Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011

BIA CHỦ QUYỀN TẠI CỘT CỜ LŨNG CÚ BỊ... SAI CHÍNH TẢ.

BIA CHỦ QUYỀN TẠI CỘT CỜ LŨNG CÚ BỊ... SAI CHÍNH TẢ.

Sai chính tả ngay trên tấm bia khẳng định chủ quyền
Mai Thanh Hải Blog - "Xấu hổ và thấy nhục cho quốc thể" - Rất nhiều khách du lịch đã thốt lên như vậy khi đọc những dòng chữ trên tấm bia ghi tọa độ đặt ngay dưới chân cột cờ Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang và chứng kiến cảnh khách du lịch nước ngoài đọc xong, nhún vai, xúm vào chụp ảnh.

Trên bản đồ Việt Nam, Lũng Cú là đỉnh "chóp nón" nơi cực Bắc Tổ quốc. Cùng với mũi Cà Mau, Lũng Cú là địa danh mà trong tim mỗi người Việt Nam đều nhớ, đều yêu và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn. Thế nên, dẫu vượt qua những trập trùng núi đá, lên Lũng Cú, đặt chân tại đỉnh núi Rồng, ngắm nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay phần phật trong gió, ai cũng tự hào được làm người con đất Việt. Tuy nhiên, hành vi cẩu thả, viết sai chính tả trên tấm bia thiêng liêng, khẳng định chủ quyền, ngay nơi chóp nón Tổ quốc là khó chấp nhận được.

Tiếng Tây - tiếng ta vừa sai, vừa... lẫn lộn
Tấm bia này mới được dựng lên cuối tháng 9-2010. Toàn tấm bia là một tảng đá màu xanh hình chữ nhật, đẽo gọt vuông vắn. Phía trên tấm bia là Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dưới đó, được gạch ngang chia làm 2 phần chú thích. Phần chú thích phía trên ghi rõ: "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam/ Cột cờ quốc gia/ Lũng Cú/ huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang". Phần phía gạch dưới là phần dịch bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, khi dịch chữ "tỉnh Hà Giang" sang tiếng Anh, người ta rất hồn nhiên ghi "Ha Giang Provine". Họ hoàn toàn không biết, từ "tỉnh" trong tiếng Anh là Province.

Với lỗi chính tả hiện nay, người nước ngoài sẽ không thể hiểu bởi đó là từ tiếng Anh (Pháp)  không có nghĩa. Nếu vào Trang tra từ điển Anh - Việt, thì sẽ ra kết quả: "Danh từ: Cành chiết; ngoại động từ: Chiết cành". Rất nhiều người đã lắc đầu khi đọc chệch thành: "Cành chết Hà Giang".

Hài hước hơn, hết phần "chuyển ngữ tiếng Anh", người ta lại chuyển sang ghi chú tọa độ - độ cao bằng tiếng Việt và dĩ nhiên, không thể quên ghi năm khánh thành công trình: Năm 2010.

Khách du lịch chụp hình lưu niệm
Cột cờ Lũng Cú nằm trên đỉnh Lũng Cú có độ cao 1.468,73m so với mực nước biển. Đây là điểm nhỏ trên đoạn đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Nếu mô phỏng tương đối hình dạng đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc thành một chóp nón, thì hai điểm thấp nhất theo kinh độ là Tây Trang, Điện Biên và Sa Vĩ, Móng Cái. Còn Lũng Cú là đỉnh của chóp nón và là điểm cao nhất của cực Bắc Việt Nam.

Cột cờ Lũng Cú gắn liền với truyền thuyết được lưu truyền ở miền núi đá Đồng Văn rằng: Sau khi đánh thắng quân xâm lược nhà Thanh, Hoàng đế Quang Trung cho đặt một cái trống rất to tại nơi biên ải thuộc địa bàn xã Lũng Cú (địa điểm đóng quân của Đồn Biên phòng Lũng Cú hiện nay). Cứ 1 canh giờ, 3 tiếng trống lại vang lên đĩnh đạc, khẳng định chủ quyền biên giới.

Cột cờ Lũng Cú được xây dựng đầu tiên từ thời Lý Thường Kiệt và ban đầu chỉ làm bằng cây sa mộc. Cột được xây dựng lại từ thời Pháp thuộc (năm 1887). Những năm sau đó như 1992, 2000 và đặc biệt năm 2002 cột cờ tiếp tục được trùng tu hoặc xây dựng lại nhiều lần với kích thước, quy mô lớn dần theo thời gian, trong đó năm 2002 cột cờ được dựng với độ cao khoảng 20m, chân và bệ cột có hình lục lăng và dưới chân cột là 6 phù điêu họa tiết bề mặt trống đồng Đông Sơn. Trên đỉnh cột là cán cờ cao 9m cắm Quốc kỳ nước CHXHCN Việt Nam, chiều dài 9m, chiều rộng 6m và tổng diện tích rộng 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc cùng chung sống trên đất nước.

Được sự cho phép của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngày 8-3-2010, với tư cách là chủ đầu tư, UBND huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang đã tiến hành khởi công trùng tu, nâng cấp Cột cờ quốc gia Lũng Cú mới ngay tại vị trí cũ. Sau 196 ngày thi công, cột cờ quốc gia Lũng Cú đã khánh thành ngày 25-9-2010.
Các đồng chí lãnh đạo Trung ương và địa phương trong lễ khánh thành cột cờ Lũng Cú mới và vỗ tay chào mững, chụp hình lưu niệm ngay tại tấm bia ghi tọa độ (sai chính tả)
Theo tìm hiểu, đơn vị được chọn để tư vấn thiết kế dự án là Văn phòng Tư vấn và chuyển giao công nghệ xây dựng (Trường Đại học kiến trúc Hà Nội); nhà thầu thi công là Cty Cổ phần Xây lắp và sản xuất công nghiệp (TCty Xây dựng Công nghiệp Việt Nam); nhà thầu tư vấn giám sát là Cty Cổ phần Tư vấn xây dựng Lê Hoàng (tỉnh Hà Giang). Cột cờ quốc gia Lũng Cú mới có tổng chiều cao 33,15m (trong đó phần thân cột cao 20,25m, phần cán cờ cao 12,9 m, đường kính ngoài thân cột là 3,8m), với cầu thang 135 bậc để khách tham quan lên tới cột cờ. Về kiến trúc, cột cờ được thiết kế theo hình bát giác, chân cột cờ được gắn 8 tấm phù điêu đá xanh minh họa cho các giai đoạn thời kỳ lịch sử của đất nước và các phong tục tập quán của nhân dân tỉnh Hà Giang, phía trên có gắn 8 mặt trống đồng.
Đường lên cột cờ xây mới

Ngoài ra, còn các hạng mục kiến trúc khác gồm: Nhà lưu niệm cấp 4 được thiết kế như nhà sàn với 5 gian, diện tích sàn là 230 mét vuông. Đường lên xuống đi bộ từ nhà khách lên nhà lưu niệm với tổng 425 bậc thang và đường đi bộ đi xuống từ nhà lưu niệm đến cột cờ với tổng số 279 bậc thang (2 hạng mục này đều có lan can bằng inox và đèn chiếu sáng).

Quần thể kiến trúc cột cờ quốc gia Lũng Cú được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước và các nguồn vốn tài trợ với tổng mức đầu tư là 20,8 tỷ đồng; trong đó vốn ngân sách Nhà nước là 3 tỷ đồng.

Trong lễ khánh thành cột cờ mới, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang Hoàng Minh Nhất khẳng định: "Cột cờ quốc gia Lũng Cú được trùng tu, nâng cấp có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị, kinh tế, xã hội, đồng thời tôn tạo cảnh quan, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với huyện Đồng Văn nói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung" và nhấn mạnh: "Việc trùng tu, nâng cấp cột cờ Lũng Cú lần này nhằm khẳng định vị thế của đất nước, chủ quyền của Tổ quốc và tôn vinh tinh thần yêu nước, anh dũng bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc của đồng bào, chiến sĩ nơi đây". Thấm nhuần ý nghĩa, giá trị của cột cờ quốc gia như vậy, nhưng không hiểu ngành chức năng của tỉnh Hà Giang có lơ đãng trong khi viết câu - ghi chữ cho tấm bia chủ quyền, nơi cột cờ thiêng liêng địa đầu Tổ quốc và có phát hiện được lỗi chính tả để sửa sai, xứng đáng để cột cờ quốc gia gìn giữ thể diện của cả một dân tộc, một đất nước?..

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CỘT CỜ, TẤM BIA GHI TỌA ĐỘ KHI CHƯA XÂY MỚI:

Cận cảnh tấm bia cũ

Khách du lịch chụp hình lưu niệm

Cả cột cờ và tấm bia ghi chủ quyền khi chưa xây mới
Tiếng Anh của cán bộ Đồng Văn, Hà Giang nữa đây (Mai Thanh Hài và Phạm Xuân Nguyên chỉ trỏ)

Phía sau cột cờ là đất đai Tổ quốc


(Bài viết có sử dụng 1 số hình ảnh minh họa đã đăng tải trên 1 số trang mạng xã hội)












3 nhận xét:

Độc chiêu Blog nói...
hic, thật là những bức ảnh độc đáo!
Bố của Vừng nói...
Quốc nạn - Sai chính tả.
Mai Thanh Hai nói...
Ơ! Thế mà bao nhiêu người không để ý đấy nhé! Từ cuối tháng 9-2010, đến nay là hơn 7 tháng roài!

"ĐẶC NHIỆM" Ở TRƯỜNG SA

nguon: http://maithanhhaiddk.blogspot.com/2011/05/ac-nhiem-o-truong-sa.html

"ĐẶC NHIỆM" Ở TRƯỜNG SA

Nhà của chúng ta là đảo Thuyền Chài
Mai Thanh Hải Blog - Ra với các đảo ở Trường Sa, một trong những ấn tượng không thể quên là hình ảnh những chú chó, mèo, lợn, gà, bò, vịt tung tăng, nhởn nhơ khắp các xó xỉnh. Rất lạ: Gia súc, gia cầm ngoài đảo sống với lính, theo nếp sống nhà binh của lính nên cũng rất kỷ luật và... nguyên tắc. Chẳng thế mà khách ra đảo (đặc biệt là thuộc khối dân sự, không mặc quân phục) lớ xớ rời Hội trường, phòng ở, bếp ăn... mò ra ngoài ụ pháo, công sự... thế nào cũng có vài chú chó lừ lừ bám theo, quẩn chân ve vãn và sủa nhặng xị như cảnh báo "Chỗ này không được ngắm nghía, chụp hình - quay phim", đánh động cho chiến sĩ vệ binh gác khu vực đó tiến đến nhã nhặn nhắc nhở "theo quy định". 

Những khách khoái chụp hình, ra tận kè đá, bờ sóng mong chớp những "giây phút đẹp", không chỉ các chú chó mà cả vịt gà cũng lạch bạch chạy trước ngăn cản, dùng mỏ kéo ống quần như nhắc nhở: "Đừng ra chỗ ấy, nguy hiểm lắm".

Nhiều khách quá nhỉ?
Nhiều người cứ nghĩ giản đơn: Nuôi gia súc, gia cầm ở Trường Sa là để bộ đội có chất tươi cải thiện bữa ăn hàng ngày. Ít người biết những con vật này là một phần cuộc sống ở đảo, những người bạn giúp lính ta nguôi nỗi nhớ nhà, nhớ quê nên rất hiếm khi bị đè ra làm thịt.

Đặc biệt, gia súc - gia cầm ngoài đảo còn được đánh giá như những chiến sĩ cảnh vệ cực kỳ mẫn cán, tinh thông và hiệu quả. Trong trường hợp người lạ, tàu thuyền lạ tiến lại gần đảo, có khả năng đột nhập, các "cảnh vệ" phát hiện ngay tức thì và sủa, gáy, kêu rầm rĩ báo động cho bộ đội. 

Sau một thời gian nghiên cứu, thực hiện kế hoạch số 336/Tg1-QC (10-2-2010) của Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN về "Tổ chức nghiên cứu, khảo sát đổi mới nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu tại quần đảo Trường Sa và nhà dàn DK năm 2010", ngày 13-3- 2010, Trường Trung cấp Huấn luyện Chó nghiệp vụ của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) đã đưa 5 cán bộ, chiến sĩ cùng 3 chó nghiệp vụ ra Trường Sa, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ cán bộ chiến sĩ Hải quân làm nhiệm vụ canh gác, tuần tra bảo vệ biển đảo, phát hiện người đột nhập lên đảo và sẵn sàng chiến đấu.
Nấp trốn các Thủ trưởng. Ngượng quá
Lâu nay, lính đảo vẫn gọi âu yếm những "cảnh vệ" chó, vịt, gà là... "đặc nhiệm Trường Sa" cũng làm nhiệm vụ giữ đảo. Bây giờ, lính ta tách bạch thành 2 "lực lượng": "Đặc nhiệm chính quy" (Chó nghiệp vụ Biên phòng) và "Đặc nhiệm địa phương" (gia súc - gia cầm được các phân đội tự nuôi). Cho dù thuộc "lực lượng" nào chăng nữa thì các "đặc nhiệm" vẫn cùng sát cánh cùng bộ đội bảo vệ đảo đêm ngày.

Xin giới thiệu về "lực lượng đặc nhiệm" tại Trường Sa và những khoảnh khắc đáng yêu của một số "gương mặt" trên các đảo: Sinh Tồn, Song Tử Tây, Nam Yết, Trường Sa Lớn, Đá Tây A, Núi Le, An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa Đông... trong 1 số chuyến ra Trường Sa.

"Đặc nhiệm chính quy" trong đội hình tuần tra

3 chú chó nghiệp vụ Biên phòng ra làm nhiệm vụ tại Trường Sa bao gồm Mika, Kakốp, Manlơ đã lập nhiều chiến công trên đất liền (nhất là trong các vụ án ma túy ở các tỉnh miền núi phía Bắc). Khi nhận nhiệm vụ, 3 chú chó di chuyển từ Sơn La vào Cam Ranh (Khánh Hòa) nhiều ngày đêm trên xe Zil 130, sau đó mới xuống tàu, vượt rất nhiều sóng gió ra đảo. Do phải thay đổi cả môi trường sống lẫn đặc thù địa bàn tác chiến, huấn luyện viên phải cho các "chiến sĩ" thích nghi dần dần. Ban đầu, Mika, Kakốp, Manlơ được huấn luyện để chịu được những cơn gió biển mạnh, làm quen với sóng lớn để có thể vừa bơi vừa chiến đấu được. Điều các huấn luyện viên không ngờ là Mika, Kakốp, Manlơ thích nghi rất nhanh. Trong những con sóng lớn, 3 chú  bơi rất tốt. Khi huấn luyện trên bãi cát, tốc độ của 3 chú nhanh gấp 4 lần bước chạy rút của chiến sĩ.

Trong giờ huấn luyện

Hiện tại, Mika, Kakốp, Manlơ đã trở thành những chiến sĩ hải quân đặc biệt. Ngoài việc "rèn luyện" nâng cao thể lực, cả 3 còn thực hiện tốt các phương án diễn tập chống người nhái, biệt kích. Phương án đánh chặn từ ngoài bờ kè và đánh bắt khi địch đã xâm nhập đều được hoàn thành xuất sắc.

Mẹ bò đưa con bê đi dạo trong trận địa
 Ở quần đảo Trường Sa, chỉ duy nhất đảo Song Tử Tây  nuôi được bò. Do đảo thiếu cỏ tươi, đàn bò đành tập ăn bìa các tông. Dần dần, thứ bìa giấy cứng đó cũng bị xơi hết. Bò lại chuyển sang chén thùng gỗ. Nhưng khi thùng gỗ bị giấu đi, bò ăn cả gạch khiến cho anh em công binh mấy phen toát mồ hôi. Rồi khi hết những món “khoái khẩu”, bò “đột nhập” vào doanh trại chén cả quần áo, giày dép của bộ đội... “Bần cùng” như vậy nhưng đàn bò trên đảo Song Tử Tây vẫn sinh con đẻ cái ngày càng đông.

Ra cầu cảng vừa trông cho "bọn khách" không ra biển, vừa đứng - nằm nghe xem "nó" nói cái gì

Lợn được nuôi đại trà tại các đảo.Lợn thả rông, chạy trên đảo kiếm ăn. Không cần chuồng trại gì nhưng chẳng bao giờ sợ mất lợn cả vì bốn bề có biển bao bọc. Lợn cứ thế “tuỳ nghi di tản”, ngủ ở bụi cây, góc công sự hay  dưới gầm giường của lính, nói chung là tuỳ thích. Tuy vậy, nhưng lợn được các chiến sỹ huấn luyện  để sống có nền nếp, biết “phục tùng tổ chức”. Chỉ cần một hồi kẻng, tất cả các chú lợn ở khắp nơi trên đảo lại lũ lượt kéo về nơi “tập trung”. Đó thực sự là một cảnh tượng sinh động, vui mắt.

Ở Trường Sa, lợn không đơn thuần là  loài vật nuôi lấy thịt, mà chúng trở thành  bạn của lính đảo và được chiều chuộng. Có những lúc lợn ốm, lính nhường cả thuốc của mình. Lợn được ăn thịt hộp, được ưu tiên tắm nước ngọt, có bác sỹ khám bệnh và làm bà đỡ. Nhiều chú lợn đáng yêu đã được lính đặt cho những cái tên rất kêu như: Hoàng Oanh, Quỳnh Mai...

Chiều chiều, kéo cả đại gia đình ra hóng mát trước bia chủ quyền

Chung sống hòa thuận

Đủ loại, đủ màu

Vừa canh gác, vừa... gãi đầu

Bắt tay cái nào

Chó được nuôi rất nhiều ở các đảo chìm và đây cũng là những điểm rất cần sự canh gác, cảnh giới của các chú cẩu vốn rất thính tai, tinh mắt. Ngay tại đảo chìm Cô Lin, có tới mấy chục con chó, mật độ quá đông nhưng vừa đem lại niềm vui cho lính đảo, vừa đảm nhiệm rất tốt việc canh gác, phát hiện


Cảnh giới ven bờ đá

Vừa nằm nghỉ vừa... làm nhiệm vụ
Lính đảo chìm kể: Những đêm bồng súng đứng gác, luôn có 1 vài chú chó quẩn quanh thức cùng. Đêm khuya gió lạnh thổi rét tê tái, chú chó đứng cạnh, liếm cái lưỡi ấm áp vào bàn tay run vì lạnh của người lính đứng gác, tự dưng thấy ấm áp, cảm thấy được chia sẻ rất nhiều.Chó ở đảo đã rèn luyện được nhiều khả năng đặc biệt như bắt cá, bơi trên sóng, đứng hai chân để “bắt tay”  hay “tạm biệt” khách. Chó ở đây được quý  đến mức các chiến sỹ lấy tên những ca sỹ mình hâm mộ để đặt tên cho chó.


Tò mò ngắm... khách
Phóng viên Anh Hoa - Tạp chí Thế giới ảnh ra Trường Sa 4-2001 (PV Anh Hoa cung cấp 1 số hình cho bài viết này)
"Hầm trực chiến" của "lực lượng đặc nhiệm
"Ra tập ngay! Không được lười"

Nhớ đất liền

Chó ở Trường Sa bơi và bắt cá tài như hải cẩu. Nhưng ở đảo Đá Tây A, những chú chó còn kiêm thêm nhiệm vụ "quản gia" trông coi lũ vịt cứ hơi tý là lao xuống nước vẫy vùng. Câu chuyện đây:

Đàn vịt đi đâu cũng có chú chó đen này kèm sát

Kiếm ăn ở đâu cũng được hướng dẫn và giám sát

Chú chó vừa quay ra chỗ khác, cả đàn vịt ù té xuống biển và bị... xích cổ, đuổi lên ngay

Việc nuôi dưỡng gia súc ở Trường Sa cũng là kỳ công. Một số đảo chìm nuôi vịt, ngan không thành công vì vịt sợ nước mặn, không dám bơi. Rút kinh nghiệm, khi đưa vịt ra đảo, anh em phải vẩy nước mặn vào lông, cho vịt bơi trong chậu đựng nước mặn, dần dà chúng mới dám xuống biển bơi ầm ầm.
Biển của ta là ao của nhà ta
Vừa cục tác kiếm ăn, vừa trông coi công sự

Xếp hàng ra bãi tập
 Gà trên đảo không có rau xanh nên con nào cũng thiếu vitamin. Gà thường chân to nhưng yếu, nhiều con bị liệt. Khi nào thấy gà có hiện tượng đi cà nhắc, chân giơ cao là bộ đội phải nghiền viên thuốc vitamin tổng hợp cho uống. Cả ngan và gà đều thiếu rau, nên khi đẻ trứng, gà con khó tự mổ vỏ chui ra như ở đất liền nên anh em chiến sĩ phải để ý, có khi phải canh hàng giờ để tách vỏ cho gà con.
Chia tay, mèo nhé!
Người và gia súc trên đảo như những người bạn. Khi chiến sĩ trên đảo hoàn thành nhiệm vụ trở về đất liền, rất nhiều người đã chạy đến ôm chú cún yêu, dụi đầu lên cổ thay lời tạm biệt. Trên bờ kè đá, cả đàn chó hơn chục con xếp hàng dõi ra biển. Có chú giơ chân kêu ư ử trong tiếng sóng... Ở đảo chìm, chiến sĩ với chiến sĩ là anh em một nhà, chiến sĩ với những chú chó, mèo, gà, vịt như những người tri kỷ. Có khi anh em phải lo cho từng con gà đẻ trứng, phải nhường rau cho một chú cún mới sinh.
Quen thân từ tiếng chim gù trên sóng

Đối với các chiến sĩ ở quần đảo Trường Sa, những vật nuôi đó như một loại biệt dược chữa bệnh nhớ nhà, nhớ quê hương. Nếu Trường Sa chỉ có sắt thép, những hầm hào công sự mà vắng đi tiếng gà gáy, chó sủa…thì chắc sẽ đơn điệu biết nhường nào.
Trong phòng ở của lính đảo chìm

Những ngày ở Trường Sa, nhìn đàn bò thủng thẳng đi lại, đàn lợn ủi đất bên gốc cây bàng vuông, vài chú chó chạy dọc bờ biển, nghe tiếng gà gáy ran trên đảo... tất cả tạo thành quê hương nơi đầu sóng ngọn gió và âm hưởng đó là bia chủ quyền sống động nhất trên đảo Trường Sa.
(Bài viết có sử dụng 1 số hình ảnh đã đăng tải trên 1 số mạng xã hội)

6 nhận xét:

OANH OANH nói...
Cảm ơn em,những bức ảnh kèm những lời chú thích rất cảm động.Sao em ra đảo /và về/nhanh thế?
Mai Thanh Hai nói...
He! He! Bí mật quân sự bác ợ!
VietGianYeuNuoc. nói...
MTH đúng la một người yêu biển đaỏ.cam ơn MTH về những baì viết tuyệt vời.
Bố của Vừng nói...
Cám ơn bác về những bức ảnh. Rất gần gũi và xúc động. Góc nhìn cũng dí dỏm nữa
Dinh Hung nói...
Bác MTH đã nói là có những bài viết được set lịch tự động đăng bài rồi mà :) thanks bác
Mai Thanh Hai nói...
Cảm ơn các bác có lời động viên. Tôi hay tò mò chụp hình nên cũng hay lọ mọ vậy thôi.

'10 năm phấn đấu không bằng một lần cơ cấu'

'10 năm phấn đấu không bằng một lần cơ cấu'
Cơ chế bầu cử nặng về khâu cử, nhẹ về khâu bầu khiến cử tri không nhớ nổi tên người mình đã bầu và tạo ra những nghị sĩ hiền lành, rụt rè.
"Người dân không tỏ rõ tình cảm vui mừng, xúc động, sung sướng khi thấy một ai đó trúng cử. Cơ chế bầu cử hiện nay nặng về khâu cử, nhẹ về khâu bầu nên người dân thường nói: 10 năm phấn đấu không bằng một lần cơ cấu", PGS-TS Thái Vĩnh Thắng, chủ nhiệm khoa Hành chính - Nhà nước, ĐH Luật Hà Nội nói tại cuộc hội thảo về bầu cử, do trường ông tổ chức tuần qua.
Để dân không chọn nhầm
Nhận xét không ít đại biểu trúng cử không quan tâm đến cử tri nhiều bằng quan tâm đến các cấp lãnh đạo vì việc quyết định họ có được tái cử hay không phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức, đại biểu làm việc ở một nơi nhưng lại ứng cử ở nơi khác nên cử tri không nhớ nổi họ tên người mình đã bầu, ông Thắng cũng cho rằng cách thức bầu cử hiện nay tạo ra các nghị sĩ "hiền lành và rụt rè".
Cử tri đi bầu đại biểu Quốc hội khóa XII, tháng 5/2007. Ảnh: Lê Anh Dũng
Trong khi, nghị sĩ các nước trên thế giới thường chỉ trích thẳng thắn khi Chính phủ không đáp ứng được yêu cầu của xã hội, thì đại biểu QH ở Việt Nam còn đắn đo, cân nhắc vì sợ phật lòng cấp trên sẽ ảnh hưởng đến con đường công danh và đôi khi sợ ảnh hưởng đến lợi ích của địa phương mình.
Một phép so sánh nữa của TS Thắng, đó là các ứng cử viên nghị sĩ phải ra tranh cử, phải có đam mê công việc của nghị sĩ, mong muốn trở thành nghị sĩ và phải bằng chương trình hành động cụ thể để chứng tỏ cho cử tri khả năng làm nghị sĩ của mình. Thông qua quá trình vận động bầu cử, họ thuyết phục người khác bỏ phiếu cho mình, bỏ nhiều thời gian công sức và đôi khi cả tiền bạc mới được trở thành nghị sĩ. Còn ở Việt Nam, nhiều ứng viên không thực sự muốn hoặc không có đam mê làm nghị sĩ nhưng do vị trí công tác hoặc do cơ cấu mà tổ chức sắp xếp làm đại biểu QH. Sau khi được bầu, họ thường không có một chương trình hoạt động của cá nhân mà tất cả đều gắn với sự phân công của QH, nếu không hoàn thành nhiệm vụ (ngoại trừ phạm tội) thì cũng không phải chịu một sức ép nào từ phía các cử tri bầu ra mình.
Chia sẻ với ông Thắng khi cho rằng vận động tranh cử có thể được coi là linh hồn của bầu cử, PGS.TS Nguyễn Minh Đoan, cũng ở ĐH Luật Hà Nội, nhận định nếu chỉ nhìn từ các quy định pháp luật về quyền bầu cử, ứng cử của công dân, các nguyên tắc bầu cử, số lượng cử tri tham gia bầu và tỷ lệ số phiếu trúng cử của các đại biểu thì có thể khẳng định chế độ bầu cử ở Việt Nam là rất dân chủ.
Song thực tế, sự quan tâm của một bộ phận dân chúng đối với các hoạt động bầu cử đại biểu QH chưa cao. Một số người xác định việc đi bầu chỉ như là một "nghĩa vụ" chính trị, làm cho xong chứ chưa quan tâm tới việc tìm hiểu đầy đủ về các ứng cử viên mà họ sẽ bầu và kết quả của cuộc bầu cử. Điều này có thể do sai lầm trong suy nghĩ của những người đó cho rằng "ai trúng cử cũng được" hoặc mọi việc đã an bài. Song cũng phải thừa nhận là điều kiện để cử tri hiểu biết về ứng viên mà họ sẽ lựa chọn chưa nhiều.
Theo ông Đoan, thông tin trong danh sách trích ngang về ứng viên thường rất sơ sài chỉ gồm tên tuổi, quê quán, nơi đang làm việc, học vấn hoặc trình độ chuyên môn và chức vụ đang đảm nhiệm, còn phần mà cử tri quan tâm nhất là năng lực làm việc, đạo đức, lối sống... thì hầu như không có.
"Để dân không chọn nhầm thì quan trọng nhất là thông tin hai chiều giữa cử tri và ứng viên. Ứng viên phải có điều kiện thông tin cho cử tri về những gì họ có, đặc biệt là những gì họ có thể mang lại cho cử tri, cho đất nước khi họ trúng cử. Ngược lại, cũng tạo điều kiện cho cử tri trao đổi, kiểm tra, thậm chí "hạch sách" đối với các ứng cử viên mà họ trao quyền lực để cử tri yên tâm, tin tưởng khi quyết định khi bỏ phiếu", ông Đoan nói.
Vận động tranh cử vẫn còn xa lạ
Với quan điểm "bầu cử được xem là một hoạt động điển hình của việc thực hiện cơ chế dân chủ", TS.Trương Thị Hồng Hà, Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh lại nhận thấy căn cứ vào các quy định pháp luật thì hoạt động vận động bầu cử chưa được xem là nhu cầu tự thân của người ứng cử. Chính vì vậy, càng thấy xa lạ với cụm từ "vận động tranh cử" theo quy luật đáng phải có trước mỗi kỳ bầu cử. Bởi lẽ, vận động bầu cử chưa được xác định đúng vai trò, ý nghĩa của nó trong việc giúp cử tri xem xét, nghiên cứu, lựa chọn để bầu ra người đại diện cho mình. Hoạt động vận động bầu cử không chứa đựng yếu tố cạnh tranh mà diễn ra một cách thụ động, theo chương trình kế hoạch của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Pháp luật về bầu cử cũng chưa xác định được thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc của hoạt động vận động bầu cử cũng như chưa xác định được cụ thể các hành vi không được vận động mà mới chỉ quy định về nguyên tắc. Do đó, trong thực tế vận động, khi có những vấn đề đặt ra như người ứng cử có được ủng hộ về tài chính cho địa phương nơi mình ra ứng cử không? Có được trao đổi trên mạng xã hội như Facebook không? Ứng viên có được phản biện lại bản dự kiến chương trình hoạt động của những ứng viên khác không?
Do đó, theo bà Hà, cần sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử để hoạt động vận động bầu cử phải được diễn ra theo đúng quy luật, để cử tri nắm được thông tin trung thực về ứng viên, từ đó đưa ra sự lựa chọn chính xác những người đại diện cho mình thực hiện quyền lực nhà nước.
Các ứng viên đại biểu QH khóa mới đang ở giai đoạn vận động bầu cử, từ ngày 3 - 18/5. Cuộc bầu cử sẽ diễn ra vào chủ nhật 22/5 tới.
Hiền Anh
Hai ứng viên Quốc hội xin rút
Vận động bầu cử, tránh chỉ mời 'đại cử tri'
Không nên ám ảnh 'quân xanh'
Đừng để ai đó nghĩ mình là 'quân xanh'
Giám sát để không ai bầu thay
18 ngày để ứng viên vận động bầu cử

Một thí dụ cho thấy hệ quả của tam quyền phân lập

Một thí dụ cho thấy hệ quả của tam quyền phân lập

Luật sư Ngô Ngọc Trai   
07:48' PM - Thứ năm, 05/05/2011

Lý thuyết về tam quyền phân lập được nêu ra đầu tiên bởi nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristoteles (384 - 322 TCN) và được hoàn thiện thành học thuyết hoàn chỉnh bởi nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp là ông Montesquieu (1689 - 1755).
Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng quyền lực nhà nước luôn có xu hướng mở rộng, lạm quyền. Để bảo vệ các quyền tự do của người dân trong mối quan hệ với nhà nước thì quyền lực nhà nước cần được giới hạn. Mặt khác quyền lực chỉ có thể được giới hạn bởi quyền lực. Do vậy để giữ cho quyền lực nhà nước không tiêu cực xâm phạm tới người dân thì quyền lực nhà nước không được tập trung mà cần phân chia.
Học thuyết về tam quyền phân lập hay phân chia quyền lực là nền tảng cơ bản xây dựng lên các bản Hiến pháp tư sản trong đó tiêu biểu là Hiến pháp Hoa Kỳ. Theo đó quyền lực nhà nước được phân chia làm ba nhánh tồn tại độc lập, kiềm chế, giám sát lẫn nhau là lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Ở Việt Nam, trên cơ sở tiếp thu những tinh hoa kiến thức nhân loại và phù hợp với đường lối phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mô hình tổ chức quyền lực nhà nước được thể hiện rõ ràng như sau: Nghị quyết đại hội 10 của Đảng cộng sản khẳng định: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10 NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 126).
Việc tổ chức như vậy xuất phát từ mong muốn đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, tránh xu thế lạm quyền của cơ quan nhà nước. Quyền lực nhà nước được phân công cho các cơ quan khác nhau thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Trong quá trình xây dựng chính sách và trong khi các văn bản luật của nhà nước đang trong quá trình hoàn thiện. Đã tồn tại một cơ quan nắm giữ cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp liên quan đến một vấn đề hết sức quan trọng.
Cơ quan đó là UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là cơ quan hành pháp nhưng đã nắm giữ cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cơ quan này đã sử dụng cả ba quyền trong việc thực hiện vai trò quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể là việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng.
Về quyền lập pháp
Theo luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành thì các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất, khung giá đất đền bù, danh mục các khoản hỗ trợ, chính sách tái định cư cho người có đất bị thu hồi được ban hành một phần bởi chính phủ và một phần bởi UBND cấp tỉnh, cùng là cơ quan hành pháp.
Chính phủ ban hành các nguyên tắc chung, trình tự thủ tục thu hồi đất, danh mục các khoản hỗ trợ.
Trên cơ sở đó UBND mỗi tỉnh ban hành khung giá đất, mức hỗ trợ và chính sách về tái định cư. Trong đó đáng lưu ý là về khung giá đất của tỉnh. Khung giá đất được UBND tỉnh ban hành mỗi năm là cơ sở để tính mức giá đền bù khi nhà nước thu hồi đất. Khung giá này luôn thấp hơn so với mức giá chuyển nhượng đất trên thị trường, do vậy người bị thu hồi đất luôn bị thiệt thòi.
Các quy định do UBND tỉnh ban hành có giá trị thực thi không khác gì các điều luật do quốc hội ban hành, nó là cơ sở viện dẫn giải quyết các vụ việc của các Sở ban ngành, UBND cấp dưới và kể cả tòa án. Như vậy UBND tỉnh là cơ quan hành pháp nhưng đã thực hiện chức năng của cơ quan lập pháp, đó là ban hành luật.
Về quyền hành pháp
UBND tỉnh là cơ quan trực tiếp thực hiện các công việc thu hồi đất, đền bù, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng. UBND tỉnh chỉ đạo UBND cấp dưới và các sở ban ngành thực thi các quy định của chính phủ và của UBND tỉnh. Đây là vai trò chính của UBND tỉnh, vai trò của cơ quan hành pháp.
Về quyền tư pháp
Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì người dân có quyền khiếu nại UBND các cấp khi không đồng tình với quyết định thu hồi đất hoặc không đồng tình với mức bồi thường, hỗ trợ hoặc cho rằng việc thu hồi đất không thực hiện theo đúng trình tự thủ tục do chính phủ quy định. Người giải quyết khiếu nại không ai khác chính là chủ tịch UBND cấp quận, huyện và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Các cơ quan này giải quyết việc khiếu nại về chính họ, do vậy xu hướng giải quyết đương nhiên họ sẽ bảo vệ quan điểm, việc làm trước đó của mình. Quyết định giải quyết khiếu nại của chủ tịch UBND tỉnh được thi hành, ai chống lại sẽ bị cưỡng chế.
Như vậy UBND cấp tỉnh là cơ quan hành pháp nhưng đã giữ cả vai trò phán xét của cơ quan tư pháp.
Hệ quả của tam quyền không phân lập
Việc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan hành pháp nhưng thực hiện cả quyền lập pháp và tư pháp dẫn đến tình trạng chuyên chế, độc đoán. Khi phát sinh bất đồng với người dân bị thiệt thòi, họ sẽ không quan tâm tới quyền lợi chính đáng của người dân, gạt bỏ đối thoại và sẵn sàng sử dụng bộ máy đàn áp. Người dân lâm vào tình trạng bế tắc khi mà người giải quyết khiếu nại chính là người xâm phạm. Trong tình huống này quyền lợi của người dân không có cách gì bảo vệ.
Người dân không thể trông mong vào kết quả giải quyết khiếu nại của UBND các cấp. Để thoát ra khỏi hoàn cảnh bế tắc không có cách nào khác người dân phải vi phạm các quy định về trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại, họ trông chờ ở cấp chính phủ và đó là lý do dẫn đến các vụ khiếu nại vượt cấp. Một số trường hợp chống đối lại quyết định của UBND các cấp và như thường thấy họ bị cưỡng chế thực hiện.
Ở Việt Nam mỗi năm trong cả nước xảy ra hàng vạn vụ khiếu kiện về đất đai (1), điều này là minh chứng quan trọng cho thấy nguyên nhân không phải sai phạm, yếu kém ở một vài địa phương hay của một vài cán bộ. Rõ ràng đây là hệ quả thực tế của sai lầm trong phân công nhiệm vụ, thực thi chức năng cho một cơ quan nhà nước trong một lĩnh vực cụ thể. Khi chính sách pháp luật của nhà nước đang trong quá trình hoàn thiện, với vai trò quả lý nhà nước về đất đai, cơ quan này đã nắm giữ cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hầu như trong tất cả các vụ việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cơ quan này mặc nhiên ở trong tình thế hoàn toàn đối đầu với người dân.
Để giải quyết vấn đề này cần sửa đổi Hiến pháp, các văn bản luật, xác định quyền sở hữu tư nhân của người dân đối với đất đai (2, 3). Từ đó xóa bỏ việc cơ quan hành pháp ban hành các quy định (thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp) trong việc thực hiện vai trò quản lý nhà nước về đất đai.
Ngoài ra cũng cần sửa lại các quy định của Luật đất đai và Luật khiếu nại tố cáo. Theo đó khi người dân không đồng tình với quyết định thu hồi đất của UBND có thể kiện ngay ra tòa án mà không cần phải qua UBND giải quyết khiếu nại lần đầu. Từ đó xóa bỏ việc cơ quan hành pháp giải quyết khiếu nại (thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp).
Ông Montesquieu đã viết trong cuốn sách kinh điển Bàn về tinh thần pháp luật (De L’esprit des lois) như sau : “Hãy xem người công dân trong các nước cộng hòa kia ở trong cảnh ngộ: Cơ quan cầm quyền vừa là kẻ thi hành luật và tự cho mình là kẻ lập pháp. Họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ. Mà họ còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ có thể đè nát mỗi công dân theo ý muốn của họ”(Bàn về tinh thần pháp luật, NXB lý luận chính trị, 2006, trang 107).
Án tù giam dành cho 5 người đàn bà (4), nghề nghiệp làm ruộng tại thôn Do Lộ, xã Yên Nghĩa, Hà Đông, Hà Nội là một hệ quả điển hình về thân phận người dân khi một cơ quan nhà nước nắm cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Tham khảo các bài viết
1. Vietnamnet: Đơn khiếu nại tố cáo vẫn chạy lòng vòng
2. TuanVietnam: TS. Nguyễn Quang A “Công thổ quốc gia” hay sự “sáng tạo” kỳ quặc về sở hữu?
3. TuanVietnam: GS.TSKH. Đặng Hùng Võ "Công hữu đất đai không hợp với thời kỳ quá độ"
4. Vietnamnet: Do Lộ, vì sao nên nỗi?
Số lượt đọc:  841  -  Cập nhật lần cuối:  04/05/2011 07:50:07 PM

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới
09:29 | 03/05/2011
 
 Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.
Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước là yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội ta, đó còn là vấn đề đảm bảo cho quân đội luôn là lực lượng chính trị trung thành, lực lượng chiến đấu sắc bén bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, trước hết phải kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam . Trong điều kiện hiện nay cần hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc cơ chế và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Cơ chế lãnh đạo hợp lý, khoa học là bảo đảm hoạt động lãnh đạo, chỉ huy và hoạt động công tác đảng, công tác chính trị… bảo đảm cho Đảng nắm chắc quân đội trong mọi tình huống. Đảng Cộng sản Việt Nam không những đề ra đường lối quân sự, xác định phương hướng phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và các chủ trương, giải pháp nâng cao sức chiến đấu của quân đội, Đảng còn lãnh đạo việc tổ chức hiện thực hóa quan điểm, đường lối vào xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Nhà nước quản lý quân đội trên cơ sở thể chế hoá đường lối, nghị quyết về quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang thành luật pháp, chính sách, kế hoạch bao gồm kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn theo mục tiêu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong từng thời kỳ. Muốn quản lý, tổ chức và xây dựng quân đội có hiệu lực, hiệu quả thì phải có hệ thống pháp luật phù hợp với thực tiễn. Bên cạnh đó cần cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với quân đội. Điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, các bộ và cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ và địa phương cho phù hợp với yêu cầu quản lý Nhà nước đối với quân đội trong tình hình mới. Cải tiến phương thức, lề lối làm việc của các cơ quan, đơn vị trong quân đội, xác định rõ nguyên tắc làm việc và quy chế phối hợp vận hành của bộ máy lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở các đơn vị quân đội.

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, gắn liền với tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội là hai vấn đề quan hệ chặt chẽ với nhau có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Bởi vì, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội là nhân tố quyết định bản chất, truyền thống cách mạng; sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội ta. Do đó, Đảng, Nhà nước cần bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối lãnh đạo, cơ chế, chính sách quản lý đối với quân đội, chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chỉ huy các cấp, các đơn vị trong quân đội vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý công tác quân sự, quốc phòng; xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội trong tình hình hiện nay cần quan tâm những vấn đề cơ bản sau đây:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội trên cơ sở cương lĩnh, đường lối của Đảng, luật pháp của Nhà nước, tiếp tục cụ thể hoá, bổ sung, phát triển đường lối quân sự cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Để tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đảng xác định: “Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh”. Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, sự lãnh đạo của Đảng được tập trung thống nhất vào Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Đảng quyết định những vấn đề cơ bản xây dựng quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và tham gia xây dựng đất nước. Nhà nước thống nhất quản lý Quân đội nhân dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Quân đội thường xuyên quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng; quân đội đã làm tốt chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng; thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân. Đồng thời giữ vững và thực hiện tốt nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, bảo đảm mọi quyền lãnh đạo quân đội luôn thuộc về Đảng. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là người duy nhất lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự lãnh đạo không có thể phân chia cho bất kỳ một cá nhân nào, một lực lượng chính trị nào khác. Nhà nước quản lý quân đội thống nhất chặt chẽ trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật. Vì vậy, tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội đặt trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt đối với quân đội hiện nay, có như vậy quân đội mới thực sự phát huy được vai trò, sức mạnh của mình. Kiên quyết đấu tranh với những luận điệu đòi “phi chính trị hóa” quân đội và những biểu hiện coi nhẹ hay buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đối với quân đội.

Hai là, không ngừng xây dựng, bổ sung và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội. Đây là yếu tố quan trọng góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với quân đội. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra nhiều vấn đề mới đối với việc xây dựng, tổ chức và hoạt động của quân đội, trong đó xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước về quốc phòng, quản lý toàn bộ hoạt động của quân đội với tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp quốc phòng còn là nhân tố quan trọng hàng đầu để củng cố tăng cường sự thống nhất về bản chất chính trị giai cấp của quân đội. Từ khi thành lập quân đội đến nay, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý đối với quân đội không ngừng phát triển và hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của quân đội trong các thời kỳ lịch sử. Hiện nay trước yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của cách mạng, việc tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Đây vừa là cơ chế, vừa là chủ trương có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng quân đội; củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Thực hiện tốt chủ trương trên nhằm hai mục tiêu chính: Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi hoạt động xây dựng quân đội; Hai là, gắn vai trò, trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương đối với nhiệm vụ xây dựng quân đội thông qua chế độ, quy định cụ thể về lãnh đạo, chỉ huy, quản lý điều hành và tổ chức thực hiện. Nghị quyết 28 Bộ Chính trị (khóa X) đã xác định cơ chế thực hiện nhiệm vụ quốc phòng: “Hoạt động của khu vực phòng thủ trong tình huống khẩn cấp về quốc phòng và chiến tranh, đặt dưới sự lãnh đạo, tuyệt đối, trực tiếp của cấp uỷ đảng, sự chỉ đạo thống nhất của Ủy ban nhân dân, do chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương chủ trì tham mưu và chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang của khu vực phòng thủ, phối hợp với các lực lượng khác sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu”. Cơ chế này phản ánh vai trò và mối quan hệ cơ bản giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý quân đội không chỉ đơn thuần bằng đường lối, chủ trương mà tất yếu phải thông qua hệ thống tổ chức đảng, hệ thống tổ chức chỉ huy và các tổ chức ở đơn vị cơ sở. Mỗi tổ chức, mỗi con người đều có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ riêng, nhưng đều vận hành trong cơ chế lãnh đạo của Đảng. Nhờ có sự bổ sung cần thiết, quan trọng về cơ chế, góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng - an ninh nói chung và quân đội nói riêng, đồng thời qua đó hoạt động xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam được đẩy mạnh và hiệu quả hơn.

Trong xây dựng, củng cố và hoàn thiện cơ chế này cần khắc phục hiện tượng buông lỏng, lạm quyền, hạ thấp sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; hạ thấp tính tập trung, thống nhất cao của quân đội và tính năng động, tự giác của cán bộ, chiến sỹ. Đồng thời tạo sự đồng thuận về nhận thức của các bộ, ban, ngành và nhân dân.

Ba là, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu cao của Đảng bộ quân đội và nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị. Trước hết, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao tính chiến đấu, tính hiệu quả công tác tư tưởng, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân; kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng, kiên định với công cuộc đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và vững vàng trước mọi khó khăn thách thức, đồng thời trở thành pháo đài kiên cố trong cuộc đấu tranh chống những quan điểm sai trái bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng. Tập trung kiện toàn hệ thống tổ chức, nâng cao năng lực, trình độ lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu và tính năng động của các tổ chức đảng, đặc biệt là tổ chức cơ sở đảng. Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khoá X) và Nghị quyết 147 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (Khoá VIII): “Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”. Các cấp uỷ coi trọng việc xây dựng và triển khai quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo các mặt công tác trọng yếu; đặc biệt là xác định các biện pháp cụ thể để thực hiện hiệu quả các khâu đột phá mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ IX đã xác định “Điều chỉnh về tổ chức, biên chế; huấn luyện và đào tạo; xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật của bộ đội và cải cách hành chính quân sự”. Đồng thời thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo gắn với phân công cá nhân phụ trách; tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, nâng cao tính chiến đấu, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong từng đảng bộ và đơn vị; chủ động triển khai thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ sát với yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn của từng đảng bộ. Tăng cường công tác cán bộ; kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ theo hướng giải quyết số lượng gắn chặt với cải thiện cơ cấu, bố trí sắp xếp cán bộ hợp lý nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội.

Bốn là, tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước với quân đội. Trên cơ sở đường lối của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân, sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội thông qua quy định của Hiến pháp, pháp luật và phải được cụ thể hoá bằng điều lệnh, điều lệ và các chế độ, quy định của quân đội; thông qua hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong quân đội. Tăng cường tính pháp lý trong quan hệ và xử trí các tình huống, cần bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống các văn bản pháp luật và chính sách cho phù hợp với đặc điểm, yêu cầu mới như: Luật quốc phòng; Luật Sĩ quan; Luật Nghĩa vụ quân sự; các pháp lệnh về Dự bị động viên, Dân quân tự vệ, Biên phòng; các chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Nhà nước cần có sự đầu tư, quản lý ngân sách và lực lượng cho quá trình xây dựng quân đội, trong đó tập trung vào nghiên cứu phát triển khoa học, công nghệ quân sự, mua sắm vũ khí, trang thiết bị hiện đại đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới. Song, điều kiện kinh tế - xã hội đất nước còn khó khăn, vì vậy cần lựa chọn một số ngành, lĩnh vực quan trọng để đầu tư theo hướng “đi trước, đón đầu”, tiến thẳng vào hiện đại. Tất nhiên, việc xác định quy mô, tính chất và mức độ hiện đại đến đâu phải cân nhắc kỹ, dựa trên cơ sở khả năng thực tế của đất nước, cũng như diễn biến cụ thể của tình hình và nhất là phải căn cứ vào chiến lược bảo vệ Tổ quốc, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và rèn luyện. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân của quân đội, quyết định mục tiêu chiến đấu, quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng luôn gắn chặt với sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội, đó còn là bài học kinh nghiệm quý báu xuyên suốt, yếu tố quan trọng giữ vững ổn định tình hình mọi mặt của đất nước. Trong tình hình hiện nay, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đảm bảo cho quân đội ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, tiếp tục giữ vững, phát huy bản chất giai cấp công nhân và truyền thống “trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”./.


                                    Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn
Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
Các từ khóa theo tin:
(Nguồn: TTXVN)