến rộng rãi kiến thức bằng các hình thức như nói chuyện chuyên đề về “Luật bảo vệ hải đảo”, tuyên truyền kiến thức biển…. triển khai các hoạt động như làm sạch hải đảo, cùng bắt tay bảo vệ quê hương, hướng dẫn cư dân hình thành quan niệm giá trị về biển, quan niệm về lãnh thổ ngoài khơi. Trên cơ sở đó đã ra báo tường cỡ lớn với chủ đề “yêu biển bảo vệ biển”, hăng hái tích cực tạo ra trận địa dư luận tuyên truyền kiến thức, văn hoá biển.
Hàng ngày trong khi thi hành nhiệm vụ, đội tàu hộ vệ của Ban hậu cần nói trên đã tự thể hiện chức trách bảo vệ hải đảo, trong huấn luyện, diễn tập đã thường xuyên cảnh báo, nhắc nhở các tàu lấy cát, chặn đuổi cá ngư dân đánh bắt cá bằng thuốc nổ. Chính uỷ đội tàu Phù Hiến Văn cho biết khi mới bắt đầu, các cán bộ chiến sĩ không hiểu hết ý nghĩa, cho rằng đó là chuyện làm thừa thãi, nhưng sau đó đã nhận thức rõ vấn đề, tất cả đều thay đổi cách thi hành mệnh lệnh bị động trước đây thành chủ động tìm biện pháp. Đến nay bảo vệ hải đảo đã trở thành ý thức tự giác của các cán bộ chiến sĩ.
Về bảo vệ môi trường sinh thái biển, có không biết bao nhiêu chuyện kể về những cán bộ chiến sĩ bảo vệ Nam Sa (Trường Sa). Những người giữ đảo ở đây đã gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường biển đảo với cương vị chức trách của mình, hàng ngày thi hành nhiệm vụ cho đến khi nước triều xuống, những ai không trực bạn thì ra biển làm vệ sinh dọn sạch rác biển. Những người ở Trường Sa còn trồng cây, trông hoa trong các bồn để bảo vệ và cải thiện môi trường./.

314. Chủ nghĩa xã hội phiên bản 3.0 ở Trung Quốc Đăng bởi anhbasam on 05/05/2011

314. Chủ nghĩa xã hội phiên bản 3.0 ở Trung Quốc

Đăng bởi anhbasam on 05/05/2011
The Diplomate

Chủ nghĩa xã hội

phiên bản 3.0 ở Trung Quốc

Peter Martin và David Cohe
Ngày 25 tháng 4 năm 2011
Danh tiếng chính trị của Bạc Hy Lai [Bo Xilai] đang nổi lên như cồn không thua kém gì một ngôi sao nhạc rock. Nhưng liệu các chính sách “Văn hóa Đỏ” của ông tại Trùng Khánh có đưa ra một mô hình khả thi cho Trung Quốc?
Trong lúc Trung Quốc đang đến gần thời điểm chuyển giao quyền lực vào năm 2012 thì các chính trị gia và học giả cũng đua nhau đi tìm đề tài chủ đạo sẽ xác định phương hướng của đất nước trong tám năm tới. Những khuynh hướng của Tập Cận Bình [Xi Jinping], “hoàng thái tử” sẽ kế vị chức chủ tịch nước, hiện vẫn chưa chắc chắn, nhưng chuyến thăm gần đây của ông tới Trùng Khánh khiến người ta có suy nghĩ rằng ông đặc biệt quan tâm tới các chính sách “Văn hóa Đỏ” của Bí thư thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai.
Ông Lai là đảng viên cao cấp nhất ở Trùng Khánh, một khu vực hành chính rộng gấp bốn lần tiểu bang New Jersey của Mỹ. Trùng Khánh bao gồm một thành phố 10 triệu dân và một vùng nông thôn rộng lớn nằm sâu trong đất liền với hơn 1200 thị trấn và làng mạc. Trong vài năm gần đây ông Lai đã gây được sự chú ý của các phương tiện truyền thông nhờ những sáng kiến gây chú ý như chiến dịch “nhạc đỏ” và lệnh cấm quảng cáo trên truyền hình của Trùng Khánh.
Nhưng việc làm nói trên của Trùng Khánh mang ý nghĩa sâu xa hơn nhiều chứ không đơn thuần là mẹo quảng cáo cho chủ nghĩa xã hội – ông Lai đang thử viết lại khế ước xã hội của Trùng Khánh bằng cách tấn công vào sự bất bình đẳng về kinh tế, mở rộng vai trò của nhà nước trong nền kinh tế và những biện pháp chính trị được lấy thẳng từ Mao tuyển.
Người dân ở Trung Quốc thường hay nói rằng chính trị thì đứng yên trong khi kinh tế thì phi nhanh về phía trước. Nhưng cái vẻ bề ngoài bình lặng của chế độ độc đảng đang che giấu sự tranh cãi dữ dội về tương lai của Trung Quốc. Chính sách được đem ra làm thử ở cấp địa phương đáng để đưa ra tranh luận nhằm quyết định mô hình của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc trong nhiệm kỳ của chính phủ sắp tới và tiếp tục sau đó nữa. Cuộc chuyển giao vào năm 2012 đang đến gần đã khuyến khích những “ngôi sao” như ông Lai, hiện đang là ủy viên Bộ chính trị và có khả năng sẽ là ứng cử viên cho chức vụ ở bậc thang cao nhất trong Thường vụ Bộ chính trị, khéo léo dùng những chính sách mới mẻ gây ấn tượng để thu hút sự chú ý của những lãnh đạo cấp cao nhất.
Cuộc tranh luận nói trên không phải bao giờ cũng diễn ra theo những phương hướng đi tới sự tự do hóa. “Tân cánh Tả” tại Trung Quốc đã chộp lấy những sáng kiến của ông Lai để đưa ra lý lẽ ủng hộ một sự từ bỏ triệt để những chính sách hướng tới thị trường của giai đoạn Cải cách và Mở cửa và họ viện dẫn Trùng Khánh như là bằng chứng cho thấy Trung Quốc có thể kết hợp tăng trưởng với bình đẳng về kinh tế trong một tầm nhìn về chủ nghĩa xã hội toan tính quay lại một quá khứ độc quyền nhà nước.
Những người thuộc Tân cánh Tả đề xuất rằng kinh nghiệm của Trùng Khánh là sự bắt đầu một con đường để Trung Quốc cắt đứt triệt để với những cải cách theo đường lối tư bản chủ nghĩa do Đặng Tiểu Bình khởi xướng. Họ hi vọng khôi phục lại nhà nước như là trung tâm của hệ thống kinh tế của Trung Quốc với tiêu điểm là giảm nghèo và làm hồi sinh những phương pháp chính trị của Mao. Họ khẳng định rằng làm được như thế tức là đã xây dựng được một kế hoạch cho một kỷ nguyên mới trong lịch sử Trung Quốc.
Chủ nghĩa xã hội phiên bản 3.0
Ở một hệ thống chính trị mà cái quan trọng là khẩu hiệu thì việc tạo ra một khẩu hiệu mới mẻ để nó trở thành quen thuộc là một công việc đòi hỏi sự tinh tế và ông Lai đã biết cách gắn cá nhân ông với lịch sử của Đảng Cộng sản. “Có người nói rằng “Văn hóa Đỏ” là một bước rẽ về phía bên trái”, ông Lai đã nói như vậy tại một cuộc họp của đảng hồi năm 2009. “Thực ra bước đi này chỉ đơn giản là để phục vụ nhân dân. Đó là lý do vì sao Đảng Cộng sản đã được thành lập”.
Song, những thành viên lãnh đạo của Tân cánh Tả ở Trung Quốc đang bắt đầu nhìn vượt ra ngoài phạm vi của cái đề tài chủ đạo từng quyết định nền chính trị của Trung Quốc trong 30 năm qua.
Vương Thiệu Quang [Wang Shaoguang], một giáo sư sinh ra tại Trung Hoa lục địa và hiện đang dạy môn khoa học chính trị tại trường đại học Trung hoa ở Hồng Kông, trong một bài báo viết về Trùng Khánh nhưng không xuất bản đã đặt tên cho giai đoạn nói trên là “Chủ nghĩa xã hội phiên bản 3.0” và ông coi chủ nghĩa xã hội phiên bản 3.0 như là sự kế thừa chủ nghĩa quân bình của Mao và chính sách cải cách và cởi mở của Đặng.
Phan Vĩ, nhà nghiên cứu chính trị gây nhiều tranh cãi ở Đại học Bắc Kinh, lại coi Trùng Khánh như là bằng chứng cho thấy Trung Quốc đang bước vào một “kỷ nguyên hậu cải cách và mở cửa”, đang quay trở lại với điểm trọng tâm của chủ nghĩa xã hội truyền thống ấy là sự bình đẳng. Với lý lẽ đưa ra rằng các chính sách tập trung vào tăng trưởng của những thập kỷ gần đây đã tạo ra khoảng cách không thể chấp nhận được giữa người giàu và người nghèo, ông cho rằng đã đến lúc phải xem xét lại triệt để nền chính trị của Trung Quốc – song ông không chắc chắn đã đến lúc để nói ra công khai như vậy hay chưa.
Nhưng mặc dù Trùng Khánh của ông Lai đã trở thành một thủ đô của Tân cánh Tả của Trung Quốc, nhưng  Trùng Khánh không phải là mô hình duy nhất đang cạnh tranh để gây sự chú ý của những lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc. Những người ủng hộ nền kinh tế thị trường cạnh tranh và những người có đầu óc tân tiến hướng tới toàn cầu đều tìm thấy sự khích lệ ở những chính quyền địa phương, nhất là  những chính sách cải cách của chính quyền Thẩm Quyến và Quảng Đông.
Thành phố Thẩm Quyến, nơi đã thử nghiệm những cải cách chính trị theo mô hình phương Tây để từng bước tiến tới tam quyền phân lập, là nơi Thủ tướng Ôn Gia Bảo trong bài nói chuyện gây tranh cãi hồi tháng 8 năm ngoái đã ủng hộ mạnh mẽ sự thay đổi chính trị, trong khi đó Vương Dương [Wang Yang], chủ tịch tỉnh Quảng Đông và là đối thủ của ông Lai cho một ghế trong Thường vụ Bộ chính trị, lại tập trung vào đề tài dễ gây hấp dẫn ấy là “Quảng Đông Hạnh Phúc”, ông kêu gọi vì sự tăng trưởng có chừng mực kết hợp với “Chỉ số Hạnh phúc”.
Nền kinh tế hậu cải cách
Vậy chính xác thì các nhà tư tưởng của Tân cánh Tả tin rằng chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc trong giai đoạn tới sẽ có diện mạo ra sao?
Điểm đầu tiên đó là họ cho rằng chủ nghĩa xã hội Trung Quốc sắp tới sẽ bớt đi rất nhiều chủ nghĩa tư bản. Họ kêu gọi tái khôi phục lại vai trò quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế và họ chỉ ra Trùng Khánh như là bằng chứng cho thấy rằng một khu vực “công” quy mô rộng vẫn có thể cùng tồn tại với một thị trường năng động. Trong vòng vài năm qua khi Trùng Khánh trở thành một nới đến ưa thích  để di chuyển những nhà máy ở các tỉnh duyên hải phát triển hơn ở đó lương và chi phí đang ngày càng tăng cao thì GDP của Trùng Khánh đã tăng khoảng 14 phần trăm một năm – nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước – điều này đáng để cho những học giả cánh tả coi Trùng Khánh như là một mô hình cho phát triển.
Các nhà khoa học chính trị của Tân cánh Tả đang sử dụng Trùng Khánh, là nơi đã khuyến khích sự mở rộng các doanh nghiệp nhà nước, để đáp lại những luận cứ được nhiều kinh tế gia Trung Quốc theo đường lối thị trường đồng tình cho rằng đầu tư của nhà nước đã “đẩy” các doanh nghiệp tư nhân ra rìa (guo jin min tui – nhà nước tiến, tư nhân lùi)
Nhưng, Thôi Chi Nguyên [Cui Zhiyuan], một giáo sư của Đại học Thanh Hoa [Qinghua University] hầu như cả năm ngoái đã thực hiện nghiên cứu thực địa ở Trung Khánh lại cho rằng ở Trùng Khánh “Không phải nhà nước đang gạt doanh nghiệp tư nhân ra rìa … Trên thực tế, nhà nước và thị trường cùng nhau phát triển (guo jin min ye jin – nhà nước và tư nhân cùng tiến).
Ông Vương Thiệu Quang cũng đồng ý như vậy, ông dẫn chứng sự phát triển của hoạt động tư nhân ở thành phố này đã đi nhanh hơn đầu tư của nhà nước. Thực tế là ông đã bác bỏ quan niệm cho rằng nhà nước gạt tư nhân ra rìa, ông viết: “Quan niệm này không những tuyệt đối vô căn cứ về lý luận mà nó còn tỏ ra là phi lý nếu lấy thực tế của Trùng Khánh để chứng minh … Ở Trùng Khánh, khi vai trò tuyệt đối của nhà nước trong nền kinh tế được giảm bớt đi thì tương quan nhà nước trong nền kinh tế đã giảm đi.”
Tuy nhiên, trong mô hình Trùng Khánh thì mọi thứ đều gắn với những vấn đề nghèo đói và bất bình đẳng và chính quyền Trùng Khánh đã sử dụng lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước cho những dự án theo truyền thống xã hội chủ nghĩa, dùng nguồn thu của thành phố để tài trợ cho việc xây dựng nhà ở cho những người có thu nhập thấp và hạ tầng giao thông. Vì thế có lẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi chính sách thành công lớn nhất của ông Lai chính là sáng kiến xây nhà ở cho những người nghèo nhất của thành phố. Chương trình xây dựng khổng lồ này có mục đích cung cấp những căn hộ giá rẻ cho một phần ba của 30 triệu cư dân của thành phố này, một chương trình đã thu hút được sự chú ý của cả nước và rõ ràng đã gây ấn tượng cho trung ương là nơi cũng đang triển khai đại trà một kế hoạch tương tự trên quy mô toàn quốc như một phần của Kế hoạch 5 Năm lần thứ 12.
Ông Lai cố gắng đưa ra chương trình nói trên của ông như là một bước vượt qua sự chỉ tập trung vào GDP là đặc điểm của chính sách của Trung Quốc kể từ thời Đặng Tiểu Bình. “Vấn đề không phải là chúng ta có bao nhiều tòa nhà cao tầng, vấn đề là chúng ta hạnh phúc như thế nào”, ông đã lập luận như vậy trong một diễn văn hồi năm 2009 trước Đảng bộ Trùng Khánh.
Câu nói trên [của Trùng Khánh] về bản chất cũng giống với cách nói “Quảng Đông Hạnh Phúc”, song những chính sách kiểm soát của nhà nước [tại Trùng Khánh] lại tương phản rõ rệt với những đề xuất của thành phố đối thủ [Quảng Đông]. Những cải cách gần đây của tỉnh lấy xuất khẩu làm trọng điểm [Quảng Đông] đã bắt đầu nhìn xuống dưới chân mình, điều này hoàn toàn phù hợp với những tranh luận hiện nay về cải thiện chất lượng sống đô thị giữa các nhà hoạch định chính sách có đầu óc Phương Tây.
Nhưng phát biểu của ông Lai còn khiến cho người nghe thấy ông tách ra khỏi văn hóa chạy theo của cải của các thành phố duyên hải lớn như Thượng Hải và Quảng Đông, những thành phố niềm tự hào của thời kỳ cải cách và mở cửa chấp nhận sự bất bình đẳng đáng kể như là cái giá phải trả cho tăng trưởng kinh tế.
Chính trị vì quần chúng
Mặc dù các phương tiện truyền thông đại chúng của Phương Tây có khuynh hướng tập trung những cải cách chính trị mà Ôn Gia Bảo theo đuổi đang thách thức những đồng sự của ông, song những người ủng hộ mô hình Trùng Khánh lại tin rằng họ đang có câu trả lời mà chẳng phải chịu ơn gì những mô hình dân chủ cả. Thay vì thế, họ đang dựa vào tư tưởng chính trị của Mao.
Họ cho rằng sự giàu có của giai đoạn cải cách và mở cửa đã đưa cán bộ đến chỗ đánh mất sự gần gũi với nhân dân và ông Lai đã thách thức giới lãnh đạo Đảng khi ông dựa trên khái niệm Mao-ít “đường lối quần chúng” (Lý luận của Mao nói rằng cán bộ phải sống cùng nhân dân và họ phải chia sẻ quan điểm của quần chúng).
Ghi nhớ điều này trong đầu, ông Lai đã yêu cầu đảng viên ở địa phương phải “nối lại mối gắn bó” với người dân nghèo ở các huyện của họ, bao gồm cả việc ban hành quy định cụ thể rằng bí thư thôn phải gặp dân ít nhất một lần một tuần trong ít nhất nửa ngày. Tại những cuộc họp như vậy, các đảng viên phải giải thích về công việc của chính quyền và kiên nhẫn và chăm chú lắng nghe ý kiến của dân. Lãnh đạo xã, phường, cũng phải đi về các vùng nông thôn ít nhất một lần một tháng để mở ra những kênh tiếp nhận khiếu kiện của người dân
Nhưng sự “thức tỉnh” đạo đức như vậy không chỉ là dành cho cán bộ và quan chức. Trùng Khánh của ông Lai còn tập trung vào “sức khỏe tinh thần” của nhân dân, xúc tiến văn hóa đỏ như là một câu trả lời cho những vấn đề từ tham nhũng cho tới chơi cờ bạc và tha hóa trong quan hệ xã hội. Trùng Khánh đã vận động tất cả người dân tham gia chiến dịch nói trên với những hoạt động được quảng cáo rầm rộ chẳng hạn như đăng cai tổ chức một cuộc thi nhạc đỏ và viết những tư tưởng của Mao rồi nhắn tin với một người thuê bao nào đó trong số 17 triệu thuê bao điện thoại di động của thành phố.
Văn hóa xã hội chủ nghĩa quả thực đã song hành với việc quảng bá truyền thống Trung Quốc, bất chấp sự thù hận của Mao đối với những “tập tục phong kiến”. Người dân được khuyến khích đọc những tác phẩm kinh điển của Trung Quốc và tham dự những buổi kể chuyện theo kiểu truyền thống – nhưng hiển nhiên trò giải trí truyền thống bằng mạt chược của ngườiTứ Xuyên thì dứt khoát không được khuyến khích.
Mô hình Trùng Khánh đã được các nhà tư tưởng của Tân cánh Tả chào đón như là một ví dụ chân thật của cải cách chính trị “cây nhà lá vườn” – là bằng chứng cho thấy Trung Quốc có thể cải tổ chính phủ của mình mà không cần sao chép những mô hình của nước ngoài. Nhưng ông Lai, con trai của nhà cách mạng lão thành Bạc Nhất Ba [Bo Yibo], không chắc đã là một người Mao-ít. Ông đã ngồi tù trong gần suốt cuộc Cách mạng Văn Hóa  khi cha của ông bị thất sủng và hiện nay ông nổi tiếng vì có lối sống hoang phí, ông đã gửi con trai của mình là Bạc Dụ Thụ [Bo Guagua] sang học tại trường Harrow dành riêng cho con cái nhà giàu và Đại học Oxford.
Suy nghĩ về điều này, Joseph Cheng Yu-Shek, một chuyên gia chuyên nghiên cứu về giới lãnh đạo Trung Quốc, đã cho rằng ông Lai ngại bị dán cái nhãn là con trai được hưởng đặc quyền vì cha là một lãnh tụ lớn của Đảng. “Ông Lai là một ông vua con rất điển hình vậy mà bây giờ ông ấy lại chọn những chính sách phần nào bình dân và Mao-ít,” ông nói.
Trong Đen ngoài Đỏ hay sao?
Hiển nhiên không thể biết chắc chắn cấp lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc nhìn nhận như thế nào chiến dịch của ông Lai. Nhưng rõ ràng là ông Lai đang gây được sự chú ý của họ – ông Tập Cận Bình đã tới thăm thành phố [Trùng Khánh] hồi tháng 12 và trong một bài diễn văn đã ca ngợi sản phẩm của ông là “chính sách phù hợp đạo đức” và còn nói rằng những sáng kiến “văn hóa đỏa” đã “đi sâu vào lòng nhân dân”.  
Ông Lai đã thành công trong việc châm ngòi cho cuộc tranh luận về tương lai của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc. Còn về câu hỏi liệu điều này có giúp cho ông có được một ghế trong Thường vụ Bộ chính trị hay không thì chúng ta còn phải đợi đến tháng 10 tới đây để có câu trả lời.
(Peter Martin làm việc cho một hãng tư vấn chính sách tại Bắc Kinh. David Cohen là một nhà báo tự do).
Người dịch: Hiền Ba
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

TQ tìm kiếm trợ giúp của thế giới chống lại người Uighur đòi ly khai

TQ tìm kiếm trợ giúp của thế giới chống lại người Uighur đòi ly khai

Trung Quốc kêu gọi cộng đồng quốc tế giúp đỡ để chống lại vấn đề mà họ cho là vấn đề khủng bố quốc nội trong vùng Tân Cương, nơi đa số cư dân là người theo đạo Hồi. Trung Quốc tố cáo những người sắc tộc Uighur thiểu số dùng bạo lực để đòi độc lập trong khi người Uighur lên án Trung Quốc đàn áp văn hóa và tôn giáo của họ.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du
Hình: AFP
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du nói rằng có những phần tử khủng bố đang âm mưu chia cắt Trung Quốc

Chia sẻ

Tin liên hệ

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, bà Khương Du, được hỏi là cái chết của Osama bin Laden có ảnh hưởng gì tới các chính sách chống khủng bố của Trung Quốc hay không.

Bà Khương không trực tiếp trả lời câu hỏi vừa kể nhưng tỏ ý cho thấy là Trung Quốc tin rằng họ cũng gánh chịu những khổ đau vì nạn khủng bố.

Bà Khương Du nói rằng có những phần tử khủng bố đang âm mưu chia cắt Trung Quốc và đe dọa nghiêm trọng tới nền an ninh của đất nước.

Bà nói thêm rằng cuộc chiến chống lại các thế lực khủng bố ở Đông Turkestan là một phần quan trọng của chiến dịch chống khủng bố quốc tế và cộng đồng thế giới nên tăng cường sự hợp tác chống khủng bố.

Đông Turkestan là một tên gọi khác của người sắc tộc thiểu số Uighur theo đạo hồi sinh sống ở Tân Cương, trong vùng tây bắc Trung Quốc.

Trước đây chính phủ Mỹ đã ghi tên Phong trào Hồi giáo Đông Turkestan vào danh sách các tổ chức khủng bố ở nước ngoài, tuy tên của phong trào này không thấy xuất hiện trong danh sách công bố hồi tháng 11 năm ngoái.

Phát biểu của Trung Quốc về vấn đề khủng bố được đưa ra trong lúc một tổ chức tranh đấu ở New York có tên là Nhân quyền ở Trung Quốc (Human Rights in China) nói rằng Kazakhstan và Kyrgyzstan đã ngăn không cho những người sắc tộc Uighur đến Hoa Kỳ để tham dự một đại hội của người Uighur.

Thông cáo của tổ chức này tố cáo các nước vùng Trung Á khuất phục trước áp lực của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, là tổ chức đã chấp nhận chính sách của Trung Quốc là gộp chung chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa cực đoan và các phong trào đòi ly khai.

Giám đốc tổ chức Nhân quyền ở Trung Quốc, bà Sharon Hom, nói rằng chính phủ Trung Quốc đang lợi dụng tình hình để quốc tế hóa những mối quan tâm của họ.

Một trong những mối quan tâm phát sinh từ những phản ứng của Trung Quốc trước cái chết của Osama bin Laden là họ dùng sự kiện này như một cơ hội để kết nối chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa khủng bố quốc tế với các phong trào đòi ly khai, vốn là một mối quan tâm trong nội bộ của Trung Quốc về những hoạt động đòi ly khai ở Tân Cương.

Lập luận vừa kể nhận được sự tán đồng của ông Ilham Tohti, một học giả người Uighur. Ông tố cáo rằng truyền thông Trung Quốc đã có hành động mà ông gọi là “bắt cóc” vấn đề Uighur bằng cách liên kết vấn đề này với bin Laden và al-Qaida.

Ông Tohti thừa nhận có một số người Uighur có những quan điểm cực đoan hơn, nhưng ông nói thêm rằng điều đó không có nghĩa là họ dính líu tới al-Qaida.

Ông Tohti nói rằng những người biết điều không nên tìm cách liên kết bin Laden với người Uighur. Ông cho biết thêm rằng người Uighur nên cảm thấy vui mừng vì thời đại của bin Laden đã kết liễu và ông xem những người Uighur nào thật sự dính líu với al-Qaida là kẻ thù của ông.

Học giả này cho biết ông cảm thấy việc bắt mọi người Uighur phải chịu trách nhiệm đối với hành động của một vài người là một việc không công bằng.

Một số vụ bạo động đã xảy ra ở Tân Cương trong vài năm gần đây, trong đó có một vụ nổ bom năm 2008 ở Kashgar giết chết 16 cảnh sát viên Trung Quốc. Và năm 2009 những mối căng thẳng vì vấn đề sắc tộc đã bùng ra thành những vụ xuống đường biểu tình có bạo động tại thủ phủ Urumqi của Tân Cương. Vụ rối loạn này gây tử vong cho khoảng 200 người.

Bắc Kinh và Bin Laden

Bắc Kinh và Bin Laden

2011-05-05
Nguyễn Xuân Nghĩa - Việt Tribune 20110504 
 

Chia tay bin Laden và bắt tay Pakistan 


Thủ tướng Trung Quốc bắt tay Thủ tướng Pakistan tại thủ đô 
Islamabad, Tháng 12 năm ngoái. Ảnh Tân Hoa Xã


"Thủ đoạn gian manh nhất của Ác Quỷ là làm chúng ta nghĩ rằng nó không có thật!" Ngạn ngữ Tây phương nói vậy, nhưng lại làm những kẻ yếu bóng vía nhìn đâu cũng thấy ác quỷ.

Đó là trường hợp phổ biến của hiện tượng gọi là "thuyết âm mưu", conspiracy theory.

Xa xưa có chuyện phong trào Illuminatis - Illuminés theo Pháp ngữ - ngầm đánh đổ chế độ quân chủ Pháp. Trong mạch văn chương giải trí, Alexandre Dumas và bộ Joseph Balsamo cùng loạt trường thiên nối tiếp (Le Collier de la Reine, La Comtesse de Charny, Ange Pitou, v.v...) làm say mê nhiều thế hệ trước khi có tác giả Dan Brown của Mỹ với truyện Angels and Demons hay The Da Vinci Code và The Lost Symbol. Nhiều lắm!

Gần hơn thì có Hội Tam Điểm Freemasonry hay các thế lực tài phiệt đã âm thầm chi phối thế giới, hoặc bàn tay nhám của Do Thái đã lũng đoạn từ Âu Châu tới Hoa Kỳ. Gần chúng ta hơn nữa còn có các bang hội Trung Hoa, hiện vẫn hoạt động và xâm nhập vào thượng tầng đảng Cộng sản Trung Quốc!

Từ truyện giải trí, người ta suy ra chuyện chiến lược toàn cầu để giải thích tất cả!

Trong vụ Osama bin Laden bị bắn hạ, hình như có hai nơi mà lý thuyết âm mưu này có vẻ được loan truyền mạnh nhất. Đó là trong thế giới Hồi giáo và trong một số dư luận tại... Việt Nam.

Theo lý thuyết này, được loan truyền từ mấy ngày qua, nhiều người cho rằng Mỹ cố tình không giết mà còn nuôi Osama bin Laden để có lý cớ thi hành những âm mưu mờ ám gì đó. Ngay cả khi Chính quyền Barack Obama loan tin đã hạ sát Osama và thủy táng ngay sau đó, nhiều người vẫn không tin. Có thể là Mỹ đang khai thác bin Laden để lấy thêm tin tức, rồi sau này mới giết.

Chứ vì sao lại lật đật thủy táng một cách mờ ám - mà lại không chịu đưa ra hình ảnh!

Chúng ta không mất thời giờ nói về chuyện ấy mà chỉ nghiệm thấy rằng các dân tộc nhược tiểu và kẻ ít am hiểu - hai chữ lại vần với nhau - thì vẫn thích thuyết âm mưu. Nó cho thấy rằng mình tinh khôn hơn người khác. Lại rất tiện vì cho phép mình chẳng làm gì hết. Bề nào thì Mỹ nó cũng tính cả rồi! Không có Ác Quỷ thì đã có Thiên Mệnh - của Mỹ!

Trong thế giới đó, không có chỗ cho lòng dân và lá phiếu, đôi khi dân chủ chỉ là khẩu hiệu, là giả hiệu. Nó đòi hỏi trách nhiệm và khả năng suy xét. Mệt lắm!

Nhưng trong vụ Osama bin Laden, có một nơi lại phóng ra tín hiệu lạ khiến ta phải nói về âm mưu thật. Đó là Trung Quốc.

***

    Phát ngôn viên Khang Du của bộ Ngoại giao Trung Quốc


Hôm Thứ Ba mùng ba vừa qua, nàng Khang Du - tên đẹp như ngọc Cẩn Du, mặt lạnh như tiền và nói cay như gừng già, họ Khương mà - đã làm đúng nhiệm vụ phát ngôn của bộ Ngoại giao Bắc Kinh: công lao diệt trừ Osama bin Laden là của Cộng hòa Hồi quốc Pakistan!

Trong khi dư luận Hoa Kỳ và cả thế giới than phiền Pakistan thiếu quyết tâm diệt trừ khủng bố, lại còn chứa chấp bin Laden, Trung Quốc đưa ra quan điểm chính thức qua cửa miệng nàng Khang Du: Pakistan đã giữ lời cam kết là không chứa chấp khủng bố trong lãnh thổ, có góp phần thông tin về tình báo, và Trung Quốc sẽ tiếp tục yểm trợ Pakistan trong khi vẫn hợp tác với Hoa Kỳ và Ấn Độ. Vì Trung Quốc cũng bị khủng bố tấn công!

À ra thế....

Lùi lại để nhìn trên toàn cảnh, ta thấy dân chúng Hoa lục, ít ra là qua mạng Internet, không hồ hởi ngợi ca chiến công của Hoa Kỳ bằng lãnh đạo. Đa số thì vẫn nói về Hoa Kỳ như một đế quốc ngang ngược. Hiếm hoi và duyên dáng là nhận định của một blogger: "Thế giới có mười tên gian ác nhất, Mỹ đã giết được một" Chúng ta chẳng thấy là có duyên nếu không nhớ tới Bộ Chính trị trong đảng Cộng sản Trung Quốc có chín Ủy viên!

Khác với quần chúng và y như lãnh đạo Islamabad, Bắc Kinh ca ngợi biến cố này là "dấu mốc quan trọng trong nỗ lực của quốc tế chống quân khủng bố". Rồi nói thêm rằng Trung Quốc cũng là nạn nhân của khủng bố nên kêu gọi thế giới cùng tăng cường hợp tác. Và rất điệu nghệ, Bắc Kinh không xoáy vào chuyện Hoa Kỳ vi phạm lãnh thổ Pakistan khi giết bin Laden! Nhưng chào mừng 60 năm hợp tác với Pakistan, qua hàng loạt hội nghị vừa kết thúc hôm 29 Tháng Tư.

Bây giờ mới là lúc nói đến âm mưu của Thiên triều! Chẳng có gì là mờ ám cả....


***


Nói theo thuyết âm mưu thì nếu thế giới không có al-Qaeda hay Osama bin Laden thì Trung Quốc cũng mong nặn ra. Cho Mỹ lãnh họa.

Nhưng nhìn vào Hoa lục, lãnh đạo Bắc Kinh có ba thứ ác quỷ mà họ phải diệt trừ là bọn khủng bố, chủ nghĩa sắc tộc cực đoan và các lực lượng ly khai. Còn dân chủ? - Thì dân chúng đã có rồi!

Ba thứ ác quỷ đó đang tung hoành tại Tân Cương ở hướng Tây và kết tinh vào Hồi giáo, với phong trào đòi tự trị của sắc dân Duy Ngô Nhĩ - Đột Quyết, Uighurs. Trong phong trào ly khai, có mũi nhọn gây nhức nhối nhất là lực lượng East Turkestan Islamic Movement (ETIM, Phong trào Hồi giáo Đông Turkestan).

Sau vụ 9-11, khi tham chiến tại A Phú Hãn và vào truy lùng các nhóm khủng bố trốn chạy qua Pakistan thì Hoa Kỳ cũng nhổ một cái gai cho Trung Quốc: cách đây một năm, trong lãnh thổ Pakistan, máy bay không người lái của Mỹ đã bắn hạ một lãnh tụ lực lượng ETIM có liên hệ với al-Qaeda là Abdul Haq al-Turkistani (có tên khác là Memetiming Memett).

Khi ấy, cả Bắc Kinh lẫn Islamabad đều tự ca ngợi là "đã bẻ gãy sống lưng của ETIM"!

Về chiến lược thì Bắc Kinh cần Pakistan ba việc, là canh chừng hướng Tây cho mình, là cung cấp tin tức tình báo cho Hoa Kỳ tiêu diệt quân khủng bố Hồi giáo có thể bén mảng vào Trung Quốc, và thứ ba là gây vừa đủ rắc rối cho Ấn Độ, một quốc gia đối thủ. Vừa đủ thôi mà đừng quá trớn!

Vì vậy, khi Hoa Kỳ tham chiến tại A Phú Hãn, Bắc Kinh vỗ tay bèn tỏ thiện chí. Và làm thợ vịn.

Trung Quốc từ chối yểm trợ Mỹ và Lực lượng Liên quân Quốc tế ISAF về quân sự mà chỉ góp phần tái thiết xã hội - và đầu tư - vào A Phú Hãn và Pakistan. Mục tiêu là kinh tế, là thâu lượm tin tức về khủng bố có thể liên hệ đến Tân Cương, là bành trướng ảnh hưởng qua Ấn Độ Dương và chặn cửa Ấn Độ. Còn chuyện diệt trừ khủng bố là phần vụ của Hoa Kỳ, với sự góp sức thất thường khi có khi không của Pakistan.

Khi tiến vào Trung Á, Hoa Kỳ phải giải quyết luôn mâu thuẫn tại Nam Á, giữa Pakistan và Ấn Độ, và tìm cách cải thiện quan hệ với Ấn Độ, là điều không hợp ý Thiên triều! Cho nên Bắc Kinh cần phá, cũng lại bằng cách yểm trợ tài chánh cho Pakistan khi xứ này bị khủng hoảng năm 2008.

Trong hoàn cảnh Hoa Kỳ mắc bận với quân khủng bố rồi kẹt chân tại A Phú Hãn và Iraq từ gần 10 năm qua, Bắc Kinh có cơ hội tung hoành và bành trướng ra ngoài. Chỉ mong rằng Mỹ vẫn bận chân và đừng ngó ngàng gì tới Đông Á! Bây giờ, bin Laden lại vừa được hóa kiếp sau chín năm bày tháng và hai chục ngày truy lùng. Liệu Hoa Kỳ có rút khỏi A Phú Hãn như dự tính không?

Vì thế, với Bắc Kinh, chuyện bin Laden có ý nghĩa chiến lược hơn chúng ta thường nghĩ.

Thật ra, từ hai năm nay, Trung Quốc đã dè chừng việc Mỹ sẽ triệt thoái khỏi Iraq và A Phú Hãn, và từ đấy quan tâm hơn đến tình hình Đông Á.

Thế rồi năm nay, Cách mạng Hoa nhài gây khó chịu cho các đấng con trời vì làn sóng dân chủ có thể gieo loạn vào Hoa lục. Nhưng cũng khiến họ hy vọng: Iran mà thừa thế quậy thêm thì việc Mỹ rút khỏi Iraq sẽ gặp trở ngại. Đấy cũng là lý do khiến Bắc Kinh thả phiếu trắng chứ không bác bỏ Nghị quyết 1973 của Liên hiệp quốc, để cho Mỹ bị kẹt vào một cuộc chiến khác trong thế giới Hồi giáo. Và có thêm kẻ thù.

Bây giờ, bin Laden bị hạ sát, và lực lượng al-Qaeda đầu não lâm nạn vì nhiều thông tin của bin Laden đã lọt vào tay Hoa Kỳ. Với Bắc Kinh, đó là món quà vừa héo vừa tươi.

Hoa Kỳ dự tính bắt đầu triệt thoái khỏi A Phú Hãn từ tháng Tám này cho đến năm 2014 hay 2015. Với chiến công tiêu diệt được thủ lãnh al-Qaeda, Hoa Kỳ có thể xúc tiến việc triệt thoái như lịch trình sau khi dàn xếp với các lãnh tụ Taliban. Và càng phải trông cậy vào tin tức tình báo do Pakistan cung cấp.
Nhưng khi dư luận và Quốc hội Mỹ thấy ra vai trò mờ ám của Pakistan, vừa là đồng minh của Mỹ vừa ngầm yểm trợ al-Qaeda và một số lãnh tụ Taliban, việc viện trợ cho xứ này sẽ thành nan giải. Nhất là trong hoàn cảnh Hoa Kỳ phải giảm chi ngân sách.

Bắc Kinh theo dõi việc này kỹ hơn ta nghĩ.


***


Từ  2002 đến 2010, Hoa Kỳ đã viện trợ cho Pakistan tổng cộng là 18 tỷ đô la.

Cho tài khóa 2010, thì Tháng 10 2009, Quốc hội Mỹ đồng ý viện trợ không quân sự cho Pakistan bảy tỷ rưỡi trong năm năm. Qua đầu năm 2010, Tổng thống Obama còn đề nghị tăng viện để "phát triển kinh tế và ổn định cho một khu vực chiến lược có liên hệ đến quyền lợi của Hoa Kỳ". Ngoài ra, ông còn xin thêm hơn ba tỷ đô la viện trợ quân sự riêng cho tài khóa 2010. Quân đội Pakistan thực tế được Mỹ tài trợ đến một phần tư.

Đầu năm nay, cơ quan viện trợ Mỹ USAID và Chương trình Lương thực Thế giới World Food Program của Liện hiệp quốc còn ký một hợp đồng viện trợ hơn tám tỷ đô la giúp Pakistan vượt cơn khủng hoảng.

Vậy mà Tháng Chín năm 2009, cựu Tổng thống Pervez Musharraf công nhận là viện trợ cho Pakistan trong mục tiêu giải trừ lực lượng Taliban lại bị ngộ dụng - dùng sai mục tiêu: chuyển qua việc chuẩn bị chiến tranh với Ấn Độ!

Hồi Tháng Hai, Hoa Kỳ tạm ngưng mọi liên lạc cấp cao với Islamabad và còn dọa cắt viện trợ khi một nhân viên an ninh Mỹ cho một công tác ngoại giao là Raymond Davis bị Pakistan bắt giam dù có sự can thiệp từ phía Hoa Kỳ, và dù đương sự có quy chế ngoại giao. Vì ông ta bắn hạ hai người Pakistan khi bị cướp. Và ngay trước khi có vụ đột kích và hạ sát bin Laden, Chủ tịch Ban Tham mưu Liên quân là Đô đốc Mike Mullen công khai than phiền tại Pakistan là Islamabad thiếu thiện chí hợp tác để diệt trừ khủng bố.

Cho nên,  khi toán Hải kích SEAL Team 6 phải lặng lẽ vào sát thủ đô Islamabad để giết bin Laden ngay cạnh trường Võ bị Quốc gia, trong một ngôi nhà được xây dựng cẩn mật từ năm 2005, thì việc viện trợ cho Pakistan sẽ trở thành vấn đề với dư luận và Quốc hội Hoa Kỳ.

Đấy là lúc Bắc Kinh ngợi ca thành tích chống khủng bố của Pakistan. Và hứa hẹn viện trợ!

Âm mưu mờ ám mà công khai là như vậy!


***


Pakistan là một xứ có vấn đề, lại thường xuyên gặp nguy cơ khủng hoảng chính trị ngoài khủng hoảng kinh tế. Năm 2008 xứ này bị rủi ro vỡ nợ đã kêu cứu quốc tế tới cả trăm tỷ mà bị từ chối. Ai có 100 tỷ đô la cho một quốc gia mục nát vì tham nhũng và lại cứ đòi gây chiến với Ấn Độ?

Vì vụ khủng bố 9-11 và chiến dịch A Phú Hãn, Hoa Kỳ phải nhảy vào vừa dọa vừa dụ để có được sự hợp tác miễn cưỡng và khá nhiều lật lọng của Islamabad. Bây giờ, nếu quan hệ với Hoa Kỳ suy yếu đi sau vụ bin Laden - và viện trợ mà bị cắt - Pakistan sẽ cần nguồn tiếp vận kinh tế và quân sự của Trung Quốc. Dù chẳng bằng Hoa Kỳ thì có còn hơn không!

Chúng ta hiểu ra lời nàng Khang Du.

Bắc Kinh có thể giúp Pakistan nếu Islamabad có thiện chí diệt trừ khủng bố gần biên giới miền Tây với Trung Quốc. Bắc Kinh sẽ mở rộng hợp tác về hải quân và quân sự, phát triển hạ tầng cơ sở về khí đốt, thủy điện và hỏa xa, và nhất là giúp Trung Quốc bước thẳng vào Ấn Độ dương, trổ ra Vịnh Ba Tư, v.v...

Chúng ta nên tò mò ngó vào tấm bản đồ của vùng ranh giới hiểm hóc giữa hai quốc gia.


    Xa lộ Karakoram mà Trung Quốc gọi là 
Côn Luân Công Lộ - Xương sống của Pakistan.


Đây là khu vực có vùng Kashmir được chia làm ba chứ không phải hai mảnh.

Phía Nam là đất Jammu và Kashmir do Ấn Độ kiểm soát - và thường xuyên bị khủng bố Hồi giáo tấn công với sự tham dự mẫn cán của Pakistan. Phía Bắc có vùng Gilgit-Baltistan (hay "Mạn Bắc" - Northern Area) do Paskistan kiểm soát, nằm sát thị trấn Abbottbad là nơi bin Laden bị bắn hạ và gần thủ đô Islamabad mà cũng là đất tiếp giáp với A Phú Hãn. Phía Đông-Bắc, nằm trên hai vùng Kashmir Ấn-Hồi này, lại có vùng Aksai Chin do Trung Quốc kiểm soát và là vùng tranh chấp với Ấn Độ.

Trung Quốc đã giúp Pakistan xây một xa lộ nối liền hai thành phố Kashagr và Tashkurgan tại Tân Cương, tiếp giáp với hai nước Kyrgyzstan và Tajikistan, với thành phố Gilgit trong khu vực Kashmir của Pakistan và chạy qua Abbotttabad tới Islamabad. Đó là dự án xa lộ Karakoram ("Côn Luân Công Lộ" của Trung Quốc) dài 1.300 cây số xuyên qua núi đèo! Khu vực hiểm trở này còn có đất Azad Kashmir của Pakistan là nơi Trung Quốc thực hiện hai dự án thủy điện Kohala phía Tây và Neelun Jhelum phía Đông, rất gần với đất Kashmir của Ấn.

Nhờ các dự án xa lộ Karakoram và thủy điện ấy, Trung Quốc đã đưa công binh và công nhân - làm sao phân biệt được? - vào một vùng đất cực kỳ nhạy cảm cho Ấn Độ, khiến một Đô đốc của... Hoa Kỳ, Tư lệnh Hạm đội Thái bình dương, cũng phải chú ý vì được Chính quyền Ấn nhắc tới hồi năm ngoái. "Đây là vấn đề mà Ấn Độ phải giải quyết, nhưng cũng thuộc phạm vi trách nhiệm của chúng tôi!" Đô đốc Robert Willard đã phát biểu như vậy tại New Dehli.

Bây giờ, Trung Quốc đang mời chào môt dự án kéo dài ống dẫn khí đốt từ Tashkurgan chạy qua Gilgit tới Islamabad và xuyên qua lãnh thổ Pakistan tới hải cảng Gwadar trong vùng Vịnh Ba Tư, cách Iran khoảng 100 cây số. Hải cảng này cũng là một quân cảng trọng yếu do Trung Quốc vừa cải tiến cho Pakistan vào năm 2007. Với ống dẫn khí và sẽ dẫn dầu, Trung Quốc có cơ hội hút dầu từ Trung Đông vào thẳng khu vực bị khóa trong lục địa của mình. Và sẽ kết hợp quan hệ gắn bó lâu dài với Pakistan.

Đề nghị hấp dẫn lắm! Nhưng với điều kiện là xứ Pakistan không bị nội loạn, các tướng lãnh không dung chứa khủng bố và quân đội không quá quắt mà đòi gây chiến với Ấn Độ. Toàn những điều kiện không ai có thể đảm bảo được.

Kết luận?

Sau vụ bin Laden, chưa biết Mỹ có sớm rủt khỏi A Phú Hãn hay chăng, nhưng người ta đã có thể thấy quan hệ giữa Trung Quốc và Pakistan sẽ được tăng cường khắng khít. Với hậu quả là khiến Ấn Độ tiến gần hơn với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc Đại Lợi, và các nước Đông Nam Á.

Cho nên xin hãy đừng bàn nhảm về âm mưu của Mỹ trong việc có giết hay không một kẻ tàn ác, hoặc bin Laden là sống thật hay chết giả. Mà nên ngó về Bắc Kinh. Và chín tay còn lại!
 

NASA phóng viễn vọng kính nhìn thấu quá khứ

NASA phóng viễn vọng kính nhìn thấu quá khứ

Ánh sáng từ các thiên hà cách chúng ta hàng tỉ năm ánh sáng mờ nhạt đến nỗi chúng chuyển từ quang phổ nhìn thấy được thành một đoạn tia sáng hồng ngoại và trở thành sức nóng. Ánh sáng này chỉ có thể phát hiện được bằng những thiết bị làm lạnh đến số không tuyệt đối. Cơ quan quản trị hàng không và không gian Hoa Kỳ đang chế tạo một viễn vọng kính không gian mới có thể làm lạnh theo đúng ý nghĩa của từ này.
Phần quan trọng nhất của viễn vọng kính là những tấm gương mạ vàng đặc biệt cấu thành tấm gương chính lớn
Hình: NASA: Chris Gunn
Phần quan trọng nhất của viễn vọng kính là những tấm gương mạ vàng đặc biệt cấu thành tấm gương chính lớn

Chia sẻ

Tin liên hệ

Trong “phòng sạch” của NASA tại Trung tâm Không gian Goddard, bên ngoài Washington, các kỹ sư đang chế tạo một viễn vọng kính không gian hồng ngoại tuyến mới được đặt tên theo giám đốc thứ nhì của NASA James Webb. Những kỹ sư hy vọng khi được lắp đặt vào năm 2014, viễn vọng kính này sẽ giúp nhìn trở ngược lại quá khứ hàng tỉ năm ánh sáng.

Ông Jonathan Gardner, khoa học gia phụ tá cao cấp của dự án, nói đường kính rộng 6,5 mét của viễn vọng kính sẽ có khả năng phát hiện những tín hiệu hồng ngoại rất mờ nhạt, bởi vì kính này được giữ ở nhiệt độ rất lạnh, gần mức không tuyệt đối tức là -459 độ F. Một màn ảnh rộng giảm nhiệt, bằng một sân quần vợt, sẽ che chắn viễn vọng kính khỏi sức nóng của mặt trời và trái đất.

Nhưng làm thế nào để các khoa học gia có thể nhìn vào quá khứ?

Ông Jonathan Gardner giải thích: “Chúng ta có thể nhìn trở lại bởi vì ánh sáng cần có thời gian để đi từ đó đến đây. Do dó khi chúng ta nhìn xa, xa hơn nữa, ánh sáng cần có một thời gian rất dài để đi từ nơi xuất phát đến đây và chúng ta có thể nhìn ngược thời gian. Và nếu chúng ta nhìn đủ xa, chúng ta nhìn ngược lại lúc vũ trụ trẻ hơn ngày hôm nay, khi ánh sáng phát xuất từ những thiên hà này. Chúng ta nhìn vào vũ trụ khi vũ trụ còn trẻ hơn và chúng ta nhìn trở ngược lại đến Vụ Nổ Lớn gọi là Big Bang."

Ông Gardner nói các khoa học gia muốn biết khi nào những thiên hà đầu tiên hình thành, chúng giống như thế nào, có những đặc tính gì và những ngôi sao được thành hình như thế nào. Nhiều người cũng hy vọng tìm thấy một số những gì mà ngay chúng ta cũng chưa biết chúng hiện hữu.

Viễn vọng kính sẽ được trang bị ba máy thu hình hồng ngoại tuyến rất tinh nhạy, chưa từng có trước đây. Tuy nhiên phần quan trọng nhất của viễn vọng kính là những tấm gương mạ vàng đặc biệt cấu thành tấm gương chính lớn.


Viễn vọng kính không gian James WebbViễn vọng kính không gian James Webb
Ông Jonathan Gardner nói: “Tấm gương chính được cấu thành bằng 18 tấm gương 6 cạnh, như bạn có thể thấy trên hình mẫu. Mỗi một tấm này được đỡ bằng những giá di động được. Do đó trong suốt thời gian hoạt động của viễn vọng kính trên quỹ đạo, chúng ta có thể gởi những mệnh lệnh di chuyển những tấm gương này và đó là cách chúng ta có thể thường xuyên giữ chúng thẳng hàng, theo một trọng điểm chung.

Ông Jonathan Gardner nói viễn vọng kính mới sẽ được các khoa học gia trên toàn thế giới sử dụng và những dự án được chọn tùy theo giá trị khoa học của những dự án này.

Ông Gardner nói: “Chúng tôi sẽ yêu cầu các nhà thiên văn đưa những đề nghị. Bất cứ nhà thiên văn nào, ở bất cứ trường đại học, tại bất cứ quốc gia nào cũng có thể viết đề nghị muốn làm gì với viễn vọng kính. Một Ủy ban, có thể gồm hàng trăm nhà thiên văn sẽ xem xét những đề nghị này, và sẽ đọc tất cả những đề nghị và chọn đề nghị nào tốt nhất để thực hiện trong năm đó.

Ông Gardner nói tiến trình này đảm bảo là viễn vọng kính sẽ làm công tác khoa học tốt nhất có thể được, trả lời những câu hỏi hiện nay quan trọng nhất, có liên hệ đến vấn đề nhất.

Viễn vọng kính mới dự trù sẽ được phóng đi vào năm 2014 và hy vọng sẽ hoạt động khoảng 10 năm.

Thời gian hoạt động của viễn vọng kính bị giới hạn vì số lượng nhiên liệu trong máy để điều chỉnh theo định kỳ, vị trí trong không gian của viễn vọng kính. Viễn vọng kính sẽ được đặt ở khoảng cách một triệu năm trăm ngàn kilômét cách trái đất, vì thế các phi hành gia sẽ không thể đến thăm và tiếp tế thêm nhiên liệu.