Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, ngày 04 tháng 10 năm 2014

-432 loại phí ‘đè’ doanh nghiệp, người dân

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131008/432-loai-phi-de-doanh-nghiep-nguoi-dan.aspx

Thanhnien


Với 432 khoản phí và lệ phí hiện hành, gánh nặng phí đang ‘đè’ nặng lên người dân, doanh nghiệp và cả môi trường đầu tư.

 432 loại phí 'đè' doanh nghiệp, người dân
Giao thông là một trong các lĩnh vực có nhiều loại phí chồng phí nhất – Ảnh: Diệp Đức Minh
Ngủ đêm cũng tính phí

Ngày 30.8.2013, UBND tỉnh Quảng Ninh ra quyết định điều chỉnh tăng mức thu phí tham quan danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long. Đặc biệt, mức phí lần này (được áp dụng từ 1.1.2014) chia thành hai phần riêng biệt, bao gồm phí tham quan và phí ngủ đêm trên vịnh. Cụ thể, phí ngủ đêm trên vịnh Hạ Long là 200.000 đồng/khách/đêm; ngủ 2 đêm sẽ có phí 350.000 đồng/khách; 3 đêm là 400.000 đồng/khách. Phí ngủ đêm trên vịnh Bái Tử Long là 150.000 đồng/khách/đêm, 2 đêm 300.000 đồng/khách và 3 đêm giá 350.000 đồng/khách. Điều này đồng nghĩa với việc du khách tham quan kết hợp ngủ đêm trên tàu, ngoài chi phí thuê phòng còn phải trả thêm phí ngủ đêm trên vịnh.


Việc thu phí và lệ phí đang bị lạm dụng, diễn ra ở mọi lĩnh vực trong đời sống của người dân, từ các loại phí dịch vụ chung cư cho tới phí chồng phí trong giao thông, y tế, giáo dục

TS Ngô Trí Long, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường và giá cả – Bộ Tài chính

Ngay sau khi có quyết định của UBND tỉnh Quảng Ninh, các hãng tàu lập tức thông báo phụ thu các hợp đồng đã ký kết trước đây với hãng lữ hành. Theo đó, chương trình 2 ngày 1 đêm buộc phải phụ thu thêm 320.000 đồng/khách; chương trình 3 ngày 2 đêm phụ thu thêm 400.000 đồng/khách.
Nhiều hãng lữ hành bất ngờ trước việc “bán bia kèm theo mồi” – tăng phí tham quan kèm theo phí ngủ đêm, bởi các hợp đồng đón khách quốc tế đã ký kết trước cả năm với đối tác nước ngoài. Ông Phạm Xuân Du, giám đốc một công ty du lịch ở TP.HCM chuyên đón khách Đức, phàn nàn “rất khó để thuyết phục đối tác điều chỉnh phụ thu”. Theo ông Du, chỉ trong vòng hai năm mà tăng phí đến hai lần và thêm phí ngủ đêm là điều rất vô lý, có thể khiến du khách không muốn tiếp tục hành trình đến vịnh Hạ Long.
Nông dân gánh 93 loại phí
Trao đổi với PV Thanh Niên, TS Ngô Trí Long, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường và giá cả (Bộ Tài chính), cho biết hiện nay có đến 432 khoản phí và lệ phí đang được triển khai thu trên cả nước. Cụ thể, có 357 khoản phí và 75 khoản lệ phí; trong số này có 393 khoản thuộc thẩm quyền quyết định của trung ương, còn lại phân cấp cho địa phương.
Theo TS Long, VN nằm trong số những nước có mức thu thuế và phí rất cao so với khu vực. Trung bình trong 5 năm qua, tỷ lệ thu thuế, phí tính trên GDP (không kể dầu thô) của VN là hơn 20%, trong khi Trung Quốc là 17,3%, Thái Lan chừng 15,5%, Philippines 13%, Indonesia 12,1%…  “Việc thu phí và lệ phí đang bị lạm dụng, diễn ra ở mọi lĩnh vực trong đời sống của người dân, từ các loại phí dịch vụ chung cư cho tới phí chồng phí trong giao thông, y tế, giáo dục. Đáng nói là tình trạng “phép vua thua lệ làng” rất phổ biến trong thu phí. Như ở khu công nghiệp Mỹ Tho và cụm công nghiệp Trung An (Tiền Giang), công ty quản lý tự quy định mức phí bến bãi để thu tiền các phương tiện vận tải trung chuyển hàng hóa hoặc đậu lại qua đêm ở khu vực này”, TS Long nói.


Phí không chính thức lớn hơn cả phí chính thức “Doanh nghiệp thời gian qua đã rất khó khăn, nhưng hằng ngày phải đối mặt với nhiều loại phí chính thức và không chính thức. Đối với phí chính thức, đáng kể có phí chồng phí đường bộ, như phí bảo hiểm xe, phí cầu đường, phí xăng dầu… Còn các loại phí không chính thức trong thực tế, có thể lớn hơn cả phí chính thức”.
Ông Huỳnh Văn Minh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM

Dẫn báo cáo của Bộ NN-PTNT, TS Long cho biết hiện nông dân phải gánh đến 131 khoản đóng góp, trong đó có 93 loại phí, lệ phí theo quy định của nhà nước và 38 khoản đóng góp xã hội khác. Ngoài các khoản phí, lệ phí theo quy định, một hộ nông dân bình quân mỗi năm phải đóng từ 250.000 – 800.000 đồng cho các khoản. Nhiều khoản chính quyền địa phương kêu gọi đóng góp tự nguyện nhưng thật ra là không đóng không được.
Ông Phạm Minh Đức, chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Thế giới tại VN, nhận xét về chi phí hậu cần (được đo lường qua hai chỉ số là thời gian và tiền bạc) thì VN là một trong số những nước tốn kém nhất. Chi phí xuất khẩu một container ở VN là 580 USD, còn nhập khẩu mất 670 USD. Trong khi ở Malaysia, Singapore chi phí xuất khẩu khoảng 450 USD và nhập khẩu mất 435 USD/container. Chưa kể các khoản chi phí vô hình là thời gian. Để hoàn tất thủ tục xuất khẩu/nhập khẩu ở VN mất trung bình 21 ngày, trong khi Thái Lan là 13 ngày, Philippines là 14 ngày, còn Singapore chỉ 4 ngày… Những con số “biết nói” này gây ảnh hưởng không tốt về môi trường đầu tư của VN với nhà đầu tư nước ngoài.
Cần tiền nghĩ ngay đến…  phí
TS Hoàng Thọ Xuân, Viện Nghiên cứu thương mại, cho rằng nhiều cơ quan quản lý hiện nay thiếu hoặc muốn tăng ngân sách, muốn kiếm tiền là nghĩ ngay đến phí. Tuy nhiên, thu phí thì nhiều nhưng chất lượng dịch vụ lại không tương xứng. Đơn cử, một ban quản lý chợ cũng có thể “đẻ” ra tới 7 – 8 loại phí để thu, như phí vệ sinh, phí an ninh trật tự, phí trông giữ xe… “Xu thế chung của các nước là giảm thu phí, tăng chất lượng dịch vụ, còn VN thì ngược lại. Trong bối cảnh kinh doanh, làm ăn khó khăn hiện nay mà đụng cái gì cũng trúng phí, lệ phí thì nguồn lực của người chịu phí bị tác động kinh khủng. Ở khía cạnh rộng lớn hơn, lạm thu phí khiến môi trường kinh doanh trở nên phức tạp, rối rắm và khắc nghiệt; doanh nghiệp thường xuyên bị thuế, phí, lệ phí… bao vây. Ở các nước, người ta làm gọn các loại thuế, phí nhưng ở ta thì chẻ nhỏ ra. Như vậy là không minh bạch”, TS Xuân nói.
Để hạn chế tình trạng lạm thu, TS Xuân đề xuất các bộ, ngành và địa phương cần đồng loạt rà soát lại các loại phí, lệ phí dưới sự chủ trì của Bộ Tài chính. Từ đó, xem xét khoản phí nào tiếp tục thu, khoản phí nào bất hợp lý thì bỏ. Còn theo TS Ngô Trí Long, đến lúc phải “nâng cấp” pháp lệnh thành một bộ luật về phí, lệ phí để phù hợp yêu cầu cuộc sống. “Nhóm chuyên gia, trong đó có tôi, đang triển khai đề tài nghiên cứu về phí, lệ phí để tìm ra những khoản thu bất hợp lý đề xuất Bộ Tài chính bỏ đi hoặc những khoản thu nào phù hợp thì giữ lại. Chính phủ cũng đã chỉ đạo các địa phương bãi bỏ 340 loại phí, lệ phí nhưng cho đến nay, các địa phương vẫn chưa báo cáo đầy đủ đã bãi bỏ được những loại phí nào”, TS Long cho biết.
Sáng kiến “tận thu” Theo ông Phạm Xuân Du, trên thế giới không có điểm tham quan nào thu phí ngủ đêm trên sông, biển như ở Quảng Ninh. “Ở Đức hay Myanmar đều có du thuyền đưa khách tham quan trên sông, biển và ngủ lại đêm ở trên tàu, nhưng không hề có loại phí ngủ đêm. Ngay ở nước ta cũng có loại hình tàu đưa khách tham quan trên sông Mê Kông rồi ngủ đêm trên tàu nhưng nào có phí ngủ đêm đâu. Chỉ Quảng Ninh mới có “sáng kiến” tận thu như vậy”, ông Du nói.
N.Trần Tâm
>> Tiền Giang: Dân kêu trời vì loạn thu phí
>> Bức xúc nạn “loạn” phí và lệ phí
>> Loạn phí tàu biển
>> Loạn phí chung cư

-Hà Tĩnh: Bi hài chuyện nuôi vịt cũng bị… đánh phí

http://dantri.com.vn/kinh-doanh/bi-hai-chuyen-nuoi-vit-cung-bi-danh-phi-897172.htm
Thứ Bẩy, 05/07/2014 – 14:43

Dantri

(Dân trí) – Mỗi năm những người nông dân suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trờ phải “cõng” trên mình đủ các thứ quỹ, phí nào là phí phụ cấp cán bộ, phí xây dựng trường chuẩn…. Bi hài hơn nữa là đến nuôi vịt, người nông dân cũng phải đóng thuế!
Những câu chuyện bi hài đó đang xảy ra ở rất nhiều vùng quê ở tỉnh Hà Tĩnh.
Oằn lưng chịu phí

Quang Lộc là một trong xã đang phấn đấu về đích nông thôn mới của huyện Can Lộc vào năm 2015. Chẳng biết cuộc sống của người dân được cải thiện đến đâu nhưng họ đang phải “kêu trời” vì hằng năm phải “cõng” trên lưng quá nhiều loại phí.
Và để công khai, minh bạch, danh sách các khoản phí, những hộ dân phải đóng đậu được dán lên vị trí “trang trọng” ở tại các nhà hội quán.
Mỗi năm gia đình chị Tỵ phải đóng hơn 2 triệu tiền các loại phí, quỹ
Mỗi năm gia đình chị Tỵ phải đóng hơn 2 triệu tiền các loại phí, quỹ
Gia đình bà Nguyễn Thị Tỵ ở xóm Trà Dương, xã Quang Lộc là một trong những hộ nghèo khó của xã. Nhà có 2 đứa con đang ăn học đại học. Tất cả các khoản tiền sinh hoạt chủ yếu dựa vào 4 sào ruộng và mấy con gà. Thế nhưng mỗi năm gia đình chị phải đóng hơn 2 triệu tiền phí các loại.
Chị Tỵ cho biết năm nay, gia đình chị phải nộp 750.000 đồng cho xã, hơn 200.000 đồng cho hợp tác xã nông nghiệp, hơn 400.000 đồng cho xóm. Đến đợt hai, hết vụ hè thu xã không thu nhưng xóm và hợp tác xã lại đè vào khẩu và sào thu.
“Chồng bị bệnh não từ nhỏ nên làm việc rất hạn chế, hai đứa con đang học, để có tiền đóng đậu, ngoài bán lúa còn đi vay mượn. Đến tháng chạp, trong nhà không có hạt thóc để ăn”, chị Tỵ tâm sự.
Danh sách các hộ còn nợ, các khoản phí được dán tại các nhà văn hóa
Danh sách các hộ còn nợ, các khoản phí được dán tại các nhà văn hóa
Kêu trời chẳng thấu, người dân nơi đây đánh nhắm mắt nộp cho xong. Vì không nộp đầy đủ và đúng hạn thì sẽ bị gây khó dễ, chèn ép.
Theo tìm hiểu của PV, thì năm 2014, người dân xã Quang Lộc phải nộp rất nhiều loại phí như quỹ xây dựng cơ bản (gồm giao thông nông thôn, xây dựng trường chuẩn, xây dựng trạm y tế) thu đầu khẩu 150.000 đồng/khẩu, quỹ an ninh quốc phòng 40.000 đồng/hộ, quỹ đền ơn đám nghĩa 15.000 đồng/lao động, quỹ chăm sóc bảo vệ bà mẹ trẻ em 5.500 đồng/lao động, quỹ thiên tai 5.500 đồng/lao động, quỹ khuyến học 5.500 đồng/khẩu…. Trong đó, có những khoản phí xã thu hết sức vô lý như quỹ tiêm phòng ngoài thu 25.000 đồng/ con đối với trâu bò, 10.000 đồng/con lợn xã còn thu 17.000 đồng/hộ và quỹ hỗ trợ phụ cấp cán bộ đoàn thể xã, xóm ngoài thu đầu khẩu 15.000 đồng/sào còn thu 15.000 đồng/khẩu.
Hay chuyện không chăn nuôi cũng phải đóng tiêm phòng cũng là những chuyện đã quá quen thuộc với người dân nơi đây.
Nuôi vịt cũng phải đóng phí
Có lẽ để không thua kém “anh bạn hàng xóm”,  xã Sơn Lộc (Can Lộc) cũng đề ra nhiều khoản phí trời ơi đất hỡi tưởng chừng chỉ diễn ra thời kỳ phong kiến.
Đến bây giờ gia đình chị Đặng Thị Thảo ở xóm Phúc Sơn, xã Sơn Lộc vẫn còn nợ hơn 700.000 đồng tiền phí nuôi vịt.
Chị Thảo cho biết, cách đây hai năm gia đình chị có thầu lại một cái đầm để làm ăn. Gia đình chị đã đóng nộp tất cả các loại thuế, phí theo quy định của nhà nước. Ngoài trồng lúa, nuôi cá, để tăng thêm thu nhập cho gia đình, vợ chồng chị đầu tư nuôi thêm một đàn vịt. Thế nhưng thật trớ trêu, xã lại tiền hành thu phí nuôi vịt 1.000 đồng/con, vịt đẻ trứng nộp phí 2.000 đồng/con. Ban đầu gia đình chị nuôi đàn vịt sáu, bảy chục con thì chịu đóng phí. Nhưng khi thầu đất của xã, nhân rộng đàn vịt lên 600, khoản phí đến 750.000 đồng/năm. “Thấy phí nuôi vịt quá cao, vợ chồng tôi không chịu nộp, đã bị xã triệu tập lên. Khi chúng tôi thắc mắc và muốn được lên trực tiếp để họi huyện thì khi ấy cán bộ xã mới hạ giọng và nói sẽ chờ hội động họp bàn để xem xét lại. Tuy nhiên đến bây giờ, gia đình chị vẫn bị gọi lên xã thường xuyên để yêu cầu trả nợ”, chị Thảo ngán ngẫm.
Ba cấp: xã, HTX, thôn đua nhau thu phí người dân
Ba cấp: xã, HTX, thôn đua nhau thu phí người dân
Anh Nguyễn Danh Thịnh, xóm Phúc Sơn, cho biết năm 2014, xã Sơn Lộc có giảm thu một hai, ba quỹ so với mấy năm trước nhưng gia đình anh vẫn đóng đậu đến 1,5 triệu đồng. Người dân ai cũng kêu trời phải đóng đến 11 quỹ, trong đó có những năm xã còn thu cả phí máy cày, máy tuốt lúa.
“Đáng lẽ chính quyền phải tạo điều kiện hơn nữa để cơ giới hóa sản xuất để nâng cao đời sống cho người dân. Đằng này cứ hễ người dân có mô hình sản xuất hay hướng kinh doanh sản xuất mới là cứ đè cổ đánh phí”, anh Thịnh bức xúc.
Thu phí để dân có trách nhiệm hơn
Trao đổi với Dân trí về các khoản thu tại địa phương, ông Ngô Đức Chương, Bí thư Đảng ủy xã Quang Lộc, cho biết ngoài các quỹ thu đúng chủ trường với Nhà nước thì địa phương có đề ra một số quỹ đã được thông qua hội đồng nhân dân, được lên phương án về thu chi các khoản. Còn những khoản thu của xóm hay các hợp tác xã đều được họp, bàn bạc, lấy ý kiến của người dân…
Ông Chương cũng chia sẽ thêm trong thời gian tới sắp cận về đích nông thôn mới thì sẽ cho nâng các mức thu lên.
Còn ông Thân Văn Nam, Chủ tịch UBND xã Sơn Lộc thừa nhận, trước đây xã có thu phí nuôi vịt và phí sử dụng máy cày, máy tuốt lúa của dân. Sau khi thấy những khoản thu này không hợp lý xã đã xóa bỏ.
Còn khi được hỏi tại sao thuế tiêm phòng lại vừa thu trên con lại còn thu trên khẩu và nhiều gia đình không chăn nuôi vẫn phải đóng phí tiêm phòng thì ông Nam cho biết là để người dân có trách nhiệm hơn.
“Về quỹ gia súc nhiều hộ không nuôi chúng tôi cũng tiến hành thu phí là để họ có trách nhiệm hơn đồng thời khuyến khích sản xuất”, ông Nam cho biết.
Xuân Sinh – Văn Dũng

-Câu hỏi của bác Phan Trung Lý có lẽ không ổn!

Bùi hoàng Tám -Dantri Thứ Sáu, 03/10/2014 – 06:10
(Dân trí) – Họ làm ăn, quản lý kém cỏi, tham ô, tham nhũng… thì họ phải chịu chứ sao lại kêu gọi người dân “đóng góp” trả nợ thay cho họ? Bác có muốn “học tập Hàn Quốc” thì học tập chứ em thì không, bác Lý ạ.
 >> Hai năm tái cơ cấu kinh tế: Ba chân bước chưa đều!
(Minh họa: Ngọc Diệp)
(Minh họa: Ngọc Diệp)
Theo báo Tuổi trẻ, (bài “Dân góp tiền để xử lý nợ xấu?”), sáng ngày 1/10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nghe báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện tái cơ cấu kinh tế và thảo luận về nội dung báo cáo này.

Tại đây, bác Chủ nhiệm Ủy ban Luật pháp Quốc hội Phan Trung Lý đã rất bức xúc khi đọc cả bản báo cáo mà “không thấy dòng nào nói về trách nhiệm”. Bác Lý còn đề nghị phải phân tích thật cụ thể, ví dụ công ty mua bán nợ xấu hoạt động thế nào, thiếu cơ chế gì, tại sao mua 56.000 tỷ đồng nợ xấu nhưng mới bán được có 1.600 tỷ…
Đây là những ý kiến rất xác đáng và có trách nhiệm cao của một vị đại diện cho dân.
Thế nhưng khi nói về nợ xấu, bác Lý đặt câu hỏi: “Tôi thấy ở Hàn Quốc người ta coi nợ xấu là của toàn xã hội, nên kêu gọi người dân đóng góp tiền, vàng để giải quyết nợ xấu. Chúng ta có học tập được không?”.
Với tư cách một cử tri Hà Nội, một công dân Việt Nam và cũng có thể là một “nạn nhân” của “nợ xấu”, em thấy cách đặt vấn đề của bác không ổn, bác Lý ạ.
Tất nhiên là đối với nước ta, tài sản của ngân hàng cũng có thể là tài sản nhà nước, của nhân dân.
Vì vậy, việc chung tay chia sẻ, gánh vác với ngân hàng cũng là sẻ chia khó khăn để đất nước phát triển.
Chuyện “chung lưng, đấu cật” này ở Việt Nam từng là truyền thống.
Ở tuổi năm sáu mươi như bác và em (Đại biểu Phan Trung Lý sinh năm 1954 tại Nghệ An), chúng ta đã từng chứng kiến nhiều hành động hi sinh cao cả khi Tổ quốc cần. Đó là các phong trào “Thóc không thiếu một cân” ở Thái Bình quê em hay dỡ nhà lót đường cho xe ra mặt trận của miền Trung quê bác.
Rồi trong những ngày đầu dành độc lập, nhân dân đã góp hàng vạn cây vàng cho Chính phủ…
Nhưng chuyện đó hoàn toàn khác với chuyện “đóng góp tiền vàng để giải quyết nợ xấu” hiện nay bởi mấy lẽ.
Thứ nhất về nguyên lý, ai làm người đó chịu. Ngân hàng làm ăn yếu kém, thất thoát (chắc bác quá biết về những đổ vỡ khủng khiếp của ngành ngân hàng thời gian qua) thì ngân hàng phải chịu, lãnh đạo ngân hàng phải chịu….
Nói trắng ra, họ tham ô, tham nhũng, kém cỏi… để lại khối nợ xấu không lồ thì họ phải chịu, sao lại kêu gọi người dân “đóng góp” thay cho họ?
Thứ hai, khi ngành ngân hàng có mức thu nhập cũng “khủng khiếp”, hỏi họ đã chia sẻ gì cho người dân hay họ chỉ chăm chăm tăng lãi suất để hưởng lợi nhuận cho ngành mình, cho bản thân mình?
Thứ ba, bác lấy Hàn Quốc làm một gợi ý cũng không ổn bác ạ.
Em nói không ổn bởi Hàn Quốc là một xã hội minh bạch, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế tài chính, ngân hàng. Họ có thể cũng có tham nhũng nhưng cho đến nay, hình như không (hoặc chưa) có những vụ tham ô, tham nhũng, thất thoát với số tiền cả tỉ tỉ đồng như ở Việt Nam ta. Hệ thống ngân hàng Hàn Quốc có lẽ cũng không có cái gọi là “lợi ích nhóm”…
Nói thật lòng, bác Lý ạ, nếu như các ngân hàng Việt Nam hoạt động minh bạch, biết vì doanh nghiệp, vì cộng đồng, không có (hoặc có nhưng ít) tham ô, tham nhũng mà chỉ bởi những yếu tố khách quan hay thậm chí cả năng lực thì mỗi người dân Việt Nam sẵn sàng chia sẻ với họ.
Thế nhưng với những gì đã diễn ra, lại kêu gọi người dân “đóng góp” quả là rất phi lý.
Bác có “học tập Hàn Quốc” thì học tập chứ em thì không, bác Lý ạ.
Không chỉ có thế, với tư cách cử tri, đề nghị bác trong vai trò Chủ nhiệm Ủy ban Luật pháp Quốc hội hãy làm gì đó thật thiết thực để trước mắt là thu hồi số tài sản tham nhũng về cho đất nước và sâu xa hơn là bài trừ tham nhũng có hiệu quả.
Bùi Hoàng Tám

Đôi lời về tản mạn dân chủ của anh Nguyễn Thế Duyên

Tôi chưa gặp anh, nhưng cũng từng biết anh là một nhà văn. Tôi cũng có đọc một số tác phẩm của anh. Anh viết có những câu chuyện rất hay. Nhất là về tình yêu. Nhưng cũng có những chuyện mang hơi hướng tuyên truyền. Và thật ngạc nhiên là hôm nay, anh đã bước sang một lĩnh vực khác. Là nói chuyện về chính trị.

Tôi cũng là một người rất thích tranh luận về chính trị. Vì đơn giản với tôi là qua đó, tôi có thể biết phần nào những sự thật, mà vì một số lý do nào đó, người khác đã không nói ra.

8 thông tin kinh tế nổi bật tuần qua Anh nói anh không phải là Đảng viên, tôi tin vào điều đó, Và anh cũng nên tin tôi cũng không đảng phái gì hết, cũng không phải người làm hay đòi dân  chủ chi cả, chỉ là một công dân bình thường. Về gia đình tôi, là gia đình có công với cách mạng. Bà ngoại tôi là mẹ Việt Nam anh hùng.
Khi nói về mô hình dân chủ Phương Tây, chúng ta phải công nhận một điều : Nó rất ưu việt. Vì nó cho ta thấy một ví dụ sống động về cuộc sống thoải mái cả về tinh thần lẫn vật chất của người dân. Đã từng có báo chính thống ca ngợi Thụy Sỹ gần như sắp tiến tới CNXH.
Tôi tin rằng, có thể mô hình dân chủ Phương Tây chưa phải là mô hình hoàn hảo nhất cho loài người. Nhưng theo tôi, có lẽ nó là mô hình mà loài người phải đi qua. 
Đọc bài của anh, tôi thấy có những điểm tương đồng với suy nghĩ của tôi. Gốc rễ nằm ở 3 vấn đề sau: (Nếu cả ba vấn đề này nếu cùng thỏa mãn thì mô hình dân chủ Phương Tây sẽ được áp dụng hoàn toàn thích nghi với bất kỳ Quốc gia nào).
1. Là các nước đó ít nhiều đã có sự phát triển của CNTB, đây có thể xem là điều kiện cần. Vì CNTB sẽ khơi mào cho sự đa nguyên về chính trị. Những nước còn hoặc vừa thoát ra khỏi chế độ Phong kiến thì mầm đa nguyên chưa kịp phát triển. Mà anh biết rồi đó, chế độ Phong kiến là chế độ độc tài. Nó sẽ bóp chết những phản kháng ngay từ trong trứng. Nên những chế độ tiếp sau ấy, nếu không phát triển qua CNTB sẽ thừa hưởng sự độc tài từ chế độ phong kiến. Như Lybi, Trung Quốc chẳng hạn.
2. Là trình độ dân trí của người dân phải đạt đến 1 mức nào đó để nhận thức được và sẵn sàng bảo vệ quyền của họ. Đó là quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền tự do báo chí, tự do lập hội, tự do biểu tình , tự do học thuật , quyền tự chủ đại học hay quyền sở hữu ruộng đất…
3. Cuối cùng, là điều quan trọng nhất. Đó là những người lãnh đạo phải là những người tài giỏi, đủ tâm, đủ tầm để hướng nhân dân đi theo đúng quỹ đạo mô hình dân chủ. Nhằm tránh những xáo trộn xã hội sau khi chuyển tiếp.

Do đó, chúng ta có thể thấy một số nước vừa quay sang mô hình dân chủ đã thích nghi ngay. Nhưng có những nước lại xảy ra đủ thứ chuyện hậu dân chủ, cũng như Miền Nam trước kia và bây giờ là Lybi, I Răc, Ukraina.

Riêng chuyện anh nói về chủ nghĩa Mác thì tôi không đồng ý một vài điểm. Anh nói các bạn hiểu gì về chủ nghĩa Mác, và anh bảo là anh chưa thấy nó sai ở đâu. Tôi có thể chỉ ra chỗ sai đầu tiên cho anh thấy. Mặc dù tôi cũng không phải là nhà triết học, cũng là người rất ngưỡng mộ ông Mác.

Xét về lý thuyết, lẽ ra giai cấp Vô sản phải thành công trong việc giành được chính quyền ở những nước mà nền Công nghiệp phát triển mạnh mẽ, giai cấp Công nhân cũng phát triển mạnh mẽ tương ứng. Nhưng suốt một thế kỷ qua, không có trường hợp nào như vậy.

Ngược lại, ở những nước mà giai cấp Vô sản giành được chính quyền. Những nước đó còn đang ở chế độ Phong kiến, hoặc vừa mới thoát ra khỏi Phong kiến, và nền Công nghiệp hầu như chưa phát triển. Vậy thì lý do tại sao?

Chỉ có một cách giải thích, đó chính là những cuộc khởi nghĩa nông dân. Nhưng lần này, không phải là các anh hùng áo vải, mà như là sự xếp đặt của lich sử hay ta gọi là số phận cũng được, lãnh đạo phong trào là các ĐCS. Như vậy, giữa lý thuyết và thực tiễn đã có sự khác biệt ngay từ đầu.

Vì chính bản thân Mác cũng không thể tưởng tượng được là giai cấp vô sản (mà thực chất ở đây là nông dân) lại thành công trước khi ra đời CNTB. Do đó, ông không hề đề cập đến chuyện quá độ từ Phong kiến bỏ qua CNTB đi lên CNXH. Ông chỉ đưa ra quá trình quá độ từ CNTB kên CNXH sau khi giai cấp vô sản đã đào mồ chôn CNTB.

Do đó, anh nói Lê Nin sai là không đúng, mà Lê Nin chỉ chữa cháy cho giáo trình bằng cách thêm vào phần quá độ từ Phong kiến bỏ qua CNTB đi lên CNXH. Đó chính là Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước.

Nhưng vấn đề lại nằm ở chỗ, muốn Công Nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước thì nền kinh tế phải phát triển, mà muốn nền kinh tế phát triển thì bắt buộc phải trải qua kinh tế thị trường. Nhưng muốn kinh tế thị trường khởi sắc thì phải cho tư hữu hóa tư liệu sản xuất, vậy thì đi một vòng CNTB sơ khai bắt đầu xuất hiện. Do đó, để kềm hãm sự xuất hiện, hoặc không muốn thấy CNTB thì chính quyền lại không dám cho tư hữu hóa. Chính vì sự không đồng nhất về phát triển chính trị và kinh tế nên nền kinh tế sẽ trở nên trì trệ, gia tăng ngày càng sự bất mãn của người dân. Và cuối cùng điều gì đến đã đến. Thành trì của phe XHCN sụp đổ. Tất nhiên ngoài ra còn có các yếu tố khác. Nhưng theo tôi, có lẽ đó là nguyên nhân chính, vì không có chính sách phát triển phù hợp với dòng chảy của lịch sử.

Còn câu hỏi cuối của anh. Tôi đã trả lời anh bằng ba vấn đề ở trên. Mong được trao đổi nhiều thêm với anh.
  Bayxa Tinh
  (Quê Choa)

Việt - Mỹ: củng cố lòng tin vì lợi ích chung

Chỉ huy tàu khu trục USS John S. McCain (Mỹ) giao lưu với đại diện Vùng 3 hải quân Việt Nam nhân dịp ghé thăm Đà Nẵng năm 2012 - Ảnh: Đăng Nam
Chỉ huy tàu khu trục USS John S. McCain (Mỹ) giao lưu với đại diện Vùng 3 hải quân Việt Nam nhân dịp ghé thăm Đà Nẵng năm 2012 - Ảnh: Đăng Nam
Lòng tin được củng cố và vì lợi ích chung là nhận định của một số chuyên gia, sau khi Mỹ cho phép bán các thiết bị quốc phòng, gồm vũ khí sát thương, vì mục đích an ninh hàng hải cho Việt Nam.

Các quan chức Mỹ và giới chuyên gia nhận định việc Mỹ dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam sẽ giúp cải thiện đáng kể quan hệ an ninh, quốc phòng và chính trị song phương.

Sáng 3-10 (giờ Việt Nam), người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki thông báo trong cuộc hội đàm với Phó thủ tướng - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cho biết Mỹ “đã cho phép chuyển giao các thiết bị quốc phòng, bao gồm vũ khí sát thương, vì mục đích đảm bảo an ninh hàng hải cho Việt Nam”.

Lệnh cấm bán các loại vũ khí sát thương khác, ví dụ như xe tăng, vẫn có hiệu lực cho đến khi Mỹ và Việt Nam giải quyết được những vướng mắc, bất đồng còn tồn đọng.

“Chính sách này hỗ trợ các nỗ lực của Việt Nam nhằm cải thiện năng lực giám sát và đảm bảo an ninh hàng hải” - người phát ngôn Psaki nhấn mạnh.

AFP dẫn lời một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết mọi loại khí tài có thể cung cấp cho Việt Nam đều mang tính chất phòng thủ. “Chúng tôi không đụng đến những hệ thống gây bất ổn. Các loại khí tài có thể bán cho Việt Nam sẽ không làm thay đổi thế cân bằng khu vực” - quan chức này quả quyết.

Đảm bảo an ninh hàng hải

“Việt Nam là đối tác quan trọng của Mỹ”

Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết trong cuộc hội đàm với Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đánh giá sự phát triển của Việt Nam trong 20 năm qua là “phi thường”. “Việt Nam đã trở thành một quốc gia hiện đại và là đối tác quan trọng của Mỹ” - ông Kerry nhấn mạnh. Trong cuộc hội đàm, ông Kerry và ông Phạm Bình Minh cũng kêu gọi hai nước sớm hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và thảo luận các diễn biến trên biển Đông. Ông Kerry cho rằng các nước khu vực cần tuân thủ Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC), không thực hiện các hành động có thể làm leo thang căng thẳng và gây bất ổn.


Trả lời phỏng vấn Tuổi Trẻ, giáo sư Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Úc, nhận định tuyên bố của Mỹ đánh dấu một bước tiến lớn trong quan hệ quốc phòng Mỹ - Việt theo thỏa thuận đối tác toàn diện ký kết năm 2013.

“Việt Nam rất cần cải thiện năng lực giám sát và đảm bảo an ninh hàng hải, Mỹ có đầy đủ điều kiện để hỗ trợ Việt Nam” - giáo sư Thayer khẳng định.

Trên thực tế, lệnh cấm bán vũ khí sát thương luôn là một vướng mắc trong quan hệ hai nước nhiều năm qua.

“Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy sự tin cậy lẫn nhau mang tầm chiến lược giữa Washington và Hà Nội đang ngày càng gia tăng. Sự kiện này không chỉ giúp tăng cường quan hệ an ninh và quốc phòng giữa Mỹ và Việt Nam, mà cả quan hệ chính trị hai nước” - giáo sư Thayer tin tưởng.

Reuters dẫn lời một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương “là bước đầu tiên cực kỳ quan trọng, giúp thúc đẩy quan hệ hợp tác trong tương lai”.

Trong cuộc hội đàm với Phó thủ tướng - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, Ngoại trưởng Kerry giải thích Washington đưa ra quyết định trên vì Việt Nam đã có những “bước đi tích cực” trong việc cải thiện nhân quyền.

Theo tuyên bố của người phát ngôn Psaki, việc Mỹ dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam hoàn toàn không nhằm mục đích “chống Trung Quốc” như giới truyền thông đánh giá.

Một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ đánh giá Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khu vực biển Đông thiếu năng lực đảm bảo an ninh hàng hải. “Đây là một nhu cầu đặc thù của khu vực. Chúng tôi muốn hỗ trợ Việt Nam tham gia các sáng kiến an ninh hàng hải trong khu vực” - quan chức này nhấn mạnh.
Lực lượng hải quân hai nước Việt - Mỹ cùng tham gia diễn tập chống cháy nổ trên tàu John. S. McCain tại cảng Tiên Sa Lớn, Đà Nẵng - Ảnh: Đăng Nam
Lực lượng hải quân hai nước Việt - Mỹ cùng tham gia diễn tập chống cháy nổ trên tàu John. S. McCain tại cảng Tiên Sa Lớn, Đà Nẵng - Ảnh: Đăng Nam
Máy bay tuần tra và trực thăng

Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết hiện Việt Nam vẫn chưa có yêu cầu cụ thể nào về việc mua khí tài từ Mỹ. Washington sẽ xem xét việc bán vũ khí cho Việt Nam theo nguyên tắc từng trường hợp cụ thể.

Trước đó, Reuters dẫn các nguồn tin từ Mỹ tiết lộ Washington có thể sẽ bán cho Việt Nam máy bay tuần tra hàng hải P-3 Orion của Hãng Lockheed Martin. Giáo sư Thayer cho biết P-3 Orion là loại máy bay tuần tra đáng tin cậy và thường xuyên được nâng cấp nên chất lượng rất cao.

“Hiện Mỹ đang thay thế máy bay P-3 Orion bằng loại P-8 Poseidon của Boeing, do đó mức giá P-3 Orion có thể sẽ giảm. Nhiều khả năng loại máy bay này khi bán sang Việt Nam sẽ không có vũ khí chống tàu và tàu ngầm. Tuy nhiên P-3 Orion sẽ cải thiện đáng kể năng lực tuần tra hàng hải của Việt Nam, bởi loại máy bay này có khả năng giám sát trên diện tích rộng hơn rất nhiều so với bất kỳ máy bay tuần tra nào khác Việt Nam đang sở hữu” - giáo sư Thayer cho biết.

Các quan chức Mỹ cũng cho biết Việt Nam có thể sẽ được mua các loại máy bay khác như P-8 của Boeing hay A-29 Super Tucano hoặc máy bay trực thăng để tuần tra hàng hải.

Ngoài ra, Việt Nam còn có thể mua một số tàu thuyền tuần tra. Việc mua các loại thiết bị nào sẽ phụ thuộc vào đối thoại giữa Mỹ và Việt Nam, cũng như việc Việt Nam đánh giá nhu cầu an ninh hàng hải của mình, đặc biệt là về lực lượng cảnh sát biển. Giáo sư Thayer cho rằng Việt Nam cũng cần quan tâm tới các hệ thống rađa giám sát hàng hải.

“Kể cả nếu Việt Nam không mua sắm các loại khí tài hiện đại thì mối quan hệ hợp tác quốc phòng Mỹ - Việt cũng sẽ mở rộng tới các lĩnh vực như bảo dưỡng thiết bị, cung cấp phụ tùng, đào tạo huấn luyện...” - giáo sư Thayer nhận định.

Ông tiết lộ theo một số nguồn tin riêng của ông từ Washington, Mỹ đã tăng ngân sách cho chương trình bán thiết bị quân sự nước ngoài (FMS), qua đó sẽ hỗ trợ Việt Nam mua sắm các thiết bị quốc phòng cần thiết.

Lòng tin và lợi ích chung

Đó là bình luận của thiếu tướng LÊ VĂN CƯƠNG - nguyên viện trưởng Viện chiến lược Bộ Công an - trước tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Ông Cương nói: Động thái của phía Hoa Kỳ cho chúng ta thấy ba điều:

Thứ nhất, trước đây Mỹ đưa ra lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam nói riêng và các nước khác nói chung phản ánh tình hình quan hệ của hai nước lúc đó, nhưng hiện nay rõ ràng Việt Nam không phải là kẻ thù của Mỹ và người Mỹ nhận thức rõ điều này.

Thứ hai, trong bối cảnh quốc tế hiện tại, Mỹ và Việt Nam dù chưa phải là đồng minh, liên minh nhưng giữa hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, chỉ có những quốc gia như vậy thì Hoa Kỳ mới gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương.

Thứ ba, nói gì thì nói, tôi nghĩ thông điệp gián tiếp ở đây là hai nước có mối thách thức chung, việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí mang lại lợi ích cho đôi bên.

Động thái trên cũng phản ánh hai điều rất rõ: Thứ nhất, lòng tin giữa đôi bên được củng cố. Thứ hai, hai bên tồn tại lợi ích chung.

* Có ý kiến cho rằng tại thời điểm này Việt Nam không có nhiều nhu cầu mua vũ khí sát thương của Mỹ. Tuyên bố gỡ bỏ một phần lệnh cấm sẽ mang ý nghĩa ngoại giao nhiều hơn, ông nghĩ sao?

- Người nào nghĩ như vậy thì chắc họ không nhận thức hết được những nguy cơ, đe dọa đối với an ninh quốc gia, thách thức đối với độc lập chủ quyền của Việt Nam.

Chúng ta rất cần vũ khí phòng thủ để bảo vệ chủ quyền quốc gia, vấn đề là chúng ta không có nhiều tiền để mua sắm những gì chúng ta muốn.

Hiện chúng ta có nhu cầu rất lớn trong việc thiết lập hệ thống phòng thủ trên biển với các trang thiết bị, vũ khí hiện đại, vì vậy tôi tin chắc Việt Nam sẽ ưu tiên mua sắm những gì phù hợp với điều kiện của mình.

Lâu nay, chúng ta mua nhiều vũ khí, trang bị của Nga, nhưng chắc chắn nếu đa dạng hóa được trang thiết bị, vũ khí từ cả Hoa Kỳ thì sẽ tốt hơn.

Vũ khí của Nga và của Mỹ có tính năng, tác dụng khác nhau, ưu thế khác nhau, nếu chúng ta có cả hai thì sẽ tốt hơn, đó là chưa kể trong một số trường hợp vũ khí sát thương trên biển của Mỹ còn có ưu thế hơn của Nga.
LÊ KIÊN thực hiện
HIẾU TRUNG
(Tuổi Trẻ)

'Việt-Mỹ có thể thay đổi tương lai'

Chúng ta không thể thay đổi lịch sử nhưng có thể thay đổi tương lai bằng cách làm việc cùng nhau - Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.
ASEAN, Mỹ, TPP, đối tác toàn diện, Phó Thủ tướng, Phạm Bình Minh 
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh phát biểu tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS)
Bên lề chuyến thăm chính thức Mỹ, ngày 1/10 (giờ địa phương), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã đến dự và phát biểu tại lễ công bố Báo cáo “Một kỷ nguyên mới trong quan hệ VN - Mỹ: thúc đẩy hơn nữa quan hệ sau hai thập niên bình thường hóa” ở Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), Washington.
Ông ca ngợi những bước tiến đã đạt được trong quan hệ song phương 20 năm qua và nhìn nhận còn nhiều tiềm năng tiếp tục phát triển mối quan hệ vì hòa bình và ổn định của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
“Có rất nhiều triển vọng cho hai nước để làm việc cùng nhau vì lợi ích của người dân hai nước, vì hòa bình, thịnh vượng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đó là lý do vì sao hơn một năm trước, Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama tuyên bố quan hệ hai nước là đối tác toàn diện để cung cấp một khuôn khổ rộng cho hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực để nắm bắt được những tiềm năng đó".
Trong bài phát biểu, ông nhắc lại lời Ngoại trưởng John Kerry rằng, không quốc gia nào nỗ lực mãnh mẽ hơn, làm nhiều hơn, làm tốt hơn để vượt qua sự khác biệt, để làm việc cùng nhau, thay đổi lịch sử và thay đổi tương lai như Mỹ và VN.
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao điểm lại tóm tắt những thành tựu mà hai nước đã đạt được trong suốt 20 năm qua kể từ khi bình thường hóa quan hệ. Theo ông, sau 20 năm, thương mại hai chiều đã tăng hơn 130 lần so với thời gian đầu đạt 30 tỷ USD vào năm 2013.
Hai nước cũng đang tích cực đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Về quan hệ nhân dân hai nước, VN hiện đã trở thành nước đứng đầu khối ASEAN trong việc gửi sinh viên sang du học tại Mỹ.
Hai nước cũng tiến hành một loạt các đối thoại cấp cao trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, lao động và nhân quyền. Quan hệ hợp tác song phương được mở rộng sang nhiều lĩnh vực như môi trường, thay đổi khí hậu, nhân đạo, cứu trợ thảm họa...
Ông cho rằng, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, hai bên cần nỗ lực làm việc về những vấn đề còn tồn tại, đặc biệt liên quan đến cuộc chiến VN như chất độc da cam và tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh.
Để thắt chặt hơn nữa quan hệ Việt - Mỹ, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đánh giá cao những khuyến nghị được đưa ra trong báo cáo của CSIS nhưng cũng đưa ra những đề nghị chung trong quan hệ hai nước.
“Cả hai nước cần tăng gấp đôi nỗ lực để làm sâu hơn quan hệ hai nước và làm việc trong khuôn khổ của ASEAN và các đối tác khác để đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực và hơn thế. Hai nước nên làm việc tích cực hơn nữa với các nước khác để hoàn tất TPP. Với việc ASEAN xây dựng cộng đồng chung đến năm 2015, Việt Nam sẽ gia tăng nỗ lực để thắt chặt hơn quan hệ đối tác giữa ASEAN và Mỹ. Hòa bình, thịnh vượng và an ninh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương đòi hỏi một VN mạnh hơn trong một ASEAN đoàn kết và sự tham gia của các nước có liên quan trên toàn thế giới, đặc biệt là Mỹ".
Ông khẳng định: "Chúng ta không thể thay đổi lịch sử nhưng có thể thay đổi tương lai bằng cách làm việc cùng nhau”.
Tiếp: 'Quan hệ Việt - Mỹ có tác động thế nào tới TQ và vấn đề Biển Đông'- ? Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhận câu hỏi từ phóng viên đến từ TQ trong phần hỏi - đáp sau bài phát biểu
Thái An
(VNN)

-Đồi Cù Đà Lạt

 Boxitvn

Mai Thái Lĩnh
Đây chỉ là câu chuyện của một thành phố nhỏ trên cao nguyên. Nhưng cũng như việc tìm hiểu một tế bào hay một bộ phận có thể giúp ta hiểu được tình trạng chung của một cơ thể, câu chuyện này có thể giúp độc giả hình dung được diện mạo của cái gọi là “chủ nghĩa xã hội” trên đất nước ta trong gần ba thập kỷ vừa qua, nghĩa là trong giai đoạn được mệnh danh “đổi mới”.
Sân golf Đà Lạt trong các đồ án thời Pháp thuộc:
Mặc dù người Pháp đã có ý định xây dựng một sân golf tại Đà Lạt từ rất sớm, mãi đến đầu thập niên 1920 công việc này vẫn chưa được tiến hành. Trong đồ án đầu tiên của Đà Lạt do kiến trúc sư Ernest Hébrard thiết kế vào năm 1923, địa điểm xây dựng sân golf nằm ở phía đông-bắc của hồ nước lớn nhất (tức hồ Xuân Hương ngày nay). Địa điểm này không nằm sát bờ hồ, như chúng ta thấy trong hình sau đây:

image
Hình 1 : Trích đồ án Hébrard 1923
Nhìn vào bản đồ, chúng ta thấy địa điểm xây dựng sân golf (Golf Links) nằm trong Khu đất dành cho thể thao (Terrain de sports), giữa Câu lạc bộ Thể thao (Club sportif) và khu dành cho Bơi lội (Natation) – Chạy bộ (Courses). Đối diện phía bên kia suối là Trường trung học dành cho nam sinh (Collège de garçons). So sánh với các bản đồ sau này, chúng ta thấy vị trí này hầu như không thay đổi; nhưng do hồ lớn ở trung tâm thành phố (tức hồ Xuân Hương ngày nay) được mở rộng hơn so với ban đầu cho nên dòng suối chảy giữa sân golf và trường Trung học Yersin (Grand Lycée) không còn là một dòng nước hẹp mà đã trở thành một phần của hồ trung tâm.
Điều đáng nói là nếu dựa theo đồ án Hébrard, trên khu đất phía bắc của hồ (hướng tây-nam của sân golf) sẽ chỉ có một công viên (jardin public) nhỏ, phần còn lại được dành để chia lô làm nhà (lotissements). Nói cách khác, nếu thực hiện đúng đồ án của Hébrard, phần lớn khu vực Đồi Cù hiện nay đều là biệt thự hay nhà dân, và Đà Lạt sẽ không có một thắng cảnh được gọi tên là Đồi Cù.
Trái với ý kiến của nhiều người (kể cả một số chuyên gia trong ngành kiến trúc – xây dựng ở nước ta), đồ án Hébrard không phải là đồ án duy nhất định hình cho Đà Lạt trong nửa đầu của thế kỷ 20. Trong thực tế, công tác quy hoạch của Đà Lạt trong giai đoạn này đã chịu ảnh hưởng của hai đồ án quan trọng: đồ án Hébrard 1923đồ án Pineau 1932-33 (tên gọi đầy đủ là Đồ án chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt 1932-33).
Louis Georges Pineau (1898-1987) tốt nghiệp bằng thiết kế đô thị (urbanisme) năm 1927, tốt nghiệp bằng kiến trúc sư vào năm 1928. Ông đến Đông Dương vào năm 1930, là kiến trúc sư hạng nhất của Nha Công chánh Đông Dương (Travaux publics de l’Indochine) từ 1930 đến 1945, và từ 1941 đến 1944 là Phó giám đốc của Trung tâm Kiến trúc và Thiết kế đô thị Hà Nội (Service central d’architecture et d’urbanisme de Hanoï). Vào lúc được giao trách nhiệm quy hoạch lại đô thị Đà Lạt, ông cho biết “chỉ có một phần nhỏ của đồ án (Hébrard) được thực hiện – bao gồm cả việc phân lô và con đường tản bộ xung quanh hồ.”
Trong đồ án mới, Pineau đặc biệt phê phán việc phân lô để làm nhà ở phía bắc hồ lớn. Ông viết: “Đồ án Hébrard – được dự kiến cho một thành phố lớn, đã có một khuyết điểm là chuyển đổi nhiều địa điểm thuận lợi cho việc cư trú thành các lô đất làm nhà khá dày. Thắng cảnh biến mất giữa các công trình kiến trúc; những khu đất phân lô đó bao quanh toàn bộ hồ; nếu sử dụng một cách diễn đạt của kiến trúc sư, có thể nói hồ đã đánh mất kích thước (perdait son échelle) của mình do nằm cạnh các công trình kiến trúc và trở thành một vũng nước hẹp và bị thu nhỏ.”
Ông đề ra giải pháp như sau : “Để chống lại nguy cơ đó, phần đất dành cho sân golf hiện nay được gia tăng và nối liền với hồ bởi một công viên. Tất cả phần còn lại của vùng đất phía bắc hồ (rất may là bao gồm các khu đất công của thị xã, lại gặp khó khăn trong việc xây dựng) được bao gồm trong một vùng bất kiến tạo rộng lớn (une vaste zone non œdificandi). Vùng đó tạo thành một góc lớn hơn 90 độ – có đỉnh là trung tâm của trạm nghỉ dưỡng và kéo dài đến tận các đỉnh của dãy Langbian – nghĩa là đến chân trời. Đó là khởi đầu của một công viên quốc gia – nơi bảo vệ hàng loạt các loài phong lan đa dạng đang biến mất nhanh chóng nếu chúng ta không chú ý giữ gìn, cũng như các loài thú như Nai cà-tông[1] và gấu – đang chịu cùng chung số phận.”[2]
Ý tưởng độc đáo của Pineau về một công viên quốc gia ở phía Bắc Đà Lạt về sau đã không thể trở thành hiện thực. Nhưng chính giải pháp “nối liền sân golf với hồ bằng một công viên” đã tạo ra khu vực Đồi Cù nổi tiếng về sau này.
Trong đồ án cuối cùng của người Pháp tại Đà Lạt (tức đồ án Lagisquet năm 1943), phần đất phía bắc Hồ Lớn (Grand Lac – tức hồ Xuân Hương hiện nay) được ghi chú số 24 (espaces libres, khoáng địa) và 19 (sports-stades, thể thao-sân vận động). Viễn cảnh nhìn về phía núi Lang-Bian vẫn được bảo tồn như dự kiến của Pineau. Tuy đồ án này không nói rõ về sân golf nhưng chúng ta có thể hiểu phần đất dành cho sân golf không có gì thay đổi so với đồ án Pineau, vì phía bắc của Hồ Lớn vẫn là một công viên tự nhiên. Cần lưu ý là vào thời điểm này (1943), sân golf đã được xây dựng xong và đã trải qua 10 năm hoạt động.
image
Hình 2 : Trích đồ án Lagisquet 1943
Việc xây dựng gân golf trong thực tế đã thể hiện đúng ý tưởng của Pineau: khu vực phía bắc Hồ Lớn bao gồm một sân golf và một công viên nằm sát cạnh bờ hồ, như chúng ta thấy trên tờ bản đồ dưới đây – được vẽ vào cuối thời Pháp thuộc:
image
Hình 3 : Trích bản đồ Đà Lạt (khoảng cuối thập niên 1940)
Quá trình xây dựng sân golf Đà Lạt:
Trong một cuốn sách hướng dẫn du lịch Đà Lạt viết bằng tiếng Pháp – xuất bản vào năm 1930, có đoạn ghi: “Sân golf đang được xây dựng sẽ có 18 lỗ (…). Khai trương vào tháng 2 năm 1931.”[3]
Trong thực tế, sân golf Đà Lạt không hoàn thành đúng kỳ hạn nói trên, bởi lẽ trong các tháng 4 và 5 năm 1931, một số báo ở Hà Nội và Sài Gòn vẫn còn bàn cãi xung quanh kinh phí dành cho việc xây dựng sân golf này. Vd: báo L’Éveil économique de l’Indochine chỉ trích Toàn quyền Pasquier về việc lãng phí một số tiền quá lớn (750 ngàn francs) để xây dựng một sân golf chỉ dành cho những “vị khách quý tộc” (nguyên văn: “les nobles visiteurs”).[4] Mặt khác, chi tiết “sân golf gồm có 18 lỗ” là không chính xác, vì trong thực tế sân golf Đà Lạt dưới thời Pháp thuộc chỉ là “sân golf với 9 lỗ” (golf à neuf trous), như đã được nói rõ trong bài viết về Đà Lạt của Munier đăng trên tạp chí Indochine [5]. “Sân golf 9 lỗ” này tồn tại mãi cho đến tháng 4 năm 1975 và chỉ trở thành “sân golf 18 lỗ” khi bắt đầu được “thương mại hóa” vào đầu thập niên 1990.
Sân golf Đà Lạt hoàn thành vào năm nào?
Trong Tập san hành chính Trung kỳ (Bulletin administratif de l’Annam) số 2 năm 1933 (ngày 21 tháng 2 năm 1933) có ghi trích đoạn từ một quyết định ngày 20-1-1933 cho phép thành lập một hội có tên là “Câu lạc bộ Golf Đà Lạt” (Golf Club de Dalat).
image
Hình 4 : Trích đoạn từ quyết định cho phép thành lập Câu lạc bộ golf Đà Lạt 20-1-1933
Như vậy, chúng ta có thể ước đoán sân golf Đà Lạt hoàn thành trong năm 1932. Và mặc dù chưa tìm ra bản điều lệ kèm theo quyết định nói trên, với nội dung của đoạn trích (giấy phép có thể bị thu hồi, mọi sửa đổi về điều lệ về sau buộc hội phải xin giấy phép mới), chúng ta cũng có thể hiểu : sân golf Đà Lạt không phải là tài sản của tư nhân hay của một hiệp hội mà là một tài sản công được giao cho một hiệp hội (Câu lạc bộ Golf Đà Lạt) để sử dụng, nhưng hoạt động của hội này phải dựa trên một bản điều lệ do chính quyền phê duyệt.
Tóm lại, khu vực về sau được người dân gọi tên là “Đồi Cù” thật ra bao gồm hai bộ phận: một sân golf 9 lỗ được giao cho Câu lạc bộ Golf Đà Lạt sử dụng (mà người dân thường gọi là “sân cù”) và một công viên (jardin public) dành cho toàn thể nhân dân thành phố và khách du lịch. Vì công viên này không được đặt tên, lại gắn liền với sân cù (sân golf), cho nên người dân gọi tên là “Đồi Cù”. Như vậy, “Đồi Cù” có thể được hiểu bằng hai nghĩa: toàn bộ khu vực Đồi Cù – bao gồm cả công viên và sân golf (nghĩa rộng) hoặc chỉ bao gồm công viên “Đồi Cù” (nghĩa hẹp).
Sự sống chung giữa một sân golf (một tài sản công được giao cho một tập thể sử dụng) và một công viên (tài sản công phục vụ lợi ích chung) đã được tuân thủ suốt thời Pháp thuộc. Những người tham gia Câu lạc bộ Golf Đà Lạt có quyền chơi golf – một môn thể thao của giới thượng lưu, nhưng không gây trở ngại gì cho người dân Đà Lạt cũng như khách du lịch trong việc sử dụng công viên “Đồi Cù”. Đồi Cù không hề bị rào lại để dành cho những người có tiền, toàn bộ hai tài sản quý giá ấy cũng không trở thành tài sản để kinh doanh của bất cứ “đại gia” hay tập đoàn tư bản nào cả.
image
Hình 5 : Trích bản đồ Đà Lạt tỷ lệ 1 : 10.000 phát hành năm 1960
Từ khi Đà Lạt được giao trả lại cho nhà Nguyễn với quy chế “Hoàng triều cương thổ” (Domaine de la Couronne) – vào năm 1950, cho mãi đến tháng 4 năm 1975, không có một đồ án thiết kế nào của Đà Lạt được chính thức phê duyệt – do biến động về chính trị và do tình trạng chiến tranh. Quy chế của khu vực Đồi Cù được coi như kế thừa từ các đồ án thiết kế thời Pháp thuộc, như chúng ta có thể nhìn thấy trên tấm bản đồ của Nha Địa dư Quốc gia Đà Lạt phát hành năm 1960 (hình 5). Trên tấm bản đồ này, sân golf Đà Lạt (được ghi là Sân Cù) nằm ở phía bắc con lạch nhỏ chảy theo hướng tây-bắc – đông-nam, đổ nước vào hồ Xuân Hương tại địa điểm được đặt tên là “Vườn Bích Câu”. Sân Cù không hề bao gồm khu đồi phía bắc hồ Xuân Hương.
Tuy nhiên, vì ranh giới giữa sân golf và công viên Đồi Cù không được xác định rõ ràng cho nên trong một số tấm bản đồ khác, đã có sự nhầm lẫn về phần đất dành cho sân golf. Vd: trên tấm bản đồ Đà Lạt tỷ lệ 1:12,500 do Quân đội Hoa Kỳ phát hành năm 1963, chữ Golf course (Sân Cù) được ghi hai lần – cả trên phần đất của sân golf lẫn trên phần đất của công viên.[6] Sự nhầm lẫn này có lẽ là do những người lập bản đồ đã không hiểu rõ cách thức quy hoạch của các kiến trúc sư người Pháp. Mặt khác, cũng có thể sự nhầm lẫn bắt nguồn từ chỗ người dân gọi cả hai phần đất là “Đồi Cù”.
Dẫu sao thì sự nhầm lẫn này vẫn chưa gây phương hại một khi cả hai còn là tài sản công của “thị xã Đà Lạt”. Sự nhầm lẫn chỉ trở nên tai hại khi toàn bộ khu vực Đồi Cù bị “thương mại hóa” vào đầu thập niên 1990, như chúng ta sẽ thấy ở phần sau.
Khi toàn bộ Đồi Cù biến thành sân golf:
Sau tháng 4 năm 1975, tất cả những tài sản quan trọng (nhất là đất đai) đều lọt vào tay “Nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Cả sân golf lẫn công viên “Đồi Cù” đương nhiên cũng thuộc quyền quản lý của “Nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Nhưng trong giai đoạn thường được mệnh danh là “tập trung quan liêu-bao cấp”, chỉ có những nhu cầu căn bản như “ăn, mặc, ở, đi lại” mới được coi là nhu cầu thiết thân, còn môn đánh golf dành cho người có tiền đương nhiên bị xếp vào loại xa xỉ. Hơn thế nữa, vào lúc đó kinh tế thị trường còn bị xếp vào phạm trù “kinh tế tư bản chủ nghĩa”, khái niệm ”tấc đất tấc vàng” chưa phát huy tác dụng; do đó khu vực Đồi Cù chưa trở thành miếng mồi béo bở của các nhà đầu tư, và cũng chưa trở thành tâm điểm chú ý của những người có thẩm quyền.
Trong giai đoạn đó, sân golf trở thành hoang vắng, còn cái công viên “trời cho” ấy tuy không được chăm sóc nhưng vẫn còn là tài sản công, chưa trở thành sở hữu của riêng ai. Người dân Đà Lạt và du khách vẫn có thể đến Đồi Cù để ngoạn cảnh, chụp ảnh; thanh thiếu niên có thể đến đó để cắm trại, những cặp trai gái yêu nhau vẫn còn có chỗ để tự tình, trẻ con có thể đến đó để chạy nhảy, thả diều, v.v…
Chỉ đến đầu thập niên 1990, nghĩa là sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực sự bước vào giai đoạn “đổi mới kinh tế”, thì Đồi Cù mới bắt đầu trở thành một miếng mồi ngon để thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.
Vào hạ tuần tháng 4 năm 1992, một cách hết sức đột ngột, toàn bộ khu vực Đồi Cù bị rào lại và sau đó các xe cơ giới rầm rộ san ủi mặt bằng, đào đắp để biến toàn bộ khu vực này (bao gồm cả sân golf cũ và công viên Đồi Cù) thành một sân golf hiện đại. Hành động vội vã và thiếu minh bạch này đã gây ra một làn sóng phản đối thể hiện trên báo chí – nhất là các báo phát hành ở miền Nam. Một bài viết đăng trên báo Phụ nữ TP.HCM có nhận xét như sau : “Như vậy, có thể nhận thấy việc khởi công xây dựng tại Đồi Cù không những đã tỏ ra vội vàng, thiếu cân nhắc trước dư luận khá tập trung và rất chính đáng của quần chúng mà còn được thực hiện trước khi có các thủ tục pháp lý cần thiết. Dư luận tại Lâm Đồng cho rằng, việc thực hiện cập rập công trình này có liên quan đến chuyến đi thăm Thái Lan của 6 vị chức sắc của tỉnh Lâm Đồng vào tháng 12/1991, mọi chi phí do Công ty DANAO LTD đài thọ. Trong số đó có những vị là chủ tịch tỉnh và phó chủ tịch tỉnh… ”[7]
Trong một bài báo đăng trên báo Lao động Chủ nhật ngày 6-9-1992, nhà báo Phạm Thái đã phỏng vấn một số nhân vật như : Chủ tịch Hội đồng Nhân dân TP. Đà Lạt Trần Trọng Bình, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP. Đà Lạt Hoàng Đức Long, bà Đặng Việt Nga – Chủ tịch Hội kiến trúc sư tỉnh; v.v… Tất cả đều cho biết họ không nắm được thông tin gì về công trình “nâng cấp sân golf” trước khi công trình này được khởi công.[8]
Việc thi công hấp tấp đó lại càng tỏ ra thiếu minh bạch khi về sau, người ta được biết giấy phép đầu tư đã được Ủy ban Nhà nước về Hợp tác Đầu tư ký từ ngày 8-8-1991 và giấy phép rào Đồi Cù đã được Ủy ban Nhân dân Tỉnh ký từ ngày 31-1-1992. Hơn thế nữa, chủ trương tiến hành thương mại hóa toàn bộ khu vực Đồi Cù hoàn toàn không thông qua Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt – cơ quan được mệnh danh là “đại biểu của nhân dân” tại địa phương. Trong một kỳ họp của Hội đồng Nhân dân TP. Đà Lạt diễn ra vào hạ tuần tháng 5 năm 1992, nhiều đại biểu đã phát biểu ý kiến bày tỏ sự phản đối trước việc triển khai dự án xây dựng sân golf 18 lỗ mà không thông qua cơ quan đại biểu của nhân dân thành phố, và những người có thẩm quyền của cấp Tỉnh đã tỏ ra hết sức lúng túng trước các câu chất vấn này. Mặc dù vậy, bất chấp sự phản đối từ phía quần chúng địa phương, từ các đại biểu dân cử cũng như từ phía báo chí, dự án “sân golf 18 lỗ” vẫn được tiến hành; bởi lẽ dưới chế độ cộng sản, một khi dự án đã được lãnh đạo Đảng quyết định – lại được sự hỗ trợ của đồng đô-la từ nước ngoài, thì không ai có thể ngăn cản, cho dù dự án đó mang tính phiêu lưu hay điên rồ.
Vào lúc đó, khái niệm “sân golf hiện đại” vẫn còn khá xa lạ đối với người Việt trong nước. Người dân chưa hình dung được sự khác nhau giữa một sân golf tự nhiên với một sân golf “nhân tạo” kiểu hiện đại, cũng như sự khác biệt giữa một sân golf hoạt động theo kiểu “câu lạc bộ” thời Pháp thuộc với một sân golf “thương mại hóa”. Do đó, khi Đồi Cù bị xới lên để đào đắp thành một sân golf tuy đẹp đẽ hơn nhưng không giấu được vẻ “giả tạo”, nhất là khi toàn bộ khu vực này bị rào lại như một lãnh địa riêng, mọi người dân Đà Lạt “chính cống” đều cảm thấy như chính mình bị xúc phạm. (Nói người dân Đà Lạt “chính cống” là để phân biệt với những người tuy sống ở Đà Lạt nhưng không hề có tâm hồn của người Đà Lạt, hoàn toàn thờ ơ, vô cảm trước sự tàn phá những nét đẹp thiên nhiên hay những giá trị văn hóa.)
Để che giấu việc “chiếm công viên để mở rộng sân golf”, biến toàn bộ 65 hecta của khu vực Đồi Cù thành một cơ sở làm ăn về kinh tế, công trình này được mệnh danh là “công trình nâng cấp sân cù Đà Lạt”. Theo thông tin do nhà cầm quyền địa phương cung cấp cho báo chí, công trình này nằm trong một kế hoạch “liên doanh” (joint venture) giữa chính quyền tỉnh Lâm Đồng với một công ty có tên gọi là Công ty Danao Ltd. British Virgin Islands có trụ sở tại Hong Kong. Phạm vi liên kết kinh doanh bao gồm sân golf rộng 65 hecta, và hai khách sạn nổi tiếng nhất của Đà Lạt trước năm 1975 – khách sạn Dalat Palace và khách sạn Du Parc; ngoài ra còn có biệt điện số 1 (Dinh I) và một số biệt thự ở đường Trần Hưng Đạo. Về sau, phạm vi liên doanh bị thu hẹp lại, chủ yếu chỉ bao gồm sân golf Đà Lạt và hai khách sạn: Dalat Palace (được đặt tên lại là Sofitel) và Hotel Du Parc (đặt tên lại là Novotel).
Vào tháng 9 năm 1992, giải thích với báo chí để phủ nhận luồng dư luận cho rằng “Đồi Cù đã bị bán”, ông V.L. – Giám đốc Công ty Du lịch Lâm Đồng (một trong hai thành viên của Liên doanh DRI) cho biết : “Về dự án đầu tư theo hình thức góp vốn, mỗi bên 50%. Tổng giá trị công trình là 40 triệu USD, trong đó Công ty Du lịch Lâm Đồng góp vốn bằng nhà, đất hiện có trị giá 20 triệu USD và đầu tư nước ngoài 20 triệu USD bằng tiền mặt và nguyên vật liệu. Trong 10 năm đầu chúng ta thu lợi nhuận qua tỷ lệ doanh thu từ 5-7%, và số thấp nhất bên đối tác bảo kê là 400.000 USD/năm. Mười năm sau, ăn chia theo thực lãi, mỗi bên năm mươi phần trăm. Sau 20 năm, bên đối tác phải bàn giao toàn bộ tài sản cho phía Việt Nam. Sau mỗi năm giá trị thương mại của cơ sở du lịch sẽ tăng lên. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã có ý kiến: “Tham gia dự án liên doanh này, chúng ta không có gì để mất!”.
Vị giám đốc này (đồng thời cũng là một tỉnh ủy viên) còn long trọng hứa: “Riêng về sân Golf Đà Lạt chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm trong việc gìn giữ cảnh quan thiên nhiên, khí hậu và môi trường. Cũng cần nói thêm : khi sân Golf hoạt động, mọi du khách và nhân dân Đà Lạt được quyền vào tham quan, xem đánh golf hoặc đi dạo chơi ngắm cảnh thoải mái. Dĩ nhiên, du khách phải tuân theo nền nếp văn minh, lịch sự hơn. Chúng tôi luôn mong muốn mang lợi ích đến cho nhiều người chứ chúng tôi không biến Đồi Cù trở thành một biệt khu – chỉ dành riêng phục vụ cho một giới thượng lưu.” [9]
Thân phận trôi nổi của Đồi Cù:
Đồi Cù với tư cách là một công viên tự nhiên đã tồn tại trong phần lớn thế kỷ 20. Thế nhưng kể từ khi bị “thương mại hóa”, thân phận trôi nổi của nó chẳng khác gì số phận của nàng Kiều.
Người chủ đầu tiên của sân golf Đà Lạt từ năm 1992 là công ty DRI (Dalat Resort Incorporation) – một hình thức liên doanh giữa Công ty Du lịch Lâm Đồng (một công ty quốc doanh) và công ty Danao Ltd. British Virgin Islands có trụ sở tại Hong Kong. Nhưng Danao thực ra chỉ là một tấm bình phong để “lách” lệnh cấm vận của Hoa Kỳ . Người chủ thực tế của Danao là một nhà tỷ phú người Mỹ tên là Larry L. Hillblom (1943-1995) – người đồng sáng lập công ty vận chuyển bưu kiện nổi tiếng DHL. Sân golf Đà Lạt khánh thành chưa được bao lâu thì Hillblom mất tích trong một tai nạn máy bay ngoài khơi Thái Bình Dương – gần đảo Saipan[10], nơi ông ta cư trú từ thập niên 1980. Trong thời gian sau đó, báo chí đăng vô số những bản tin và bài báo xung quanh việc chia gia tài của Hillblom. Vấn đề gây tranh cãi là vì lúc còn sống, ông tỷ phú không có ý định giao gia tài cho bất cứ ai trong gia đình, nhưng lại có di chúc hiến tặng tài sản cho một viện đại học nhằm mục đích nghiên cứu về y tế – đặc biệt là các nghiên cứu do Viện Đại học California (University of California, UC) tiến hành. Mặc dù không có vợ con chính thức, ông tỷ phú này lại có sở thích “mua dâm” đối với các cô gái còn trinh của vùng Đông Nam Á – nhất là gái vị thành niên. Vì thế sau khi ông ta qua đời, đã xảy ra một vụ kiện tụng kéo dài khoảng hai năm tại Tòa án Saipan, trong đó 8 người phụ nữ thuộc nhiều nước ở Đông Nam Á đòi quyền thừa kế cho 8 đứa trẻ được “khẳng định” là con của Larry Hillblom trong lúc ăn nằm với họ.
Theo một bài báo trên tờ Chicago Tribune vào cuối tháng 5 năm 1999, vụ kiện kết thúc vào cuối năm 1997 bằng một sự dàn xếp, qua đó 60% tài sản được giao cho bốn đứa con được công nhận qua xét nghiệm DNA (trong đó có một đứa bé là con của một cô hầu phòng người Việt ở Phan Thiết), còn 40% được giao cho Quỹ Larry L. Hillblom (Larry L. Hillblom Foundation) – quỹ từ thiện được thành lập năm 1996 dựa theo di chúc của Hillblom. Điều đó có nghĩa là bốn đứa con rơi của Hillblom được nhận tổng cộng 300 triệu đô-la – nghĩa là 180 triệu đô-la sau khi trừ thuế. Quỹ Hillblom được nhận 200 triệu đô-la miễn thuế. Số tiền còn lại thu được do bán các tài sản của Hillblom – bao gồm các sân golf và các khách sạn ở Đông Nam Á, sẽ được tiếp tục phân chia giữa những đứa con rơi và Quỹ Hillblom.[11]
Những tin tức rất ít ỏi cho chúng ta biết Công ty Danao Ltd. British Virgin Islands (tức công ty sở hữu 50% vốn trong Công ty liên doanh DRI) vẫn tiếp tục hoạt động tại Việt Nam dưới cái tên Danao International Holdings, Ltd. Do kinh doanh thua lỗ, phía Việt Nam đã bán toàn bộ cổ phần trong DRI cho Danao; do đó số tài sản mà Công ty du lịch Lâm Đồng góp vốn (bao gồm sân golf Đà Lạt, khách sạn Dalat Palace và khách sạn Du Parc) trở thành tài sản riêng của Danao. Theo một số nguồn tin thông thạo, để tạo điều kiện cho việc sang nhượng tài sản cho nước ngoài, phía Việt Nam đã ký giấy phép nâng thời hạn sử dụng sân golf Đà Lạt từ 20 năm lên 40 năm!
image
Hình 6 : Sân golf hiện nay – một cảnh đẹp nằm ngoài tầm tay của người dân Đà Lạt (nguồn: Dalat Palace Golf Club)
Vào năm 2007, báo chí đưa tin Indochina Land Holdings– một chi nhánh của tập đoàn Indochina Capital (Hoa Kỳ) đã nắm được đa số cổ phần của công ty Danao. Và đến tháng 6 năm 2010, một bản tin của báo Tuổi Trẻ cho biết : sau cùng thì sân golf Đà Lạt cùng với hai khách sạn Sofitel (tức Dalat Palace) và Mercure (tức Hotel du Parc) đã được Indochina Capital bán lại cho một tập đoàn kinh doanh bất động sản của người Việt có tên là Vina Properties Development Group (VPD) – chủ tịch là Phạm Trịnh Phương. Người ta không rõ sân golf 18 lỗ được định giá bao nhiêu, chỉ biết trị giá của toàn bộ tài sản nhượng lại cho Công ty VPD (bao gồm sân golf và hai khách sạn) là 47 triệu USD.[12]
Như vậy là một chu trình chuyển đổi quyền sở hữu đã hoàn tất : từ chỗ là một tài sản công, Đồi Cù Đà Lạt biến thành một loại tài sản “hỗn hợp” dưới danh nghĩa “liên doanh” (nửa công – nửa tư, nửa quốc nội – nửa ngoại quốc), sau đó biến thành tài sản 100% của các nhà tư bản ngoại quốc và cuối cùng lại được “Việt Nam hóa” để trở thành tài sản riêng của các “đại gia” Việt Nam. Khi nói đến “đại gia”, chúng ta phải hiểu đây là các nhà “tư bản đỏ” hoặc ít nhất cũng là các nhà “tư bản thân hữu”, vì dưới sự chi phối của chủ nghĩa tư bản thân hữu (crony capitalism), các nhà đầu tư bình thường không có mối quan hệ gắn bó với các quan chức trong Đảng rất khó lòng chiếm hữu các tài sản quan trọng này. Điều đáng nói là : toàn bộ quy trình chuyển đổi hình thức sở hữu này đều diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, và đều nhân danh “chủ nghĩa xã hội”, “vì lợi ích của nhân dân”.
Điều mà các nhà lãnh đạo cộng sản đã hứa trước đây hai mươi năm (tức là: toàn bộ khối tài sản sẽ được bên đối tác bàn giao lại cho phía Việt Nam) đã trở thành một lời hứa rỗng tuếch, bởi vì khối tài sản đó đã được “bán lại” cho tư nhân người Việt chứ không phải “bàn giao” cho phía chính quyền Việt Nam để trở lại thành một công viên như xưa.
image
Hình 7 : Hàng rào bao quanh Đồi Cù biến công viên thành tài sản của tư nhân (ảnh NVP)
Thay lời kết:
Ngày nay, sau hơn 20 năm kể từ khi Đồi Cù bị thương mại hóa, du khách đến Đà Lạt khi đi trên con đường vòng quanh hồ Xuân Hương có thể nhìn thấy một hàng giậu bao quanh sân golf, biến toàn bộ khu vực này thành môt lãnh địa riêng biệt. Các thế hệ người Đà Lạt sinh ra từ thập niên 1990 trở về sau không hề biết Đồi Cù như một công viên, nơi đã từng chất chứa những kỷ niệm của các thế hệ người Đà Lạt trước đó. Đồi Cù ngày nay – cho dù mượt mà hơn vì được phủ một lớp cỏ nhân tạo xanh mướt để thay cho lớp cỏ tự nhiên ngày xưa, đã không còn là tài sản chung của nhân dân thành phố. Hàng rào bao quanh thắng cảnh này trở thành một niềm đau, một nỗi ô nhục mà người dân Đà Lạt phải gánh chịu trong suốt hai thập niên và còn kéo dài không biết đến bao giờ…
Cuối cùng là một câu hỏi được đặt ra cho tất cả những người dân Đà Lạt và cả những người yêu Đà Lạt trên khắp thế giới : Đến lúc nào thì Đồi Cù được hoàn trả về cho người dân Đà Lạt, nghĩa là trở lại thành một công viên?
Câu hỏi nhức nhối này còn có liên quan đến một câu hỏi khác – còn nhức nhối hơn nữa: Đến khi nào người Đà Lạt mới trở thành người chủ thật sự ngay trên quê hương mình?
Đà Lạt, những ngày cuối năm Quý Tỵ chờ đón Xuân Giáp Ngọ 2014,
MAI THÁI LĨNH (tức HOÀNG THÁI LĨNH, THĐ 1964)
(Bài viết dành riêng cho đặc san Thông Reo, Đại hội Cựu học sinh Bùi Thị Xuân – Trần Hưng Đạo, San Jose, California, tháng 6 năm 2014)

[1] Nai Cà-tông (Cerf d’Eld, tên khoa học là Cervus eldii hay Panolia eldii) là một động vật của vùng Đông Nam Á, ngày nay trở thành quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng.
[2] Louis-Georges Pineau, “Le plan d’aménagement et d’extension de Dalat”, La vie urbaine, Numéro 49 (Nouvelle série), Janvier-Février 1939, Paris, p.42.
[3] Petit Guide illustré de Dalat – Indochine française, Hanoi 1930, p. 33
[4] “Chez nos confrères”, L’éveil économique de l’Indochine, n° 684, 3 Mai 1931.
[5] P. Munier, “Dalat”, Indochine Jeudi 13 Mars 1941, page 8. Nguyên văn: “(A Dalat on a prévu le besoin de sport des hivernants: grenouillère, cercle sportif, cercle nautique, tennis, golf à neuf trous, etc…”)
[6] Map of Dalat 1:12,500, Edition 1-AMS, Series L909, U.S. Army Map Service, 1963 (12MB): http://www.lib.utexas.edu/maps/world_cities/txu-pclmaps-da_lat-1963.jpg
[7] Nguyễn Hùng, “Đồi Cù sẽ trở thành sân golf?”, Phụ nữ TP.HCM số 59, ngày 8-8-1992.
[8] Phạm Thái, “Đà Lạt hôm nay”, Lao động Chủ Nhật, ngày 6-9-92.
[9] Tích Lộc, “Phải chăng Đồi Cù đã bị bán?”, Đại Đoàn Kết số 17 (tháng 9-1992).
[10] Saipan là hòn đảo lớn nhất và là thủ đô của Quần đảo Northern Mariana (Northern Mariana Islands), nằm trong vùng biển Tây Thái Bình Dương, cách căn cứ hải quân Guam 190 km về phía bắc. Là lãnh thổ ủy trị của Liên Hiệp Quốc (United Nations trust territories) giao cho Hoa Kỳ quản lý, từ năm 1976 quần đảo này từng bước trở thành một lãnh thổ tự trị nằm trong một “liên hiệp chính trị” (political union) với Hoa Kỳ.
[11] Vincent J. Schodolski, “Estate Of Courier Tycoon Finally Delivers For 4 Heirs”, Chicago Tribune May 31, 1999:
[12] “Đà Lạt: Sân golf Đồi Cù thuộc về một công ty trong nước”, Tuổi Trẻ 1-6-2010:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét