Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, ngày 12 tháng 11 năm 2014

“Chấn hưng dân trí” Xin hãy bắt đầu từ cùng nhau suy nghĩ!

“Chấn hưng dân trí” Xin hãy bắt đầu từ cùng nhau suy nghĩ!

Phỏng vấn của Bauxite Việt Nam (BVN) dành cho ông Nguyễn Trung

BVN: Chào ông. BVN được biết gần đây ông có kiến nghị với Giáo sư Nguyễn Huệ Chi việc BVN nên xây dựng một chuyên đề về vấn đề chấn hưng dân trí. Mong ông cho biết vì sao ông đề xuất ý kiến như vậy, nhất là đây là vấn đề tuy rất thời sự nhưng không mới, được nói tới từ không biết bao nhiêu năm nay và ở mọi nơi trên các diễn đàn “lề phải” cũng như “lề trái” trong/ngoài nước.

Nguyễn Trung (NT): Xin cảm ơn BVN biệt đãi dành cho tôi cuộc phỏng vấn “mở màn” này. Vâng, vấn đề này không mới, nhưng vẫn còn mới nguyên cho đến hôm nay như đã từng được đặt ra từ thời Phan Châu Trinh. Cụ Phan đặt vấn đề khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh là con đường sống của đất nước. Tổng hợp cả 3 yêu cầu, mục mới này trong Bauxite Việt Nam (BVN) được mang cái tên chung là “Chấn hưng dân trí”. Cái trạng thái đã hơn một thế kỷ trôi qua mà vấn đề vẫn còn “mới nguyên” như thế ray rứt tôi khủng khiếp. Nhất là theo tôi, việc chấn hưng dân trí ở nước ta chưa làm được như mong muốn. Cứ có một bước ngỡ đi lên chút ít thì tiếp theo lại hai ba bước lùi. Có lẽ đấy là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nên biết bao nhiêu chuyện long đong của đất nước trên con đường đã qua. Hiện nay đang tiếp diễn như thế. Và sẽ vô cùng bất hạnh cho đất nước nếu… sắp tới vấn đề này vẫn cứ “mới nguyên” như thế.

BVN: Thưa ông, để làm rõ câu chuyện, trước hết xin vui lòng nói rõ cho, nghĩ như vậy là ông đổ lỗi cho “quan” hay cho “dân”?

(Minh họa: Ngọc Diệp)
(Minh họa: Ngọc Diệp)
NT: Vâng, để cho đỡ dài dòng và tiện cách nói, xin dùng ngay khái niệm “quan” của câu hỏi với nghĩa là người có trách nhiệm trong giới cầm quyền, và khái niệm “dân” của câu hỏi với nghĩa là quảng đại dân chúng. Đặt vấn đề như vậy, tôi xin được phép quy lỗi cho cả hai bên. Quy lỗi như vậy, không phải là tôi có quyền cao chức trọng kiêu sa gì. Tôi chỉ nghĩ như vậy, nên xin nhận xét thẳng ra vậy thôi. Vì tôi là dân, nên trong thâm tâm tôi mong mục này của BVN chủ yếu là nơi mang tiếng nói của dân.

BVN: Nhưng quy kết cả hai “bên” cùng có lỗi là ông muốn cào bằng cả “quan” và “dân” có phải không ạ? Dân mình xưa kia vẫn được tiếng là hiền lành chất phác, dễ bảo ban, có phải không ông? Vậy thì “quan trí” ở đây mới có vấn đề chứ?

NT: Nặng/nhẹ “lỗi” của mỗi “bên” có thể khác nhau trên từng phương diện. Song tôi nghĩ nét khái quát là: Ở “quan”, nói chung tâm và tầm đều quá thấp so với trách nhiệm của họ và so với những vấn đề vận mệnh của đất nước đang đặt ra, nổi bật nhất là không đủ bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật để nhận trách nhiệm cá nhân những việc sai trái, do đó nặng về tìm cách kìm hãm tiếng nói của dân. Ở “dân”, lỗi nổi bật nhất có lẽ là tâm lý thụ động và cái sợ cố hữu trong mối quan hệ “quan” – “dân”, phần nào trong đó có mối lo muôn thuở nhưng chính đáng là “đấu tranh – tránh đâu?” trong thể chế chính trị xã hội của nước ta hiện nay.
Sự thật là đã 4 thập niên đất nước độc lập trong thế giới văn minh hiện đại ngày nay rồi, nhưng đến nay nhìn chung người dân nước ta vẫn chỉ là “dân” với nghĩa đen của từ này, nghĩa là vẫn chưa giành được bao nhiêu cho mình tư thế và tâm thức người công dân. Tôi nói là chưa giành được, với tinh thần: Trong mọi quốc gia độc lập, người dân ở đâu cũng phải thông qua hiểu biết và đấu tranh của mình để giành lấy các quyền và xác lập cho mình tâm thức của công dân, những thứ này chẳng bao giờ được cho không ở bất kỳ đâu trên thế gian này, kể cả ở những nước phát triển nhất – quy luật muôn đời mà.

BVN: Nhận xét như vậy có mâu thuẫn không ạ? Ông thừa nhận “dân” có nỗi lo chính đáng “đấu tranh – tránh đâu?”, nhưng lại nhận xét “dân” chưa tự “giành” được bao nhiêu quyền công dân của mình!

NT: Đúng là mâu thuẫn, nhưng sự việc đang có cả hai vế như vậy.

BVN: Thật không ạ? Nói thế có thể bị quy kết mang hàm ý xúi giục “dân” nổi loạn đấy thưa ông. Trong thâm tâm ông nghĩ như vậy?

NT: Xin tuỳ độc giả phán xét. Tôi chỉ muốn nói lên điều tôi nhận biết được mà thôi. Gần đây nhiều người đã trích dẫn với những cách nhìn ít nhiều khác nhau câu nói của Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson trong câu chuyện với dân biểu Edward Carrington: “Nếu quần chúng nhân dân không còn lưu tâm đến công việc chính trị xã hội, thì các Ông và Tôi, và Quốc Hội, Lập Pháp, Chánh Án, Thống Đốc, tất cả sẽ trở thành những con Chó Sói. Điều này dường như là luật tự nhiên thuộc bản chất tổng quát của chúng ta, cho dù có vài ngoại lệ cá nhân.” Về phần mình, tôi thấy câu nói này hàm ý rất rõ sự cần thiết của cái phần việc dân phải tự giành lấy như là một tất yếu trong một thể chế chính trị dân chủ.
Tuy nhiên, cái khó của nước ta hiện nay là “dân” vừa không có quyền lực đủ mạnh để làm cái việc phải làm này, vừa bị bưng bít hay bị “định hướng” thông tin, nên thiếu những hiểu biết cần thiết dẫn dắt đúng đắn cho việc thực hiện cái việc phải làmcủa mình, lại thêm vô vàn nỗi lo khác của đời sống kinh tế hàng ngày, tâm trạng bi quan chán nản, hoặc tràn lan trạng thái “makeno” (mặc kệ chúng nó) …
Song tôi lại nghĩ, nếu “dân” vì bức bách quá hay vì bị xúi giục đi chăng nữa mà nổi loạn, chắc chắn sẽ chỉ dẫn tới đổ vỡ – nghĩa là sẽ có thể dẫn tới cái loạn còn tệ hại hơn cho đất nước. Bởi vì những việc phải làm để thay đổi hiện trạng của đất nước vẫn còn nguyên vẹn kể cả sau khi bạo loạn đã xảy ra – mà như thế, đất nước sẽ chỉ chồng chất thêm những khó khăn mới, những kẻ đục nước béo cò có thể sẽ càng sướng đến mức chúng muốn “ị” vào mũi dân tộc ta!.. Các cuộc “cách mạng” ở Bắc Phi mang tên các mùa hoa đã và đang chứng minh sự thật này. Trong khi đó phải thẳng thắn thừa nhận đất nước đang có nhiều vấn đề trầm trọng, chưa bao giờ có sự phân hoá xã hội nghiêm trọng như hiện nay kể từ sau 30-04-1975. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải thừa nhận nhân dân đang mất lòng tin vào ĐCSVN và chế độ – thừa nhận như vậy là đúng, tuy nhiên cũng mới chỉ là thừa nhận cái chỏm băng của tảng băng đang trôi nổi trên biển.
Mặt khác, nếu cứ để cho “dân” quá chán chường, càng chán chường càng makeno, thì sớm muộn cái diễn tiến tức nước vỡ bờlúc nào đó cũng sẽ tự phát dẫn tới nổi loạn, với cùng một chung cuộc như chủ động hay bị xúi giục làm bạo loạn. Nói như vậy, tôi muốn đi tới kết luận nổi loạn dù theo kịch bản nào đều nhất thiết phải chủ động phòng tránh cho đất nước ta trong chừng mực nào còn phòng tránh được. Nói như vậy, trong thâm tâm tôi còn muốn nhấn mạnh: Nhất thiết phải tìm ra con đường chủ động thay đổi hiện trạng của đất nước bằng hiểu biết và lý trí – trong ngữ cảnh này, lý tưởng nhất là sự chủ động cả từ hai phía “quan” và “dân”. Nói hoà bình cải cách thể chế chính trị của đất nước chính là như vậy. Mong đất nước làm được như vậy. Nhưng “quan” chẳng bao giờ tự giác đâu, nên “dân” phải thôi thúc là chính.
Vì tôi muốn mục “Chấn hưng dân trí” trên BVN trước hết là diễn đàn của “dân”, nên xin nói về “dân” trước: Mọi hạn chế và cấm đoán hiện hữu “dân” đang phải đối mặt trên diễn đàn này là một thực tế khách quan. Chỉ có cách duy nhất là “dân” phải tìm cách tự mình vượt qua thực tế khách quan này. Không bao giờ có chuyện ban ơn hay làm phúc nào ở đây cả. Thực ra chẳng cần phải xúi giục gì đâu, trong cuộc sống hàng ngày muôn vàn bức bách của mình, “dân” đã và đang phải tự làm như thế, để cố sống sót và sống được trong thực tế khách quan đầy khắc nghiệt hiện nay của đất nước. Nhìn vào bộ phân dân cư lao động, vào các doanh nghiệp đang vật lộn với cuộc sống hàng ngày, rõ ràng là tất cả đang phải gồng mình lên để cố sống sót và sống được! Tự làm như thế một cách có ý thức, hiểu biết, thông tin, biết liên kết và hợp tác… chắc chắn sẽ đỡ vấp váp, sớm muộn sẽ thành công.
Đến đây, tôi nhớ lại một bài học để đời của chính nước mình, cho nước mình: Một ví dụ mang tính kinh điển cho nỗ lực và ý chí quyết sống sót và sống được của “dân” trong thời bình xây dựng và bảo vệ đất nước. Đấy chính là hiện tượng xé rào hàng chục năm để cuối cùng đã làm nên công cuộc đổi mới vĩ đại, bắt đầu từ năm 1986, với phần kết vinh quang và kinh điển: Xé rào đã được chấp nhận, được nâng lên thành đường lối chính sách, rồi trở thành nghị quyết của ĐCSVN tại đại hội VI 1986, mang lại bước ngoặt cứu nguy đất nước.
Hiển nhiên trong dám xé rào này “dân” đã thành công vang dội, vì các lẽ: (a) dám xé rào nên đã sống sót và sống; (b) tự học hỏi lẫn nhau, liên kết được với nhau để thành công, và nhờ đó có thể cùng nhau sống sót và sống; (c) xé rào có mục đích đúng đắn là nhằm tạo khả năng cho bản thân mình sống sót và sống, đồng thời để qua đó cả nước cùng sống sót và sống, chứ không phải để phá hoại. Nếu coi xé rào là một hiện tượng phủ định, có thể nói hiếm có một hiện tượng kinh tế - chính trị - xã hội nào mang tính phủ định quyết liệt như thế ở nước ta mà lại giàu tính chất “xây” (theo nghĩa xây dựng) như thế. Và đúng với quy luật tự nhiên: Phủ định theo hướng xây như thế đã tạo ra bước ngoặt đổi đời đất nước, và nhờ đó mới có hôm nay. Thực tế này khẳng định rất thuyết phục: Quốc gia trong thời bình chỉ có thể vượt qua khó khăn và tạo ra phát triển thông qua cải cách, cách mạng không làm được việc này.
Một sự phủ định vĩ đại mang tính chất xây như thế đang là một đòi hỏi khách quan phải thực hiện, để đưa đất nước ta vào một giai đoạn phát triển mới trong bối cảnh thế giới đầy thách thức mới. Đấy chính là một thứ diễn biến hoà bình theo hướng xâymà ĐCSVN và nhân dân cả nước hôm nay cần chủ động tạo ra cho đất nước.
Nói dân dã một chút: Trong câu chuyện xé rào năm xưa đảng đã thua – vì phải từ bỏ đường lối kinh tế bao cấp – nền kinh tế do nhà nước chỉ huy – như một nguyên tắc vàng của chủ nghĩa xã hội của nước ta hồi đó; dân đã thắng – vì nhờ thế mới sống sót và sống được; nhưng cuối cùng là cả dân và đảng đều thắng, vì đất nước thắng.
Từ thực tiễn xé rào để đổi mới 1986, phải chăng “dân” có thể kết luận cho mình hôm nay: Dám nghĩ dám làm, học hỏi nhau và học từ trí khôn của nhân loại mà làm, toàn dân tộc liên kết lại làm bằng được, làm vì mục đích xây – có lẽ đấy là con đường của “dân” hôm nay để tự làm lấy cái việc phải làm, nhằm từng bước vượt qua cái thực tế khắc nghiệt của cuộc sống hôm nay đang siết chặt lấy “dân”. Không dám như thế và chỉ chờ, thì sẽ còn phải chờ tiếp, chờ nữa, chờ mãi…
Như vậy, xé rào là một ví dụ kinh điển đáng ngẫm nghĩ cho hôm nay lắm chứ!
Về “quan”, có lẽ hôm nay có thể nói: Trong câu chuyện xé rào, đảng tuy thua “dân”, nhưng đảng đã thắng được chính mình, nhờ đó đảng đã tiến bộ lên một bước rất quan trọng so với trước đó! Có phải như thế không? Nhân đây xin nói lại câu chuyện vui: Trong những ngày giúp việc Thủ tướng Võ Văn Kiệt tôi thấy ông có nhiều quyết định quyết đoán rất thuyết phục, tôi thán phục: “Anh đúng là ông thủ tướng xé rào!”. Nghe thế, ông chỉ cười. Sau này, tôi cũng viết về ông như thế…
Về ĐCSVN nhân dịp đại hội XII sắp tới tôi đã viết khá nhiều(1). Nhìn lại, trong trả lời phỏng vấn này tôi chỉ muốn lưu ý thêm:Trong mọi nhiệm vụ chiến lược phải thực hiện cho đến nay, đi với dân ĐCSVN đều thành công, đổi mới 1986 là một ví dụ như thế. Đấy chính là điều sống còn, ĐCSVN hôm nay cần nhìn thẳng vào sự thật này để lựa chọn đường đi nước bước cho chính mình và cho đất nước hôm nay.

BVN: Ông rất đề cao cái xây, thưa ông. Phải chăng cái thông điệp Dám làm, học hỏi nhau và học từ trí khôn của nhân loại mà làm, làm vì mục đích xây – có lẽ đấy là con đường của “dân” hôm nay để tự làm lấy cái việc phải làm nhằm từng bước thay đổi hay loại bỏ cái thực tế khắc nghiệt của cuộc sống hôm nay đang siết chặt lấy “dân”… là mong mỏi của ông và đồng thời cũng là kiến nghị của ông về nội dung của chương mục này trên BVN?

NT: Vâng, đúng như vậy. Cuộc sống quốc gia thường có xây, có chống. Trong thời bình của một quốc gia độc lập, lý tưởng là chống thắng lợi cái phải chống, xây thành công cái phải xây. Song thật không gì đáng mong muốn hơn cho đất nước chúng ta nếu cái xây thành công như thế luôn luôn chiếm được thế thượng phong so với cái chống thắng lợi như thế, để đất nước luôn luôn có được những thành quả và những thắng lợi với cái giá phải trả thấp nhất! Tại đây, tôi liên tưởng đến một quan điểm Gustave Le Bon đã nêu ra trước đây hơn 100 năm khi ông phê phán những hệ luỵ thảm kịch của cuộc cách mạng Pháp 1789, đại ý: Một dân tộc thực hiện được một bước tiến lớn, khi dân tộc ấy phát hiện ra rằng thành tựu của quốc gia là kết quả tổng hợp của những nỗ lực cá nhân từng công dân làm nên; chính điều này, chứ không phải là hệ thống cai trị quyết định thứ bậc của một quốc gia hay dân tộc ấy trên trường quốc tế…(2) Tôi cả gan nghĩ, xé rào dẫn đến đổi mới 1986 có lẽ chứa đựng trong nó những nét manh nha của một sự phát triển mang tính tổng hợp những nỗ lực của từng cá nhân như thế, những nỗ lực của dân chủ. Có thể đúc kết thực tế này thành một nguyên lý cho xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời bình được không? Trong tôi càng khát khao cho Tổ quốc chúng ta một thể chế chính trị tạo ra được sự phát triển của đất nước làkết quả tổng hợp những nỗ lực của từng cá nhân công dân như thế của đất nước.

BVN: Ông cho rằng chấp nhận đổi mới, ĐCSVN đã vứt bỏ một nguyên tắc vàng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta hồi đó là nền kinh tế do nhà nước chỉ huy và những quy luật vận hành của nó. Xin hỏi: Điều gì giúp cho ĐCSVN vẫn là cái đảng không có gì đổi mới về bản chất, đúng hơn còn mang tính trơ ỳ và thụt lùi trong nhiều quyết sách, khiến ai cũng ngán ngẩm thất vọng đến tận cổ như hôm nay, thế mà hồi ấy lại làm được, thế có lạ không nhỉ?

NT: Nguyên nhân thì có nhiều, đã có nhiều phân tích đáng trân trọng và tham khảo, trong đó đáng chú ý là những công trình nghiên cứu và những phân tích của các anh Hà Nghiệp (đã mất), Đặng Phong (đã mất), Đào Xuân Sâm, Trần Phương… Còn nhiều anh khác nữa trong phía Nam,... như Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, vân vân, còn nhiều anh nữa, vẫn nhớ mặt nhưng trí nhớ suy tàn rồi,... lục lọi mãi trong đầu mà không gọi tên ra được. Một số anh cũng đã đi xa…
Nhân đây tôi cũng muốn liên tưởng đến một trong những ngọn cờ của đổi mới là anh Kim Ngọc. Còn nhiều ngọn cờ khác như thế trong “dân” tôi đã có dịp tiếp xúc trong thời kỳ gian khổ này chưa được nói đến. Trong những ngọn cờ vô danh này phải kể đến hai cha con chị Ba Sương đã làm nên sức sống của nông trường Sông Hậu – một ví dụ gần như là huyền thoại cho thấy đổi mới có thể tạo ra con người mới, phát triển mới và làm giàu… Thế nhưng Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới và là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được bình chọn là Người phụ nữ ấn tượng khu vực châu Á - Thái Bình Dương năm 2002 chị Trần Ngọc Sương bị xử tội, chỉ vì kiên quyết chống lại chủ trương biến nông trường Sông Hậu thành khu công nghiệp; cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã phản đối quyết liệt việc sai trái này. “Vụ án” chị Ba Sương gây công phẫn kéo dài không thể giập tắt trong dư luận xã hội, vì thế cuối cùng “vụ án” đã phải huỷ bỏ!... Còn nhiều chuyện liên quan đến đổi mới để nói, để ngẫm nghĩ… Tại đây tôi chỉ xin lưu ý một điều đến nay hầu như chưa ai nói tới, đó là:

Giả thử hồi ấy không có Trường Chinh là Tổng bí thư của ĐCSVN, có lẽ là đến 9/10 sẽ không có nghị quyết đổi mới của Đại hội VI.
Vai trò cá nhân người lãnh đạo cao nhất trong trường hợp này thật vô cùng quan trọng. Tôi dám cả quyết như vậy, vì theo những gì tôi biết được, chính ông Trường Chinh là người đã có tiếng nói cuối cùng và có ý nghĩa quyết định, để đại hội VI có được nghị quyết và quyết định thực hiện đổi mới như đã diễn ra.

BVN: Xin ông vui lòng nhắc lại cho. Ông có nhầm không? Vì đến nay Tổng bí thư Trường Chinh vẫn được coi là người nổi tiếng giáo điều và vô cùng thận trọng như cái tên thường gọi của chính ông là... “anh Thận”.

NT: Tôi hy vọng là tôi không nhầm.
Ngoài đời cũng hiểu và nhìn nhận Tổng bí thư Trường Chinh như thế. Cá nhân tôi cho rằng thực tế cũng đúng như thế. Tôi có đôi dịp được tiếp xúc, gần gũi ông, và cũng nghĩ như thế về ông. Tôi may mắn được ông trực tiếp giao cho làm một số việc lặt vặt trong thời gian ông chữa bệnh ở Cộng hoà dân chủ Đức, qua đó tôi cũng nhìn nhận ông là một người như thế. Tôi thường chia sẻ với đồng nghiệp: Ông ấy rất kiên định lập trường và rất thận trọng, đánh mất hay bớt đi (trong viết lách) của ông ấy một cái dấu “phẩy” (“,”) cũng không được...

BVN: Thế mà lại dám quyết đổi mới?

NT: Vâng. Ông kiên định và thận trọng ở mức rất nghiêm túc. Đấy là sự thật. Song ông là người có học thức, có tư duy lý trí, điều mà người lãnh đạo nhất thiết phải có. Thật vô cùng quan trọng là ở giờ phút quyết định này ông đã nhìn nhận đúng những thách thức đối với đất nước, đã đặt lợi ích quốc gia lên trên hết với tất cả nghiêm túc và quyết đoán, đến mức vứt bỏ cả cáinguyên tắc vàng của kinh tế bao cấp vốn được coi như một điều cấm kỵ (taboo) của đảng. Có thể đo mức độ khó khăn của việc vứt bỏ cái “taboo” này ở những vụ án, những vụ kỷ luật oan sai nghiêm trọng hoặc những tổn thất đất nước phải chịu đựng do cái nguyên tắc vàng này.

BVN: Trời đất, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết quả là có ý nghĩa quyết định sống còn vào thời khắc lịch sử như vậy của đất nước! Thật quả chúng tôi đến nay không có thông tin này! Nhưng xin ông làm rõ cho dựa vào đâu mà ông coi đổi mới 1986như một ví dụ kinh điển?

NT: Câu hỏi này chạm vào nỗi đau của tôi. Với trách nhiệm đảng cầm quyền, nhưng lãnh đạo và trí thức của ĐCSVN lại thiếu trí tuệ, ý chí và phẩm cách để thông qua tự do tư duy và dân chủ phát huy những trí tuệ và kinh nghiệm của chính thực tiễn cuộc sống nước ta phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta. Vì lẽ này kho tàng kinh nghiệm và bài học của đổi mới bị bỏ phí. Đây là một trong những nguyên nhân nghiêm trọng khiến cho ĐCSVN đang tự đánh mất mình, để ngày ngày tha hoá thành đảng cai trị. ĐCSVN đang phải trả giá đắt cho tình trạng này đã đành, nhưng đất nước phải trả giá lớn hơn rất nhiều!
Bây giờ tôi xin đi vào câu hỏi.
Trước hết xé rào hay đổi mới không phải chỉ đơn thuần là công việc của nông dân phá luật để sống sót và có thể sống được bằng “phần ruộng 5%” của mình, mặc dù những gì họ đã làm là phải rất có gan và có trí tuệ lắm mới thành công được. Khi xé rào lan rộng sang vấn đề phân phối lưu thông hàng hoá nói chung, rồi đi vào thương mại và công nghiệp nói riêng, công việc quản trị cả nền kinh tế cả nước tất yếu dẫn tới phải thay đổi nhiều thứ, đương nhiên tất cả vẫn phải làm trong phạm vi “chui”, “lách”… Càng về sau, công việc càng đòi hỏi phải hiểu biết kinh tế, nhiều trí tuệ (trong đó đòi hỏi không ít trí tuệ hàn lâm), và cả sự khôn ngoan nữa. Khi xé rào đi vào lĩnh vực tài chính tiền tệ, vẫn trong ranh giới “chui” và “lách”, mọi việc càng phức tạp hơn. Nói nôm na: không giỏi, không thông minh thì không làm được. Có nhiều việc hay hiện tượng nếu chỉ đem hiểu biết lý thuyết đơn thuần về kinh tế, chính trị và xã hội thì không giải quyết được ở nước ta hồi đó. Hơn nữa phải làm sao cho kết quả từng bước và kết quả chung cuộc là đời sống được từng bước cải thiện, và cuối cùng là có lối ra. Phải bám vào cuộc sống cụ thể hàng ngày, bám vào sự vận động khách quan, rồi cố vận dụng những quy luật và những hiểu biết lý thuyết để xử lý. Đấy chính là công việc phải đưa một nền kinh tế kiệt quệ vì chiến tranh và rối loạn vì điều hành trở thành một nền kinh tế vận động bình thường và tạo ra phát triển.
Để khỏi dài dòng, xin hãy hình dung, đấy là công việc đưa một nền kinh tế vô cùng khan hiếm, trong khẩu phần lương thực hồi ấy có cả hạt bo bo,... có tình trạng một cái xe đạp Peugeot hay là 2 cái xe đạp Mifa (CHDC Đức) hồi ấy có thể đổi lấy một gian nhà cho một gia đình 4 – 5 nhân khẩu, tỷ giá chợ đen của đồng nội tệ gấp vài trăm lần hoặc hàng nghìn lần so với tỷ giá hối đoái chính thức của nhà nước quy định… sang một nền kinh tế chỉ sau 2 năm đổi mới đã có gạo xuất khẩu, làm cho kinh tế đất nước 1986 – 1995 đạt được sự phát triển ngoạn mục, an ninh đất nước được tăng cường rõ rệt... Đấy là công việc phải tiến hành trong lúc khói súng chiến tranh chưa dứt hẳn đối với đất nước… (xin nhớ cho đến 1989 đất nước ta mới thực sự ra được khỏi chiến tranh, dầu sao di hại của chiến tranh vẫn còn rất lớn…).
Tôi nghĩ thời kỳ này đáng có nhiều pho sách mổ xẻ, phân tích, để làm rõ nguyên lý đưa sự vận động đúng đắn khách quan của sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước trở thành ý chí và quyết định hành động của đảng cầm quyền, tạo ra khả năng thực hiện thành công đường lối chính sách được lựa chọn đúng đắn. Đấy chính là con đường ngược hẳn với tư duy duy tâm và duy ý chí vốn chỉ nhằm vào “chủ nghĩa”, vào bảo đảm lợi ích của đảng và thực hiện phương thức áp đặt mang cái tên gọi là “đưa nghị quyết của đảng vào cuộc sống”. Phương thức áp đặt này được coi như là một trong những nguyên tắc căn bản bảo đảm sự lãnh đạo của đảng. Duy tâm và áp đặt như thế chính là một căn bệnh của đòi hỏi bám giữ quyền lực, tạo ra biến chứng là làm tê liệt khả năng phấn đấu thực hiện nhiệm vụ tiên phong của đảng lãnh đạo. Căn bệnh này hằn sâu trong tư duy chính trị của đảng, để cuối cùng chính bản thân sự phát triển của căn bệnh này tha hoá đảng, từng bước biến đảng cầm quyền thànhđảng cai trị. Không ai khác, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc sinh thời ở cương vị trọng trách của mình đã kiên trì chống lại nguyên tắc căn bản này, chỉ tiếc rằng ông thất bại.
Ngay trong khi tiến hành đổi mới, cũng vì sự tồn tại không thể vượt qua được của tư duy duy tâm và duy ý chí như vậy, nên hồi ấy vấn đề cải cách thể chế chính trị đã dứt khoát bị gác lại, với lý lẽ nhằm bảo vệ sự ổn định của chế độ chính trị. Sự đổ vỡ của cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô Đông Âu hồi đó là một biện minh sắt thép loại bỏ triệt để bất kỳ suy nghĩ nào có hơi hướng đụng chạm đến đòi hỏi của đất nước về cải cách chính trị. Trong quá trình này, chống diễn biến hoà bình dần dà trở thành một nhiệm vụ chiến lược hầu như bao trùm toàn bộ cuộc sống đất nước, với kết quả chung cuộc là đã góp phần quan trọng tạo ra thực trạng đất nước hôm nay.
Ngày nay, cải cách thể chế chính trị trở thành đòi hỏi sống còn của đất nước. Nghĩ lại, nếu hồi ấy dám tiến hành cải cách chính trị song song với cải cách kinh tế theo tinh thần của sự nghiệp đã tạo ra đổi mới như thế, thử hỏi đất nước chúng ta hôm nay đứng ở đâu?
Lịch sử không có chữ “nếu”, đành là thế. Song bài học tiến hành cải cách kinh tế theo tinh thần của sự nghiệp đổi mới hiển nhiên vô cùng giá trị cho việc hình thành và thực hiện chiến lược cải cách thể chế chính trị của đất nước hôm nay. Đó là một kinh nghiệm mẫu mực về thực hiện dân chủ trong bối cảnh một đất nước có vô vàn khó khăn (ở đây là trong lĩnh vực kinh tế), một con đường sống của cả nước hồi ấy, có phải như thế không? Mong trí tuệ và tâm huyết cả nước dành cho câu hỏi nóng bỏng này. Nhất thiết nên từ những bài học của chính lịch sử đổi mới ở nước ta để cả nước có dũng khí tìm đường đi tiếp cho hôm nay và cuộc sống phía trước.

BVN: Rất hoan nghênh mong muốn tâm huyết của ông… Nhưng… Nhưng hình như chính ông cũng đang “duy tâm”, chưa nhìn thấy hết thực tế khắc nghiệt của cuộc sống, có phải thế không? Xin lỗi ông về sự sỗ sàng này của BVN. Mấy ngày nay đang truyền bá một số lời lẽ bịa đặt, chụp mũ… chỉ trích các đảng viên “nhóm thư ngỏ 61”, chẳng lẽ ông không hay biết chuyện này?

NT: Biết chứ, biết cả một số việc khác nữa. Song tôi nghĩ nữ nghệ sỹ Kim Chi đã có trả lời đúng mực về sự việc này. Tôi nghĩ tâm trí và trí tuệ cả nước, bao gồm cả những đảng viên tâm huyết, lúc này đang dồn vào những vấn đề vô cùng hệ trọng của đất nước, đó là làm sao tạo ra được một bước ngoặt đưa đất nước ra khỏi hiện trạng đầy thách thức và đi vào một thời kỳ phát triển mới. Tôi tin rằng tâm trí và trí tuệ cả nước cuối cùng sẽ tìm được lối ra. Đất nước này đã từng trải qua không ít những khúc đường quanh co hiểm nghèo như hiện nay. Nhưng sự nghiệp xé rào đổi mới năm xưa là minh chứng mới nhất cho thấy nhân dân ta trước sau sẽ tìm được con đường ra cho mình.

BVN: Cảm ơn ông, xin được ghi nhận niềm tin của ông. Cảm ơn ông đã bước đầu đóng góp vào mục “Chấn hưng dân trí” củaBVN những suy nghĩ lao lung… Những thông tin này chắc hẳn có ích cho bạn đọc. Để kết thúc buổi phỏng vấn này, xin ông chia sẻ đôi điều trực tiếp với độc giả.

NT: Vâng. Nói đến chấn hưng dân trí, tôi khát khao độc giả trong cả nước và ở nước ngoài sẽ làm tất cả để góp phần nâng cao tinh thần dân tộc chân chính của quốc gia mình. Thời nào cũng vậy, thời nay càng như vậy: Tinh thần dân tộc chân chính hơn lúc nào hết là nghị lực sống còn của Tổ quốc, là động lực thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta trong một thế giới đầy những thách thức mới hôm nay. Tôi ước ao suy nghĩ này được rộng rãi độc giả Việt Nam trên cả thế giới này chia sẻ.
Nói đất nước ta đã trải qua nhiều gian truân quá, trong thâm tâm tôi mong mỏi từng thành quả dù nhỏ nhất chắt chiu được trên con đường gian khổ và đầy đau khổ này cũng phải được gìn giữ, gom góp nên sức mạnh của cả nước, để có sức đi tiếp. Vì lẽ này, tôi mong chấn hưng dân trí sẽ tạo ra được trong cả nước hoà hợp hoà giải dân tộc, có đủ trí tuệ và nghị lực chung nhau một nỗ lực vì khát vọng đổi đời thân phận lạc hậu và tụt hậu của đất nước.
Ở chương mục này trên BVN, tôi đặc biệt kỳ vọng vào các độc giả là thầy giáo và sinh viên trong các trường đại học cả nước, vì nhất thiết họ phải trực tiếp gánh vác trên vai mình phần trách nhiệm nặng nề nhất trong sứ mệnh chung của cả nước cho sự nghiệp chấn hưng dân trí vô cùng cấp thiết đối với dân tộc ta trong thế giới ngày nay. Từ hàng chục năm nay, kỳ vọng này ngày đêm đau đáu trong tôi với câu hỏi đằng đẵng các thế kỷ: Tại sao? Tại sao Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản là 3 quốc gia châu Á hầu như cùng chung một trình độ phát triển ở thế kỷ 19, song hôm nay giữa họ và ta là một trời một vực?Người này người khác đã đưa ra câu trả lời. Riêng tôi vẫn đang tiếp tục đắm chìm trong vô vàn dữ kiện của lịch sử, lại càng mù mịt về con đường cho việc thu hẹp khoảng cách biệt này!... Hay là tôi chưa có gan và chưa đủ mắt để đi tới tận cùng của sự thật?
Tôi xin lỗi trước để xin được phép gửi gắm đối tượng kỳ vọng này đôi lời từ nỗi lòng khắc khoải của mình:
Nếu đã dám nhận vào mình danh phận thày giáo, xin hãy đáp ứng sự tôn vinh của lòng kỳ vọng cả nước dành cho danh phận cao cả này, đạp bỏ mọi cám dỗ giá áo túi cơm, cống hiến duy nhất cho chân lý.
Nếu đã dám nhận vào mình thân phận sinh viên, xin hãy đứng thẳng làm người và không cam chịu thân phận bị nhào nặn như cục bột, xin hãy dành mọi nghị lực cho những ước vọng cao đẹp do chính trái tim nóng bỏng và trí óc luôn rộng mở của mình đặt ra.
Đất nước chúng ta, đất nước có những thế hệ nối tiếp thế hệ những người thầy và sinh viên như thế, chắc chắn sẽ trở thành một đất nước tự do của một dân tộc tự do, dân trí trí sẽ được chấn hưng, dân tộc ta có lẽ sẽ có thể trả lời được câu hỏi đằng đẵng các thế kỷ của đất nước.
Xin hãy tất cả hãy cùng nhau suy nghĩ, để mỗi chúng ta nói lên tiếng nói của mình – trên diễn đàn này, hoặc bất kỳ tại đâu thích hợp.

BVN: hoan nghênh những ý kiến tâm huyết và thẳng thắn của ông trong buổi phỏng vấn lý thú này. Xin cảm ơn ông./.

Hết
Hà Nội, ngày 08-11-2014
(Bauxitevn)

TIN LÃNH THỔ

TIN XÃ HỘI

TIN KINH TẾ

TIN DIỄN ĐÀN

TIN GIÁO DỤC

TIN ĐỜI SỐNG

TIN CÔNG NGHỆ

TIN VĂN HÓA GIẢI TRÍ

TIN THẾ GIỚI

Giang hồ & Chính khách – Những trò quăng bom bẩn

Ở Việt Nam, cứ nhắc đến giang hồ xã hội đen thường người ta hay nhắc đến dân anh chị gốc gác Hải Phòng, Nam Định hay Nghệ An. Những địa phương khác, không phải không sản sinh ra kẻ yên hùm có thể mang dao chém người như bỡn nhưng tụ tập nhau thành băng nhóm hành nghề bảo kê, chăn gái, tổ chức cờ bạc, buôn lậu, buôn người…không đâu bài bản và có hệ thống, truyền thống như các địa phương kể trên. Không phải vô cớ mà giang hồ Hải Phòng được xếp đầu bảng phong thần đệ nhất giang hồ Việt. Hồi ông Năm (Năm Cam) còn hùng cứ Sài Gòn, đám mà ông Năm e ngại nhất vẫn cứ là đám từ Hải Phòng vào. Dù thiên binh vạn mã, muốn giết ai thì có thể giết được ngay nhưng Năm Cam mỗi ngày ăn không ngon ngủ không yên nghĩ cách đối phó. Giang hồ Hải Phòng ngoài các món hàng lạnh (dao rựa mã tấu…), hàng nóng (súng ống các kiểu) thì còn nổi tiếng một khoản không ai bằng: bom bẩn. Bom bẩn chế tạo như thế nào, tác dụng công phá ra sao mà nhờ nó giang hồ Hải Phòng đứng đầu bảng? Rất dễ, đó là một hỗn hợp gồm: phân người trộn với dầu nhớt cho tăng độ bám, thêm vào đó các loại châu chấu cào cào và gián các loại còn đương sống tốt, tất cả trộn vào nhau và đem bỏ vào bịch ni lông. Khi các băng nhóm đụng độ nhau, ngoài cách triệt hạ lực lượng nhân mạng của nhau thì thường triệt hạ nhau về cả đường làm ăn kinh tế. Dung Hà đã từng cho đàn em mang bom bẩn vào vũ trường, nhà hàng, sòng bạc…của địch thủ rồi cho “nổ bùm”. Các thể loại châu chấu cào cào mang theo hỗi hợp phân người và dầu nhớt sau khi được giải phóng thì nhảy tứ táng khắp nơi. Chúng bám vào bàn ghế, màn cửa, quần áo, thau chậu, song cửa, chén đũa…không cách gì mà chùi rửa hay khử mùi cho hết được. Cả tháng sau cái thứ hỗn hợp mùi ghê rợn này vẫn còn nguyên tác dụng. Như thế, tiệm ăn phải đóng cửa, vũ trường ngừng hoạt động…tác hại còn hơn cả giết người. Đấy là thứ đáng sợ, đáng sợ hơn cả các loại hàng nóng lạnh mà người ta từng biết đến. Đó là lý do mà ông Năm ra lệnh giết cho bằng được Dung Hà.
Phát minh này của giới giang hồ xã hội đen còn có một biến thể khác mà hình như giới chính trị đương đại khoái dùng để chọi nhau. Tất nhiên, chính trị đức cao đạo mạo thì không ai đem phân người trộn dầu nhớt với cào cào châu chấu rồi phang vào người nhau. Trong chính giới người ta phang nhau theo kiểu khác. Tỷ như, cái nhà quốc hội mới xây xong mấy ngàn tỷ đẹp đẽ chẳng hạn, muốn phá cái đẹp đẽ cái uy danh kia không có gì hay bằng dùng bom bẩn cho nổ tung giữa chốn thanh thiên bạch nhật. Thế là người ta tạo ra vài quả bom bẩn mang tên nghị khùng Hoàng Vô Phước hay gã thợ cạo Thích Bắc Hàn rồi cho nổ bùm thối um. Thế là quốc hội mất hết uy danh. Bây chừ nói gì thiên hạ cũng cười cười. Thế là sinh ra oán thù mà trả đũa. Thế là đồn thổi chuyện băng nhóm đánh nhau to. Một dạng bom bẩn khác chuyên phá các loại lô cốt vững chắc mà dạo gần đây chính giới cũng ưa sử dụng: thiên lôi bảy búa. Tỷ như, cái bộ giao thông công chánh kia trì trệ quá, từ đời bộ trưởng này đến bộ trưởng khác với đủ các loại lý luận cao siêu nhưng không sao cải thiện được. Thế là chính giới điều ngay một anh thiên lôi bảy búa về, tay này cầm búa tay kia cầm dao, đụng đâu cũng đập đụng đâu cũng trảm. Dân chúng ngu ngơ vốn đã căm ghét sự trì trệ đã lâu, cứ thấy thiên lôi đập phá đâm chém loạn xạ là thích, là vỗ tay, là hoan hô. Tin chắc rằng, cái bộ đó chẳng mấy chốc mà sập, sập rồi thì xây lại mấy hồi. Theo đà này, chẳng mấy chốc băng nhóm nào không theo ta, hoặc ta quăng bom bẩn điên khùng phát biểu linh tinh hoặc ta sai thiên lôi bảy búa chém hết nhốt hết.
Mới đây, thiên hạ lại được mục kích cái sở thị đoạn ghi âm Hà Văn Thắm nói chuyện với đàn em chỉ thị việc a việc b…Lại còn dây cà dây muống tới anh ba anh bảy. Việc này, biến thể bom bẩn này…e rằng…giang hồ Hải Phòng còn phải học hỏi chính giới đương đại nhiều nhiều. Cái mùi hôi thối này cả năm có khi cũng không hết mùi.
*Nói nhảm chơi vui thôi nha. Ai tin thì tin không tin thì mặc kệ
Phalanxist
Sài Gòn, đêm 08/11/2014
(Blog Phalanxist)

Làm sao để trường sinh bất tử?



Khi ngày càng có nhiều người sống thọ cả thế kỷ, không ít câu hỏi đã được đặt ra về việc liệu chúng ta có thể sống đến bao lâu, và cần phải làm những gì để đạt được đến độ tuổi đó.
Báo cáo ‘Nghệ thuật kéo dài tuổi thọ’ đã được Bác sỹ Huseland công bố hồi năm 1797 sau suốt 8 năm nghiên cứu.
Ông đã xác định nhiều yếu tố giúp kéo dài tuổi thọ: Bữa ăn kèm nhiều rau, giảm khẩu phần thịt và đồ ngọt, lối sống năng động, chăm sóc răng tốt, tắm bằng nước ấm hàng tuần, xem trọng giấc ngủ, môi trường sống trong lành, sinh ra trong gia đình có cả bố lẫn mẹ đều sống thọ.
Trong phần kết luận nghiên cứu của mình, ông nói “tuổi thọ con người có thể được kéo dài gấp đôi so với giới hạn hiện nay mà không khiến các hoạt động hay sự hữu ích của chúng ta bị ảnh hưởng”.
Nếu các điều kiện cần thiết được hội tụ đủ, Huseland cho rằng tuổi thọ con người có thể kéo dài đến 200 năm.
Thế nhưng ngoài trí tưởng tượng của một vị bác sỹ ở thế kỷ 18 ra, chúng ta còn những bằng chứng khả tín nào khác?
James Vaupel, giám đốc một viện nghiên cứu về tuổi thọ con người tại Rostock, Đức, cho biết cứ mỗi một thập niên, tuổi thọ con người lại tăng thêm hai năm rưỡi.
Nói một cách khác, chúng ta đang ngày càng sống thọ hơn.
Số người sống thọ 100 tuổi trên toàn cầu được dự đoán sẽ tăng gấp 10 lần từ năm 2010 - 2050.
Theo Huseland, yếu tố quyết định điều này nằm trong gen của bố mẹ bạn.
Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng của những người sống thọ cả thế kỷ không chỉ là do vấn đề gen.
Những cải thiện về môi trường sống của chúng ta đang giúp cho ta sống thọ và sống khoẻ hơn.
Các yếu tố này bao gồm cải thiện trong chăm sóc y tế, các dịch vụ công cộng như nước sạch, không khí sạch, tiến bộ về giáo dục.
“Yếu tố quyết định dường như là tiền bạc và chăm sóc y tế,” Vaupel nói.
Tuy nhiên, những gì mà y tế và điều kiện sống mang lại vẫn khiến nhiều người chưa thoả mãn, trong khi các bài tập thể dục để kéo dài tuổi thọ lại không được tiếp đón nồng nhiệt.
Vô giới hạn
Vì sao chúng ta bị lão hoá?
“Mỗi ngày trôi qua, cơ thể chúng ta bị những tổn thương không thể tự phục hồi,” ông Vaupel nói.
“Và chính điều này dẫn đến các bệnh về tuổi già”.
Thế nhưng điều này không tác động đến tất cả các loài.
Ví dụ như giống Hydra, một loài có cấu tạo gần giống như sứa, có thể tự phục hồi các vết thương và có khả năng tự huỷ các tế bào nếu chúng bị tổn thương nặng đến nỗi không thể tái tạo.
Ở cơ thể con người, các tế bào bị tổn thương này có thể biến thành các khối u ung thư.
“Loài Hydra dồn hết năng lượng trong cơ thể cho việc tái tạo, thay vì tái sản xuất,” ông nói.
“Trong khi đó con thể con người lại chủ yếu sử dụng chất cho việc tái sản xuất, đây là sự khác nhau trong chiến lược sinh tồn giữa hai loài.”
Loài người có thể có tuổi thọ rất thấp, nhưng khả năng sinh sôi nảy nở giúp nhân loại khắc phục điểm yếu này.
“Giờ đây, cái quan trọng là làm sao đẩy mạnh hoạt động tái tạo trong cơ thể thay vì sử dụng tất cả các năng lượng đó để trở nên béo phì”, ông Vaupel nói.
“Trên lý thuyết điều này là hoàn toàn có thể, dù chưa ai biết cách phải thực hiện nó như thế nào”.
“Nếu một lúc nào đó mà quá trình gây tổn thương cho các tế bào của chúng ta bị chặn đứng, chúng ta sẽ không còn giới hạn về tuổi thọ.”
Trong trường hợp dó, con người sẽ không còn đối mặt với cái chết.
“Sẽ rất tuyệt vời nếu chúng ta có thể sống trong một thế giới nơi mà cái chết chỉ là sự lựa chọn.”, ông Gennady Stolyarov, một triết gia và là tác giả cuốn ‘Cái Chết Là Sai Trái’, nhận định.
“Ngay lúc này, tất cả chúng ta đều nhận án tử hình, dù bản thân không làm gì sai để phải hứng chịu điều đó”.
Frank Swain
Frank Swain là Biên tập viên chuyên mục Cộng đồng của báo New Scientist, tác giả cuốn How To Make A Zombie, và là cây bút tự do viết về khoa học cho Mosaic, Wired, Slate, BBC Radio 4, và các ấn phẩm khác.
(BBC)

Lại kỳ thị vùng miền

Việc kỳ thị vùng miền của Cty TNHH Gỗ Hoa Nét, được thể hiện bằng việc cấm cửa những lao động đến từ tỉnh Cà Mau, khiến dư luận bức xúc, và thêm phần lo lắng.

Lại kỳ thị vùng miền

Cách đây mấy năm, việc một số doanh nghiệp ở khu công nghiệp - khu chế xuất (KCN-KCX) Bình Dương thể hiện việc kỳ thị vùng miền bằng cách từ chối tuyển dụng những lao động đến từ ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, đã khiến dư luận xã hội nổi sóng. Sự việc tưởng đã được giải quyết, thì mới đây, việc kỳ thị vùng miền của Cty TNHH Gỗ Hoa Nét, cũng có trụ sở tại KCN-KCX này, được thể hiện bằng việc cấm cửa những lao động đến từ tỉnh Cà Mau, khiến dư luận bức xúc, và thêm phần lo lắng.
Quyền lao động, quyền được có công ăn việc làm, quyền được mưu cầu hạnh phúc, là những quyền căn bản nhất của con người. Ở nước ta, những quyền đó đã được Hiến định và được quy định rõ trong Bộ luật Lao động. Mọi công dân Việt Nam còn đang trong độ tuổi lao động, có đủ sức khỏe, đều có những quyền đó, không phân biệt giới tính, vùng miền, tôn giáo…
Người lao động Việt Nam ở bất cứ vùng miền nào cũng có người tốt, kẻ xấu. Nhưng người tốt bao giờ cũng chiếm số đông. Bởi cần cù, chăm chỉ trong lao động sản xuất, thật thà chất phác, chấp hành triệt để pháp luật của nhà nước cũng như nội quy của cơ quan, là đức tính nổi bật nhất của người dân Việt Nam. Về sự thông minh, khéo tay, người lao động Việt Nam không thua kém lao động của bất cứ nước nào, trong cùng một môi trường làm việc.
Chỉ dựa vào tính xấu của một vài người của một vùng miền mà dẫn đến kỳ thị, phân biệt đối xử với toàn bộ lao động của cả vùng miền đó, là các doanh nghiệp trên đã vi phạm Hiến pháp, vi phạm Bộ luật Lao động, tước đi của số đông lao động trong vùng miền đó những quyền căn bản nói trên.
Thực ra, chuyện kỳ thị vùng miền này xuất phát từ một nguyên nhân rất mơ hồ. Theo kết quả điều tra của báo chí, thì khi thấy một số ít lao động người Thanh - Nghệ – Tĩnh trong doanh nghiệp mình quậy phá, tính kỷ luật lao động không cao. Một ông chủ của KCN-KCX Bình Dương đã có ác cảm với toàn thể lao động vùng miền đó. Và trong lúc “trà dư tửu hậu”, ông ta đã “khuyên” những người cùng giới với mình không nên tuyển lao động 3 tỉnh ấy. Thế rồi những lời “khuyên” đó cứ lan rộng dần, dẫn đến hàng loạt chủ doanh nghiệp có sự kỳ thị vùng miền, dù cái túi của các ông được đầy, phần lớn là nhờ những lao động của 3 tỉnh đó (số liệu của BHXH tỉnh Bình Dương cho biết: 80% người lao động đang làm việc trong tỉnh là người tỉnh ngoài, trong đó 60% là người Thanh-  Nghệ - Tĩnh).
Chuyện cấm cửa người Cà Mau của Cty TNHH Gỗ Hoa Nét, cũng có nguyên nhân hệt như trên, khi thấy vài lao động người Cà Mau trộm cắp và mua bán chất gây nghiện. Công ty đã quy định bằng văn bản rõ ràng là “Lưu ý không tuyển người Cà Mau”. Và khi một cán bộ tuyển dụng lao động không chấp hành quy định đó, công ty đã kỷ luật anh.
Người cán bộ kia đã kiện quyết định kỷ luật đó ra tòa. Điều lạ lùng là thay vì phải tuyên hủy ngay cái văn bản kỳ thị vùng miền rất quái đản, vi phạm pháp luật của Cty TNHH Gỗ Hoa Nét đi, thì TAND TP Thủ Dầu Một (thuộc tỉnh Bình Dương) lại căn cứ vào văn bản đó để tuyên rằng việc xử lý kỷ luật người cán bộ trên của công ty là đúng, bác đơn khởi kiện của anh.
Thật không còn lời nào để có thể bình luận thêm được nữa.
  VŨ HỮU SỰ
(Nông Nghiệp)
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét