Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

Bài viết đáng chú ý

Trao đổi với ông Võ Văn Ái: Cải cách giả vờ hay buộc phải cải cách?

VOA Đài tiếng nói Hoa Kỳ
15.10.2013
1Phạm Chí Dũng
Ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam có trụ sở tại Paris, người khởi xướng chiến dịch “Chuyển lửa về quê nhà” vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước và mới đây được báo Công An Nhân Dân của Bộ Công an Việt Nam vinh danh là “kẻ đại gian hùng”, vừa nêu một cảnh báo đáng chú ý trên đài VOA Việt ngữ ngày 14/10/2013 về “Quốc tế nên cảnh giác trước những cải cách giả vờ của Việt Nam”.

Là một trong số tiếng nói hiếm hoi của người Việt lưu vong hải ngoại nêu lên điều được xem như một phát hiện liên quan đến hai động thái song trùng về đối ngoại và đối nội của đảng cầm quyền ở Việt Nam trong thời gian gần đây, rất có thể, với ý kiến này, ông Ái sẽ đóng góp không nhỏ cho chủ đề tranh luận “Việt Nam có thật sự cải cách hay không?” đang và sẽ diễn ra trong giới quan sát, nghiên cứu hải ngoại, giới bất đồng chính kiến tại Việt Nam và có thể với cả những cơ quan, tổ chức quốc tế đang quan tâm đến độ mở dân chủ, nhân quyền đối với quốc gia thường bị lên án về cơ chế khép kín về tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo.
Sẽ bắt bớ nhiều hơn?
Đã gần bốn tháng trôi qua kể từ ngày nhân vật số 2 trong đảng là ông Trương Tấn Sang “kính chuyển” cho người đứng đầu nhà nước Hoa Kỳ bản sao bức thư của ông Hồ Chí Minh đề nghị Tổng thống Harry Truman giúp đỡ, những người muốn “chuyển lửa về quê nhà” như ông Võ Văn Ái không khỏi sốt ruột khi nhận thấy tình huống đối ngoại chưa đủ để tạo nên một tác động mạnh mẽ đối với sự chuyển đổi trong chính sách nội trị của đảng cầm quyền ở Việt Nam.
Trước đó, một số cuộc vận động về dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam đã được tổ chức của ông Võ Văn Ái cùng những hội đoàn khác trình bày chủ yếu đối với Hạ nghị viện và Thượng nghị viện Mỹ, sau đó là với cơ quan nhân quyền của Cộng đồng châu Âu. Dự luật HR 1897 mà Hạ nghị viện Mỹ thông qua vào đầu tháng 8/2013 là một kết quả có tính cụ thể của quá trình vận động đó.
Một an ủi bất ngờ đối với các tổ chức nhân quyền quốc nội và hải ngoại là chỉ chưa đầy nửa tháng sau khi HR 1897 được thông qua bước đầu, cô nữ sinh Phương Uyên – người bị tạm giam từ tháng 10/2013 và luôn tỏ ra “cứng đầu” với tuyên bố “Tôi chỉ chống đảng Cộng sản chứ không chống dân tộc” – đã được tòa án tỉnh Long An cho hưởng án treo và trả tự do ngay sau phiên phúc thẩm, cho dù trước đó Uyên đã bị kết án sơ thẩm đến 6 năm tù – gần bằng một phần ba tuổi đời cho đến lúc bị bắt.
Bất ngờ trên, cùng với sự kiện cựu tử tù chế độ cũ – đương kim đảng viên Lê Hiếu Đằng – phát tín hiệu về thành lập đảng Dân chủ Xã hội, đã khiến những người nóng lòng song không thiếu hoài nghi như ông Võ Văn Ái phải nhớ về thời điểm cuộc gặp George Bush – Nguyễn Minh Triết vào cuối năm 2006. Khi đó, nhà chức trách Việt Nam đã lặng lẽ bỏ qua sự kiện có đến ba chính đảng mới được thành lập.
Tuy nhiên theo cách nhìn của ông Ái, ngay sau khi kết thúc cuộc gặp trên, lịch sử đã một lần nữa lặp lại với việc nhà cầm quyền xóa sổ cả ba đảng phái độc lập, còn tất cả thủ lĩnh của những đảng phái này đều bị cầm tù.
Đó cũng là lý do để ông Võ Văn Ái quan ngại “Trong năm nay (2013), 51 nhà hoạt động tại Việt Nam đã bị bắt. Sắp tới đây, số này còn tăng cao hơn nữa”.
Hẳn nhiên, nếu chiều hướng câu chuyện bắt bớ diễn ra đúng với nỗi lo của ông Võ Văn Ái, toàn bộ cố gắng của chính phủ Hoa Kỳ và Cộng đồng châu Âu nhằm “vận động” nhà nước Việt Nam chỉ là một quả bong bóng có thể vỡ tan bất cứ lúc nào.
Hai thời điểm khác biệt
Không hoàn toàn giống với đánh giá của ông Võ Văn Ái,  cách nhìn của một số nhà phân tích trong nước cho thấy triển vọng “nhập kho” thực ra không đến nỗi quá tồi tệ như thế.
Năm 2013 đã gần trôi qua với khá ít trường hợp bị bắt giam. Những vụ án đông người đưa ra xét xử vào năm 2013 như vụ Hội đồng công luật công án Bia Sơn ở tỉnh Phú Yên và vụ 14 thanh niên công giáo và tin lành ở tỉnh Nghệ An thực ra bị bắt giam vào năm 2012. Còn từ đầu năm 2013 đến nay, ngoài trường hợp blogger Đinh Nhật Uy ở Long An bị bắt liên quan đến màu sắc chống Trung Quốc, hai blogger khác là Trương Duy Nhất ở Đà Nẵng và Phạm Viết Đào ở Hà Nội lại được xem là mang dấu ấn “nội bộ” nhiều hơn.
Tuy chưa có dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy Hà Nội tiến hành cải cách về “điều kiện bắt giam” liên quan đến các điều luật chính trị trong Bộ luật hình sự như điều 258, 87, 88, 79, nhưng việc hàng chục blogger trẻ trong nhóm 258 nằm trong tình trạng bị câu lưu (tạm giữ) tại sân bay Tân Sơn Nhất sau khi kết thúc khóa học về xã hội dân sự ở Philippines, đã cho thấy một động thái khác hơn là chế độ bắt thẳng cánh và lôi ra xét xử như đối với 14 thanh niên Công giáo và Tin lành hồi năm ngoái.
Riêng cá nhân ông Lê Hiếu Đằng hầu như không phải chịu tác động can thiệp mang tính tiêu cực nào sau khi đề xuất thành lập đảng chưa từng có của ông được công khai hóa. Vào tháng 9/2013, một hoạt động có tên “Diễn đàn xã hội dân sự” cũng được khởi xướng trên mạng Internet, nhưng cho tới nay phản ứng của chính quyền và cơ quan tuyên giáo là rất mờ nhạt.
Câu hỏi cần nêu ra là vì sao lại có sự “nương tay” của chính quyền như thế? Liệu sự nương nhẹ này chỉ là một kịch bản tái hiện giai đoạn 2006-2007 để sau đó lại dội lên một chiến dịch “hồi tố”, hay còn được bổ sung bởi những đặc thù khác biệt với quá khứ?
Khác với cách đánh giá và dự báo của ông Võ Văn Ái, một số người bất đồng chính kiến trong nước đang phân định khá rạch ròi về hai giai đoạn 2006 và hiện thời. Đặc biệt, những nhà phân tích vẫn còn mối quan hệ nào đó với đảng Cộng sản luôn dựa vào nguyên lý “vật chất quyết định ý thức” của Các Mác, hay cụ thể hơn là “kinh tế quyết định chính trị” ứng với những điều kiện hiện tại.
Góc nhìn kinh tế – chính trị trên cho thấy vào năm 2006 – 2007, nền kinh tế Việt Nam nằm trong tình trạng đạt đỉnh sau gần hai chục năm liên tục tăng trưởng. Nhưng từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế này đã rơi vào giai đoạn suy thoái và đang có nhiều chỉ dấu về  một cuộc khủng hoảng lớn lao trong tương lai không xa.
Cũng khác nhiều với giai đoạn “yên tĩnh” năm 2006, 5 năm suy thoái kinh tế vừa qua đã làm cho lòng dân xáo động và bất tuân ghê gớm. Nhiều tầng lớp từ nông dân đến trí thức đã phát sinh phản cảm và phản ứng ngày càng quyết liệt đối với đảng cầm quyền, liên quan đến nhiều chính sách đất đai, an sinh xã hội và tư tưởng. Đó cũng là lý do vì sao ngay trong đảng đang xuất hiện một số ý kiến cho rằng Việt Nam đang rơi vào “một cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc”.
Sau Hội nghị Trung ương 6 của đảng và từ cuối năm 2012 đến nay, trong rất nhiểu cán bộ cách mạng lão thành ở Việt Nam đã nổi lên dư luận “chưa bao giờ nội bộ đảng bị phân hóa như bây giờ”. Vào tháng 4/2013, ngay cả một nhà ngoại giao xa xôi như đại sứ Hoa Kỳ David Shear cũng không thiếu am tường khi ẩn dụ về hiện trạng có nhiều quan điểm khác nhau trong nội bộ đảng cầm quyền ở Việt Nam, và với một số động cơ nào đó, có người muốn cải cách nhưng lại có người không muốn… Rõ ràng, hình ảnh phân hóa này là một sự khác biệt rất đặc trưng so với không khí “nhất trí cao” trong nội bộ đảng vào những năm 2006-2007.
Không ai uống nước hai lần trên một dòng sông. Lịch sử đã dợm bước và thời gian không thể quay trở lại. Năm 2006 đã cách xa hiện tại đến 7 năm. Và giữa hai mốc thời điểm này là một cuộc suy thoái kinh tế trầm kha cùng những dấu hiệu ban đầu về cơn đại hồng thủy khủng hoảng xã hội sắp tràn tới.
Cùng một động thái mở cửa để cải cách, nhưng bối cảnh kinh tế – xã hội sẽ quyết định tính chất giả vờ hay thật sự của cuộc cải cách ấy.
Thay đổi hay là chết!
Với những sang chấn quá đặc biệt đang xảy đến, vị thế chính trị của đảng cầm quyền và của cả những cá nhân lãnh đạo hiển nhiên không còn ở vào cái thế muốn thay đổi hay không tùy hỉ. Mà gần như ngược lại.
Thậm chí có thể ứng với tuyên ngôn “Thay đổi hay là chết!”.
Năm 2011, người đứng đầu đảng Nguyễn Phú Trọng bắt đầu nói về “sự tồn vong của đảng”. Chỉ có điều, hai năm sau tình hình còn tệ hơn nhiều mà không có bất kỳ cải thiện nào có ý nghĩa.
Thay đổi duy nhất có ý nghĩa chỉ là cái chết theo nghĩa đen có thể xảy đến với dân nghèo và do đó với cả số phận chính khách.  
Cũng bởi thế, giới phân tích độc lập và cả “một bộ phận không nhỏ” cán bộ đảng viên trong nước đang nghiêng về quan điểm cho rằng đã đến lúc giới lãnh đạo Việt Nam cần phải cải cách thật sự chứ không phải là “cải cách giả vờ” nữa. Mọi con bài mà giớ cầm quyền ở Việt Nam trưng ra đều đã được nhận diện, thậm chí được soi rọi tỏ tường bởi chính giới quốc tế. 
Chỉ có điều, phải thay đổi như thế nào, theo cách nào và cụ thể hơn là “theo ai” mới là vấn đề mang tính cốt tử. Ít nhất ở hai thành phố lớn Hà Nội và Sài Gòn, không ít người công khai bàn tán từ trong nhà ra đường phố về hai phương án “Theo Trung Quốc thì còn đảng mất nước” và “theo Mỹ thì còn nước mất đảng”.
Bầu không khí có vẻ “nương tay” đối với giới bất đồng chính kiến chỉ là một trong số những động thái kín đáo đang âm thầm chuyển động ở Việt Nam. Sau cuộc gặp Trương Tấn Sang – Barack Obama vào tháng 7/2013, người ta lại nhận ra chuyến đi Pháp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với kết quả không thể tốt đẹp hơn về “đối tác chiến lược toàn diện” cùng hợp đồng mua bán máy bay Airbus. Ít ngày sau chuyến đi này, lộ trình cho Việt Nam tham gia vào Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương bất chợt được khai thông đáng kể: thách thức mà nhà nước Việt Nam đang không biết làm sao vượt qua là rào cản kỹ thuật về xuất xứ hàng hóa và chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước đã được nhóm các nước chủ chốt của TPP, trong đó có Mỹ, dành cho cơ chế “linh hoạt” – như từ ngữ mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã “kiến nghị” tại New York vào cuối tháng 9/2013.
Trục tay ba Trung – Mỹ – Việt cũng đang khởi động sự vận hành song phương Bắc Kinh – Hà Nội bởi chuyến thăm Việt Nam và ký kết hàng loạt hợp đồng lớn của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường. Phía sau chuyến đi này, nghe nói sẽ còn có những tỷ đô la nào đó mà Trung Nam Hải “đặc cách” dành cho Việt Nam – cơ sở rất quan yếu để duy trì tư thế “thiên triều” đối với đất nước oằn mình dưới lịch sử “ngàn năm Bắc thuộc”. 
Và có lẽ không phải ngẫu nhiên mà trong thời gian gần đây, báo chí và giới chuyên gia nhà nước đề cập khá dồn dập về từ ngữ “khủng hoảng kinh tế” đang dần phổ cập ở Việt Nam, cũng như từ ngữ “cải cách kinh tế” lại một lần nữa được nhấn mạnh.
Một trong những hiện tượng nhỏ lẻ nhưng khá thú vị đang bắt đầu lan tỏa là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), sau nhiều năm tung hoành thế đặc quyền, đặc lợi và liên tục tăng giá để “bù lỗ vào dân”, đã bất chợt bày tỏ tâm nguyện “chán độc quyền”.
Một tác nhân độc quyền khác và bị lên án nhiều nhất – Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) – cũng đang được đưa lên “bàn mổ”.
“Cải cách kinh tế” cũng vì thế xem ra có được hy vọng, đôi chút hy vọng, hoặc bắt buộc phải hy vọng, trong tâm tưởng người dân và có thể cả trong não trạng của giới cầm quyền.
Tuy thế, cải cách như thế nào để vẫn giữ được bản sắc “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” vẫn là một ẩn số của phương trình có thể sinh ra nhiều đáp số khác biệt, thậm chí trái ngược nhau.
Những ngày gần đây, không khí ở Việt Nam như đang lắng đọng trong sự chờ đợi về một thay đổi nào đó. Và có lẽ từ phía bên kia bán cầu, người Mỹ cũng đang chờ đợi một sự thay đổi tối thiểu ở đất nước cựu thù.
Song ở bên này bán cầu, nhiều người lại tự hỏi vì sao người Mỹ không xúc tác nhiều hơn để sự thay đổi diễn ra nhanh hơn.
“Nhanh hơn” có lẽ cũng là tâm ý của người muốn “chuyển lửa về quê nhà” – ông Võ Văn Ái.
Và làm thế nào để cải cách kinh tế trở thành tiền đề cho cải cách chính trị?
Những câu hỏi trên có vẻ càng khẩn thiết trong và sau sự ra đi như một “điềm báo” của “người Cộng sản cuối cùng” ở Việt Nam – Tướng Võ Nguyên Giáp.    
Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 
———————

2Phạm Chí Dũng

Phạm Chí Dũng là nhà báo tự do hiện đang sinh sống tại Sài Gòn.

Tướng Giáp và tính chính danh của Đảng

Kính Hòa, phóng viên RFA
Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
000_Par7684506-305.jpg
Lễ an táng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Vũng Chùa, tỉnh Quảng Bình vào ngày 13 tháng 10 năm 2013.
AFP photo


Đám tang của đại tướng Võ Nguyên Giáp là một đám tang lớn nhất trong mấy mươi năm nay tại Việt Nam. Đặc biệt là những người cầm quyền cũng ra sức tổ chức đám tang ấy một cách long trọng, dù rằng Đại tướng quá cố được cho là đã chẳng có quyền hành gì từ rất lâu nay.
Tuần lễ quốc tang đã kết thúc sau khi linh cữu đại tướng Võ Nguyên Giáp được đưa vào lòng đất tại quê nhà ông ở tỉnh Quảng Bình. Cái chết của vị tướng lĩnh đột nhiên làm khuấy động cuộc sống chính trị xã hội Việt Nam đang bề bộn những vấn đề đau đầu như tái cơ cấu nền kinh tế, đền bù giải tỏa đất đai, chất lượng giáo dục giảm sút…
Điều đáng ngạc nhiên là vị đại tướng lại khấy động xã hội sau khi lìa đời, sau đằng đẵng mấy mươi năm trời im lặng, mà nói như nhiều người là cặm cuội học chữ “Nhẫn” từ năm này sang tháng nọ.
Năm 1986 là mốc thời gian chính thức đánh dấu sự nghiệp chính trị của vị đại tướng Điện Biên Phủ khi tên ông bị gạt ra khỏi danh sách những con người quyền lực nhất đất nước là Ủy ban trung ương đảng, ngay từ vòng đề đạt danh sách ứng cử. Và theo một số nhà nghiên cứu thì ngay trước 1975, vai trò của tướng Giáp về cả quân sự và chính trị đã không còn quan trọng nữa, do bị lấn lướt bởi phe nhóm chính trị trong đảng cộng sản, dù ông lúc ấy vẫn mới ở vào độ tuổi 60.
Sự im lặng của vị đại tướng chỉ xôn xao một chút vào lúc gần cuối đời khi ông viết ba bức thư gửi những nhà cầm quyền Việt Nam để phản đối dự án hợp tác khai thác bauxite ở Tây nguyên, do lo ngại sự xuất hiện của người Trung quốc trên vùng lãnh thổ chiến lược của quốc gia, cũng như những hệ lụy môi trường của dự án này. Vì lý do này mà hình ảnh của đại tướng được những trí thức chống khai thác bauxite đưa lên như người dẫn đầu về tinh thần của họ. Hình ảnh ông cũng được giới trẻ nêu cao trong những cuộc xuống đường chống Trung quốc xâm lược. Và chỉ có thế! Truyền thông của nhà nước thì chỉ đưa tin ông gửi thư trong vài số báo rồi im lặng, để tiếp theo đó, đứt đoạn từng năm một, là hình ảnh ông như một cụ già có công với cách mạng về cuối đời được các cấp đảng và chính quyền chăm sóc.
Cái chết của ông không gây bất ngờ, vì ông đã qua tuổi bách niên. Nhưng dường như lại gây bất ngờ cho các đồng chí con cháu ông  đang cầm quyền. Họ đã ngần ngừ một ngày trời rồi mới đưa tin ông mất. Theo Tiến sĩ Địa chất học Nguyễn Thanh Giang, một trong những người đầu tiên ký tên phản đối dự án bauxite nói rằng những người cầm quyền của đảng cộng sản Việt Nam đã không lường được hiệu ứng gây ra bởi cái chết của tướng Giáp:
“Sự kiện này diễn tiến với một qui mô ngoài sức tưởng tượng của những người lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam. Số người đến viếng Đại tướng tại nhà cũng như tại chổ làm lễ truy điệu quá đông.”

Đơn cử như cải cách ruộng đất, Bác Hồ không muốn làm theo lối Trung Quốc, nhưng Bộ Chính Trị quyết định làm theo lối Trung Quốc thành ra Bác Hồ cũng chịu.
- Ông Đặng Văn Việt
Bên cạnh sự quan tâm này của những người dân trong nước, đặc biệt tại khu vực thủ đô Hà nội, còn có những cơ quan truyền thông quốc tế lớn đưa tin này trong vài ngày liền. Một nhân vật tưởng đâu đã lui vào bụi bặm của thời gian ở một đất nước mà chỉ có chiến tranh và thuyền nhân mới khuấy động được truyền thông quốc tế, nay lại xuất hiện trong những bài nhận định, phân tích, hồi tưởng trên khắp thế giới. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, sự quan tâm đông đảo của người dân trong nước có hai lý do:
“Theo tôi thì có những người đến vì kính trọng một vị đại tướng tài ba, có tài cầm quân mà cũng có một tầm văn hóa. Người ta đến còn vì lòng thương cảm vị đại tướng đã bị chính những đồng chí đồng đội của ông, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam trù úm, hãm hại, đày đọa ông. Người ta đến như một phản ứng lại hành động của đảng cộng sản Việt Nam là đã chơi xấu.”
Sau một ngày ngần ngừ, bộ máy tuyên truyền của đảng cộng sản đã mở hết công suất để đáp trả. Tướng Giáp đã được ca ngợi với tất cả những gì hoa mỹ mà kho từ vựng tiếng Việt có được. Người ta tôn ông lên làm Thánh, làm Phật, rồi người ta cùng nhau bàn luận về phong thủy của vùng đất mà gia đình ông chọn để an táng ông. Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang cho rằng:
“Người ta đã làm cái đám tang ấy to, trong đó có một phần nhỏ là cho ông Võ Nguyên Giáp, còn phần lớn là người ta lợi dụng cái uy tín của Đại tướng để tô vẽ cho công trạng của đảng cộng sản Việt Nam.”

Khi phép vua thua lệ làng

image.jpg
Người dân Hà Nội xếp hàng viếng tướng Giáp hôm 09/10/2013. AFP photo
Trong bản tin ngày 13/10/2013 khi tướng Giáp được an táng, hãng thông tấn AFP viết rằng đám tang của Đại tướng được khai thác để đảng cộng sản vốn độc tôn cầm quyền ở Việt Nam chứng tỏ với dân chúng rằng sự cai trị của họ là chính danh.
Lý luận thường thấy của về chính danh của đảng cộng sản nằm ở chỗ họ tuyên bố rằng họ đã có công lớn trong cuộc đấu tranh chống thực dân ở thế kỷ trước, cho nên bây giờ họ phải cầm quyền, dù rằng đại đa số những người cầm quyền hiện nay chẳng liên quan gì đến cuộc chiến tranh ấy, mà chỉ cùng màu sơn mang tính đảng với thế hệ đấu tranh đó mà thôi. Nay người cuối cùng của thế hệ đó đã ra đi. Cái chết của ông ấy, và sự kính trọng của một số đông dân chúng dành cho ông ấy phải chăng là cơ hội cho cuộc đấu tranh cam go giành tính chính danh của đảng trong những năm gần đây?
Cuộc đấu tranh giành tính chính danh của đảng cộng sản Việt Nam trong thời gian qua quả thật là gay go. Nhất là khi truyền thông điện tử và xã hội phát tán mọi thông tin đến mọi ngóc ngách của đời sống. Hãy nghe ông Đặng Văn Việt, một tư lệnh chiến trường nổi tiếng trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất chống thực dân Pháp, phát biểu về ảnh hưởng của Trung Quốc trong những quyết định chính trị,
“Đơn cử như cải cách ruộng đất, Bác Hồ không muốn làm theo lối Trung Quốc, nhưng Bộ Chính Trị quyết định làm theo lối Trung Quốc thành ra Bác Hồ cũng chịu.”
Quả là rất khó giải thích với người Việt nam về tính chính danh khi có những quyết định từ bên ngoài như vậy. Nhưng tính chính danh bị thách thức dữ dội nhất chính bởi những gì đang xảy ra trong xã hội Việt nam hiện tại. Những cuộc biểu tình chống Trung quốc xâm lược bị trấn dẹp, những gia đình nông dân một thời theo Đảng nay dùng cả vũ khí để bảo vệ đất đai chống sự “giải tỏa” của cơ quan công quyền, sự nhũng lạm của giới chức cai trị đất nước không có hồi kết,…
Người ta đã làm cái đám tang ấy to, trong đó có một phần nhỏ là cho ông Võ Nguyên Giáp, còn phần lớn là người ta lợi dụng cái uy tín của Đại tướng để tô vẽ cho công trạng của đảng cộng sản Việt Nam.
- Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang
Ông Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội trí thức yêu nước TP HCM đã nói với chúng tôi về những hành vị của đảng cầm quyền liên quan đến việc sửa đổi Hiến pháp 1992,
Ý đồ của họ là vẫn tiếp tục kéo dài bất chấp những đời hỏi chính đáng của nhân dân.”
Nếu bất chấp đòi hỏi chính đáng của nhân dân thì làm sao có thể mang tính chính danh?
Lịch sử các triều đại Việt Nam không hiếm những trường hợp nêu cao tính chính danh do bởi công lao của tiền nhân để nắm quyền. Nhưng công lao của Đức Trần Hưng Đạo, người Việt duy nhất hiện nay được dân gian tôn là bực Thánh, cũng không thể cứu vãn sự sụp đổ của Triều Trần do sự tham ô nhũng lạm trác táng của Trần Dụ Tông, sự yếu hèn của Trần Phế Đế…và còn nhiều bằng chứng như thế được các nhà sử học ghi lại. Thì làm sao sự ra đi của tướng Giáp, nhân vật cuối cùng của thế hệ cách mạng, lại có thể mang lại tính chính danh cho đảng cầm quyền?

Cái chết của một danh tướng QÐND Việt Nam còn nhiều tranh cãi

Các cựu chiến binh Việt Nam đến viếng Tướng Giáp tại Hà Nội, ngày 12/10/2013.
Các cựu chiến binh Việt Nam đến viếng Tướng Giáp tại Hà Nội, ngày 12/10/2013.

Thiện Ý
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, một danh tướng của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam vừa nằm xuống hôm mùng 4 tháng 10 năm 2013 vừa qua tại Hà Nội, hưởng đại thọ 103 tuổi. Cái chết này đã đưa đến những phản ứng trái ngược trước công luận người Việt Nam trong và ngoài nước.

Phản ứng này có lẽ là hệ quả tất nhiên của một cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam, đã kéo dài trong nhiều thập niên qua và vẫn đang còn tiếp tục.

Những người theo ý thức hệ Cộng sản thì ca ngợi Tướng Võ Nguyên Giáp như là một người yêu nước, vì xuất  thân là một trí thức tiểu tư sản (tốt nghiệp Trường Luật, giáo sư sử học tư thục Thăng Long ở Hà Nội…) ,do thúc đẩy của lòng yêu nước đã rời bỏ tương lai tươi sáng trước mặt, vào bưng biền tham gia kháng chiến chống chế độ thực dân Pháp để giành độc lập cho dân tộc.

Nhưng người quốc gia thì cho rằng cũng như nhiều người thanh niên khác,Võ Nguyễn Giáp lúc đầu tham gia kháng chiến có thể là do thúc đẩy của lòng yêu nước thật, nhưng sau đó trở thành một người Cộng sản thì mất bản sắc dân tộc, tham gia kháng chiến để giành “thuộc địa kiểu mới” cho các  đế quốc đỏ Nga-Tầu, mở mang bờ cõi cho quốc tế Cộng sản, áp đặt chế độ Cộng sản trên đất nước, trái với ý nguyện của nhân dân.

Người Cộng sản ca ngợi Tướng Giáp như là một “thiên tài quân sự” vì dù không được đào tạo từ một trường quân sự nào, cấp bậc khởi đầu binh nghiệp đã là một Đại tướng vào năm 37 tuổi do lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam là Ông Hồ Chí Minh phong cho năm 1948 và chỉ huy võn vẹn chỉ có 34 người trong “Đội Võ Trang Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân” lúc ban đầu. Thế nhưng trong cuộc đời binh nghiệp Tướng Võ Nguyên Giáp đã tạo được nhiều chiến công hiển hách vang dội toàn cầu, được nhiều người   viết sách ca ngợi và các danh tướng đối phương cũng phải ngưỡng phục.
  
Nhưng theo người Việt quốc gia thì tất cả chỉ là huyền thoại do đảng Cộng sản Việt Nam tạo ra, đạo diễn như một kịch bản khiến nhiều người dân trong nước cũng như những người ngoại quốc thiếu am tường về tổ chức, hoạt động và thủ đoạn chính trị của đảng CSVN lầm tưởng mà ca ngợi, ngưỡng phục, và thương tiếc trước sự ra đi của Tướng Giáp. Sự tạo ra huyền thoại, thần thánh hóa các lãnh tụ cộng sản vì lợi ích chính trị cũng như tạo ra các nhân vật anh hùng điển hình trong chiến tranh để thúc đẩy chiến binh liều chết hy sinh cho sự nghiệp của đảng Cộng sản chỉ là chuyện thường tình trong thế giới Cộng sản thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Tướng Giáp không là ngoại lệ. Thực chất cũng như thực tế, những chiến công được khoác cho Tướng Giáp là chiến cộng của tập thể, của những người lãnh đạo hàng đầu của đảng CSVN như các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh và Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ là người được phân công cá nhân thực hiện, tập thể lãnh đạo hay chỉ đạo (Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư Trung Ương đảng…).

Nhưng người Việt quốc gia cho rằng những chiến thắng được coi là do tài điều binh khiển tướng của Tướng Giáp chỉ là “Chiến thắng biểu kiến” (hay giả tạo). Chẳng hạn trong những chiến thắng được coi là công trang của Tướng Giáp trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954) người thực sự chỉ huy các trận đánh lớn không phải là Giáp mà là các tướng Trung Cộng. Căn cứ trên những tài liệu quốc tế và trong nước được giải mật sau này, thì chiến dịch Điện Biên Phủ được thực hiện theo kế hoạch tác chiến của một Tướng Trung Cộng cố vấn là Vy Quốc Thanh đề ra, được Ông Hồ và Bộ Chính trị Đảng CSVN chọn thông qua ngày 6-12-1953 và phân công, chỉ đạo cho Tướng Giáp thực hiện. Đồng thời, “Chiến thắng Điện Biên Phủ” cũng không là phải là nhân tố quyết định buộc Pháp phải trao trả độc lập cho Việt Nam. Vì xu thế giải thực sau Thế Chiến Thứ Hai đã buộc các nước đế quốc sớm muộn phải trao trả độc lập cho nhân dân các thuộc địa.

Kế đó, thời kỳ chiến tranh Quốc-Cộng được người Cộng sản gọi là “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” để ‘giải phóng Miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước”(1954-1975). Các cuộc tấn công quân sự lớn được coi là “chiến thắng” do công đầu của Tướng Giáp như: Từ “Cuộc Tổng tiến Công và Tổng Nổi Dậy Mậu Thân 1968” trên khắp đô thị Miền Nam , qua chiến dịch Xuân-Hè 1972 vào mùa Hè đỏ lửa 1972, đến  “Đại Thắng Mùa Xuân 1975”, được nói là do chính Tướng Giáp là tổng chỉ huy.
   
Nhưng người Việt quốc gia thì kết án những công trạng của Tướng Giáp như   là những tội ác cá nhân góp vào tội ác chung của đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra cho dân tộc và đất nước. Chẳng hạn để có cái gọi là “Cuộc Tổng Tấn Công và Tổng Nổi Dậy Mậu Thân 1968 thắng lợi”(!?!) chính Tướng Giáp là tổng chỉ huy chiến dịch, dưới sự chỉ đạo của các lãnh tụ hàng đầu đảng CSVN. Trong chiến dịch này Tướng Giáp và đảng CSVN đã sát hại hàng vạn sinh linh quân dân người Việt Nam của cả hai miền Nam-Bắc giữa những ngày Xuân của dân tộc.Để thực hiện chiến dịch Xuân - Hè 1972 trong mùa hè đỏ lửa, Tướng Giáp đã xua quân vào vùng phi quân sự, pháo kích bừa bãi vào hàng chục ngàn thường dân đang tìm đường chốn chậy  giao tranh, sát hại nhiều thường dân vô tội tạo nên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ở Miền Trung. Sau cùng, để có cái gọi là “Đại Thắng Mùa Xuân 1975”, chính Tướng Gíáp được giao trách nhiệm tổng chỉ huy “Giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước” dưới chế độ độc tài toàn trị Cộng sản áp đặt trên cả nước.

Giờ đây sau 38 năm thống nhất đất nước, Tướng Võ Nguyên Giáp ra người thiên cổ. Nhưng những công trạng của Tướng Giáp góp phần tạo ra chế độ độc tài toàn trị Cộng sản tại Việt Nam vẫn còn đó. Chế độ này đã làm gì, lợi hại cho dân cho nước và có lúc đã đối xử tàn tệ với chính ông một công thần như thế nào, lúc sinh tiền ắt cũng đã biết. Tướng Giáp có lên tiếng bầy tỏ thái độ phản kháng với cường độ yếu ớt như hơi thở thoi thóp của một người già yếu ở độ tuổi bách niên, chẳng có tác dụng thay đổi được gì, nên dường như đảng và nhà cầm quyền chế độ đương thời tại Việt Nam cũng chẳng hề quan tâm.

Việc đánh giá Tướng Võ Nguyên Giáp có là ngưòi yêu nước, có thực là một “thiên tài quân sự” hay chỉ là huyền thoại; có là anh hùng dân tộc hay là một tội đồ dân tộc; có công hay có tội với nhân dân, dân tộc và đất nước, hiện tại vẫn còn nhiều tranh cãi, bất đồng là hệ quả tất nhiên của cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc - Cộng tại Việt Nam kéo dài nhiều thập niên qua vẫn chưa chấm dứt. Vì vậy, để có sự đánh giá tương đối chính xác, toàn diện, công bằng về cá nhân Tướng Võ Nguyên Giáp, có lẽ người ta cần chờ đợi thêm thời gian cho lịch sử sang trang, để các nhà viết chính sử Việt Nam có đủ yếu tố khách quan làm công việc chuyên môn của mình.

Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 

Thiện Ý

Thiện Ý nguyên luật sư tại Sài Gòn trước 1975, hiện là Chủ tịch Câu Lạc bộ Luật khoa Việt Nam ở Houston.

TẠI SAO BÁO CHÍ “LỀ PHẢI” “LỀ TRÁI” ĐỀU ĐỒNG LÒNG TÔN VINH THÁNH GIÁP ?

TẠI SAO BÁO CHÍ “LỀ PHẢI” “LỀ TRÁI”
ĐỀU ĐỒNG LÒNG TÔN VINH THÁNH GIÁP ?
Ngô Minh
Từ khi trên Internet ở Việt Nam xuất hiện các blog trang wb. cá nhân, lập tức có khái niệm “lề trái”, “lề phải” trong khi đánh giá các tác giả và các bài viết về các vấn đề chính trị, xã hội khác nhau. Chữ “lề” ở đây là do một quan chức chính phủ đưa ra để chỉ đúng sai. “Lề phải” là báo chí nhà nước toàn trị, là “lề” chính . “Lề trái” là báo chí mạng xã hội tự do, là “lề không chính danh”. Các cơ quan nhà nước đều gọi các trang mạng xã hội ( tức “lề trái”) là “âm mưu của các thế lực thù địch”. Kể cả khi các trang mạng xã hội viết về các vấn đề cốt lõi như “góp ý hiến Pháp”, chuyện “xã hội dân sự”; hay chuyện sinh tử của đất nước như nhân dân biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn bờ cõi, biển đảo Việt Nam, ngày giỗ các liệt sĩ Gạc Ma, kỷ niệm ngày quân Trung Quốc tấn công biến giới phía Bắc ( 17/2/1979), hay chuyện mời Trung Quốc khai thác Boxite Tây Nguyên, kể cả chuyện chống tham nhũng, tiêu cực ở Vinashine, Vinaline.v.v.. đều bị liệt vào “luận điệu của các thế lực thù địch”. Nghĩa là những chuyện tày trời liên quan đến vận mạng đất nước như thế không có trong tư duy của báo chí “lề phải”.
Còn báo chí “lề trái” thì cho rằng họ mới là tiếng nói của 90 triệu nhân dân Việt Nam, tiếng nói của người bị áp bức. Còn “báo lề phải” là bồi bút, viết vì cấp trên, viết để kiếm tiền ( viết để “giữ sổ lương”), là loại báo chống lại những tiếng nói dân chủ trong nhân dân, hùa với các thế lực cường quyền tham nhũng cướp đất của dân, bắt bớ người đấu tranh cho dân chủ.v.v.. Những điều đó ai cũng thấy. Và các cơ quan chức năng của nhà nước sẵn sàng làm tất cả mọi việc để bắt các Blogers, bắt các chủ trang mạng “nóng” như Cù Huy Hà Vũ, Trương Duy Nhất, Phạm Bá Dào, Điếu Cày…vào tù. Sự “ra tay” của chế độ là rất quyết liệt, làm cho rất nhiều chủ trang mạng phải chùn bước…Nhưng “lề trái “ vẫn ngày càng phát triển với những trang mạng lớn, thu hút đa phần bạn đọc trong nước, không chặn được như các trang Basam, Boxite, quechoa…
Nhưng kể từ ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp rời cõi tạm ( từ chiều ngày 4-1-2013) đến ngày an táng Người ở Vũng Chùa ( 13/10/20130) và sau đó nữa, tôi nhận ra các trang mạng “Lề trái” và báo chí “lề phải” đều đồng tình, cùng giọng điệu trong ca ngợi, tôn vinh Đại tướng vĩ đại, anh hùng dân tộc. Các từ ngữ dùng trong các bài viết của cả “hai lề” về Đại tướng đều ấm áp, xúc động rất giống nhau, như : Võ Nguyên Giáp, anh hùng của nhân dân, Đức Thánh Võ, Võ Nguyên Giáp- Anh hùng dân tộc, hàng triệu người dân khóc Đại tướng, Đại tướng của lòng dân, Đại tướng huyền thoại, Đưa Đại tướng về giữa lòng dân.v.v.. hay mô tả quang cảnh đoàn người trật tự xếp hàng trên các phố, nối nhau vào viếng Đại tướng ở 30-Hoàng Diệu Hà Nội; hình ảnh các cựu chiên binh từ Mường Phăng, Thanh Hóa vượt trăm ngàn cây số về Hà Nội khóc Đại tướng.v.v… báo chí cả “hai lề” đều rất tận tâm và nhanh nhạy hướng về bạn đọc là nhân dân .
Sự “cùng giọng” của “lề trái”, “lề phải” khi nói về sự vĩ đại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói lên điều gì ?. Đây là điều cực kỳ hi hữu. Sẽ không có sự “tương khí tương đồng” lần thứ hai nếu không có sự lay động của một gấm gương lớn như Võ Nguyên Giáp, hay một sự thay đổi tích cực làm cho xã hội Việt Nam dân chủ, tự do giống như các nước trên thế giới xảy ra.
Võ Nguyên Giáp là anh hùng dân tộc, đã được tôn Thánh trong nhân dân, nên dù “lề trái”, “lề phải” cũng không thể phủ nhận sự thật đó. Cái gì thuộc về nhân dân đều đúng, đều vĩ đại. Võ Nguyên Giáp là nhân dân Việt Nam , là Non Nước Việt Nam. Ngay cả kẻ thù của ông trong chiến tranh, kẻ thù của ông trong hòa bình- lũ người bao nhiêu lần tìm cách để hãm hại ông, họ còn sống cả đấy, cũng không thể cất lên tiếng nói lạc lõng, trái với ý nguyện của 90 triệu nhân dân Việt Nam trong giờ khắc linh thiêng này được.
Võ Nguyên Giáp là biểu tượng cao cả và đẹp đẽ nhất của lòng yêu nước và ý chí Dân tộc Việt Nam trong suốt cuộc đời hy sinh chiến đấu của Ngài, nên sự ra đi của Đại tướng làm chấn động tâm can của mỗi con dân Việt Nam, làm mọi người đều rơi nước mắt. Cho nên tất cả các cây bút đều gặp nhau ở tấm lòng ngưỡng mộ, với niềm tin tương lại đất nước sẽ thoát ra khỏi đói nghèo, hà khắc, thông qua hình tượng Võ Nguyên Giáp.
Võ Nguyên Giáp là lương tâm thời đại. Nhân dân đã tôn vinh bằng thi ca: “Văn lo vận nước Văn thành Võ/ Võ thấu lòng dân võ hóa Văn”;” Chấn động địa cầu vinh quốc sử / Bão hòa thiên khí hiển danh nhân”; “ Võ công truyền quốc sử/ Văn đức quán nhân tâm”…Sở dĩ Đại tướng nhận được tình yêu của muôn triệu nhân dân như thế là vì kiến văn, đức độ, tư duy, hành động của Đại tướng lúc nào cũng vì nhân dân, lo cho dân. Vì nhân dân đến mức như giáo sư Nguyễn Đình Chú đã viết trong sổ tang: “ … Trong những công lao vĩ đại của Đại Tướng với Đất nước, còn có công lao này: Ông là người đứng ngoài mọi sai lầm của lịch sử”. Đó là những biến cố lịch sử của đất nước, như Cải cách ruộng đất; Nhân văn giai phẩm; Chiến dịch Mậu thân 1968; Thành cổ Quảng Trị 1972, Cải tạo tư sản ở miền Nam, sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội, phá nhà Quốc Hội, khai thác Bôxite ở Tây Nguyên vv…, những sự kiện mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp không đồng tình, không được trực tiếp tham gia, hoặc bị vô hiệu hoá,… ( theo Hoàng Minh Tường).
Nhũng cái đó các cây bút “lề trái”,”lề phải” có lương tâm đều cảm như nhau. Lòng yêu nước, thương dân, lòng tự tôn dân tộc và độc lập chủ quyền quốc gia như tư tưởng Tướng Giáp chính là tiêu chí để người viết để gần lại với nhau hơn. Chỉ những kẻ chống lại nhân dân, mặc kẻ thù xâm lấn bờ cõi, dâng đất đai cho ngoại bang và tham nhũng, mới trái với kiến văn và tư duy Võ Nguyên Giáp, nên không thể đồng cảm với các nhà báo chân chính.
Báo chí “lề trái”, “lề phải” Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu trong việc tôn vinh Tướng Giáp trong những ngày Lễ tang cũng vì một điều nhắn gửi tâm huyết: Làm sao để có được một người chính trực, biết thương dân, yêu dân , vì dân như Võ Nguyên Giáp, lãnh đạo đất nước cho dân đỡ khổ, cho đất nước tự do, thịnh vượng hơn.
Tất nhiên, trong hàng vạn bài viết về Người Anh hùng Dân tộc Võ Nguyên Giáp thời gian tang lễ vừa qua, “lề trái” vẫn hay hơn, xúc động hơn, vì họ nêu lên được những chuyện cũ rất buồn lòng mà thể chế đã không tốt với đại tướng làm cho mỗi người dân càng hiểu, càng yêu, càng thương nhớ Đại tướng hơn, Bao chí lề phải không được như vậy vì vẫn chịu sức ép của “cái vòng kim cô” nghiệt ngã. Nhưng dù sao, đã một lần báo chí hai lề đã cùng cất lên tiếng nói chung rất có ích cho Nhân Dân và Đất Nước. Mong đất nước đổi mới để báo chí lề nào cũng cùng một giọng.

Fin de siècle

Blog Xin lỗi Ông…
15-10-2013
 Jonathan London
Trong đầu tháng 10 năm 2013 toàn dân Việt Nam đã có một cơ hội để cùng một lúc suy ngẫm về vai trò quyết định của một nhân vật có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử hiện đại của đất nước. Và trong hai tuần còn lại, toàn dân sẽ có một cơ hội nữa để cùng một lúc suy ngẫm về định hướng tương lai đất nước.
Dù nghĩ gì về Đại tướng Giáp, thì tôi cũng nhìn thấy nhiều tác động khá tích cực sau sự khuất núi của ông. Chính sự ra đi của Ông đã khuyến khích một cuộc thảo luận khá công khai trong xã hội. Dư luận bàn không chỉ là về ý nghĩa và vai trò lịch sử của Ông mà còn là những câu hỏi sâu nữa …

Cơ bản nhất là sự nhận xét của nhiều người là sự ra đi của Tướng Giáp là sự kết thúc của một thời đại và, vì thế cũng là sự mở đầu của một thời đại mới; cái mà người Pháp quen gọi là ‘Fin de siècle.
Câu hỏi đạt ra là sẽ là một Fin de siècle như thế nào?! Hoặc Việt Nam sẽ bước vào một thời đại mới một cách ngày càng cởi mở và tự tin; hoặc Việt Nam sẽ vấp phải vào thời đại mới một cách vụng về. Không ai biết trước được câu trả lời. Tuy nhiên, sau cùng, sẽ phụ thuộc vào khả năng của cả người dân lẫn chính quyền để nắm bắt và xử lý những hạn chế trong nền chính trị của đất nước hiện nay.
Vấn đề là làm sao bước vào tương lai chung đó khi nền văn hóa chính trị của Việt Nam (kể cả nhiều người đang sống ở ngoài nước) vẫn tiến triển quá chậm vì những hạn chế về mặt thể chế và những “bệnh lý dư luận”.
Trong tuần vừa rồi, ta có nghe thấy quá ít phát biểu hay và chân thật. Thay vì nói một cách thẳng thắn về những đóng góp của Đại tướng trong cả cuộc đời của Ông, chúng ta đã nghe quá nhiều phát biểu bảo thủ, nhàm chán, với nội dung nghèo nàn, mang tính tuyên giáo và tôn giáo.
1
Đối với một “sinh viên” ngành lịch sử xã hội và chính trị, những lễ nghi chính trị xoay quanh Quốc Tang của Đại tướng Giáp là hết sức lôi cuốn. Nhưng, sau khi tôi quan sát những lễ nghi này tôi tự suy nghĩ bao giờ Việt Nam sẽ chuyển từ “những tôn giáo chính trị” của hôm nay?
Và dù đã có nhiều thảo luận sâu sắc trên mạng, cũng đã có quá nhiều trận “ném đá” giữa những “tù nhân của lịch sử”, những người đặt niềm tin trên lý trí.
Nhưng, trước khi buồn các bạn cũng cần phải đồng ý với tôi rằng dư luận mạng đã có rất nhiều bài hay và sâu sắc từ mọi phía. Những bài đó là một hiên tượng tích cực, hàm ý nhiều người Việt cả trong lẫn ngoài bộ máy càng nhìn rõ hơn những hạn chế của thể chế, những bệnh lý mà Việt Nam phải khắc phục nếu muốn có một nền chính trị hiệu quả hơn.
Rõ rằng những người khẳng định mọi thứ ở Việt Nam đều tốt đẹp và đúng đắn ắt có một tầm nhìn hạn chế, chính họ phải suy nghĩ lại về những giả định của mình, cũng như những người chỉ muốn nói xấu đến chính quyền một cách bừa bãi.
Nếu nói về giới lãnh đạo thì sự khằng định cho rằng Việt Nam đã đến một Fin de siècle là đúng. Nhưng việc đó sẽ chẳng có ý nghĩ gì thực tiễn cả nếu không có những thay đổi cơ bản từ trong những thể chế xã hội chính trị của đất nước.
Nói tháng 10 này là một tháng có ý nghĩa lớn là đúng. Đầu tháng đã có một cơ hội hiếm có để suy ngẫm về quá khứ. Và cuối tháng sẽ có những quyết định to lớn ở Quốc hội. Ở Việt Nam,  hai vấn đề lấn nhất là mất tự do và mất đất. Riêng tôi hy vọng cuối tháng 10 này Việt Nam sẽ không mất một cơ hội nữa để có một Hiến Pháp mà toàn dân Việt Nam đều có thể ủng hộ được và trong đó đồng thời đề cập đến vấn đề đất. Kể cả tôi, là một người không hâm mộ tư bản nhận rõ những quyền sở hữu phải rõ ràng nếu muốn Việt Nam phát triển một cách bền vững, minh bạch, và văn minh.
Chúng ta (là người Việt và là những bạn của đất nước) phải chấp nhận, muốn bước vào một thời đại mới, một thời đại được kỳ vọng hơn phải xóa bỏ những hạn chế về cả thẻ chế lẫn bệnh lý. Muốn nó, nhiều dân Việt Nam cả ở trong lẫn ngoài bộ máy, phải nỗ lực hơn nữa để tiến lên một nền văn hóa chínhh trị thực sự cởi mở, tự do.
Sáng nay tôi đã thảo luận với một người bạn lâu năm về những vấn đề của đất nước. Chị ấy có nhận xét rằng nhiều người ngoài bộ máy đang đòi cải cách không có đủ kinh nghiệm và vị trí để làm, trong khi đó những người trong bộ máy vẫn hạn chế hay sợ để làm những gì cần làm. Tinh trạng này thật khó xử.
Thế thì làm gì? Cách tốt nhất để ban vinh dự cho những người đã hy sinh cho nền độc lập của Việt Nam là chấm dứt những hanh vì bảo thủ và đi thẳng vào giải quyết những vấn đề của đất nước. Rõ ràng, nói dễ hơn là làm.
JL
Vỉa hè Trần Hưng Đạo, Hà Nội

Tôi muốn hỏi Hoàng Quang Thuận

Huỳnh Văn Úc
.
Vào những phút đầu tiên trong chương trình truyền hình trực tiếp Lễ An táng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Vũng Chùa-Quảng Bình ông Hoàng Quang Thuận đã đọc bài thơ của mình viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước ống kính của VTV1. Bài thơ có tên là Nhớ mãi chiều xuân, bạn đọc có thể dễ dàng tìm thấy trên trang mạng của các vị lãnh đạo Nhà nước như nguyenthiennhan.net, nguyentandung.org, truongtansang.net. Về nội dung và ý tứ của bài thơ đã có sự đánh giá của các nhà văn và nhà thơ có tên tuổi, tôi không dám lạm bàn. Điều làm tôi khó hiểu và bật lên những câu hỏi muốn được ông Hoàng Quang Thuận đích thân trả lời là những dòng chú thích ghi phía dưới bài thơ: 30 Hoàng Diệu, Chiều xuân 1984, ký tắt H.Q.T. Ông Hoàng Quang Thuận sinh năm 1953, vào năm 1984 ông 31 tuổi. Năm 1976 ông Thuận tốt nghiệp Khoa Lý Trường Đại học Sư phạm Vinh và được phân công công tác về Quảng Nam-Đà Nẵng. Ông không chấp hành quyết định lên Huyện Giằng ở miền tây Quảng Nam mà ở lại Đà Nẵng dạy bổ túc văn hóa trong 7 năm. Như vậy là cho đến năm 1983 ông Thuận vẫn là một giáo viên dạy bổ túc văn hóa vô danh ở Đà Nẵng, vậy cơ may nào đã đưa ông Hoàng Quang Thuận vào một buổi chiều mùa xuân năm 1984 đến 30 Hoàng Diệu nhà riêng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để gặp Người và viết tặng Người bài thơ Nhớ mãi chiều xuân? Dịp may duy nhất mà ông Hoàng Quang Thuận được trông thấy Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vào năm 1985 lúc Người vào thành phố Đà Nẵng, đến thăm Công ty Liên hiệp xuất khẩu tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng (COTIMEX) và dự Lễ khánh thành Nhà hát Trưng Vương. Nhiếp ảnh gia Công Điền (TTXVN) đã chụp một số bức ảnh Đại tướng đứng với cán bộ và nhân dân. Hoàng Quang Thuận đã nhờ Công Điền chụp bức ảnh ông ta đứng cạnh Người và sau đó đem treo bức ảnh chính giữa ngôi nhà và sử dụng nó như một bảo bối trong con đường tiến thân. Trên trang nguyentandung.org có đăng bức ảnh Hoàng Quang Thuận chụp chung với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi có thể khẳng định ngay rằng bức ảnh này không được chụp vào một buổi chiều mùa xuân năm 1984 ở 30 Hoàng Diệu mà là ảnh ghép. Năm 1984 Đại tướng mới 73 tuổi chưa thể nào có những nét đặc trưng của lứa tuổi ngoài 90 như trong bức ảnh.
Những câu hỏi tôi nêu ở trên không phải là khó trả lời đối với một con người trung thực. Nếu ông Hoàng Quang Thuận là một con người trung thực, mong ông sớm trả lời những câu hỏi của tôi để tôi và các công dân mạng khác được biết sự thật.
 HVU
 .
Tác giả gửi cho NTT blog

Thi Phật xuất thần trước lễ an táng Đại tướng


555924_520148164738571_1700997379_n
Phật thi xuất thần trước mộ Đại tướng. Nguồn VTV
Chu Mộng Long – Xuất hiện trên hàng nguyên thủ trong lễ an táng Võ Đại tướng, Thi Phật Hoàng Quang Thuận tay ấp ngực, miệng rưng rưng xuất thần đọc thơ làm dậy sóng hàng triệu trái tim người tham dự và quan sát lễ tang qua màn hình.
Thật hay mơ – điệp khúc của bài thơ tuôn ra thật âm vang, kéo dài ngoằng ngoẵng lấn át cả tiếng chuông chùa, thân xác Thi Phật đang hiện hữu thật đấy mà hồn như mơ màng tiêu diêu nơi miền cực lạc.
Bài thơ này đảm bảo không đạo văn, rất Hoàng Quang Thuận, 100%, thiền hơn mọi bài thơ thiền. Tứ thơ biến hóa diệu kì, úm ba la, thật thành mơ, chiều đông tang lễ hóa thành chiều xuân chim hót véo von, đau thương hóa thành hạnh phúc… Thi Phật của chúng ta đã đứng lên trên mọi lẽ thường tình mà hát ca, quên thực tại để theo mây về quá vãng. Khóc lóc không phải là đạo cốt của thiền, chuyện sống chết với Thi Phật nhẹ tựa mây bay – Thân như điện ảnh hữu hoàn vô!
So với Thi vân Yên Tử, bài thơ mang một phong vị mới lạ, xưa nay chưa từng thấy ở cõi trần.
Nhiều nhà thơ đã chưa bỏ được thói quen phàm tục, tỏ ra đố kị với Phật tài của ông mà không biết xấu hổ!
Với bài thơ tuyệt tác này của thời đại Hữu Thỉnh, quả không tiếc 1000 USD cho tấm bằng Tiến sĩ danh dự của Đại học Kỉ lục thế giới (World Records University)  mới vừa phong tặng cho Thi Phật kính yêu của chúng ta.
Xin chúc mừng ông. Bài thơ không chui lọt vào giải Nobel thì cũng chắc chắn hiên ngang đi vào lịch sử để được lưu danh muôn thuở. Và cũng khá khen cho VTV, thật có duyên khi khéo léo chèn được tiết mục văn nghệ để thay đổi không khí trong giờ phút tang lễ thiêng liêng!
Trân trọng chép lại nguyên văn bài thơ để giới thiệu cùng bạn đọc:
Nhớ mãi chiều xuân
                                    Sáng tác và biểu diễn: Hoàng Quang Thuận
Có phải người thật đó bác Văn
Thật hay mơ
Con người huyền thoại
Thật hay mơ
Chiều xuân nay nhớ mãi
Giọng Quảng Bình
Bác nói ấm không gian
Ngoài hiên xuân
Dưới ánh nắng vàng
Đôi chim nhỏ chuyền cành
Ca hát mãi
Quảng Bình ơi
Một người con huyền thoại
Đã đi vào lịch sử hành tinh
Quảng Bình ơi
Mảnh đất anh linh
Kiến Giang ơi
Dòng sông xanh mát
Hãy lắng nghe lòng ta ca hát
Một chiều xuân gặp Bác
Sao nghe lòng
Thổn thức rưng rưng
Thật hay mơ
Ta gặp vị anh hùng
Tóc bạc trắng
Một thời binh lửa
Thật hay mơ
Lòng ta không biết nữa
Ánh nhân từ
Mắt Bác phủ mênh mông
Bác Văn ơi
Con nhớ mãi chiều xuân.
hoangquangthuanviengvonguyengiap2-e1381718715115
Thi Phật sánh vai trên hàng nguyên thủ. Nguồn VTV
20130922 TVYT2
23.9.13_le2-450
Thi Phật nhận bằng Tiến sĩ danh dự trị giá ngàn đô. Nguồn: CAND

Đừng lo, tôi khóa cửa xe rồi

-Chuyện mất mát niềm tin dường như không có giới hạn hay khuôn khổ... Và đó mới là điều đáng báo động.Báo cáo nhỏ, vấn đề không nhỏ
Đã có những con số rất to, trong một báo cáo rất nhỏ, mang một cái tên rất to, để chỉ về một vấn đề không nhỏ.
Đó là những cảm nhận của người dân, khi nghe Báo cáo Chỉ số công lý 2012, được công bố đầu tháng 10 vừa qua.
Nhiều người có chung tâm trạng mô tả bằng hai chữ "choáng váng" với những con số to gây sốc, phản ánh trung thực sự hiểu biết, và niềm tin của người dân vào hiệu quả thực thi công lý: "42,4% số người dân được hỏi không biết hoặc chưa bao giờ nghe nói đến Hiến pháp".
Báo cáo cho hay, trong số những người nói rằng biết, lại có tới 23% không hề biết đến việc sửa đổi Hiến pháp 1992 đang diễn ra. Không ít những người khác thì chỉ "biết" đến Hiến pháp qua những "khẩu lệnh liên quan đến Hiến pháp" vẫn nhan nhản trên mọi con đường góc phố, kiểu "Sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật".
Công lý, niềm tin, ổn định xã hội, chính quyền, chuyện tiếu lâm, xe hơi, tham nhũng
Ảnh minh họa
Ừ thì "Ý kiến của hơn 5.000 người dân có thể chưa phản ánh một bức tranh toàn diện", như lời Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH Nguyễn Công Hồng. Nhưng chính ông Hồng cũng xác nhận "đây là cơ sở khoa học có độ tin cậy cao". Cao còn là bởi Chỉ số công lý được xây dựng trên cơ sở đánh giá của chính những người dân "bằng chính trải nghiệm" thường ngày.
Nhưng nói có tới 42,4% + 23% số người dân được hỏi hoặc chưa từng nghe nói đến Hiến pháp hoặc không hề biết Hiến pháp đang được đưa ra lấy ý kiến nhân dân, thì quả thực, điều đó lại đang đặt ra một câu hỏi không nhỏ: Thế thì họ sẽ góp ý cho Hiến pháp như thế nào, khi thậm chí chưa bao giờ nghe nói đến Hiến pháp.
Báo cáo trên cũng cho biết: Có tới 20% tất cả các khiếu kiện của công dân về chính sách xã hội và môi trường không nhận được ý kiến phản hồi của các cơ quan hữu quan của Nhà nước; 50% các tranh chấp đất đai và khiếu kiện về môi trường vẫn chờ đợi Nhà nước xử lý và các cơ quan nhà nước thường cần nhiều thời gian hơn luật định để xử lý các khiếu kiện hành chính.
Rằng: Trong thực tế, thời gian trung bình để xử lý một khiếu kiện hành chính kéo dài từ 17 đến 27 tháng. Rằng: 50% cho biết tranh chấp đất đai là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và tiếp tục là vấn đề "gây bất ổn" ở địa phương. Rằng: Có tới 38% các cuộc tranh chấp đất đai liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đền bù và tái định cư.
Và vấn đề niềm tin được đề cập một cách giản dị như sau: "Những người dân được điều tra còn cho biết, các quy định hiện hành về quyền sử dụng đất và các kế hoạch sử dụng đất không minh bạch ở địa phương làm cho người dân mất lòng tin vào sự an toàn của hạn điền và khiến họ không muốn đầu tư lâu dài vào đất đai".
Niềm tin và sự kỳ vọng
Vấn đề không nhỏ không chỉ là sự thiếu hiểu biết của người dân vào một luật gốc đang được tuyên truyền với 30 ngàn cuộc hội thảo, hội nghị lấy ý kiến, với con số 26 triệu ý kiến góp ý Hiến pháp, với báo cáo thành tích: "Nhìn chung các địa phương đã tổ chức in ấn dự thảo phát đến từng hộ gia đình", v.v...
Vấn đề không nhỏ, không chỉ là mức độ kém hiệu quả trong việc thực thi pháp luật. Lại càng không chỉ là những bức bách, mâu thuẫn trong vấn đề khiếu tố đất đai.
Cái đáng giật mình nhất phải là vấn đề lung lay niềm tin, là sự kỳ vọng.
Mặc dù, theo kết quả khảo sát, câu chuyện lòng tin mới đề cập ở những lĩnh vực nhỏ, đó là "sự an toàn của hạn điền" và "khả năng đầu tư lâu dài vào đất đai" nhưng nó cũng đang cấp bách đặt ra vấn đề giải quyết những mâu thuẫn xã hội, bằng luật, và bằng cơ chế. Để nói như thành viên Ban Tư vấn của chỉ số công lý PGS-TS Phạm Duy Nghĩa pháp luật được thực thi ở trong đời sống, để công lý được hiện thân.
Trong cuốn "Chiếc lexus và cây ôliu", Friedman đã kể lại hai câu chuyện nhỏ ở Indonesia, ở Nga như sau:
Một phóng viên thường trú tại Jakarta thường phải làm mới giấy căn cước. Và ở Indonesia "Các quan chức hoàn toàn có thể gửi anh một phiếu yêu cầu thanh toán cho số tiền đút lót của anh". Friedman dẫn lại câu nói của người Indonesia rằng: Nếu hàng xóm nhà anh ăn cắp dê, dù thế nào cũng đừng có kiện anh ta ra toà, bởi vì để được việc, theo thời gian anh phải trả tiền cho cảnh sát và thẩm phán, anh sẽ mất luôn cả con bò của mình".
Còn câu chuyện Nga, kể lại một người đàn lái xe từ nông thôn ra Moscow và đỗ chiếc xe ngay tại Quảng trường Đỏ. Một cảnh sát đi đến và nói với anh ta: "Này, anh không đậu xe ở đây được đâu. Đây là cổng đi của các quan chức". Người nông dân đáp: "Đừng lo, Tôi khoá cửa xe rồi!"
Một câu nói kiểu dân gian thời @ ở Indonesia và một chuyện tiếu lâm đương đại về phản xạ tự nhiên ở Nga. Cũng đại loại như thơ tiếu lâm thế sự "trong những cái cặp rất to có những dự án rất nhỏ" kiểu Việt Nam. Nhưng đằng sau câu chuyện nhỏ đó là vấn đề còn lớn hơn cả sự trầm trọng và thô thiển của tham nhũng - là thứ mà Friedman gọi là "Bất ổn xã hội".
Những bất ổn xã hội bắt đầu bằng dấu hiệu niềm tin lung lay.
Chuyện mất mát niềm tin dường như không có giới hạn hay khuôn khổ... Và đó mới là điều đáng báo động.
Xem bài cùng tác giả
Quan chức phải "thắt cà vạt" nói về mại dâm
Người dân muốn các quan chức điều hành bằng cách phát ngôn kiểu "thắt cà-vạt", tròn vo về thực trạng xã hội, hay muốn họ nhìn nhận chân xác thực tế để có một cách quản lý phù hợp?
Lãnh đạo ngành y rào đón chuyện nhạy cảm
Mỗi một sự sai sót trong nghề y có giá bằng tính mạng… những người khác. Và, ngẫu nhiên, hàng loạt sai sót đã xảy ra thời gian qua, mà thời sự nhất là về những cái chết của ba đứa bé, sau khi tiêm vaccine.

Trung Cộng và Đài Loan: cá mè một lứa.

( Mượn đề tài để điểm sơ qua một số tội ác Cộng Sản )

Ngày 9 tháng 10 năm 2013, một nghị sĩ của đảo quốc Đài Loan tuyên bố là Đài Loan sẽ tiến hành thăm dò dầu khí tại đảo Ba Bình mà Đài Loan đặt tên là đảo Thái Bình. Tên nghị sĩ này cũng đã cho biết là vào ngày 7 tháng 10 năm 2013, một đội kỹ thuật viên dầu khí của Đài Loan đã đến đảo Ba Bình để xúc tiến việc thăm dò về địa chất để trong tương lai sẽ thăm dò và khai thác dầu khí tại vùng quần đảo Trường Sa. Tưởng cũng nên nhắc lại đảo Ba Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa mà Đài Loan đã ăn cướp từ năm 1956, nhân lúc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa còn là một chính phủ non trẻ. Hành động này của Đài Loan lại một lần nữa gây thêm sự xáo trộn và căng thẳng trên biển Đông.



Trước đây, vào thời điểm thập niên 1960 của thế kỷ trước, chính Đài Loan đã đầu tiên vẽ nên đường lưỡi bò hình chữ U, thế nhưng Đài Loan không đủ khả năng quân sự để thực hiện giấc mộng của chúng. Vào thời điểm đó, Trung Cộng còn trong giai đoạn bao cấp, vẫn còn là một nước Cộng Sản nghèo nàn và lạc hậu. Bên cạnh đó, tình hình chính trị và văn hóa ngay tại trong nước Trung Cộng vẫn còn nhiều bất ổn. Chúng ta cũng không quên rằng cuộc “cách mạng đại nhảy vọt” của Mao Trạch Đông tiến hành đã thất bại thảm hại. Tiếp theo là cuộc cách mạng văn hóa dẫn đến việc biết bao nhiêu ngưởi dân bị chết một cách oan khúc và tức tưởi. Có thể nói không ngoa  Liên Xô lúc bấy giờ khét tiếng là một nước Cộng Sản tàn bạo với tên tổng bí thư Nikita Krushchev. Sự tàn bạo của Krushchev so với Stalin là bên tám lạng người nửa cân. Thế nhưng Mao Trạch Đông so với hai người này còn tàn bạo hơn nhiều. Số nạn nhân bị chết về tay tên Cộng Sản Trung Cộng Mao Trạch Đông này lên đến mấy chục triệu người, nhiều gấp đôi số lượng nạn nhân của Stalin và Krushchev. Sau khi Mao Trạch Đông chết đi, sự tranh giành quyền lực dẫn đến vụ án “tứ nhân bang”. Đến lúc Đặng Tiểu Bình lên ngôi vị tổng bí thư, tay này vừa là một tên tàn bạo nhưng cũng là một tay có đầu óc tiến bộ. Sau khi Liên Xô và các nước Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, Đặng Tiểu Bình suy nghĩ là nếu cứ giữ mãi cung cách Cộng Sản cũ là sẽ bị thất bại. Chính y chủ trương cải cách, xây dựng mô hình “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” mà Cộng Sản Việt Nam cũng bắc chước rập khuôn theo. Chính nhờ mô hình kinh tế này mà đất nước Trung Cộng phát triển và giàu mạnh lên, Cũng vì sự giàu mạnh này mà Trung Cộng lại có hành động tham lam, học theo Đài Loan vẽ nên đường lưỡi bò chín đoạn, tạo nên tình hình tranh chấp căng thẳng tại biển Đông.

Cho nên, nhìn chung, ta có thể nói rằng cả Trung Cộng lẫn Đài Loan đều có lòng tham không đáy, đều là cá mè một lứa trong vấn  đề tranh chấp tại biển Đông trong thời điểm hiện nay.
Phi Vũ

Những cái “quẫy đuôi”.



Theo tin từ RFA, ngày 8/10 năm nhân viên công lực tại tỉnh Hòa Bình bị người dân bắt trói. Việc người dân dùng bạo lực đối đầu vớinhà cầm quyền và với nhau đã trở nên phổ biến tại Việt Nam. Hết trích từ RFA.

Chúng ta có thể xem đây như là việc làm của người dân Việt Nam khi bị đẩy đến “bước đường cùng”. Ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, hẳn mọi người đều có xem những tác phẩm “tả chân” của các nhà văn tả chân nổi tiếng thời tiền chiến như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan...Tôi dùng từ “tác phẩm tả chân” là từ mà những cuốn sách giáo khoa ở miền Nam trước năm 1975 khi đề cập đến các tác phẩm như Tắt đèn hoặc Bước đường cùng..khi những tác phẩm này đầ cập đến những vấn đề thực tế đang xảy ra tại nông thôn hay tại thành thị Việt Nam dưới thời thực dân Pháp..Tôi không muốn sử dụng chữ “tác phẩm hiện thực phê phán” là một từ như là một “sáo ngữ” sặc mùi Cộng Sản khi đề cập đến những tác phẩm này. Vậy thì xã hội Việt Nam dưới thời thực dân Pháp và xã hội Việt Nam dưới thời Cộng Sản Việt Nam có khác biệt nhau nhiều lắm không?



Nếu những tác phẩm như Tắt đèn hoặc Bước đường cùng...được thay từ thời điểm thực dân Pháp bằng thời điểm Cộng Sản hiện tại, chúng ta dễ dàng nhận thấy một điều là cả hai xã hội tuy dưới hai thời điểm cách xa nhau cả trăm năm, thế nhưng không có sự khác biệt nhau là bao nhiêu. Nếu ngày xưa người nông dân bị bóc lột một cách thậm tệ bởi bàn tay của thực dân phong kiến thì ngày nay, người nông dân còn bị bóc lột một cách mạnh tay hơn, khủng khiếp hơn và tàn bạo hơn bởi những tên “cường hào địa chủ” mới. Chúng đã nhân danh  “đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân” để mà mặc nhiên ăn cướp, đánh giựt, nhũng nhiễu người nông dân. Thời thực dân Pháp cũng chưa có tinh trạng người nông dân phải bị ăn cướp đất đai một cách công khai như tại Văn Giang, như tại Trịnh Nguyễn, như tại Cồn Dầu...và nhiều nhiều nơi khác nữa trên toàn cõi đất nước Việt Nam. Rõ ràng một điều là người nông dân Việt Nam sống dưới thời thực dân Pháp vẫn còn ‘dễ thở” hơn là dưới thời Cộng Sản. Người nông dân dưới thời thực dân phong kiến chỉ bị “bóc lột” nhưng người nông dân sống dưới thời Cộng Sản không những bị “bóc lột” mà còn bị “ăn cướp” nữa, ăn cướp một cách trắng trợn và công khai được hỗ trợ bởi một lũ công an côn đồ tàn ác bất nhân. Đây là điểm khác biệt giữa thời thực dân Pháp và thời Cộng Sản.

Con giun xéo lắm cũng phải oằn, lời của cha ông ta từ xưa vẫn muôn đời đúng và chính xác. Nếu tiếng súng của Đặng Văn Viết bắn vào đầu của 5 tên cán bộ đất đai của tỉnh Thái Bình và người dân tỉnh Hoà Bình trói trong mấy giờ liền 5 tên công an chỉ là những cái “quẫy đuôi” bước đầu của người dân Việt trước sự ăn cướp, khủng bố và đàn áp thì trong tương lai sẽ là những cái “quẫy đuôi” mạnh hơn và số lượng người cùng tham gia sẽ nhiều hơn nữa. Đây sẽ là những cái “quẫy đuôi” đập tan một bè lũ tham tàn, thối nát, ăn cướp và không còn tính người.

Phi Vũ

Nhân nghĩa đạo đức nay còn đâu !!! dưới ch ế độ Cộng Sản thì làm sao có tình ngư ời được ! ngày xưa chúng còn bắt dân Đ ấu Tố cha mẹ mà !


Trần Việt Trình (Danlambao) – Cách đây chỉ mới mấy hôm, việc một ông cụ già ngay sau khi vừa xuất viện bị các con “vứt” ra ngoài vỉa hè nằm phơi nắng, phơi mưa gần 1 ngày trời đang còn gây xôn xao và khiến cho dư luận hết sức phẫn nộ.
Sự việc xảy ra vào trưa ngày 7 tháng 9 vừa qua, cụ ông tên Ngô Vỹ Nhân (87 tuổi) sau khi bệnh viện cho về sau 2 tháng điều trị đã bị các con đưa tới trải chiếu đặt nằm trên vỉa hè trước cửa ngôi nhà số 11, phố Núi Trúc, Hà Nội.
Ngôi nhà nói trên là của người con trai cả của ông đã qua đời cách đây 2 năm. Hiện tại, người con dâu cả, cháu nội gái và người vợ đã ly thân của ông đang sống trong căn nhà này. Tầng trệt của ngôi nhà được cho thuê làm tiệm bán quần áo.
Ông chủ quán nước đối diện với ngôi nhà kể lại sự việc như sau: “Khoảng 11 giờ trưa tôi thấy chiếc taxi chở ông cụ Nhân về đây. Con gái, con dâu, con rể cụ vừa đưa bố xuống xe đã trải chiếu ngay trên vỉa hè để bố nằm. Rồi thì lỉnh kỉnh quần áo, đồ đạc đi viện cũng bị vứt xung quanh ông cụ”.
Ông chủ quán nước thở dài: “Nhìn ông cụ chỉ còn da bọc xương, gắng gượng hút bát phở mà lòng đắng ngắt. Chúng tôi chỉ là hàng xóm sống xung quanh mà còn không cầm được nước mắt khi nhìn ông cụ nằm mê mệt trên vỉa hè. Con cái bất nhân quá”.
Ông kể tiếp: “Trời lúc nắng lúc mưa. Có lúc chỗ ông cụ nằm còn là vũng nước mà chúng nó vẫn mặc kệ. Anh con rể cầm được 2 cái ô ra che mưa cho bố vợ. Còn hai cô con gái chạy vào mái hiên gần đấy đứng trú. Thỉnh thoảng lại chạy ra ngó xem bố còn sống hay không”.

(Ảnh: Xa Lộ Tin Tức)
Đến quá 8 giờ tối mà sự việc vẫn chưa được giải quyết, mặc dầu đã có chính quyền địa phương can thiệp, quá phẫn nộ về hành động ngược đãi cha của con cái của ông Nhân, ông chủ quán nước đã phải gay gắt mắng mỏ: “Không thể chấp nhận được lũ con mất nhân tính đó. Tôi sang nói với anh con rể có đưa cụ về nhà ngay không dân tình ở đây không tha cho các anh. Hàng xóm cũng làm ầm ĩ, ép anh này phải gọi taxi đưa bố về nhà ngay lập tức”. Người con rể của ông cụ gọi đến 5,7 chiếc taxi nhưng không tài xế nào chịu chở vì sợ mang họa.
Chứng kiến cảnh đau lòng đó, nhiều người dân sống quanh khu vực đã phải phản đối, thậm chí còn to tiếng với các con của ông cụ, cuối cùng các con của ông đành phải đưa ông về nhà người con gái thứ hai.
Ông chủ quán nước kể rằng trong tình cảnh thương tâm đó, ông cụ chỉ im lặng, mắt nhắm chặt mà hai dòng nước mắt cứ ứa ra ràn rụa.
Sự việc đã làm cho những người dân sống quanh đó và người đi đường không khỏi ngỡ ngàng. Không rõ lý do gì các con của ông lại đối xử tệ bạc với cha của họ, nhưng rất nhiều người không dằn được lòng đã phải lên tiếng bất bình.
Được biết khi ông cụ được đưa tới đây, các con của ông, con rể và con dâu của ông đã to tiếng, thậm chí còn “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với nhau. Sau khi hàng xóm can gián, cô con dâu chủ nhà đã khóa cửa lại quyết không cho đưa ông vào nhà. Đứa cháu nội gái của ông 20 tuổi thì lại ngồi giữ cửa. Bà vợ đã ly thân với ông ở trong nhà cũng không ra mặt.

Được biết do bất hòa nên từ đã vài chục năm nay, ông cụ và vợ đã sống ly thân với nhau. Hai người con trai phân công nhau trách nhiệm nuôi dưỡng bố mẹ già. Theo thỏa thuận thì người con trai cả nhận nuôi mẹ còn người con trai út nhận nuôi cha. Hiện tại, người con trai cả đã quá cố, người con dâu cả vẫn làm bổn phận phụng dưỡng mẹ chồng. Sự việc không có gì đáng nói nếu không có chuyện hai cô con gái của ông cụ mang cha mình đến đặt nằm trên vỉa hè trước của ngôi nhà của người anh trai và ép chị dâu cho cha vào nhà, nhận thêm trách nhiệm phụng dưỡng cha mình.
Nói tới đây ai cũng có thể đoán được sự việc chẳng qua là vì các con của ông muốn tranh chấp ngôi nhà mà bà chị chồng (vợ của anh mình đã mất), cháu gái (con của anh mình) và mẹ (đã ly thân với cha của minh) đang sở hữu.
Tưởng cũng nên biết, ông cụ có 4 người con, 2 trai và 2 gái. Cả 4 người con của cụ đều được cho ăn học đàng hoàng, đến nơi đến chốn, ai cũng thành đạt và giàu có. Ngoài người con trai cả đã mất, 3 người con còn lại đều thành đạt và hiện đang làm ở các cơ quan nhà nước. Người con gái lớn của ông từng là y tá trưởng ở bệnh viện Mắt Trung ương, chồng là giảng viên trường đại học Thủy Lợi. Hai người con còn lại thì người làm kế toán, người làm bảo hiểm, hiện đã làm tới chức Trưởng phòng trong Công ty bảo hiểm Prudential Việt Nam. Nói như vậy để thấy bầy con của ông là một lũ có tài mà không có đức. Nhẫn tâm đặt cha đẻ của mình nằm trên vũng nước vỉa hè, phơi mưa, phơi nắng hơn 10 tiếng đồng hồ là một hành động nhẫn tâm, đáng xấu hổ và phải bị lên án nặng nề!
Nói gì thì nói, ai đúng ai sai chưa biết, chỉ việc dùng chính sức khỏe, tính mạng của cha mình ra để hầu mong đạt một mục đích (đen tối) nào đó thì quả thật quá bất nhân, bất nghĩa, vô đạo đức, không thể nào chấp nhận được!
Có loại con nào nỡ đối xử với người đã sinh thành dưỡng dục mình như vậy không!? Bất hiếu! Một lũ con bất hiếu! Chỉ biết nghĩ cho bản thân mình còn cha mẹ già thì bỏ mặc, dám đem ra làm phương tiện trao đổi trong khi ông cụ sức đã già yếu không biết sống được bao lâu nữa. Không biết khi hành hạ cha đẻ của mình như vậy, mấy người con của cụ có thấy chút ray rứt nào không? Cha đẻ mà còn dám vứt ra đường như vậy thì chuyện gì mà họ không dám làm!?
Đó là tiếng chuông dóng lên cảnh báo sự suy đồi đạo đức nghiêm trọng đã và đang xảy ra trong xã hội Việt Nam.
Đạo đức ngày nay ở VN như vậy đó sao? Với cha mẹ mình mà còn đối xử tệ bạc như thế thì thử hỏi với xã hội, với tha nhân, người ta sẽ đối xử ra sao nữa? Công việc của họ đang làm, chức vụ của họ đang nắm trong xã hội, chỉ để chuộc lợi cho mình thôi sao?
Trên đường phố VN ngày nay, nhan nhản những cách hành xử vô tình, vô tâm và vô cảm. Chỉ cần lướt qua một vài tờ báo online, lướt qua một vài tin tức trên các trang web trong nước là ai cũng sẽ dễ dàng bắt gặp vô số những tin tức tệ hại về nạn vô cảm. Nó đang hoành hành và lây lan khắp nước.
Nhưng đó chỉ là chuyện giữa người với người, không quen biết nhau. Vô cảm đối với cả người đã sinh thành và dưỡng dục mình là một chuyện ghê gớm, không chấp nhận được và đáng bị nguyền rủa.
So sánh sự khác biệt của xã hội VN xưa và nay, vẫn biết rằng thời nào cũng có sự hiện diện của cái thiện và cái ác, người tốt và kẻ xấu, tuy nhiên nó khác nhau về mức độ và sự thể hiện ở từng thời điểm. Đúng. Vậy thì căn bịnh vô cảm này do đâu mà có?
Xét về mặt xã hội, xã hội VN bây giờ quá phức tạp, đầy rẫy lọc lừa và tranh ăn.
Xét về mặt đạo đức, xã hội VN hiện tại quá đỗi suy đồi, niềm tin khủng hoảng. Đặc biệt, đó là sự suy đồi về đạo đức, nhân phẩm của những thế hệ trẻ ngày nay, mà biểu hiện rõ nhất đó chính là thái độ thờ ơ, vô cảm đối với mọi sự vật, mọi sự việc diễn ra xung quanh. Thái độ này đang dần lan tỏa trong xã hội VN, không chỉ trong giới trẻ mà đã len lỏi vào khắp mọi giới, không chỉ địa phương hay vùng miền nào mà lây lan khắp nước.
Xét về mặt giáo dục, căn bệnh vô cảm này là sản phẩm của một nền giáo dục yếu kém, thất bại. Nền giáo dục của người CS giáo điều với lý thuyết khô khan và nặng nề, không chú trọng đến việc đào tạo nên “nhân cách” mà chỉ chú trọng đến việc đào tạo ra “nhân lực”. Nó thể hiện qua các chính sách, pháp lệnh cũng như chương trình học nặng nề của nhà nước. Các môn quan trọng góp phần hình thành nên “nhân cách” con người là Giáo dục công dân từ lâu đã trở thành những môn phụ không đáng quan tâm, thời lượng tiết học vô cùng ít ỏi và nội dung học thì quá nặng nề, giáo điều thì làm sao có thể đào tạo nên những nhân tố tốt được. Sự sai lầm của giáo dục đã kéo theo một thế hệ không hoàn chỉnh, một thế hệ không thể nào miễn nhiễm được với những căn bệnh như vô cảm.
Tựu trung, căn bệnh vô cảm là kết quả của một lối sống chụp giựt, bon chen và tranh giành ngày nay, ngày ngày ăn sâu vào tinh thần văn hóa của xã hội VN khi mà các giá trị sống, giá trị đạo đức tinh thần, lòng bao dung nhân ái, tình thương yêu đồng loại, và sự hy sinh đang dần bị thế chỗ bởi chủ nghĩa vật chất và lợi ích cá nhân … làm cho con người không còn cảm giác trước nỗi đau của đồng loại, của người thân.
Người Việt mình xưa nay có truyền thống vô cùng tốt đẹp là “thương người như thể thương thân”, ấy vậy mà ngày nay có những cách sống đang đạp đổ truyền thống tốt đẹp này. Chữ “nghĩa” trong xã hội VN dường như đang dần mất đi nên con người hiện chỉ biết sống vì mình, sống ích kỷ, không còn dám hy sinh và sống không có trách nhiệm với đồng loại. Ngày xưa con người sống trọng “nghĩa, luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, sự hy sinh, sẵn sàng xả thân vì cái thiện, cho gia đình, cho đồng loại và cho đất nước. Vì thế mà ở thời ông cha ta những giá trị căn bản của tình nghĩa gia đình, thầy trò, tình yêu quê hương đất nước luôn được đặt lên cái tôi cá nhân. Bức tranh xã hội đang có sự đảo lộn giá trị, cái ác lên ngôi, trong khi giá trị nhân bản đang bị chìm lấp. Ngày nay, đang có sự thay đổi lớn trong hệ thống giá trị sống của con người. Khi một xã hội, một đất nước mà những người sống trong đó vô cảm, không hợp quần, không tương thân tương trợ lẫn nhau, không giúp đỡ nhau thì tất yếu cái xã hội đó sẽ què quặt, đất nước đó sẽ sụp đổ và bị tiêu hủy.
Nước VN của tôi ngày nay là thế đó. Dân tình của nước VN của tôi ngày nay là thế đó. Đó là kết quả của gần 60 năm xây dựng đất nước xã hội được mang danh là xã hội xã hội chủ nghĩa của những người vô thần, vô trách nhiệm, vô tri và vô giác đã đưa người dân cả nước đến chỗ vô tình, vô tâm và vô cảm ngày nay.
12.09.2012

Quỳnh Chi - Học viện Khổng Tử ở Việt Nam: những gì cần cân nhắc?

Quỳnh Chi
Nhân chuyến công du vừa qua, Phó chủ tịch nước Trung Quốc, ông Tập Cận Bình, nhắc Việt Nam mau chóng thành lập “Học viện Khổng Tử” để tăng cường hợp tác trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục. Việc này sẽ đem lại những gì cho Việt Nam?
Hối thúc

Ảnh minh hoạ Khổng Phu Tử trong cuốn Thần thoại và Truyền thuyết Trung Hoa, 1922, của E.T.C. Werner
Trong cuộc hội đàm ngày 21/12/2011 của ông Tập Cận Bình với các nhà lãnh đạo Việt Nam, vị Phó Chủ tịch nước Trung Quốc cho biết mong muốn “thúc đẩy quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện tiến lên 5 phương diện”. Một trong những phương diện ấy là lĩnh vực khoa học kỹ thuật, giáo dục, văn hóa, y tế, đào tạo nguồn nhân lực. Nhấn mạnh điểm này, ông Tập cho biết mong muốn “nhanh chóng xây dựng Học viện Khổng Tử tại Việt Nam”.
Sở dĩ có sự thúc đẩy như thế vì vào tháng 4 năm 2009, văn phòng Chính phủ Việt Nam đã có công văn số 1992/VPCP-QHQT cho phép thành lập một “Học viện Khổng Tử” tại Việt Nam. Công văn ấy cũng được gửi đến các bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngoại giao, Công an và Văn phòng Trung Ương Đảng Cộng Sản nhưng chưa cho biết cụ thể thời điểm cũng như nơi chốn của việc xây dựng.
Học viện Khổng Tử hoạt động dưới sự chỉ đạo của Văn phòng về Hội đồng Ngôn ngữ Quốc tế - một tổ chức phi lợi nhuận phụ thuộc vào Bộ giáo dục Trung Quốc. Chức năng của các học viện Khổng Tử được người ta nói đến như Viện trao đổi văn hóa Pháp (Alliance Française), Học viện Goethe của Đức (Goethe Institute), Hội đồng Anh (British Council) hay Học viện Cervantes (Instituto Cervantes) của Tây Ban Nha. Tuy nhiên, điểm khác biệt là Học viện Khổng Tử thường được đặt tại các trường học. Chính vì điều này, đã có những quan ngại cho rằng những học viện Khổng Tử có thể ảnh hưởng đến tính tự do trong học thuật.
Quyền lực "mềm"

Ảnh chụp một tác phẩm hội họa về Khổng Tử của họa sĩ Ngô Đạo Tử (680–740) thời kỳ Nhà Đường. Source: Wikimedia Commons
Một điểm đặc biệt về Học viện Khổng Tử là đây không phải là nơi để tuyên truyền Nho giáo hay bàn về “hiếu, lễ, nhân, nghĩa” của ngài Khổng Tử – mà chính là nơi để quảng bá văn hoá và ngôn ngữ Trung Quốc. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, người có các nghiên cứu về văn hóa Việt Nam và Trung Quốc, nói về các hoạt động của các Học viện Khổng Tử, mà theo ông thực chất là các trung tâm văn hóa của Trung Quốc:
"Học viện Khổng Tử ở Việt Nam nếu được thành lập trong tương lai thì cũng giống như những học viện Khổng Tử khác trên thế giới thực chất là trung tâm truyền bá và quảng cáo văn hóa của Trung Quốc. Tôi hình dung ra là trong đó sẽ có những hoạt động như dạy tiếng Hoa, giới thiệu về ẩm thực, về thư pháp về trà đạo...Bên cạnh đó còn có các hoạt động giao lưu giữa các nghệ sĩ Trung Quốc để giới thiệu về các hoạt động văn hóa nước họ. Bên cạnh đó, có thể có những trung tâm tư vấn về du học nữa”
Trên các phương tiện truyền thông chính thống của Trung Quốc, các học viện Khổng Tử được đề cập như một nơi quảng bá văn hóa và ngôn ngữ Trung Quốc, cũng như cải thiện quan hệ ngoại giao của nước này với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, đã có nhiều phân tích cũng như quan ngại về một “quyền lực mềm” qua các viện Khổng Tử khi các học viện như thế xuất hiện ngày càng nhiều trên thế giới.
Thêm vào đó là mối quan ngại về việc thông qua các học viện Khổng Tử, Trung Quốc có thể đưa những tin tức có lợi cho mình về các vấn đề Đài Loan hay Tây Tạng. Ví dụ, vào năm 2009, tại học viện Khổng Tử của trường đại học Maryland ở Hoa Kỳ, trong một cuộc triển lãm về hình ảnh Tây Tạng, một chính khách Trung Quốc đã có những phát biểu chỉ trích Đức Đạt Lai Lạt Ma và cho rằng “Tây Tạng luôn là một phần của Trung Quốc từ thời cổ đại”.
Tính cho đến thời điểm này, đã có ít nhất 400 học viện Khổng Tử tại hơn 90 nước trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Triều Tiên. Tại Châu Á có khoảng trên 40 học viện Khổng Tử, ở Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Burma, Philippines và Singapore. Riêng tại Thái Lan đã có đến 13 học viện Khổng Tử; trong số đó 3 học viện ở Bangkok. Trong quyển sách “Asia Alone: The dangerous post crisis divide from America” (tạm dịch: “Riêng Châu Á: Mối nguy của sự tách biệt khỏi Hoa Kỳ trong thời kỳ hậu khủng hoảng”) của tác giả Simon S.C. Tay– chủ tịch Học viện Quan hệ Quốc tế Singapore, ông gọi sự phát triển của các viện Khổng Tử là “ấn tượng, vì học viện đầu tiên được xây dựng chỉ vào giữa năm 2004”. Và Trung Quốc có kế hoạch đến năm 2020, sẽ xây dựng khoảng 1000 học viện Khổng Tử trên khắp thế giới.
Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài xem học viện Khổng Tử như một chương trình thực hiện “quyền lực mềm” nhằm quảng bá kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ và ngoại giao. Thậm chí, đã có những quan ngại cho rằng những học viện này có thể đóng vai trò tình báo như cảnh báo của một số nhân vật đối với học viện Khổng Tử tại Vancouver, Canada hồi năm 2008, 2009.
Bà Elizabeth Economy, một chuyên gia về Trung Quốc, từng cho rằng “Người ta thường định nghĩa quyền lực mềm là sự phát triển đầu tư và kinh tế”, nhưng “quyền lực mềm là văn hóa, giáo dục và ngoại giao”. Theo một bài phân tích đăng vào năm 2006 trên Hội đồng Quan hệ Đối ngoại–CFR, một tổ chức có trụ sở tại Hoa Kỳ chuyên phân tích các vấn đề đối ngoại, tác giả Esther Pan cho biết từ năm 2005, Trung Quốc bắt đầu thực hiện “quyền lực mềm” nhằm gia tăng ảnh hưởng của nước này. Và các học viện Khổng Tử đóng vai trò quan trọng đầu tiên. Ông Lý Trường Xuân, Trưởng ban Tuyên giáo Trung Ương Trung Quốc đã từng phát biểu trên tờ Economist rằng các học viện Khổng Tử “đóng một vai trò quan trọng trong các tổ chức tuyên truyền Trung Quốc tại nước ngoài”.
"Màu sắc Trung Quốc" nơi nơi
Nói về việc thành lập các học viện Khổng Tử ở Việt Nam, TS Nguyễn Xuân Diện thể hiện quan ngại của mình:
“Tuy nhiên, có một điều như thế này. Hiện nay, phải thừa nhận rằng giới lãnh đạo về văn hóa của Việt Nam có một sự hiểu biết rất hạn chế về văn hóa của Trung Quốc. Mà việc tuyên truyền, gây sức ép cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam là quá mạnh. Điển hình là vừa rồi có những công trình tu bổ hoặc xây mới mang đậm dấu ấn Trung Quốc. Thêm vào đó, có hàng loạt các ngôi chùa từ Nam chí Bắc trùng tu, trang trí theo kiểu Trung Quốc. Nhiều công trình mới xây cũng có tượng sư tử Trung Quốc. Rồi hàng hóa, đèn lồng Trung Quốc xuất hiện tại Việt Nam”
Một nước có quyền lực mạnh mẽ là một nước biết quảng bá văn hóa của mình để đạt được hai mục đích. Thứ nhất là thúc đẩy kinh tế thông qua giao thương các mặt hàng văn hóa. Thứ hai là xây dựng một nền văn hóa phổ biến để thực hiện ý thức hệ của mình. Đây cũng là chính sách mà từ những năm 1950, Hoa Kỳ đã áp dụng thông qua Trung tâm Thông tin Hoa Kỳ - USIA nhằm mở rộng ảnh hưởng của mình trên thế giới.
Yếu tố lịch sử, địa lý chính trị

Mộ Khổng Tử tại Khúc Phụ, quê hương ông-Source: Wikimedia Commons
Xét đến yếu tố địa lý, đến lịch sử Việt–Trung, sẽ thấy việc xây dựng viện Khổng Tử tại Việt Nam mang ý nghĩa khác với bất kỳ một học viện Khổng Tử nào trên thế giới vì nó dễ tạo ra một ảnh hưởng văn hóa mạnh hơn bất cứ nước nào.
Về mặt địa lý, Việt Nam chỉ giáp ba nước là Lào, Campuchia và Trung Quốc. Các phía Đông và phía Nam đều giáp biển. Xét về văn minh, Trung Quốc là nước có nền văn minh lâu đời và tiến bộ hơn cả nên Việt Nam không thể tránh việc lấy nền văn minh Trung Quốc làm thước đo của sự tiến bộ nước nhà.
Về mặt lịch sử, khi Triệu Đà thôn tính Âu Lạc lập ra Nam Việt nào năm 208 trước Công nguyên, thì văn minh Trung Quốc từ đó cũng được mang vào để cai trị. Vả lại, sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc từ thời Vũ đế nhà Hán đến khi Ngô Quyền đại thắng trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt Nam dù giữ được cái ý chí riêng, nhưng cũng bị ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Trong “Việt Nam Sử Lược”, cụ Trần Trọng Kim cũng đã viết “sự sùng tín, sự học vấn, cách cai trị thì bao giờ mình cũng chịu ảnh hưởng của Tàu”. Chính vì thế, cần phải có một “lập trường và bản lĩnh” để giữ vững những đặc trưng của dân tộc. Đó là ý của TS Nguyễn Xuân Diện:
“Vì vậy, để những học viện Khổng Tử như thế tồn tại ở Việt Nam đòi hỏi những nhà lãnh đạo về tư tưởng và văn hóa phải có sự hiểu biết sâu sắc, một bản lĩnh vững vàng. Nếu không, nó sẽ là cuộc xâm lăng về mặt văn hóa hay còn gọi là “quyền lực mềm” sẽ bị áp đặt tại Việt Nam. Lúc ấy, chúng ta sẽ không thể nào chống lại được. Văn hóa là một nền tảng của đất nước, một khi văn hóa bị thuần hóa thì đó là một điều nguy hiểm”
Xét đến ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên văn hóa Việt Nam; xét đến lịch sử bị Trung Quốc đô hộ trong quá khứ, và xét đến những tranh chấp biên giới cũng như biển đảo còn kéo dài và chưa minh bạch đến ngày nay, việc tách văn hóa Việt Nam ra khỏi văn hóa Trung Quốc hoặc ít ra tiếp thu văn hóa thế nào để vẫn giữ đặc trung dân tộc là việc cần thiết.
Không thể phủ nhận văn hóa Việt Nam đã mang nhiều bóng dáng văn hóa Trung Quốc vì đặc thù lịch sử và địa lý. Tuy nhiên, dù là một mái đình, dù là một con sử tử đá, Việt Nam cũng cần được bảo trì bởi một đất nước chỉ được phân biệt và nhận dạng bằng chính ngôn ngữ, con người và những đặc trưng văn hóa như cách ứng xử, phong tục, tập quán, trang phục…của nước ấy. Nền văn hóa ấy không thể bị xâm lược bởi xâm lược văn hóa cũng là xâm lược.

Nỗi "vất vả" của DNNN nhìn từ việc EVN "kêu oan"

(baodautu.vn) Việc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) “kêu oan” sau khi Thanh tra Chính phủ đưa ra kết luận về một số sai phạm tại EVN đang đặt tiếp câu hỏi, phải chăng, thông tin về doanh nghiệp nhà nước vẫn đang là vùng khó xác định?
>>> EVN "phản pháo" kết luận của Thanh tra Chính phủ
>>> EVN giãy giụa với viễn thông và những chi phí lạ
>>> Sai phạm tại EVN: Kết luận "ngót" 6.000 tỷ so với dự thảo
Ông Nguyễn Đình Cung, quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, người vốn kiên trì trong đề xuất đưa doanh nghiệp nhà nước vào kỷ luật thị trường, cũng phải thốt lên: doanh nghiệp nhà nước vất vả quá!
Báo cáo về hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đã không đủ tạo nên sự minh bạch, rõ ràng. Ảnh: Đức Thanh
Nỗi vất vả mà ông Cung nhắc tới khi rà soát những nội dung liên quan đến quản trị doanh nghiệp nhà nước, chuẩn bị cho kế hoạch sửa Luật Doanh nghiệp đang được khởi động.
Tuy nhiên, điều đáng nói, theo ông Cung là những cố gắng của các bộ phận làm báo cáo của doanh nghiệp nhà nước đã không đủ tạo nên sự minh bạch, rõ ràng của hệ thống thông tin của doanh nghiệp nhà nước mà thị trường đang yêu cầu.
“Doanh nghiệp nhà nước phải báo cáo rất nhiều. Có tổng công ty phải thiết lập một bộ phận chuyên làm báo cáo. Có doanh nghiệp làm tới 23 loại báo cáo gửi các cơ quan khác nhau”, ông Cung kể lại thực tế.
Tuy nhiên, các báo cáo này hầu như không phân biệt đâu là báo cáo cho chủ sở hữu nhà nước, đâu là báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước. Nội dung các báo cáo, vì vậy thường giống nhau và được thực hiện theo các “form” báo cáo báo cáo tài chính, hoặc báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh…
Hệ quả là, báo cáo thì nhiều, nhưng khi bất cứ có vụ việc phát sinh, điều đầu tiên doanh nghiệp được yêu cầu là... làm báo cáo!
“Lý do chính là, mục tiêu yêu cầu báo cáo không rõ. Nhiều khi, các cơ quan nhận báo cáo sử dụng báo cáo theo ý đồ của mình chứ không phải là bám sát hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp”, ông Cung phân tích.
Về nguyên tắc trong quản trị doanh nghiệp, để phục vụ mục tiêu giám sát, thông tin được yêu cầu là cập nhật tiến độ, mức độ thực hiện các yêu cầu công việc, nhiệm vụ được giao, trên cơ sở đó, đánh giá kết quả thực hiện theo từng chỉ tiêu xác định. Chính trong quá trình này, những biến động đột xuất, cả chủ quan và khách quan, tới việc thực hiện và khả năng thực hiện nhiệm vụ sẽ được phát hiện và có giải pháp kịp thời, hoặc là thổi còi, hoặc là hỗ trợ thêm các điều kiện để thực hiện.
Khi đó, những tranh luận đang diễn ra về khoản 121.000 tỷ đồng là đầu tư vào công ty con, hay đầu tư ngoài ngành giữa EVN và kết luận của Thanh tra Chính phủ sẽ không xảy ra.
“Với cách thức cung cấp thông tin từ dưới lên và không có mục tiêu rõ ràng, các cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước đang thụ động trong việc xem xét, sử dụng báo cáo của doanh nghiệp”, ông Cung phân tích.
Thực ra, đây là trách nhiệm của chủ sở hữu, vì chỉ có chủ sở hữu mới xác định rõ mục tiêu, sứ mệnh của các doanh nghiệp của mình, từ đó đặt ra các chỉ tiêu, kế hoạch gắn với sứ mệnh đó. Tuy nhiên, nếu thử lập bảng phân công nhiệm vụ đại diện chủ sở hữu với các doanh nghiệp nhà nước hiện tại, một sơ đồ khá phức tạp với các cấp, đi kèm là các quyền, trách nhiệm liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Có thể kể ngay tới các bộ quản lý ngành, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các nội dung về trách nhiệm có ý kiến, hoặc trình, hoặc chủ trì… với các nhiệm vụ đại diện chủ sở hữu với các doanh nghiệp nhà nước được phân giao. Nếu các cơ quan này không làm rõ yêu cầu với các nội dung báo cáo của doanh nghiệp nhà nước trong vai trò là cơ quan quản lý nhà nước hay đại diện chủ sở hữu, các nỗ lực thu thập và xây dựng báo cáo của các doanh nghiệp nhà nước sẽ không thể đáp ứng yêu cầu.
Đó là chưa kể, vì có nhiều ông chủ, mỗi ông chủ chỉ nắm một góc, nên doanh nghiệp rất có thể sẽ rơi vào tình trạng, hoặc là không rõ mục tiêu, hoặc có quá nhiều mục tiêu. Việc thực hiện các mục tiêu này cũng trở thành áp lực với chính những người lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước.
Khánh An

“Khóc người ở lại”

Xếp hàng 4
Bạn trẻ đi viếng tướng Giáp. Ảnh: HM
Bài viết của bạn đọc Mr. Kitchenhand
Sáng 4/10/2013, chính phủ Việt Nam loan tin về chuyến thăm chính thức của Thủ tướng quốc vụ viện Trung Quốc từ 13 đến 15/10/2013. Chiều tối cùng ngày, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần đã đặt lãnh đạo Hà Nội vào một tình huống khó xử, biểu hiện ở việc đến chiều tối 5/10/2013 thông tin về việc Đại tướng từ trần mới được chính thức công bố. Đến hôm nay, ngày 14/10/2013 khi mà “tang gia bối rối” đã kết thúc và Lý thủ tướng đang ở thăm Việt Nam thì chúng ta phần nào hình dung ra được lãnh đạo Hà Nội đã ứng phó tình huống ra sao.

Tại sao Quốc tang lại bắt đầu từ 12 giờ trưa, ngày 11/10/2013?
Có hai việc cố định, đó là Đại tướng đã chọn nơi an giấc ngàn thu và lịch trình chuyến viếng thăm của Lý thủ tướng lại không thay đổi. Hà Nội đã phải làm gì? Trước hết, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần thì việc tổ chức Quốc tang là điều được xác định từ trước, thậm chí kịch bản cho Quốc tang cũng đã được chuẩn bị khi Đại tướng của chúng ta bước qua tuổi 100. Việc chậm công bố thông tin về Đại tướng từ trần và kế hoạch tang lễ là do điều chỉnh kế hoạch Quốc tang sao cho phù hợp. Một cách rõ ràng, không thể tổ chức Quốc tang sớm hơn vì lòng dân không chấp nhận một cách làm gấp gáp. Ngược lại, chính quyền Hà Nội cũng không muốn để Quốc tang kéo dài trong và sau khi đón tiếp Lý thủ tướng. Điều này sẽ tiềm ẩn những bất ổn về mặt an ninh – xã hội trong thời gian Lý thủ tướng viếng thăm.
Vì vậy, chỉ có thể là một Quốc tang được tổ chức vào hai ngày cuối tuần ngay trước thời điểm khách viếng thăm xem như khả dĩ nhất. Nhưng nút thắt của sự việc ở chỗ máy bay của Lý Khắc Cường sẽ đến Nội Bài vào trưa ngày 13/10/2013.
Yêu cầu được đưa ra là Quốc tang phải kết thúc trước khi Lý thủ tướng đặt chân đến Hà Nội. Giải pháp chỉ có thể là thời điểm bắt đầu hai ngày Quốc tang vào 12h trưa ngày thứ Sáu (11/10/2013). Do vậy, sự việc đau lòng mới có thể diễn ra: khi linh cữu của Đại tướng còn đang trên đường về nơi an nghỉ cuối cùng tại Quảng Bình thì ở Hà Nội người ta làm lễ hạ cờ rủ – kết thúc Quốc tang!
Di sản của Đại tướng
Khi còn sống, chữ Nhẫn là một giá trị của Người. Theo Tiến sỹ Ngô Vương Anh, “những kinh nghiệm lịch sử chống ngoại xâm sáng tạo của một dân tộc nhỏ yếu hơn chống lại kẻ thù lớn mạnh bằng cách “lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy đoản binh mà chế trường trận” (Trần Hưng Đạo), “lấy yếu chống mạnh”, “lấy ít địch nhiều” (Nguyễn Trãi), mưu trí sáng tạo, “dĩ nhu xử cương”… càng bồi đắp thêm “bản lĩnh Nhẫn” của ông, để ông vượt qua mọi gian nan sóng gió cuộc đời” (trích dẫn từ Vietnamnet ngày 9/10/2013). Khi ra đi, Người đã đặt những lãnh đạo đất nước vào một tình huống của chữ Nhẫn.
Kiên Nhẫn. Ảnh: HM
Kiên Nhẫn. Ảnh: HM
Trở lại với chuyến thăm của Lý thủ tướng. Thông tin được truyền đi từ Hà Nội hôm nay (14/10) đã đề cập đến việc sớm khởi công tuyến đường cao tốc Lạng Sơn – Hà Nội, tuyến đường cao tốc Móng Cái – Hạ Long, nghiên cứu khả thi đối với dự án đường sắt tốc độ cao Lào Cai – Hải Phòng và nâng kim ngạch thương mại lên 60 tỷ USD vào năm 2015. Vấn đề biển Đông đã chiếm 2/3 ngôn từ được sử dụng trong nội dung thông tin loan báo. Cộng thêm các vấn đề nghiêm trọng kéo dài như Bauxite Tây Nguyên, lao động nhập cư trái phép, … cho thấy Việt Nam đang ở vào thế bất lợi trên mọi mặt trận từ kinh tế, chính trị, ngoại giao đến văn hóa và đặc biệt là an ninh quốc phòng và vấn đề toàn vẹn lãnh thổ.
Trong tình hình quan hệ hai nước đang hiện hữu những căng thẳng, trước một quốc gia luôn có tư tưởng bành trướng, lại đang ở thời kỳ sẵn sàng gây hấn với láng giềng để ổn định tình hình nội bộ; chúng ta nén đau thương cho một một cuộc viếng thăm đã thể hiện chữ Nhẫn trước kẻ bá quyền phương Bắc.
Nỗi lòng
Người phương Đông coi “nghĩa tử là nghĩa tận”. Do vậy, không ai làm phiền lòng gia quyến trong thời khắc bối rối. Lý Khắc Cường đã làm một việc trái với văn hóa và đạo lý Á Đông. Việt Nam hoàn toàn có thể lấy lý do “tang gia bối rối” để gây sức ép điều chỉnh kế hoạch viếng thăm của người phương Bắc, nhưng chúng ta đã làm tất cả để thể hiện tinh thần từ xưa đến nay của Đất Việt trước kẻ bá quyền Trung Quốc, dẫu biết rằng, “bi kịch tang lễ” đã khiến bao trái tim phải bật khóc, phải nuốt sự uất hận vào trong để tiếp tục công cuộc bảo vệ non sông mà tổ tiên để lại! Có thể nhiều người cho rằng lãnh đạo Việt Nam đã làm một hành động nhu nhược, là một thông điệp bán nước cầu vinh, chấp nhận khuất phục trước kẻ thù; nhưng tôi tin rằng tận cùng của chữ Nhẫn sẽ là hành động mạnh mẽ vì độc lập dân tộc, và đó mới là điều tạo nên sức mạnh để đánh bại kẻ thù!
Mr Kitchenhand

Góc Nhìn Trẻ: Hà Kin - Mong ông nội và Đại Tướng sẽ được gặp nhau ở một thế giới không bao giờ có chiến tranh và sự chia rẽ

Hà Kin

Mấy hôm nay, nghe nhiều và xem nhiều những cập nhật của mọi người về sự ra đi của Đại Tướng, thấy nhớ ông nội quá. Nhớ ông gầy còm, da nhăn nheo trong bộ quân phục, ông của một thời chiến tranh khốc liệt. Chiến tranh đã qua lâu rồi, chắc chắn đó là cả một thời kỳ đau thương, hy sinh và mất mát, nhưng vì những thế hệ sinh sau như chúng ta đã không trải qua, nên sẽ có rất nhiều cảm xúc và tình cảm không thể hiểu nổi và có thể cho mình quyền để phán xét và phủ nhận.
Có những điều ta bất mãn, có những điều ta tức giận, và cả những lúc ta xúc động và trăn trở, nhưng đáng tiếc rất nhiều chỉ biết bất mãn, tức giận, xúc động, trăn trở mà không cần hiểu hoặc có thể hiểu được cội nguồn của vấn đề và có thể sẵn sàng phủ nhận xương máu và sự hy sinh của biết bao nhiêu con người. Có thể tớ rất buồn lòng vì những điều đang xảy ra trong xã hội bây giờ, của những kẻ tham ô, vô đạo đức, của cả một thế hệ đang thiếu đinh hướng trầm trọng về lối sống và lý tưởng vì lỗ hổng quá lớn của giáo dục. Nhưng tớ biết ơn những con người đi trước đã chiến đấu và hy sinh để giành độc lập cho đất nước. Chắc chắn nhờ có họ tớ mới được sinh ra trên thế gian này, và được sống trong một đất nước nguyên vẹn hình hài, để biết miền nam, miền trung, miền bắc, chứ không phải là hai nửa dân tộc mãi không thể hòa thành một như Nam Bắc Triều Tiên.
Chỉ gần đây thôi đã biết bao nhiêu sự ồn ào. Tớ được chứng kiến và kinh ngạc vì những sự ồn ào ngoài sức tưởng tượng của cả một thế hệ trên mạng có thể a dua, đố kỵ, tranh cãi vì một cuốn sách, vì một xì căng đan của một vài ca sĩ, diễn viên. Cho dù rồi tớ lại thấy cả một thế hệ đau buồn đồng lòng vì sự ra đi của một con người vĩ đại. Tớ thấy cho dù có những giọt nước mắt rơi chung, có những sự đồng lòng chung, nhưng sao mọi thứ thật mong manh. Ào ào cùng lúc tới, ào ào ra đi nhanh chóng, ào ào hồ hởi, tự hào, ào ào tức giận, ào ào lòng vị tha…
Chính cái sự mong manh này mới là nỗi buồn dài lâu, là nỗi buồn nguy hiểm.
Mỗi ngày qua đi có bao nhiêu người đang bất mãn, tức giận, hay đố kỵ vì những gì diễn ra quanh ta? Tại sao đất nước mình chỉ có thể sánh vai với cường quốc năm châu trong chiến tranh (mà giờ có lẽ khó còn xảy ra nữa)? Mà không thể ngẩng mặt trong thời bình? Tớ không muốn bình luận về chế độ, về chính trị. Nhưng có một ví dụ nhỏ tớ có thể nói cho các bạn nghe: Khi tớ không có được ngôn ngữ tốt, khi tớ chả có tài năng gì, khi tớ lười biếng…tớ thực sự thấy xấu hổ khi đứng cạnh bạn bè quốc tế và chả dám đi đâu. Nhưng khi tớ có rèn luyện, tớ có ngôn ngữ tốt để giao lưu, chịu khó tìm tòi, không bao giờ thể hiện sự đố kỵ và có một vài tài năng để thể hiện, dù đứng bất kỳ đâu tớ cũng tự tin và có thể hòa nhập. Và cho dù thế nào, tớ cũng không bao giờ trách móc rằng bởi vì tớ sinh ra trong một đất nước còn nghèo và lạc hậu, hay bố mẹ tớ không đủ điều kiện cho tớ làm những điều để “bằng chị bằng em”.
Các bạn có thể bất mãn về lãnh đạo, về chính sách, về cả một chế độ chính trị. Nhưng không ai cấm chính bản thân các bạn chịu khó học giỏi ngôn ngữ hơn, tìm hiểu nhiều kiến thức hơn, bớt đi lòng đố kỵ và thời gian rảnh rỗi đi tranh cãi, chửi bới những người xung quanh mình. Không ai cấm các bạn chịu khó rèn luyện thể chất như tập thể dục mỗi ngày, đi bộ, đi xe đạp thay vì đi xe máy tốn kém và ô nhiễm. Không ai cấm các bạn khi các bạn có ý thức đội mũ bảo hiểm ra đường. Không ai cấm các bạn học thuộc bài thay vì tìm cách quay cóp. Không ai cấm các bạn những ngày rảnh rỗi sẽ tới những trung tâm từ thiện để giúp đỡ, nói chuyện với người già, trẻ em, bệnh nhân, để hiểu thêm về những cuộc sống kém may mắn hơn xung quanh mình….Không ai cấm các bạn biết nói lời xin lỗi khi sai, cảm ơn khi nhận được giúp đỡ, đứng xếp hàng khi đông người…Rất nhiều con người rao giảng và đòi hỏi về những chính sách thật vĩ mô cho một “đất nước tốt đẹp hơn” trong khi chính bản thân họ không đủ kiến thức hiểu biết, sự rèn luyện, tâm và tài để là một con người tốt đẹp cho xã hội. Một đất nước khỏe mạnh phải bắt nguồn từ chính những cá nhân khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần, kiến thức. Khi bạn chủ động, bạn có kiến thức, bạn có năng lực, bạn sẽ có chính kiến, bạn sẽ có sự tự tin, bạn sẽ có sự hiểu biết và thông cảm. Tự tin – vững chắc - Khi đó, sẽ là lúc cái sự mong manh kia sẽ không còn nữa. Còn mong manh, thì còn nhiều nỗi buồn lắm, và sẽ còn xa lắm mới tiến tới “sánh vai với những cường quốc năm châu”, và các bạn sẽ vẫn còn phải gồng mình, vẫn làm những điều vô bổ, vẫn tranh cãi, vẫn đố kỵ và sẽ vẫn bị mụ mị, hùa theo những điều đang xảy ra trước mắt mà không bao giờ hiểu được ngọn nguồn cũng như có bản lĩnh để đối mặt. Và sẽ luôn có những sự chia rẽ, xa dần, tách dần, cho tới một ngày là một mớ hỗn loạn không thể hàn gắn.
Không phải ai cũng có thể hiểu hết được những gì tớ muốn tâm sự ở đây, nếu như họ không đủ một trải nghiệm nhất định để có sự cảm thông.
Cụ Giáp đi rồi, như rất nhiều người cũng đang chợt tỉnh và nhận ra. Có sợi dây duy nhất nào đó níu kéo cả dân tộc đã vừa đứt, một niềm hy vọng cuối cùng nào đó về một sự hòa nhập ngày càng chơi vơi. Có những điều gì lại càng mong manh và vụn vỡ…những nỗi buồn mơ hồ len lỏi và sẽ chẳng biết phải làm sao, cho cả một đất nước.
Những status này thường sẽ nhận được những comments rất đau đầu và triết lý. Mà tớ thì chỉ muốn tâm sự, không có ý định tranh cãi. Tớ cũng không bàn luận về chính trị, về chế độ, về lãnh đạo ở đây. Ai không đọc hết và cảm thấy không hiểu thì không được quyền comment. Cả status thực ra chỉ có một ý lớn thôi, nếu bạn có thể hiểu và làm được, thế là điều tuyệt vời nhất rồi.
Vĩnh biệt Đại Tướng. Mong ông nội và Đại Tướng sẽ được gặp nhau ở một thế giới không bao giờ có chiến tranh và sự chia rẽ.

Nguyễn Thanh Giang - Về vấn đề thủy điện ở nước ta

Nguyễn Thanh Giang
Tác giả gửi tới Dân Luận

Thủy điện được xem là nguồn lợi thiên nhiên rất lớn. Do không phải chi phí cho các nhiên liệu như uran, dầu mỏ, khí thiên nhiên, than đá và do chi phí nhân công thấp bởi vì các nhà máy này được tự động hoá cao, chỉ cần ít người làm việc tại chỗ khi vận hành nên giá thành điện sản xuất thường rất rẻ. Thủy điện cung cấp khoảng 20% lượng điện trên thế giới. Tại một số nước, thủy điện đóng vai trò chủ chốt trong cung cấp điện năng. Na Uy sản xuất toàn bộ năng lượng điện của mình bằng sức nước. Iceland thủy điện cung cấp 83% nhu cầu của họ. Áo 67%. Canada 70%.
Ở Việt Nam, do phải gấp rút tăng trưởng kinh tế để bù lại nhiều thập kỷ trì trệ ngõ hầu rút ngắn khoảng cách tụt hậu nên nhu cầu tăng trưởng điện bình quân lên tới 15%/năm. Tuy nhiên, nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch trong nước như than, dầu, khí ngày càng cạn kiệt và đã đến giới hạn khai thác. Theo tính toán, đến năm 2015 chúng ta sẽ phải nhập khẩu than mà việc nhập khẩu cũng không dễ dàng. Trong tình hình như vậy, thủy điện được xem là cứu cánh.
Với khoảng 260 công trình đang vận hành có tổng công suất gần 11.000MW, thủy điện Việt Nam đang cung cấp khoảng 36% nhu cầu điện của cả nước.
Song, việc phát triển thủy điện vừa qua có thể xem là khá tùy tiện, đặc biệt là ở miền Trung. Riêng bốn tỉnh miền Trung cùng hai tỉnh ở Tây nguyên là Kontum và Đắk Nông đã có gần 150 dự án thủy điện lớn nhỏ đã được phê duyệt.
Là địa phương có số lượng các nhà máy thủy điện lớn nhất, Quảng Nam có đến 62 dự án thủy điện với tổng công suất lên tới 1.601MW.
Tuy không tiêu tốn nhiên liệu nhưng thủy điện tiềm ẩn nguy cơ gây tác động tiêu cực về kinh tế, xã hội và môi trường. Ước tính mỗi MW thủy điện phải "nuốt" trên 10 ha rừng. Chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn. Vì vậy, việc phát triển thủy điện một cách tùy tiện vừa qua đã gây nên khá nhiều hậu quả tai hại.
Do thiếu quy hoạch chung nên các công trình thủy điện không có lưu lượng xả để duy trì dòng chảy, do việc xây hồ chứa chưa quan tâm đến chức năng phòng chống lũ và cấp nước cho hạ du nên hạn hán và lũ lụt đã không chỉ là thiên tai mà còn do nhân tai.
Tại Nam Trung bộ, toàn vùng hiện có 17.277 ha cây trồng bị thiếu nước, hạn hán và xâm nhập mặn, trong đó lúa có 15.627 ha, cà phê 300 ha. Hạn nặng làm mất trắng 50 ha lúa.
Tại Tây Nguyên hiện có 51.403 ha cây trồng thiếu nước và hạn hán, trong đó lúa gần 15.000 ha, cà phê trên 34.000 ha. Hầu hết các hồ chứa thủy điện, thủy lợi trong vùng đều có dung tích thấp hơn nhiều so với thiết kế, nhiều hồ nhỏ đã cạn, không còn khả năng tưới.
Nhiều năm trước, các đoàn địa chất thủy văn khảo sát ở Tây Nguyên chỉ cần khoan 15 - 20 mét sâu đã chạm nguồn nước. Nhưng đến nay, muốn tìm nước phải khoan sâu đến 150 - 200 mét.
Việc xây dựng nhà máy thủy điện tại Bình Định vừa qua đã làm chuyển dòng sông Ba khiến tỉnh Gia Lai bị thiếu nước cho hoạt động nông nghiệp. Hậu quả này có nguy cơ sẽ lan sang cả Phú Yên.
Theo Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường ICEM – một cơ quan nghiên cứu độc lập do Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ - hiện lượng phù sa ở các con sông bồi lắng ở Quảng Nam đã đến mức báo động. Sông Vu Gia tại trạm quan trắc Thành Mỹ (Nam Giang) bình quân mỗi năm có 460.000 tấn đất, cát bồi lắng. Với lượng bồi lắng như vậy, cơ quan này cảnh báo thành phố cổ Hội An (Quảng Nam) sẽ là nơi hứng chịu nhiều cơn lũ lớn do chính tác động này. Thủy điện sông Bung 4 đi vào tích nước (490 triệu m3) thì nước ở sông Bung sẽ cạn kiệt, dẫn đến hạ lưu khô hạn.
Nhân tai gây nên do thủy điện không chỉ tàn phá môi trường, phá hoại sản xuất mà còn uy hiếp tính mạng người dân. Nhà máy thủy điện A Vương xả lũ trong bão nhấn chìm hàng chục ngàn nhà dân các vùng Đại Lộc, Hội An, gây thiệt hại trên 800 tỷ đồng. Nhiều vụ xả lũ ở các đập thủy điện khác không chỉ gây thiệt hại kinh tế lớn hơn mà còn cả sinh mạng người dân!
Xin nêu mấy khuyến nghị:
1 - Rà soát để điều chỉnh lại kế hoạch phát triển thủy điện. Đến thời điểm hiện nay, số dự án đăng ký ồ ạt đã lên tới con số 1.097, với tổng công suất dự kiến là 24.246 MW. Trong đó, chỉ mới 195 dự án đã phát điện, 245 dự án đang xây dựng. Còn tới 657 dự án chưa đầu tư.
Hiện cả nước đã có hơn 6.500 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích 11 tỷ m³ nước. Triển khai hết số dự án còn lại sẽ có bao nhiêu túi nước hãi hùng treo trên đầu người dân?
2 - Hủy bỏ dự án Thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A. Đây là 2 dự án do Tập đoàn Đức Long Gia Lai làm chủ đầu tư, nằm trên địa bàn bàn 3 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Phước.
Theo dự kiến trong quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, Thủy điện Đồng Nai 6 sẽ đưa vào vận hành năm 2015 và Thủy điện Đồng Nai 6A đưa vào vận hành năm 2016. Tổ hợp này sẽ sản xuất khoảng trên 929 triệu kWh.
Tuy nhiên, hai dự án sẽ làm mất vĩnh viễn trên 372ha đất rừng, trong đó có hơn 128ha đất ở khu Cát Lộc thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Cát Tiên.
3 - Xem xét kỹ lại chủ trương xây dựng Thủy điện Đrăng Phốk. Công suất dự kiến của công trình này chỉ khoảng 28MW, trong khi 63ha rừng thuộc Vườn Quốc gia Yok Đôn sẽ bị hủy diệt.
4 - Kíp thời sửa đổi sự bất hợp lý trong quy trình thẩm đinh và cấp phép đầu tư cho các dự án thủy điện.
Hiện nay, những dự án yêu cầu vốn đầu tư 1.500 tỷ đồng trở lên thuộc quyền cấp phép của Thủ tướng Chính phủ. Những dự án đặc biệt lớn sẽ do Quốc hội phê chuẩn. Việc cấp phép đầu tư các dự án thủy điện nhỏ hơn thuộc thẩm quyền của UBND các tỉnh.
Về quy trình thẩm định, chỉ các dự án nhóm A mới giao cho Bộ Công Thương chủ trì làm đầu mối lấy ý kiến các Bộ, ngành và địa phương có liên quan để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Với những dự án quy mô nhỏ, UBND địa phương tự tổ chức thẩm định.
Về báo cáo đánh giá tác động môi trường: các dự án thủy điện vừa và lớn, các dự án quan trọng (dung tích hồ trên 100 triệu m3, chiếm trên 20 ha rừng phòng hộ, dự án nằm trên 2 tỉnh...) do Bộ TNMT phê duyệt, các dự án còn lại do các sở TNMT thẩm định và UBND tỉnh phê duyệt.
Sự bất hợp lý trong các quy định này (chỉ căn cứ vào giá trị của khoản vốn đầu tư) làm cho các dự án ngoài nhóm A không lấy được ý kiến bàn luận và sự thẩm định của các nhà khoa học có chuyên môn cao, trong khi ngay cả các dự án loại này cũng có thể gây nên thảm họa môi trường khó lường, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh mạng đồng bào.
5 - Công khai hóa các dự án thủy điện, mở rộng dân chủ trong việc tiếp thu các ý kiến liên quan đến kế hoạch phát triển thủy điện nói chung và cho mỗi dự án nói riêng. Khen thưởng xứng đáng cho các ý kiến phản biện có giá trị. Xử phạt, nghiêm trị những quyết sách sai trong việc triển khai các dự án thủy điện cho dù xuát phát từ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hay vì kém cỏi trong nhận thức khoa hoc, trong tổ chức thực hiện hay quản lý hành chính.
6 - Gấp rút xây dựng và triển khai các dự án phát điện năng lượng Mặt Trời và gió. Việt Nam là một nước nhiệt đới, có bờ biển dài 2.400 km, tài nguyên nắng và gió rất dồi dào, sự chậm trễ trong việc triển khai lĩnh vực này có thể xem là lỗi về chủ trương. Chính sách khuyến khích hỗ trợ của Chính phủ về giá mua cho điện Mặt Trời và điện gió (1 cent/kWh) có thể xem là chưa thỏa đáng. Cần mạnh tay chi phí cho những đầu tư ban đầu để rồi sẽ có được giá thành hạ hơn trong việc sản xuất điện bằng các phương pháp này. Sự bù lỗ cho điện Mặt Trời và điện gió phải được xem là cần thiết, nó được tính như khoản tài chính chi cho bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Hà Nội 13 tháng 10 năm 2013
Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang
Chuyên ngành Địa Vật lý
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Mobi: 0984 724 165

Vấn nạn “chạy trường”, “mua suất”

(PetroTimes) - Tham nhũng trong giáo dục diễn ra với nhiều hình thức. Chỉ riêng việc “chạy trường”, nhiều phụ huynh khẳng định sẵn sàng bỏ ra 3.000 USD, thậm chí 5.000 USD để có chỗ học tốt cho con.
Thông tin trên được rút ra từ khảo sát “Tham nhũng trong giáo dục phổ thông”, một trong những nội dung của “Báo cáo tham nhũng toàn cầu về giáo dục” do Tổ chức Minh bạch Quốc tế (IT) thực hiện. Báo cáo này khẳng định, tại Việt Nam, tham nhũng tuyển sinh phổ biến ngay từ cấp 1, với chi phí hối lộ 3.000 USD để được vào một trường tiểu học danh tiếng và khoảng 300-800 USD cho 1 suất vào trường “thường thường bậc trung”.
Phụ huynh sẵn sàng hối lộ
Nhóm nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân đầu tiên của tình trạng "chạy" trường là do nhu cầu lớn. Kết quả khảo sát cho thấy, việc "chạy" trường được nhiều người chấp nhận. Khoảng 30% phụ huynh tìm cách xin cho con vào học ở trường "điểm" trái tuyến dẫn tới sự hình thành một hệ thống ngầm có liên quan tới những người môi giới thứ ba xúc tiến cho quá trình này và 67% phụ huynh coi chuyện này là bình thường.
Một phụ huynh khi được hỏi cho biết, mức giá 1.000 USD để "chạy" vào một trường tiểu học hàng đầu là "hợp lý" và "chấp nhận được" bởi "mong muốn con cái được giáo dục tốt là bình thường" và "gia đình nào cũng mong con em mình được học ở môi trường danh tiếng".
Khảo sát trên 1.500 thanh niên ở 11 tỉnh, thành cũng cho thấy, thanh niên và người lớn tuổi đều sẵn sàng thực hiện hành vi tham nhũng để được nhận vào một trường (hoặc công ty) tốt.
Người dân đang mất niềm tin vào giáo dục công.
Báo cáo còn cho biết 7,4% phụ huynh có con học đúng tuyến vẫn cần và phải tìm đến sự hỗ trợ (kể cả đưa hối lộ) để đăng ký cho con học trường điểm; 4,5% phụ huynh ở diện đúng tuyến cần sự hỗ trợ để đăng ký cho con vào học những trường bình thường.
Phân tích sâu hơn, nhóm nghiên cứu cho rằng yếu tố cơ bản đằng sau nhu cầu trên là sự thiếu tin tưởng vào hệ thống giáo dục công ở Việt Nam. Bản báo cáo cho rằng, hiện tượng hối lộ phổ biến trong các trường phổ thông và sự thừa nhận rộng rãi rằng học sinh bị buộc phải học thêm đại trà (nếu không sẽ có nguy cơ bị phân biệt đối xử khi đánh giá học tập) cho thấy cảm nhận chung của phụ huynh là "hệ thống trường công không có khả năng đáp ứng hiệu quả nhu cầu của học sinh”.
Một trong những tác động lớn nhất của tham nhũng trong tuyển sinh vào các trường phổ thông là làm gia tăng sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục. Với những chi phí lớn và liên tục phát sinh gắn với tham nhũng trong tuyển sinh vào các trường phổ thông sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi hiện tượng này dẫn tới sự gia tăng bất bình đẳng xã hội, vì “những trẻ em nghèo hơn sẽ bị gạt ra khỏi trường, ngay cả nếu chúng thuộc diện đúng tuyến, hoặc sẽ bị phân biệt đối xử bởi không có khả năng đưa hối lộ”.
Đưa hối lộ để được nhận vào trường “điểm” đã được coi là hiện tượng thông thường mà chỉ có các gia đình khá giả mới có điều kiện thực hiện, từ đó khiến cho trẻ em ở các gia đình nghèo phải chịu thiệt thòi.
Ngoài ra, theo báo cáo, mặc dù Bộ GD-ĐT đã thiết lập một số biện pháp hành chính để giảm tình trạng chạy trường, nhưng những biện pháp này chỉ có tác dụng khiêm tốn và ngắn hạn. Báo cáo khuyến nghị, với vai trò vừa là nạn nhân, vừa là chủ thể chính, phụ huynh cần đồng lòng chấm dứt nạn chạy trường.
Bên cạnh đó, báo cáo cũng cho biết, tham nhũng trong tuyển sinh ở khu vực nông thôn ít hơn ở thành phố. Trong một nghiên cứu mới đây do TI thực hiện, phỏng vấn hơn 50 lãnh đạo các trường, giáo viên, phụ huynh học sinh, các nhà quản lý giáo dục và các nhà nghiên cứu ở Hà Nội, cho thấy: Đối tượng ở ngoại thành cho rằng tham nhũng trong tuyển sinh tại các trường này hiếm xảy ra, ngược lại đối tượng ở nội thành lại cho rằng tham những trong tuyển sinh ở đây khá phổ biến.
Cấp học nào cũng “chạy trường”
Nhận xét về báo cáo này, GS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, cho rằng “chạy trường” ở Việt Nam không phải là chuyện lạ nhưng chưa có ai điều tra rõ ràng. “Nó xảy ra ở tất cả cấp học từ mầm non tới trung học phổ thông, còn ĐH thì khó hơn. Con số 3.000 USD là có thể có, còn 1.000 - 2.000 USD thì tôi đã nghe từ mấy năm trước rồi” - ông cho biết.
Khẳng định nhu cầu cho con em vào học ở trường tốt là nhu cầu chính đáng của phụ huynh, PGS Văn Như Cương - Hiệu trưởng Trường THPT Lương thế Vinh, Hà Nội - thừa nhận chuyện “chạy trường” 1.000-3.000 USD là có thật. Ông cho biết nhiều phụ huynh sẵn sàng bỏ tiền “chạy” cho con để có thể vào được một trường tốt.
PGS Văn Như Cương còn cho biết, một thầy giỏi từng dạy ở Trường THPT Lương Thế Vinh đã có ý định rời trường sau khi trúng tuyển công chức. Sau đó, thầy đã quay trở lại vì tuy đỗ công chức rồi nhưng nếu muốn được nhận vào trường A, B thì phải chi ra 400 triệu đồng. Thầy còn tiết lộ: “Có cử nhân sư phạm tâm sự với tôi rằng muốn xin vào dạy ở trường công lập phải mất mấy trăm triệu đồng”.
Nhiều phụ huynh cho rằng việc "chạy trường, mua suất" là bình thường.
Tuy nhiên, PGS Văn Như Cương cho rằng “chạy trường” là do tâm lý đám đông. “Phụ huynh nghe nói trường này, trường kia tốt nên đua nhau tìm mọi cách cho con em vào. Nhưng tôi khẳng định là không phải trường nào được đồn đều tốt. Nhiều trường cũng PR tên tuổi của mình để thu hút học sinh nhưng sau đó thì chất lượng chẳng bằng những trường khác” - ông cho biết.
Trong khi đó, TS Nguyễn Tùng Lâm nhận xét: “Phụ huynh không có thông tin, họ nghe đồn thì biết thế. Người có bản lĩnh thì không quan tâm đến chuyện này nhưng nhiều người tìm cách “chạy” bằng được vào những trường được đồn là dạy tốt”. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của tình trạng tham nhũng trong giáo dục.
PGS.TS Trần Xuân Nhĩ – Nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT cũng cho biết: “Tôi rất đau xót khi đọc báo thấy tỷ lệ tham ô trong giáo dục ngày càng lớn. Việc này họ phản ánh đúng. Chẳng hạn, có trường hợp cô giáo mầm non ghi sổ nhận xét về cho gia đình rằng con em họ còn yếu kém, sau đó gia đình lại kẹp trở lại phong bì vào trong sổ đưa cho cô… Đây chính là tham ô. Rồi việc ăn cắp thời gian, tuyển dụng công chức thì phải mất tiền cũng là tham ô… Cho nên, những hiện tượng này phải sớm chấn chỉnh.”.
Thông qua bản báo cáo, tổ chức Minh bạch quốc tế muốn gửi thông điệp: "Giáo dục thế hệ trẻ sẽ không thể thành công khi tham nhũng làm hư hỏng các trường phổ thông và ĐH".
Nhã Anh

Sách giáo khoa đầy “sạn”

Dù những kiến thức trong đó được coi là chuẩn mực nhưng trên thực tế, sách giáo khoa từ tiểu học đến THPT vẫn mắc rất nhiều lỗi

Một trong những cuốn sách giáo khoa (SGK) rất nhiều sạn là Tiếng Việt 1, tập 1 do NXB Giáo dục Việt Nam (trực thuộc Bộ GD-ĐT) phát hành.
Sai từ tiểu học...
Trong cuốn SGK được coi là mẫu mực này, người đọc có thể bắt gặp rất nhiều lỗi sai ở cách viết thường, viết hoa. Ví dụ, sau bài 28 (dạy về chữ thường, chữ hoa), học sinh đã được nhận biết về chữ hoa, chữ thường nhưng sách lại viết rất lộn xộn, tùy tiện.
Ở trang 81, sách in hoa chữ Chào Mào nhưng tại trang 85, sách lại chỉ viết hoa chữ Tu, còn chữ hú lại viết thường, dù Chào Mào và Tu Hú cùng là những loại chim. Trang 89 tiếp tục viết hoa chữ Sáo Sậu nhưng châu chấu, cào cào thì lại viết thường. Trang 101 viết hoa chữ Kiến nhưng trang 99 chữ lợn lại viết thường. Trang 115, sách viết Trai gái bản mường cùng vui vào hội, trong khi Mường là danh từ riêng, nhất thiết phải viết hoa.
Sách giao khoa cần sự chuẩn mực và chính xác
Sách viết cho học sinh lớp 1 phải rất trong sáng, dễ hiểu để phù hợp với lứa tuổi này nhưng các tác giả lại dùng nhiều từ khó hiểu, đánh đố các bé. Cách dùng từ bò bê có cỏ, bò bê no nê ở trang 29 khiến nhiều người lớn cũng phải suy nghĩ chứ đừng nói gì đến trẻ 6 tuổi. Ở đây, thay vì dùng từ có, sách nên dùng từ ăn để học sinh có thể hiểu bài.
Một ví dụ khác của sự tùy hứng xuất hiện ở bài 26, trang 55. Hình minh họa trong sách vẽ trạm y tế nhưng câu học sinh được học lại là bé bị ho, mẹ cho bé ra y tế xã , thay vì trạm y tế xã...
Anh Ngô Bá, một phụ huynh có con đang học lớp 2, cho biết rất kinh ngạc với các kiến thức được cung cấp trong sách tham khảo Cùng em học Tiếng Việt được NXB Hà Nội ấn hành. Ngay trong những trang đầu tiên, sách đã đưa ra bài trắc nghiệm đánh đố không chỉ học sinh mà cả phụ huynh.
Ở bài Có công mài sắt có ngày nên kim, sách đưa đưa ra câu hỏi câu trắc nghiệm: “Trong lúc đi chơi, điều gì làm cậu bé ngạc nhiên? A. Từ một thỏi sắt, bà cụ mài một lúc đã thành chiếc kim. B. Có một bà cụ mải miết mài thỏi sắt thành tảng đá. C. Có một bà cụ ngồi chơi bên đường, tay cầm thỏi sắt”… Anh Bá cho hay rất bất bình về cách ra câu hỏi trắc nghiệm kiểu này cũng như kiến thức của những người viết sách. Trên thực tế, cả 3 đáp án đều sai và quan trọng hơn là làm sai ý nghĩa của câu tục ngữ rất hay này của người Việt.
... đến trung học
SGK môn Lịch sử 6 có dung lượng rất mỏng (chỉ 84 trang), song “sạn” cần phải nhặt thì lại khá nhiều. Dù đã qua nhiều lần sửa chữa, tái bản nhưng ở bản năm 2013, sách vẫn viết Đạo quân bộ của Mã Viện lẻn qua Quỷ Môn Quan (Tiên Yên - Quảng Ninh), xuống vùng Lục Đầu (trang 50).
Lỗi sai này là nghiêm trọng vì giở bất kỳ cuốn từ điển, sổ tay địa danh nào hay vào Google tìm đều có thể biết Quỷ Môn Quan thuộc xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Thêm vào đó, từ “lẻn” chỉ hợp với hành động lén lút của một người, không phù hợp với một đạo quân “gồm 2 vạn quân tinh nhuệ” - như thông tin được chính SGK Lịch sử 6 này đưa ra.
Trang 58, sách viết: Lí Bí quê ở Thái Bình, mạn bắc Sơn Tây nhưng các tác giả không hề có chú thích Thái Bình, mạn Bắc Sơn Tây nằm ở đâu, thuộc tỉnh, thành phố nào để học sinh biết.
SGK Lịch sử 6 cũng thiếu nhất quán khi ở trang 56 viết Triệu Quốc Đạt - một hào trưởng lớn ở miền núi huyện Quan Yên nhưng phần chú thích ở các trang 73 và 79 lại viết Hào trưởng: người có thế lực lớn nhất ở một vùng miền xuôi.
Cách diễn đạt trong sách cũng không trong sáng khiến học sinh hiểu nhầm. Trang 47, sách viết Dưới quận là huyện, các Lạc tướng vẫn trị dân như cũ có thể khiến học sinh nhầm tưởng lạc tướng là quan cấp huyện (lạc tướng là chức quan đứng đầu các bộ của nước Văn Lang - Âu lạc).
Không phải chỉ một lần các chuyên gia lịch sử, thậm chí cả Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã lên tiếng về những sai sót này. Tuy nhiên, đến lần tái bản thứ 11 năm 2013, những “hạt sạn” nêu trên vẫn giữ nguyên.
Không chịu tiếp thu
GS Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, cho rằng những góp ý chỉ có tác dụng khi người làm sách muốn nghe, còn nếu không muốn tiếp thu thì không có ý nghĩa gì. “Nhắc nhiều rồi mà những người biên soạn sách không tiếp thu thì công luận phải lên tiếng, không thể trông chờ văn bản góp ý của một hội nào đó” - GS Vũ Minh Giang bức xúc.
Bài và ảnh: Yến Anh
[Quay lại]

NXB "trần tình" vụ sách giáo khoa có lỗi khó hiểu

Sáng 15.10, ông Nguyễn Văn Tùng, Phó tổng biên tập NXB Giáo dục Việt Nam đã có thông tin trả lời báo chí xung quanh phản ánh về những “hạt sạn” trong Sách giáo khoa Tiếng Việt 1.

Về những nội dung được phản ánh trong các bài báo, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trả lời như sau:

Câu thơ của nhà thơ Đỗ Trung Quân, chữ “Tuổi thơ” trong nguyên tác được sửa thành chữ “Chiều chiều” như văn bản in trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1, là do câu thơ đã được “biên tập” lại cho phù hợp với nội dung bài học.

Hình ảnh trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1
Hình ảnh trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1

Trang cuối sách người biên soạn có ghi chú điều ấy với tính chất xin phép các nhà văn, nhà thơ như sau: “Sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập một đã trích nguyên văn hoặc có biên tập cho phù hợp với yêu cầu từng loại bài học - tác phẩm của các tác giả sau đây: Võ Thanh An, Hoàng Minh Châu, Định Hải, Xuân Hoài, Phạm Hổ, Ngô Văn Phú, Đỗ Trung Quân, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Hoàng Sơn, Trần Hồng Thắng, Lê Xuân Thọ, Tạ Hữu Yên. Trân trọng cảm ơn các tác giả”.

Từ bài 1 đến bài 27 không viết hoa đầu câu và tên người, lí do: lúc này học sinh chưa được học chữ Hoa. Các em chưa có khái niệm về chữ Hoa thì không nên viết hoa, bởi nếu viết hoa, các em chưa biết mẫu chữ sẽ không đọc được.

Bài báo nói, từ bài 28 trở đi việc viết hoa không nhất quán. Ví dụ được dẫn ra ở trang 87: “Buổi trưa, Cừu chạy theo mẹ ra bờ suối. Nó thấy bầy hươu nai đã ở đấy rồi.”.

Ban biên tập trả lời sách viết như vậy là hợp lí. Lí do: Cừu là số ít, được hiểu là tên một nhân vật. Hươu nai là số nhiều “bầy hươu nai”, với nghĩa chỉ giống loài, nên không viết hoa.

Ví dụ nữa tác giả bài báo nêu trang 115 “Trai gái bản mường cùng vui vào hội”. Tác giả bài báo cho rằng phải viết hoa chữ mường. Ban biên tập trả lời: bản và mường đều là cách gọi những cộng đồng dân cư ở miền núi.


Bài báo cho rằng các em học sinh chưa có nhiều khái niệm về cuộc sống xung quanh nhưng nội dung lại được đánh đố bằng những câu chữ như “Nhà Dế Mèn ở gần bãi cỏ non, còn nhà Sên thì ở ngay trên tàu lá chuối”. Viết như thế rất dễ khiến học sinh nhầm “Sên” là tên người, nếu như không nhìn bức tranh minh hoạ ở trên.

Ban biên tập có ý kiến trả lời: giai đoạn này học sinh chưa được học vần “ôc” nên chưa thể đưa chữ ốc. Thêm nữa, để hiểu nội dung câu văn này, học sinh đã có tranh minh hoạ màu, rất rõ nét ngay ở bên trên câu văn.


Về cụm từ “y tế xã”, theo tác giả bài báo là chưa đủ thành phần cần phải viết đủ là “trạm y tế xã”, Ban biên tập đã kiểm tra và thấy rằng: Dù cụm từ có bị lược bỏ thành phần, nhưng theo cách nói thông dụng, học sinh vẫn có thể hiểu được.

Nếu thêm từ cho đủ thành phần cụm từ, học sinh lại không đọc được, vì giai đoạn này, các em chưa được học vần am (trạm). Cụm từ này cũng có tranh minh hoạ rất rõ nét.


Thứ tự không phù hợp với hình ảnh
Thứ tự không phù hợp với hình ảnh

“Thổi xôi” là gì? Theo tác giả bài báo là một số giáo viên và phụ huynh học sinh không hiểu từ thổi, cần phải diễn đạt là nấu cơm, nấu xôi. Ban biên tập có ý kiến: thổi là một động từ rất quen thuộc với người Việt Nam.

Từ điển Tiếng Việt 2010 của Hoàng Phê (NXB Đà Nẵng) trang 1223 có viết: “Thổi: Động từ [ph] nấu [cơm, xôi]. Ví dụ: thổi cơm, thổi xôi”.

FB Hung Ha   - LỢI ÍCH CỐT LÕI & LỢI ÍCH CHUNG

lợi ích cốt lõi là những gì của mình mà đã bị thất lạc, bị người khác chiếm lấy. nay mình phải cương quyết bảo vệ và lấy lại. thì đó mới gọi là lợi ích cốt lõi. còn khi bạn dùng vũ lực, dùng tất cả các phương tiện xuất phát từ lòng tham để đánh bại kẻ khác mà chiếm lấy, thì đó không thể gọi là lợi ích cốt lõi được.

khi tranh chấp và hai bên không thể nhượng bộ được, vì ai cũng bảo đó là lợi ích cốt lõi của mình rồi. nhưng cả hai cũng không thể đi tới chổ tiêu diệt lẫn nhau để mang tiếng tham tàn và tự sát, thì người ta sẽ đi tới một thõa hiệp trung hòa, là cùng chia sẽ lợi ích trong cái quyền lợi đó. thì câu nói lợi ích cốt lõi sẽ không còn. mà bây giờ được gọi là lợi ích chung.

khi người mỹ "xoay trục" và chỉa mũi dùi nóng hổi vào hong người trung quốc, thì đó chỉ là hành động đổ dầu vô lửa mà thôi, chứ chả có lợi ích cốt lõi gì của người mỹ ở đây cả. vì người mỹ không cần thiết phải hiện nguyên hình như một tên cướp biển như thế, vì đó là cái hình ảnh không đẹp trước mắt thế giới, mà càng làm cho người trung quốc bực mình thêm. nếu người mỹ khôn ngoan thì hãy xây dựng một liên minh gồm ấn độ, pakixtan, nhật bản, hàn quốc âm thầm vây quanh họ đi. còn phía nga thì có liên minh châu âu lo.

cái lợi ích chỉ là vật chất suông thôi thì có thể đàm phán thõa thuận được, nhưng khi cái vật chất đó nó là lịch sử là tinh thần của dân tộc rồi, thì chắc chắn đó chính là lợi ích cốt lõi không thể khác. người trung quốc luôn muốn thu hồi đảo quốc đài loan là điều thiết thực, cần thiết và cốt lõi của họ. cái ý chí này của người trung quốc nó còn mạnh hơn cả bom nguyên tử của mỹ nữa. điều này người mỹ nên biết vì đó là yêu cầu chính đáng, chính nghĩa của họ.

nhưng ngặc thay người trung quốc chỉ biết có quyền lợi mà mình hướng tới, chứ ít quan tâm đến quyền lợi của người khác, vì dân số của họ quá lớn. cho nên đây cũng là điểm yếu của họ, và người mỹ nên quan tâm chổ này, là có thể dùng quyền lợi để đàm phán hay hơn là dùng vũ lực. bây giờ người trung quốc luôn muốn đạt được hai mục tiêu chính. 1 là đè bẹp các nước làng giềng chung quanh, 2 là thu hồi đảo quốc đài loan. nhưng thực sự hai mục tiêu này là mâu thuẫn và hoang tưởng, vì rằng người trung quốc chỉ có thể đạt được một mà thôi. nhưng khổ nổi họ cứ khăng khăng bảo rằng cả hai điều đó là mục tiêu cốt lõi hết...

vậy thì chiến tranh cũng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nếu như hai mục tiêu gọi là lợi ích cốt lõi trên bị đối phương ngăn chặn, không cho phép họ chạm tới được, sau khi họ đã có tất cả các nổ lực hòa giải hòa bình để nhằm đạt được nó.

một con người, một đất nước mà bổng dưng đột khởi tiến phát quá mạnh, thì nó sẽ không thể bình tỉnh được, vì nó như một trái bóng được bơm căng ngạo khí, hùng khí dân tộc rồi. quân phiệt nhật và nước đức phát xít trước đây cũng vậy. người trung quốc vốn nhân hậu và hiểu biết, nhưng bây giờ họ đang hướng tới tương lai bằng tất cả sự dồn nén sức mạnh của tinh thần và vật chất khủng khiếp nhất. nếu họ bị tổn thương bởi sự ngạo mạn của người mỹ quá nhiều..thì thế giới này rất nguy hiểm.

...và chúng ta nên biết rằng: quyền lực ngầm của trung quốc là lớn nhất thế giới, nó còn có thể chi phối và kiềm hãm cả nước mỹ nữa. nhưng nếu chiến tranh giữa mỹ và trung quốc xảy ra thì trung quốc sẽ thất bại, vì mỹ và đồng minh của mỹ quá mạnh..nhưng trước khi người khổng lồ ngã xuống thì cả vùng rộng lớn của châu á và đông nam á sẽ bốc cháy theo...

khi hitler muốn vươn lên làm bá chủ thế giới, thì hắn đã dùng sức mạnh áp đão tiêu diệt 14 nước nhỏ xung quanh trong chớp mắt, sau đó mới tấn công nga. vậy bây giờ nếu người mỹ nhảy vào sân nhà trung quốc trước, thì mỹ sẽ là nguyên nhân gây ra thãm họa chứ không phải là người trung quốc. vì người trung quốc sẽ không đánh thẳng vào mỹ ở ngoài khơi, mà họ tấn công đồng minh của mỹ và các nước nhỏ xung quanh trước ....

vậy nếu cuộc chiến tranh này có sảy ra, thì cuối cùng nước mỹ cũng chả được gì, còn trung quốc cũng mất hết cái mà họ luôn gọi là quyền lợi cốt lõi.

cho nên nếu chúng ta quá căng thẳng đầu óc mà nhìn nhận sai lầm cái gọi là lợi ích cốt lõi thì sẽ rất tai hại. vì nó phải là cái của mình một cách chính danh gắn liền với tinh thần truyền thống dân tộc. đừng vì cái lợi ích nhỏ của mình mà gây hại lớn cho nhiều người khác. người mỹ và người trung quốc hãy nên thận trọng nhận thức điều này một cách chính xác, chân thực và chính nghĩa...thì thế giới này mới được bảo đảm an toàn trong tương lai...

..................................................

chúng ta có nhiều lợi ích khác nhau trong tầm tay, nhưng nếu muốn nó luôn được tôn trọng, thì hãy cố gắng nhìn thấy cái lợi ích chung nằm ở giữa chúng ta....

lợi ích cốt lõi chỉ là một cách nói, là tạm thời. lợi ích chung mới là mãi mãi....
— with My Lăng and 13 others.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét