Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, ngày 22 tháng 9 năm 2014

Cứu nước trên hết! - ‘Tự ái rởm’ hay là chuyện ‘Giận Tàu, chém chữ Nho’

  • Vụ đất đai Cồn Dầu chờ kết luận của thủ tướng (RFA) - Trong hai ngày 15 và 17 tháng 9 vừa qua diễn ra hai cuộc đối thoại giữa đại diện 62 hộ dân Cồn Dầu và đoàn thanh tra của Bộ Tài Nguyên- Môi trường, rồi Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Kết quả đoàn sẽ báo cáo với thủ tướng để có biện pháp giải quyết cho cuộc khiếu kiện này.
  • Phim "Đập cánh giữa không trung" đoạt giải tại LHP Venice (RFA) - Nữ đạo diễn trẻ Nguyễn Hoàng Điệp vừa trở về từ thành phố Toronto, Canada, sau khi mang bộ phim đầu tay có tựa đề Đập cánh giữa không trung ra trình chiếu. Trước đó, cô giành được giải dành cho phim đầu tay hay nhất ở tuần lễ phê bình phim quốc tế ở Venice.
  • Đức Giáo Hoàng Phanxicô công du Albanie (RFI) - Đức Đức Giáo Hoàng Phanxicô khen ngợi tinh thần “tôn giáo hòa đồng” gương mẫu tại Albanie. Lãnh đạo Tòa thánh La Mã khẳng định không ai có quyền lợi dụng tôn giáo để biện minh cho hành động bạo ngược.
  • Nhật Bản muốn chế tạo máy bay dọ thám mới (RFI) - Trong bối cảnh không phận liên tục bị Trung Quốc và Nga xâm phạm, Bộ Quốc phòng Nhật Bản xin thêm ngân sách để chế tạo máy bay trinh sát mới thay thế loại E-2C của Mỹ hiện nay. Đây là loại phi cơ trang bị ra đa có khả năng cảnh báo sớm và điều hợp hành quân mà Nhật gọi là máy bay « tiền giới ».
  • Đức Đạt lai Lạt ma tin rằng TQ đang có thay đổi (RFA) - Nhà lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng là Đức Đạt lai Lạt ma lên tiếng tại Ấn độ rằng chủ tịch Tập Cận Bình là một nhà lãnh đạo có tính thức tế hơn những người tiền nhiệm của ông.
  • Sinh viên Hồng Kông nghỉ học để biểu tình chống Trung Quốc (RFI) - Để bảo vệ quyền được đi bầu theo thể thức phổ thông đầu phiếu, hàng ngàn sinh viên Hồng Kông sẵn sàng nghỉ học để đi biểu tình. Sinh viên tại 25 trường đại học và cao đẳng Hồng Kông chuẩn bị xuống đường suốt tuần tới với hy vọng tiếp sức cho các phong trào dân chủ tại thuộc địa cũ của Anh Quốc.
  • Afghanistan : thỏa thuận chia sẻ quyền lực (RFI) - Mỹ và Iran hoan nghênh Afghanistan thoát khỏi tình trạng tê liệt chính trị kéo dài. Sáng nay (21/09/2014) hai ứng cử viên tổng thống Afghanistan đạt thỏa thuận thành lập chính phủ đoàn kết dân tộc. Ashraf Ghani thay thế ông Hamid Karzai lên nắm quyền tổng thống. Đối thủ của ông Ghani ở vòng hai cuộc bầu cử Afghanistan là ông Abdullah Abdullah sẽ nắm giữ quyền hạn tương đương với chức vụ thủ tướng.
  • Obama kêu gọi mở rộng liên minh diệt thánh chiến (RFI) - Tổng thống Mỹ sẽ đọc diễn văn tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và chủ trì một cuộc họp đặc biệt tại Hội Đồng Bảo An vào tuần tới tại New York về mối nguy hiểm của chiến binh Hồi giáo người phương Tây. Trong thông điệp truyền thanh hôm thứ Bảy 20/09, Barack Obama kêu gọi thành lập một liên minh rộng lớn để « tiêu diệt » tổ chức cực đoan Nhà nước Hồi giáo.
  • Bài vọng cổ 20 câu “Kiếp Con Tằm” (2) (RFA) - Thời cuối thập niên 1940 hãng dĩa hát Việt Nam đã cho ra đời bộ dĩa vọng cổ trọn 20 câu “Kiếp Con Tằm” do nam danh ca Xuân Liễu trình bày đã làm say mê giới mộ điệu thời bấy giờ. Sau đây là phần cuối của bài “Kiếp Con Tằm”
  • Đại bác vẫn nổ tại Donetsk dù có vùng đệm (RFI) - Washington hy vọng Matxcơva sẽ giải quyết xung khắc với Ukraina trước khi Thượng đỉnh G20 khai mạc tại Úc vào tháng 11 để tránh một đợt biện pháp trừng phạt mới.Tuy nhiên, hôm nay, súng lại nổ tại Donetks sau khi NATO cảnh báo « hưu chiến chỉ là hình thức » và quân Nga vẫn trấn đóng tại miền đông Ukraina.
  • Nga : Khodorkovski sẵn sàng ra tranh cử tổng thống (RFI) - Ngày 20/09/2014 từ Paris, cựu tỷ phú Mikhail Khodorkovski thông báo thành lập một tổ chức quy tụ những thành phần thân Châu Âu tại Nga. Trong một số điều kiện, ông sẵn sàng ra tranh cử tổng thống.
  • Những “liên minh tình huống” kỳ lạ (BaoMoi) - (CATP) Trong khi các nước châu Á có mối quan hệ thương mại rất mạnh thì liên minh chính trị lại bị rối loạn. Có rất nhiều nguyên nhân: nhu cầu tài nguyên thiên nhiên của Trung Quốc cực lớn và thái độ hung hăng của họ ở biển Đông, phô diễn sức mạnh quân sự của Nga, chủ nghĩa quốc gia trỗi dậy ở Nhật, và chiến lược ngoại giao “chuyển trục” của Mỹ. Có lẽ chúng ta đang chứng kiến một thời kỳ các đối tác mới dựa trên sự cân bằng giữa nhu cầu và khả năng tài nguyên thiên nhiên của mỗi bên. Hãy nhìn qua “thế trận” đang hình thành của ngày hôm nay tại một vùng châu Á sôi sục.
  • Lữ đoàn tàu ngầm 189 xuất quân huấn luyện (BaoMoi) - (Ảnh Nóng) - Với nhiệm vụ chiến đấu, hiệp đồng với các lực lượng bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Lữ đoàn tàu ngầm 189 đặt nhiệm vụ huấn luyện lên hàng đầu.
  • Trung Quốc có thể dùng Gạc Ma làm bàn đạp tấn công (BaoMoi) - Qua theo dõi tiến độ xây dựng các cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ở Gạc Ma và một số đá khác thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, hai chuyên gia quốc phòng của IHS Jane's cảnh báo nguy cơ Bắc Kinh dùng các điểm này làm bàn đạp để tấn công các mục tiêu của các nước cùng có tranh chấp trong khu vực.
  • Phải ứng xử thế nào đây? (BaoMoi) - (PetroTimes) – Trung Quốc đang tìm cách “thay đổi sự thật” ở Biển Đông- Đó là nhận định chung của chuyên gia quốc tế, khi việc Bắc Kinh xây dựng trái phép các đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa (của Việt Nam – PV) bị phát hiện và vạch trần. Nhưng mục đích của việc làm trên là gì và vì sao Trung Quốc lại chọn thời điểm này để làm cái việc bất chấp luật pháp quốc tế, đi ngược lại với những gì mà họ và các nước ASEAN đã cam kết trong Tuyên bố chung của các bên về ứng xử trên Biển Đông (DOC)?
    Và cần phải hành xử với hành động ngang ngược của Bắc Kinh thế nào?
  • Thế giới tuần hành vì « khí hậu » (RFI) - New York, Luân Đôn, Berlin, Paris, Rio hay Melbourne tuần hành vì trái đất ba ngày trước Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu mở ra tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, New York. Nhiều tổ chức và hội đoàn đòi "100 % năng lượng tái tạo" cho hành tinh.
  • Phi vụ thứ tư của phi thuyền Dragon (RFI) - Phi thuyền Dragon (Falcon 9) của công ty không gian tư nhân Hoa Kỳ Space X đã được phóng lên không gian vào sáng sớm ngày 21/09/2014, từ mũi Canaveral, bang Florida. Chiếc khoang chở theo 2,5 tấn thiết bị và lương thực cung cấp cho trạm không gian quốc tế ISS nằm cách địa cầu 350 km. Trong tương lai gần, Nasa sẽ không còn lệ thuộc vào dịch vụ Soyouz của Nga.
  • G20 : Ưu tiên cho tăng trưởng toàn cầu (RFI) - Bộ trưởng Tài chính G20 kết thúc cuộc họp hai ngày tại Cairnes- Úc. Mỹ hy vọng giảm bớt căng thẳng với Nga trước thượng đỉnh Brisbane tháng 11/2014. Các bên cam kết tạo thêm 2 % tăng trưởng kinh tế cho toàn cầu trong 5 năm sắp tới.
  • 70.000 người Kurdistan ở Syria tỵ nạn sang Thổ Nhĩ Kỳ (RFI) - Tổ chức Nhà nước Hồi giáo EI chiếm được Aïn al-Arab một thành phố của người Kurdistan tại Syria, kiểm soát một đoạn đường biên giới giữa Syria và Thổ Nhĩ Kỳ. Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc hỗ trợ Ankara đón nhận hơn hàng chục ngàn người Kurdistan từ Syria sang Thổ Nhĩ Kỳ tỵ nạn.
  • Chiến dịch bảo vệ tê giác ở Anh và Czechoslovakia (RFA) - Trong một chiến dịch bảo vệ các loài thú đang trên đường tuyệt chủng, vào ngày hôm qua các vườn thú ở Cộng hòa Czech Slovakia và Anh quốc đã tổ chức đốt sừng tê giác, trong đó vườn thú Cộng Hòa Czech đốt đến 60 kilo.
  • Bài 30: Biên bản buổi họp (RFI) - Mời quý thính giả theo dõi chương trình học tiếng Pháp trong kinh doanh : "Comment vont les Affaires ?", tìm hiểu công ty Paragem, một công ty Pháp và làm quen với Đăng Minh.
  • Thời sự qua hình ảnh (RFA) - Các tòa nhà cao tầng trong khu tài chính Lujiazui vào ban đêm vào Tết Trung Thu ở Phố Đông, Thượng Hải, Trung Quốc, ngày 08 Tháng Chín 2014
  • Du ngoạn Bãi Cát Vàng (BaoMoi) - Khi nói đến hai chữ Hoàng Sa và Trường Sa thì ai cũng hiểu đó là những quần đảo ở Biển Đông và là lãnh thổ Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay. Nhưng nói đến địa danh Bãi Cát Vàng hẳn không khỏi có người còn bỡ ngỡ, nhưng hãy đến rồi khắc biết...
  • Lộ rõ âm mưu khống chế và độc chiếm Biển Đông (BaoMoi) - ANTĐ - Hơn 20 năm sau khi chiếm đóng trái phép Gạc Ma của Việt Nam, Trung Quốc đang cải tạo biến rạn san hô ngầm trở thành đảo nhân tạo quy mô với sân bay, quân cảng. TS Trần Công Trục, Nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ cho rằng Trung Quốc muốn tạo dựng một chỗ đứng để thực hiện âm mưu khống chế và độc chiếm Biển Đông, làm chỗ dựa cho các hoạt động khai thác tài nguyên và kiểm soát tuyến hàng hải quốc tế từ eo biển Malaca qua Biển Đông; có nguy cơ gây ảnh hưởng tới các hoạt động thương mại hàng hải quốc tế ở khu vực này.
  • Báo chí Mỹ bình luận: Trung Quốc có ý đồ xây "Vạn Lý Trường Thành" trên biển Đông (BaoMoi) - ANTĐ - Việc Trung Quốc tiến hành cải tạo đất và xây đảo nổi trái phép ở bãi đá ngầm Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là bước đi hết sức thô bạo trên Biển Đông. Hành động này ngày càng lộ rõ mưu độc của Trung Quốc ở Biển Đông và gây phản ứng mạnh mẽ trong dư luận quốc tế. Báo chí Mỹ đã bình luận hành động này của Trung Quốc là xây “Vạn lý trường thành” trên Biển Đông…

-Huyền thoại “nhạy cảm” và “bài toán bán… nước” tại rạp

Boxitvn

André Menras Hồ Cương Quyết
clip_image002
Sau khi đọc bài trên BBC Phim ca ngợi Tướng Giáp hủy chiếu “vì ế”, tôi xin góp vài ý từ kinh nghiệm cá nhân về việc chế độ này không cho trình chiếu phim tài liệu, vì sự ngưỡng mộ của tôi đối với Đại tướng.
Tôi chưa được xem phim ấy. Nên tôi chưa có thể phân tích về chất lượng kỹ thuật, mỹ thuật, về giá trị lịch sử khách quan của nó. Nhưng tôi xin nói thẳng: tôi khẳng định rằng, trong tình hình “hậu giàn khoan” hiện nay, khi hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc lại tạm thời ôm nhau, một phim như vậy bị hủy chiếu nhất định không phải vì ế, không phải vì lý do kinh doanh, mà chính vì lý do chính trị. Việc “ế” chỉ là hậu quả của một quyết định của một hay vài ông lớn trong bóng tối, như cái quyết định đã cấm chiếu phim của tôi cuối năm 2011. Nó cố ý. Nếu Nhà nước đầu tư mấy chục tỷ vào phim ấy, nếu nó được nhiều đạo diễn và mấy chuyên gia quay phim thực hiện, làm sao chính Nhà nước không có quảng cáo cho khán giả đến xem phim? Các cơ quan Nhà nước, Ban Tuyên giáo Trung ương biết tuyên truyền mà! Có VTV, VOV, và hơn 700 tờ báo chính thống… làm sao Nhà nước không tạo điều kiện để giới trẻ được học, được suy nghĩ về giai đoạn và các nhân vật lịch sử trong phim?

Hủy chiếu phim không phải chỉ là vấn đề tiêu phí thuế của dân. Dân Việt Nam quá quen điều đó rồi. Vấn đề lớn hơn là xúc phạm đạo diễn và hàng trăm người đã ra sức làm phim. Vấn đề lớn hơn nữa là xúc phạm những nhân vật lịch sử trong phim, đặc biệt một anh hùng có tầm quốc tế là Đại tướng Giáp, và gián tiếp cấm công dân Việt Nam quan tâm về lịch sử của Tổ quốc. Vì không ai có thể nói rằng đại đa số người Việt không quan tâm về Điện Biên Phủ, không yêu Bác Giáp. Hãy nhớ đến hàng triệu công dân đã tham gia lễ tang của Người dù một số ông lớn không nhiệt tình lắm nhưng bắt buộc phải chấp nhận… Tham gia lễ tang có cả nhiều người có thể không ưa – thậm chí chống – lập trường chính trị của Đại tướng luôn luôn “trung với Đảng” nhưng họ quý ông vì cái ý chí độc lập của ông đối với Trung Quốc. Hãy nhớ bao nhục nhã khi lễ tang chưa kết thúc mà chính quyền đã ra lệnh hạ cờ rủ để đón Thủ tướng Trung Quốc! Hãy nhớ cái vụ sách giáo khoa lịch sử ít nói về Điện Biên và không nói về Tướng Giáp! Các con sâu, các “thế lực thù địch” đích thật đang rúc sâu trong cái quả và tiếp tục ăn nó! Cái “âm mưu” lố bịch mới đây về “bài toán kinh doanh” như vụ “mất điện” tại triển lãm về cải cách ruộng đất, như vụ cúp điện tại khu du lịch Văn Thánh, v.v. đều có dấu bàn tay bẩn thỉu của bạn vàng và những kẻ phục vụ cho cái “đại cục” của nó vì cái ghế và cái túi của mình.
Còn về các giám đốc rạp, của nhà nước hay của tư nhân, với cái luận điệu “Không chiếu được vì không bán vé”, tôi xin không đánh giá cao lòng yêu nước của họ. Phim ấy không phải phim võ nghệ của Trung Quốc, cũng không phải phim chuyện tình yêu lãng mạn cá nhân. Nó là bộ phim về lịch sử của đất nước! Không phản đối khi nó bị hủy, không quảng cáo mà chỉ ngồi và chờ là bày tỏ lòng yêu nuớc kiểu “yêu nước nếu bán nước, không bán nước thì không yêu nước”.
Dù sao, tôi biết chắc rằng cuốn phim nhất định sẽ được chiếu trong tương lai gần đây, nhân dịp một giàn khoan mới sẽ tự mời thăm vùng biển đảo của Việt Nam. Lúc đó khán giả sẽ nghìn nghịt đến rạp để chỉ rõ cái nhục nhã của một số đồng chí cơ hội chủ nghiã trong bóng tối… đã “dũng cảm” đến mức cả gan biến một Người huyền thoại và một thắng lợi lịch sử thành một món hàng ế ẩm.
A. M. H. C. Q.
Tác giả gửi BVN.
(Tác giả viết trực tiếp bằng tiếng Việt)

-‘Tự ái rởm’ hay là chuyện ‘Giận Tàu, chém chữ Nho’

Tuấn công thư phòng

Hoàng Tuấn Công
Bài viết Thưa ông Bộ trưởng Văn hóa, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai? của tác giả Xuân Dương đăng trên báo “Giáo dục Việt Nam”, chúng ta có thể xem như một trong những trường hợp tiêu biểu cho hiện tượng “Giận Tàu, chém chữ Nho”, bài ngoại cực đoan, gây nhiễu loạn thông tin và ngộ nhận về văn hóa truyền thống dân tộc hiện nay. Sau khi đồng tình chủ trương “truy bắt” sư tử Tàu, bình hoa Tàu tùy tiện đưa vào các di tích và lên án việc sử dụng chữ Hán trên hoành phi, câu đối, bia đá  ở các ngôi đền chùa, đặc biệt là loại mới trùng tu, xây dựng, tác giả XD đặt ra câu hỏi:

“Mốt lai căng đang tràn ngập mọi hang cùng, ngõ hẻm, đang len lỏi vào các cơ quan công quyền, vào tận chốn thờ tự linh thiêng vì sao vẫn chưa làm thức tỉnh những người có trách nhiệm ở ngành Văn hóa. Vì sao ngành này và các địa phương mới chỉ để ý đến mấy con sử tử đá mà không chú ý đến những điều sâu sắc hơn, nhạy cảm hơn như hoành phi, câu đối, bia đá… trong di tích?”

Như vậy, chỉ xem cách đặt tên bài viết “Thưa ông Bộ trưởng, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai ?” và trích đoạn trên cũng đủ hiểu, tác giả Xuân Dương xem chữ Hán là phần chìm của tảng băng “văn hóa ngoại lai”“mốt lai căng” mà Việt Nam cần bài trừ triệt để (!)
Chúng tôi xin được trao đổi đôi điều, những điều mà lẽ ra không cần phải nhắc lại nữa.
1.Chữ Hán có phải là “lai căng”,“văn hóa ngoại lai” cần phải bài trừ không?
Chưa có bằng chứng nào cho thấy người Việt cổ từng có chữ viết (hiểu theo đúng nghĩa) Không văn tự này thì văn tự khác, chúng ta đều phải sử dụng chữ viết của dân tộc khác. Bởi thế không có cơ sở để nói rằng chữ Hán xâm lăng, triệt tiêu chữ của người Việt.
Điều đặc biệt là trong không ít cuộc chiến tranh giữ nước, người Việt đã biến chữ Hán-chữ vốn do kẻ đô hộ, xâm lược ấy truyền sang với mục đích đồng hóa, thành một thứ vũ khí lợi hại để đánh và chiến thắng chính kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Trong cuộc kháng chiến chống Tống, Lý Thường Kiệt đã thực hiện kế “Tiên phát chế nhân” soạn bài hịch “Phạt Tống lộ bố văn” bằng chữ Hán, kể tội nhà Tống, thu phục được nhân tâm vùng quân sĩ sẽ đi qua, rồi đem quân đánh sang tận đất Tống, phá thành Ung Châu, triệt hạ kho lương chuẩn bị để xâm lược Đại Việt. Khi giặc Tống xâm lăng, bài thơ thần “Nam Quốc sơn hà” lại vang lên làm giặc phương Bắc rụng rời… Những giai thoại đối đáp chữ nghĩa giữa sứ ta và sứ Tàu khẳng định chữ Hán đã được ông cha ta tiếp thu nhuần nhuyễn, uyên thâm không thua kém gì bên “Thiên triều”. Trong khởi nghĩa Lam Sơn, khi vây hãm thành Đông Quan lâm vào thế bế tắc, Lê Lợi đã mưu “phạt tâm công” dùng những bức thư chữ Hán lời lẽ vừa cương quyết vừa mềm mỏng, khôn khéo để dụ Vương Thông đầu hàng, tránh đầu rơi máu chảy và bảo vệ vẹn nguyên kinh thành. Khi thiên hạ đại định, “Bình Ngô đại cáo” bằng chữ Hán lại vang lên sang sảng tự hào: “Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác…” “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có…” (Bản dịch)
Cho tới tận bây giờ, những thư tịch cổ bằng chữ Hán của các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn tiếp tục đứng về phía dân tộc Việt Nam khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, tố cáo với thế giới sự ngang ngược của Trung Quốc. Và nhiều, rất nhiều ví dụ khác không thể kể hết.
Chữ Hán có nguồn gốc ngoại lai, nhưng yếu tố ngoại lai đã được ông cha tiếp thu có sáng tạo, và đã trải qua hàng ngàn năm bồi đắp, chắt lọc, trở thành bản sắc truyền thống dân tộc Việt Nam. Nó khác hẳn kiểu bắt chước, sao chép, vay mượn một cách sống sượng, kệch cỡm của văn hóa lai căng.
Vậy lý do gì ông Xuân Dương xếp chữ Hán vào diện “lai căng”, “ngoại lai” cần bài trừ ?
2.Vì sao hoành phi câu đối lại viết bằng chữ Hán ?
Trong bài viết, ông Xuân Dương luôn thắc mắc, tại sao hoành phi, câu đối trong các đình chùa, miếu mạo, đặc biệt loại mới xây dựng lại không viết bằng chữ Quốc ngữ: “Không nói đến các di tích được trùng tu, rất nhiều công trình tưởng niệm các danh nhân, đình, chùa mới xây dựng những năm gần đây (ví dụ chùa ở đảo Bạch Long Vĩ,  khu lưu niệm danh nhân Cao Bá Quát – Phú Thụy, Gia Lâm, Hà Nội) hoành phi câu đối đều bằng tiếng Hán. Bao nhiêu trong số chín mươi triệu người Việt ngày nay có thể đọc và hiểu những chữ đó?  Chẳng lẽ phải viết bằng chữ Hán thì công trình mới có giá trị lịch sử?”(HTC nhấn mạnh)
Xin thưa: hoành phi, câu đối viết bằng chữ Hán vì nó vốn sinh ra để viết bằng chữ Hán, sinh ra bởi đặc điểm, cách “chơi” của chữ Hán; và hàng ngàn năm qua cha ông ta vẫn viết bằng chữ Hán chứ không phải bất cứ một loại văn tự nào khác. Cao Bá Quát được người đời suy tôn là ông “Thánh” chữ Nho (“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán…”; “Thần Siêu, thánh Quát”). Bởi vậy, việc sử dụng hoành phi, câu đối chữ Nho để tưởng niệm (không phải “lưu niệm” như ông Xuân Dương viết) ông “Thánh chữ” là việc làm hoàn toàn hợp lý. Chỉ có người muốn đưa chữ Quốc ngữ-thứ chữ Tây đã “bóp chết” chữ Nho (Hán cổ) để “tưởng niệm” Cao Bá Quát mới là điều đáng nói.
Với chuyện hoành phi câu đối trong chùa ở đảo Bạch Long Vĩ dùng chữ Hán cũng hết sức bình thường và hợp lý. Bởi đó là nét đẹp truyền thống trong văn hóa và kiến trúc cổ truyền dân tộc, hình ảnh đã in sâu vào tiềm thức của mỗi người. Ngoài đảo xa muôn trùng sóng gió mà lại hiện diện một ngôi chùa Việt có nét đẹp cổ kính, gần gũi như vốn đã tồn tại ở đó hàng trăm năm thì còn gì bằng? Nếu sử dụng chữ Quốc ngữ, thì hàng trăm năm sau, ngôi chùa vẫn chỉ mới như ngày hôm qua. Đình chùa, miếu mạo có nét cổ kính, một chút thâm trầm, bí ẩn cũng tạo được hiệu ứng tâm linh so với những nét quá mới và phô bày lồ lộ trước mắt.
Trở lại vấn đề đang bàn. Do nghĩa lý sâu xa, ý tại ngôn ngoại của chữ Hán, bức hoành phi chỉ cần 3 đến 4 chữ, đôi câu đối mỗi vế 5 hay 7 chữ đã nói lên được rất nhiều điều mà chữ Nôm, chữ Quốc ngữ khó nói được, hoặc phải diễn giải ra tới cả trang giấy. Mỗi chữ Hán dù ít nét hay nhiều nét đều được viết trong một ô vuông. Thư pháp chữ Hán đã có hàng ngàn năm tuổi, kết hợp nghệ thuật điêu khắc, sơn son thếp vàng, mỗi bức hoành phi, câu đối chữ Hán với đầy đủ chương pháp, lạc khoản, trở thành bức thư họa khắc gỗ lộng lẫy. Bởi vậy, hoành phi, câu đối chữ Hán không chỉ biểu đạt nội dung, mà hình thức của nó còn tham gia vào không gian kiến trúc nội thất đình chùa, miếu mạo, tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật chạm khắc gỗ hài hòa với những long ly, quy phượng, hoa văn, hương án, tượng thờ…
Nói về chữ Quốc ngữ, xưa ông bà ta gọi là “chữ Tây” vốn sinh ra để viết theo hàng ngang, nay đưa vào câu đối viết theo hàng dọc là bắt chước cách viết chữ Hán. Mặt khác một chữ Quốc ngữ có khi ít ký tự, nhiều ký tự, thòi ra, thụt vào trên hoành phi, câu đối rất thô, cứng và vô hồn. Trong khi đó thư pháp chữ Quốc ngữ lại chưa đủ “pháp” để vừa đảm bảo giá trị văn bản, vừa có yếu tố mỹ thuật. Càng kệch cỡm hơn khi chữ Quốc ngữ cũng được sơn son, thếp vàng, xung quanh chạm khắc vân mây, rồng hóa, đặt phía trên cửa võng làm theo lối cổ. Nó phá vỡ tính thống nhất trong phong cách kiến trúc, bài trí nội thất của đền chùa, di tích. Có lẽ chính bởi vậy mà đã có một thời khi sử dụng chữ Quốc ngữ viết câu đối, người ta phải “gò” các con chữ cái La tinh vào khuôn khổ ô vuông hoặc hình tròn rồi tìm cách viết cho nó na ná giống như chữ Hán để dễ coi hơn. Vậy là “Mèo lại hoàn mèo”. Thậm chí mèo chẳng ra mèo, chuột chẳng ra chuột. Dân gian có câu: “Trò nào trống nấy”. Nếu chỉ xét riêng về yếu tố mỹ thuật và nguyên tắc phục cổ trong kiến trúc đền chùa thì cách làm “tân cổ giao duyên” mà ông Xuân Dương ca ngợi mới đáng gọi là lai căng khó chấp nhận.
Ông Xuân Dương cho rằng hoành phi, câu đối phải viết bằng chữ Quốc ngữ bởi “Bao nhiêu trong số chín mươi triệu người Việt ngày nay có thể đọc và hiểu những chữ đó?” (tức chữ Hán-HTC). Tuy nhiên, lại phải hiểu rằng, chữ trên hoành phi câu đối trong đền chùa không thuộc loại bắt buộc phải phổ cập. Nội dung của nó trước tiên là để thờ thần, phật, tiên, thánh, tiền nhân… Nếu cần, chỉ một phiến đá kích thước chừng 50×70 đã có thể làm sơ đồ, phiên âm, dịch, giải nghĩa rõ ràng nội dung các bức hoành phi câu đối Hán Nôm trong một ngôi chùa hay đền miếu.
Với chữ Hán, nhìn vào mặt chữ có thể biết được nghĩa. Tuy nhiên, nhiều chữ đồng âm, dị nghĩa phiên âm Hán Việt, viết bằng chữ Quốc ngữ rất khó phân biệt. Ca ngợi vua tôi bằng chữ Hán mà viết bằng chữ Quốc ngữ: “Quân tắc cổ, thần tắc cổ…; Thượng ung tai, hạ ung tai…” thì khác gì những lời chửi rủa ? Bức đại tự “Đại hùng bảo điện” viết bằng Quốc ngữ ông Xuân Dương ca ngợi mọi người đều đọc được, thực chất chỉ là phiên âm Hán Việt. Bởi vậy đọc được rồi, liệu có bao nhiêu người hiểu “Đại hùng bảo điện” nó là cái chi? Để hiểu được, liệu có thể diễn giải nội dung chừng nửa trang giấy rồi khắc chữ lên đó làm “hoành phi” không? “Bảo điện” thờ Phật thì trước hết phải viết bằng chữ Hán-thứ chữ và nghĩa nhà Phật dùng để suy tôn đức hiệu của Phật (Đại Hùng) chứ? Rồi “Thần công mạc trắc”, hay “Vân lai tập hội” nghĩa là gì? Ngay như 4 chữ “Cao sơn cảnh hành” trên đền Hùng nếu phiên âm Hán Việt và viết bằng chữ Quốc ngữ, già trẻ, lớn bé đều có thể đọc được. Nhưng trong khi các nhà Hán học còn ngồi “bàn nát” xem đọc là “cảnh hành” hay “cảnh hạnh” và nó có nghĩa là gì thì liệu mấy người đọc Quốc ngữ hiểu được? Hay cuối cùng vẫn là những người biết đọc chữ Hán mới hiểu ? Hơn nữa, không đọc được chữ Hán là do không được dạy, không được học, không thèm học chứ đâu phải tại thứ chữ đã gắn bó với dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm ?
Làm đình, làm chùa tức là kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống. Việc vứt bỏ chữ Hán đã có hàng ngàn năm lịch sử để thay vào một thứ chữ tuy được gọi là Quốc ngữ nhưng cũng là ngoại lai, với mẫu tự La tinh và cách ghép vần đa số theo tiếng Tây gốc Gaulois; cũng theo chân một kẻ xâm lược đô hộ khác, nhưng mới chỉ thành chữ Quốc ngữ trước 1945. Chữ này vốn không ai dùng để viết hoành phi, câu đối. Vậy cái nào lai căng, kệch cỡm hơn cái nào? Nếu ông Xuân Dương hoặc ai đó thấy cái hay, cái đẹp của chữ Quốc ngữ trên hoành phi câu đối trong đền chùa xin cứ dùng, không ai cấm. Không nên chỉ trích, thúc giục Bộ văn hóa, chính quyền TP Hải Phòng dùng cái mới để triệt tiêu cái cũ, coi sự hiện diện của chữ Hán trên “hoành phi, câu đối, bia đá… trong di tích“lai căng”,“trái với đạo lý dân tộc” (!)
3.Hoành phi, câu đối viết bằng chữ Quốc ngữ có thoát được chữ Hán “lai căng” không ?
Phương án thay thế “văn hóa ngoại lai”“mốt lai căng” chữ Hán của ông Xuân Dương là dùng chữ Quốc ngữ. Thế nhưng, tên nước “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” rồi mấy chữ “Độc lập- Tự do-Hạnh phúc” hay bản thân tên tác giả Xuân Dương, “Đại hùng bảo điện” hay “Vạn đức từ tôn” viết bằng chữ Quốc ngữ mà Xuân Dương ca ngợi có tính dân tộc kia đều là từ Hán Việt. Từ Hán Việt ấy ở đâu ra ? Là do ta dùng chữ Hán, đọc theo cách phát âm của ta. Từ Hán Việt mang nghĩa chữ Hán, nó chỉ khoác cái áo phát âm Việt mà thôi. Nói một cách nôm na, cái “thằng” chữ Hán “lai căng” mà ông Xuân Dương cho rằng “trái với đạo lý dân tộc” và cần bài trừ kia chính là bố đẻ ra “thằng con” từ Hán Việt. Vậy, nếu đã kính “ông con”, sử dụng “ông con”, ta có khinh thường, hay “triệt hạ” được “ông bố” không ? Được! Bằng cách nào? Chỉ cho phép “thằng con” Hán Việt ở lại định cư, còn đuổi “ông bố” chữ Hán về nước. Hay! Vậy bức hoành phi có mấy chữ “Đại hùng bảo điện”, hay “Vạn đức từ tôn”, tên ông Xuân Dương rồi mấy địa danh Hoàng Sa, Trường Sa, Song Tử Tây, Bạch Long Vĩ…kia nghĩa là gì nhỉ? Không biết ! Vậy muốn biết phải hỏi ai bây giờ? Hỏi “mẹ” từ Việt. Nhưng “mẹ Việt” chỉ ghi âm từ Hán chứ không ghi nghĩa. Làm sao bây giờ? Chỉ còn mỗi một cách là hỏi “bố đẻ” ra nó, hỏi chính cái “thằng” chữ Hán “lai căng” kia ! Nghĩa là ta phải tra “Hán Việt từ điển”. Nếu tra Từ điển, tự điển của Đào Duy Anh, của Thiều Chửu (vốn cũng phải tham khảo từ điển Tàu)…mà vẫn chưa thông, ta còn phải tìm sang tận bên Tàu trực tiếp hỏi “lão” “Khang Hy từ điển”, hỏi “Từ nguyên” hay “Hán ngữ đại từ điển”…của “Tàu khựa” nữa kia. Nếu ai đó nói rằng, mấy chữ “Đại hùng bảo điện” hay “Hoàng sa, Trường sa”…ấy có gì mà không hiểu nghĩa. Vâng, nhưng nhờ đâu mà hiểu? Cũng là do những người được học chữ Hán dạy cho ta, hoặc tra cứu từ điển chữ Hán mới hiểu được mà thôi. Còn nếu nói “cùng” rằng, tôi không thèm biết nghĩa Hán của nó là cái gì, chỉ biết nó là địa danh, nhân danh mà thôi. Cũng được. Đó là quyền của mỗi người. Tuy nhiên, không nên hô hào, tuyên truyền cho người khác hoặc con cháu cũng phải có cái đức giống mình.
Cha ông ta từng sáng tạo ra chữ Nôm. Thế nhưng chữ Nôm lại cũng được hình thành trên cơ sở các bộ chữ Hán và phép cấu tạo chữ Hán. Mặt khác, rất nhiều chữ mang tiếng là chữ Nôm nhưng thực chất là Hán 100%. Ví dụ: thần, phật, đạo đức, học, hành, bút, mực (mặc) phúc, đức, nhân, tâm,v.v…Vua Quang Trung là người chủ trương triệt để sử dụng chữ Nôm, kể cả trong các văn bản hành chính Nhà nước.Thế nhưng, cái tên Nguyễn Huệ và niên hiệu Quang Trung, rồi thành Phượng Hoàng Trung đô xây dựng ở Nghệ An vẫn phải viết bằng chữ Hán 100% đó thôi.
Cuối cùng, như trên đã nói, hoành phi, câu đối vốn không phải của người Việt mà là cách “chơi” xuất phát từ Tàu. Vậy, ai đó có dám bỏ, và có thể bỏ hết, không dùng hoành phi câu đối nữa không? Có cho rằng những “Ẩm thủy tư nguyên”, “Mộc bản thủy nguyên” “Đức lưu quang” phía trên bàn thờ tổ tiên nhà mình là “lai căng”, là “trái với đạo lý dân tộc” không? Có dám đổi cái tên ý nghĩa, đẹp đẽ của mình hoặc đặt tên cho con cháu mình là cột, kèo, thúng, mủng, dần, sàng được không ? Hay là nói như các cụ, “Kiêng cái nhưng ăn nước?”
4.Yếu tố ngoại lai có làm mất bản sắc và suy yếu dân tộc hay không?
Văn tự hay ngôn ngữ suy cho cùng chỉ là hình thức, phương tiện biểu đạt. Nội dung của nó mới là bản sắc. Rượu gạo Việt Nam đựng trong vỏ chai Mao Đài Trung Quốc vẫn mang hương vị Việt Nam, đâu có biến thành rượu Mao Đài? Các cụ nhà ta xưa học chữ Hán, thi bằng chữ Hán, làm quan “bằng chữ Hán”, sáng tác thơ văn, chép sử bằng chữ Hán…thậm chí nghi lễ, thiết chế trong triều cũng theo phép Hán…Thế nhưng các cụ đâu có biến thành người Hán ? Những tác phẩm văn chương bằng chữ Hán đó vẫn chứa đựng giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du có 131 bài thơ chữ Hán thì 122 bài viết ngay trên đất Trung Quốc, lấy những điều mắt thấy tai nghe bên Trung Quốc làm đề tài, cảm hứng. Thế nhưng, nội dung những bài thơ chữ Hán đó vẫn mang tình cảm, tư tưởng của một người Việt Nam, đâu có thành của Trung Quốc? Rồi Truyện Kiều, từ câu chuyện có nguồn gốc Tàu 100%, Nguyễn Du bám sát từng chi tiết nguyên tác, “chuyển thể” thành thơ Nôm (cấu tạo bởi chữ Hán) sao vẫn mang tâm hồn Việt ?
Vua Quang Trung nổi tiếng với câu nói: “đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” phần đa đều là dùng từ Hán, ông vẫn đánh tan 20 vạn quân Thanh đến từ quê hương xứ sở của chính cái chữ Hán kia như thường! Lê Lợi ngày cày ruộng, đêm đọc sách Hán, mười năm nếm mật nằm gai, có cả “Quân trung từ mệnh tập” do ông sai mưu sĩ viết bằng chữ Hán…Vậy mà vẫn khiến kẻ xâm lược tự xưng là “Thiên triều” kia phải dùng chính chữ Hán của “Thiên triều” mà “quỳ gối dâng tờ tạ tội”! (“Đô đốc Thôi Tụ quỳ gối dâng tờ tạ tội, Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng…”-Bình Ngô đại cáo)… Bản thân Lê Lợi về cuối đời còn thân chinh đi đánh giặc, làm thơ chữ Hán với lời tuyên bố đanh thép: Ta già gan sắt vẫn còn đây (Lão ngã do tồn thiết thạch can)…
Văn hóa hay ngôn ngữ của một dân tộc văn minh không phải là cái ao tù. Nó trở thành dòng sông lớn nhờ tiếp thu được lưu lượng nước từ các nhánh sông nhỏ để cuộn chảy đời đời không dứt…Dòng sông lớn ấy vẫn mang tên và bản sắc của chính mình chứ không bị thay bởi cái tên hay sắc màu, hương vị của những khe ngòi đã chảy vào và góp thêm sự lớn mạnh cho nó.
Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên vốn là các nước đồng văn (cùng sử dụng chữ tượng hình) như Trung Quốc. Hiện nay, ở Hàn Quốc và Nhật Bản chữ Hán vẫn được sử dụng trong Quốc ngữ. Chúng ta có thể tham khảo thống kê của Wikipedia, ở Nhật Bản: Đến năm 1981 thì lượng chữ Hán thông dụng được điều chỉnh lại gồm khoảng 1945 chữ thường dùng, khoảng 300 chữ thông dụng khác dùng để viết tên người. Đến năm 2000, các chữ Hán dùng để viết tên người được điều chỉnh thêm, số lượng tăng lên trên 400 chữ“. Còn ở Hàn Quốc: “Năm 1972, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã quy định phải dạy 1800 chữ Hán cơ bản cho học sinh”.
Vậy người Hàn Quốc và Nhật Bản sử dụng chữ Hán do họ thấy cần thiết, hay do họ không yêu nước và không có tinh thần tự hào dân tộc? Hay do người Nhật Bản, Hàn Quốc không có mâu thuẫn gì với Trung Quốc? Trong 4 nước đồng văn với Trung Quốc trước đây, hiện chỉ có Việt Nam, Triều Tiên, chữ Hán không còn sử dụng trong Quốc ngữ. Vậy, Việt Nam và Triều Tiên có giàu mạnh hơn so với Nhật Bản và Hàn Quốc không? Tên nước Nhật Bản 日本 (phát âm theo tiếng Nhật là Nihon) được viết hoàn toàn bằng chữ Hán (Kanji) và hiểu theo nghĩa Hán là gốc của mặt trời. Tên núi Phú Sĩ -biểu tượng và niềm tự hào của người Nhật cũng được viết bằng chữ Hán là 富士, (đọc theo tiếng Nhật là Fuji). Vậy, người Nhật bản có sợ mình bị nô dịch về văn hóa không? Nhật Bản, Hàn Quốc thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc bằng cách bài chữ Hán, vứt bỏ hoàn toàn chữ Hán trong bộ chữ Quốc ngữ, hay họ tìm cách khuất phục Trung Quốc bằng những thương hiệu như Toyota, Kubota, Sony, Nokia, Huyndai, Samsung… rồi tàu ngầm, máy bay, xây dựng đồng minh chiến lược, củng cố sức mạnh quốc phòng…?
4.Những ý tưởng nguy hiểm và sự nhiệt tình đáng lo ngại:
Theo ý của ông Xuân Dương, cần phải loại bỏ hoàn toàn chữ Hán khỏi các di tích. Tuy nhiên, ông tỏ ra là một người am hiểu luật pháp: “Sẽ là trái Luật Di sản khi đòi hỏi phải thay toàn bộ chữ Hán trong các di tích đã có hàng trăm năm tuổi, (nếu không “trái Luật Di sản”, hàng ngàn bia đá, rồi lớp lớp hoành phi câu đối trong các di tích-những thông điệp của quá khứ sẽ chịu thảm họa như thế nào trước ý tưởng của ông Xuân Dương?-HTC) nhưng sẽ là vô trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia và trái đạo lý dân tộc nếu những công trình văn hóa tâm linh được xây từ ngày thống nhất đất nước đến nay và từ nay về sau lại chỉ có chữ Trung Quốc. Nhà nước cần đưa vào Luật Di sản, hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật bắt buộc sử dụng chữ tiếng Việt trong trong tất cả các công trình văn hóa tâm linh xây mới trên lãnh thổ Việt Nam, có thể chọn thời điểm thi hành từ 1975 đến nay. Đây không chỉ là ý kiến của cá nhân người viết mà là của mọi người.”
Không hiểu tại sao cũng là chữ Hán, nhưng trước năm 1975 lại không bị ông Xuân Dương xem là “lai căng”, còn sau năm 1975 lại cần phải bài trừ và bị coi là “trái với đạo lý dân tộc”? Ông căn cứ vào đâu để lập ra cái mốc đó? Các di tích, đền chùa miếu mạo vốn bị tàn phá rất nhiều (do bàn tay con người, do chiến tranh, thời gian…). Bởi vậy số lượng trùng tu (thực chất là xây dựng mới trên nền cũ) sau năm 1975 chiếm số lượng rất lớn (Ví dụ: Nhà Thái học Văn miếu Quốc tử giám được xây dựng hoàn toàn mới, bắt đầu năm 1999 với rất nhiều hoành phi, câu đối chữ Hán). Vậy, khi đề nghị “bắt buộc sử dụng chữ tiếng Việt trong trong tất cả các công trình văn hóa tâm linh xây mới trên lãnh thổ Việt Nam, có thể chọn thời điểm thi hành từ 1975 đến nay” ông Xuân Dương có tính đến hậu quả của việc đoạn tuyệt với truyền thống dân tộc và gây tốn kém cho đất nước như thế nào không? Đề xuất về văn hóa truyền thống của ông Xuân Dương sao đơn giản và giống như chính sách đối với người nhập cư vậy?
Sự lầm lẫn, đánh đồng Trung Quốc xâm lược, Trung văn ngoại ngữ với chữ Hán cổ (chữ Nho), đánh đồng việc tiếp thu yếu tố ngoại lai có chắt lọc, sáng tạo với văn hóa lai căng sống sượng của ông Xuân Dương khiến ta phải lạnh gáy! Vì sao? Vì trong quá khứ, người ta đã từng phạm những sai lầm không thể tưởng tượng được, và hậu quả tai hại của nó không thể sửa chữa:
-Đánh đồng giai cấp bóc lột, tầng lớp địa chủ, cường hào, ác bá với những người giàu có được học hành, thông minh chăm chỉ, khôn khéo làm ăn tích tụ được ruộng đất; đồng nghĩa những kẻ ngu dốt, siêng ăn nhác làm với những thân phận bị áp bức, bóc lột; đánh đồng quan hệ chủ-thợ với chủ-tớ…Thế là bắt bớ, đánh giết…kinh hoàng !
-Phản phong, bài trừ mê tín dị đoan thì quy cho tất cả những gì thuộc về phong kiến đều xấu xa, lạc hậu; đồng nghĩa đình chùa, miếu mạo, tôn giáo tín ngưỡng với mê tín dị đoan…Thế là phá hết, đốt hết…Biết bao nhiêu đình chùa, miếu mạo, tín ngưỡng của làng Việt cổ truyền, thờ cúng các bậc anh hùng, hào kiệt có công với nước bị đốt phá hoặc dỡ ra làm trường học…
-Sách vở, thơ văn chữ Nho của cha ông bị đồng nghĩa với sách bói toán, tướng số, mê tín, dị đoan; bị coi là sản phẩm của “phong kiến lạc hậu” cần phải bài trừ. Thế là bia đá làm cầu, nung vôi; hoành phi, câu đối, sắc phong, thần phả, gia phả,…chữ Hán bị đốt hết…
Vậy mà đến tận bây giờ vẫn còn những người cầm bút vạch đường, chỉ lối, thúc giục Bộ văn hóa thông tin truyền thông phải chống văn hóa “lai căng”“ngoại lai” bằng cách bài trừ chữ Hán. Đồng thời, quy kết việc sử dụng chữ Hán trong các công trình văn hóa tâm linh là ” vô trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia và trái với đạo lý dân tộc”. Quá khứ đã từng diễn ra những câu chuyện tàn sát, bức tử văn hóa Việt không thể tin nổi. Vậy ai dám chắc một ngày, tinh thần yêu nước, độc lập tự chủ chống Trung Quốc đi đôi với bài trừ “hoành phi, câu đối, bia đá… trong di tích” theo quan điểm của ông Xuân Dương lại không trở thành hiện thực ?
Lợi ích “thoát Trung” chưa thấy đâu, nhưng hậu quả của việc bài chữ Hán, không thèm dùng chữ Hán của ông Xuân Dương đã hiện ra nhãn tiền. Ví như trong bài viết, ông Xuân Dương đã nhầm lẫn, không phân biệt được hai từ Hán Việt “tưởng niệm” và “lưu niệm” khác nhau thế nào. Ở Phú Thị-Gia Lâm chỉ có Nhà “tưởng niệm” Cao Bá Quát, chứ không có nhà “lưu niệm” Cao Bá Quát. Người ta chỉ gọi là “lưu niệm” một khi Cao Bá Quát từng sống trong ngôi nhà đó, hoặc hiện ở đó vẫn lưu giữ, trưng bày những đồ đạc ông dùng lúc sinh thời, ít nhất là còn có bút lông, nghiên mực, bút tích các tác phẩm chữ Hán…Mặt khác, ông Xuân Dương bàn về chữ Hán nhưng lại không phân biệt được chữ Hán cổ viết trên hoành phi, câu đối (ông bà ta còn gọi là chữ Nho) trong văn ngôn (mà ngày nay dù ở ta hay ở Tàu đều đã trở thành tử ngữ), với chữ Hán trong văn bạch thoại (sinh ngữ, còn gọi Trung văn hay Hán ngữ hiện đại). Văn ngôn và văn bạch thoại khác nhau rất nhiều (về chữ nghĩa, ngữ pháp). Người Trung Quốc hiện nay có thể đọc được chữ trên hoành phi, câu đối Hán nhưng về nghĩa thì chưa chắc đã hiểu (vì họ chỉ hiểu một số từ ngữ Hán cổ thông dụng). Muốn hiểu “Luận ngữ” hay “Kinh thi” họ cũng cần phải có người chuyên nghiên cứu Hán cổ, dịch và chú giải bằng Hán ngữ hiện đại. Chữ Hán viết trên hoành phi, câu đối của người Việt Nam không dùng theo nghĩa và ngữ pháp của Hán ngữ hiện đại (“chữ Trung Quốc” hay “ngoại ngữ” theo cách gọi của ông Xuân Dương). Nói cách khác chúng ta dùng chữ Hán theo cách của cha ông ta từng dùng, từ thời “Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời xây dựng độc lập; Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương” (Bình Ngô đại cáo).
Ông Xuân Dương sợ rằng Trung Quốc vin vào cớ tìm thấy chữ Hán trên các đảo để đòi chủ quyền. Tuy nhiên, nếu sợ như vậy thì phải phá chữ Hán trên hoành phi câu đối trong các Hội quán Phúc Kiến, Triều Châu… ở Phố cổ Hội An trước. Mấy trò “khảo cổ học” kiểu như tìm thấy di cốt của người Trung Quốc ở các đảo Hoàng Sa, Trường Sa thì Việt Nam đã từng đáp lại rất thuyết phục rằng: ngay tại Gò Đống Đa của kinh đô nước Việt, số di cốt của người Trung Quốc còn lớn hơn nhiều. Mặt khác nếu muốn khẳng định chủ quyền, người ta hoàn toàn có thể viết hoành phi câu đối chữ Nôm bằng thư pháp chữ Hán thời Lê Trung hưng, chứ không dứt khoát phải viết bằng Quốc ngữ. Bởi chữ Nôm nhìn qua giống chữ Hán, nhưng người Trung Quốc hoàn toàn mù tịt. Còn thư pháp chữ Hán thời Lê của ta rất độc đáo, không giống bất cứ một trường phái thư pháp nào bên Trung Quốc. Mặt khác trên các đảo của Tổ quốc, chùa không phải là công trình kiến trúc duy nhất. Một phiến đá lớn khắc tên chủ quyền Việt Nam còn trường tồn hơn nhiều ngôi chùa gỗ.
Do không hiểu chữ Hán trên hoành phi câu đối là chữ thế nào, ông Xuân Dương đã tỏ ra gay gắt, bức xúc, so sánh với chữ Trung Quốc trên các biển quảng cáo nhà hàng, khách sạn. Từ đó, ông đưa ra những câu hỏi khó: tại sao cả thành phố Hải Phòng, cả Bộ Văn hóa lại tùy tiện để cho các công trình tâm linh trên đảo này sử dụng chữ Trung Quốc?”. Rồi “Quảng cáo hàng hóa, dịch vụ còn bắt buộc phải viết chữ nước ngoài bé hơn và phải đặt dưới chữ Việt, tại sao ở chốn tâm linh lại không bắt buộc như vậy?”.
Ông Xuân Dương coi chữ Nho trên hoành phi câu đối “chốn tâm linh”“trái đạo lý dân tộc” và phải tuân thủ theo quy định như dùng “chữ Trung Quốc” (với tư cách là một ngoại ngữ) trong “quảng cáo hàng hóa dịch vụ”. Phải chăng tất cả kho tàng tư liệu Hán Nôm rồi những Bia văn miếu Quốc tử giám, Bia Vĩnh Lăng-Lam Kinh, Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm…thứ là Bảo vật Quốc gia, thứ thành Di sản thế giới, đều bị  xếp vào diện đồ Tàu “lai căng” cần phải bài trừ? Liệu cụ Chu Văn An còn “an” được trong Văn miếu Quốc tử giám, hay cũng phải bật dậy ôm hai bức hoành phi “Vạn thế sư biểu”“Truyền kinh chính học” bằng chữ Hán mà chạy bởi quan điểm cực đoan của ông Xuân Dương?
Việt Nam có cụ An Chi là người có công trong việc nghiên cứu từ nguyên tiếng Việt, giúp chúng ta hiểu đúng và dùng đúng tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên, có người (thức giả hẳn hoi) do không hiểu đã mỉa mai, gọi cụ là “anh Tàu” (vì cho rằng cụ thân Trung Quốc nên nhiều từ “thuần Việt” cụ vẫn cứ tìm cách “gán” hết cho nguồn gốc Tàu). Trong bài Từ nguyên của những từ chỉ quan hệ thân tộc cụ An Chi kết luận: Cứ như trên thì toàn bộ các từ chỉ quan hệ thân tộc của tiếng Việt đều thuộc gốc Hán. Nhưng ta cũng chẳng cần phải tự ái rởm vì tiếng Pháp gốc vốn là tiếng Gaulois đã bị tiếng Latinh bình dân thay thế 100% mà dần dần trở thành tiếng Pháp hiện đại nhưng vẫn là một ngôn ngữ đã sinh ra một nền văn học rực rỡ và phong phú”.
Chúng tôi xin mượn ý kiến của cụ An Chi khả kính để kết thúc câu chuyện “Tự ái rởm hay chuyện “Giận Tàu chém chữ Nho” ở đây. Chúng tôi cũng xin lỗi và lấy làm tiếc vì đã khiến bạn đọc mất thời gian vào một câu chuyện đã quá cũ. Một vấn đề đã có hướng giải quyết đúng đắn từ thời cụ Đào Duy Anh biên soạn “Hán Việt từ điển” để phục vụ cho việc học Quốc văn ![1]
HTC/18/9/2014

 [1]- Khi đang hoàn thành bài viết này, HTC được đọc bài Bàn về việc sử dụng chữ Hán và nguy cơ nô dịch văn hóa  của ông Xuân Dương trả lời bài Cần nhìn nhận về hệ thống tư liệu chữ Hán ở nước ta như thế nào? của ông Nguyễn Thanh Phong trao đổi về bài Thưa ông Bộ trưởng Văn hóađâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai? (đều đăng trên báo GDVN). Nhật xét khách quan của chúng tôi là: hầu hết ý kiến của ông Nguyễn Xuân Phong là đúng; ông Xuân Dương càng viết càng để lộ những lỗ hổng kiến thức và sự lầm lẫn các khái niệm về văn hóa, lịch sử.

-Ngập tiền

TBKTSG / TVN

Hàng nhiều, giá giảm. Quy luật ấy luôn đúng cho mọi thứ hàng hóa, mọi thị trường. Tiền cũng không là ngoại lệ. Thị trường tài chính đang ngập trong tiền và lãi suất qua đêm liên ngân hàng ghi nhận tuần rơi thẳng đứng thứ hai, về mức 1,76%/năm, thấp nhất ba tháng qua.
Không thể còn dùng từ “dư thừa” để miêu tả thanh khoản của hệ thống ngân hàng, mà phải chuyển sang từ “ngập ngụa”. Bây giờ khi mở tài khoản tiền gửi kỳ hạn 1-3 tháng, với số dư từ vài tỉ đồng trở lên, doanh nghiệp và cá nhân chỉ còn được hưởng lãi suất 5-5,5%/năm ở ngân hàng cổ phần. Ở ngân hàng quốc doanh và nửa quốc doanh, lãi suất này tụt xuống quanh 4,5%/năm, có nơi 4%/năm.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chẳng còn cách nào khác là phát hành tín phiếu hút tiền về. Từ ngày 8 đến 12-9-2014, NHNN phát hành tới hơn 40.000 tỉ đồng tín phiếu với kỳ hạn dài nhất 91 ngày, ngắn nhất 28 ngày. Kỳ hạn càng ngắn, lãi suất càng thấp. Tổ chức tín dụng nào muốn kỳ hạn dài, phải chạy qua tranh mua trái phiếu.
Kho bạc đã tạm ngừng phát hành trái phiếu kỳ hạn 2-3 năm, giờ chỉ còn loại 5, 10 và 15 năm. Đầu năm lãi suất 8%/năm rơi vào kỳ hạn hai năm, rồi chuyển qua ba năm, đến năm năm và tháng trước nó chạm vào trái phiếu kỳ hạn 10 năm. Cuối tuần trước, lãi suất 8%/năm lần đầu tiên ở Việt Nam được trúng thầu cho trái phiếu kỳ hạn 15 năm. Ai có thể ngờ lợi tức trái phiếu có ngày thảm hại đến thế!
Đã vậy khối lượng trái phiếu đăng ký mua vẫn rất cao, gấp 3-4 lần lượng chào bán. Một tổ chức trúng thầu trái phiếu năm năm với lãi suất 5,79%/năm cho biết trước mắt cứ phải bỏ tiền vào trái phiếu cái đã vì tín dụng vẫn vô cùng quan ngại. Bộ phận kinh doanh trái phiếu của một ngân hàng nói sau khi hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch công bố khả năng nâng hạng tín nhiệm của Việt Nam, CDS (Credit default swap – hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng, một dạng bảo hiểm cho trái phiếu) cho trái phiếu quốc tế của Việt Nam trên thị trường tài chính thế giới giảm nhanh (hiện có chừng 1,75 tỉ đô la Mỹ trái phiếu chính phủ đang lưu hành trên thị trường thế giới). Sự gia tăng của quỹ dự trữ ngoại hối là một trong những đảm bảo cho sự nắm giữ trái phiếu chính phủ Việt Nam của các trái chủ nước ngoài.
tiền, tài chính, ngân hàng

Theo một nguồn tin đáng tin cậy, dự trữ ngoại hối đang được cải thiện với tốc độ nhanh hơn dự kiến. Trong giới điều hành, đã thấp thoáng đâu đó dự báo thời điểm Việt Nam đạt dự trữ ngoại hối ở mức ba con số có thể rút ngắn một nửa đường đi. Hiện nay trong tổng vốn huy động của các ngân hàng, số dư tiền gửi ngoại tệ ước 25 tỉ đô la Mỹ. Nếu lãi suất tiết kiệm ngoại tệ về dần mức 0%/năm và sau đó gửi ngoại tệ ở ngân hàng có thể phải bị thu phí (như gửi vàng hiện nay), thì tâm lý chán đô la sẽ xuất hiện. Để thực hiện điều đó, tỷ giá cứ việc là một đường thẳng càng dài càng tốt. Khoảng 25 tỉ đô la Mỹ tiền gửi sẽ chuyển dần qua đồng nội tệ và NHNN sẽ tiếp tục bơm tiền đồng ra mua.
Cho đến nay còn hơn 200.000 tỉ đồng tín phiếu ngân hàng trong lưu thông, tức các ngân hàng có thể ngay lập tức đổi tín phiếu thành tiền và cung ứng cho tín dụng nếu cần. Khả năng chảy ra của tiền là rất sẵn sàng.
Ở đây đã có thể hình dung một chính sách kích cầu ngầm nền kinh tế mang tính Việt Nam. Không phải dưới dạng QE công khai (nới lỏng định lượng) như ở Mỹ hay hạ lãi suất đủ kiểu đến âm như châu Âu, Việt Nam trên bề nổi chẳng có một tuyên bố kích cầu nào. Dưới bề chìm là một đường đi thế này: tổng phương tiện thanh toán tăng đều, các ngân hàng được no ấm thanh khoản, bắt buộc phải đổ vào trái phiếu. Tiền có được từ trái phiếu, Chính phủ sử dụng để bù đắp bội chi ngân sách, mở rộng đầu tư công. Khi đầu tư công chưa đạt tiến độ mong muốn, tín dụng vẫn đang trong khúc ngoặt hiểm nghèo, tiền rẻ sẽ chảy vào tài sản rẻ như chứng khoán, M&A doanh nghiệp. Cho đến khi tăng trưởng tín dụng đuổi kịp mức tăng tổng phương tiện thanh toán, các tài sản rẻ sẽ lên giá.
Một chú ý khác là đồng đô la Mỹ đang lên giá so với tất cả các ngoại tệ mạnh như yen, euro, bảng Anh…. Trong bối cảnh đó tỷ giá hối đoái của Việt Nam giữ nguyên, tức là tiền đồng đang ngày một có giá so với các ngoại tệ mạnh. Điểm này thể hiện rõ trong bảng tỷ giá niêm yết hàng ngày của các ngân hàng. Cuối tháng 6-2014, 1 yen Nhật tương đương 210 đồng, nay còn 198 đồng. Tháng trước 1 euro bằng 28.800 đồng, giờ còn 27.500 đồng…
Thực trạng trên sẽ dẫn đến đâu? Khả năng lớn là dòng tiền nóng từ bên ngoài, đặc biệt từ các nước và vùng lãnh thổ lân cận như Nhật, Hàn, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan… sẽ chảy vào Việt Nam để hưởng lợi một mũi tên bắn trúng hai đích: tài sản lên giá và tiền đồng Việt lên giá. Một mặt dòng vốn ngoại giữ vị trí xúc tác nền kinh tế (tín dụng ngoại tệ đang và tiếp tục ghi điểm do lãi suất vay rất thấp), mặt khác sẽ giúp tăng dự trữ ngoại hối.
Cơ hội đang ở rất gần, vấn đề là làm thế nào tận dụng tối đa mặt tích cực và hạn chế tiêu cực của nó. Dòng tiền nóng bên ngoài có thể vào nhanh ra nhanh, nhưng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI thì không. Cần phải thu hút và giữ FDI ở lại càng nhiều, càng lâu dài càng tốt.
Hải Lý/ Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn 

Nguyễn Trọng Vĩnh - Cứu nước trên hết!

Chưa bao giờ thấy tình hình đất nước đáng lo như hiện nay:
Về kinh tế xã hội: Hàng chục vạn doanh nghiệp ngừng hoạt động và phá sản, công nhân nhân viên mất việc, ngân sách thất thu, sinh viên tốt nghiệp ra trường không có việc làm, người cày mất ruộng, tập đoàn kinh tế nhà nước làm ăn thua lỗ, tham ô, nợ xấu ngân hàng, thất thoát hàng ngàn ngàn tỷ, hàng hóa nước ngoài tràn ngập thị trường chủ yếu từ Trung Quốc, hàng xuất khẩu chủ lực lệ thuộc Trung Quốc về nguyên vật liệu, nhập siêu hàng năm trên dưới 20 tỷ đô la, nợ nước ngoài chồng chất vượt quá GDP, khoáng sản bị đào bới bung bét, rừng bị chặt phá vô tội vạ…Kinh tế sa sút gần đến đáy, tụt hậu rất xa so với các nước chung quanh. Tài nguyên phong phú mà dân nghèo, nước yếu, lệ thuộc.
Mọi mặt xã hội xuống cấp nghiêm trọng.
Về an ninh, quốc phòng: Nhiều điểm xung yếu về quốc phòng đã bán hoặc cho Trung Quốc thuê dài hạn. Họ đã mua được 3, 4 ngàn hecta rừng biên giới, đã đứng chân được trên cao nguyên chiến lược, đã vào “nuôi cá” trong quân cảng Cam Ranh, đương thực hiện dự án khu luyện thép Formosa và cảng Vũng Áng, thực tế là đương xây dựng căn cứ quân sự, họ thuê cảng Cửa Việt cũng đương thực hiện mục đích ấy; từ Kỳ Anh đến chân đèo Ngang, phía Đông đường quốc lộ 1, khoảng 20 km họ xây tường cao và làm gì trong đó không ai biết, mua một đoạn bãi biển Đà Nẵng, xây nhà kín cổng cao tường để làm gì cũng chẳng ai hay. Trung Quốc đã đánh chiếm được cao điểm 1059 trong huyện Vị Xuyên, Hà Giang, ngoài biển, trên cụm bãi đá Gac Ma trong quần đảo Trường Sa của chúng ta mà họ đánh chiếm năm 1988, họ đương xây thành những đảo nhân tạo và thành căn cứ quân sự có sân bay, đường băng. Hàng vạn người Trung Quốc rải khắp nơi có thể là đội quân thứ 5. Độc lập, chủ quyền của nước ta bị uy hiếp nghiêm trọng.
Thực trạng trên đây nói lên sự quản lý, điều hành yếu kém của người đứng đầu Chính phủ và sự lãnh đạo yếu kém của Ban lãnh đạo Đảng.
Cứ đà này tiếp tục, tình hình sẽ còn bi đát hơn, có thể dẫn đến vỡ nợ và có thể mất độc lập chủ quyền. Điều này có phần do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng quá thân Trung Quốc, quá bảo thủ một thứ ý thức hệ không tưởng và quá sợ Trung Quốc đánh, không cho kiện Trung Quốc, không đấu tranh quyết liệt với những hành động xâm lấn và mưu đồ bá chiếm Biển Đông của họ, không muốn làm gì trái ý Trung Quốc, thả lỏng, nên họ muốn gì cũng được.
Trước hiểm họa của đất nước, đảng viên, cán bộ từ dưới lên, những ai còn có lòng yêu nước, còn thấm được ít nhiều tinh thần, khí phách Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, hãy thức tỉnh, dám nghĩ dám làm, dám thay đổi, cùng nhân dân chung tay cứu nước.
Con đường đúng đắn là:
- Đặt Tổ quốc lên trên hết, từ bỏ toàn trị, từ bỏ đường lối sai lầm bảo thủ, tư duy ý thức hệ hão huyền, thực hiện dân chủ với dân, tôn trọng các quyền và lợi ích của dân, gắn bó với dân để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc đích thực.
- Vẫn duy trì mối quan hệ bình thường với Trung Quốc và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước nhưng phải phát huy tinh thần độc lập, tự chủ tách ra khỏi sự ràng buộc của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán, kết bạn với tất cả các nước lớn như Nga, Nhật, Ấn, Mỹ…
Tôn trọng trí thức có chân tài, thực học, tâm huyết với sự đổi mới và phát triển đất nước, với các chuyên gia kinh tế giỏi, cùng nhau bàn bạc, tìm ra đường lối, kế sách đúng để tiến lên và bảo vệ vững chắc Độc lập, chủ quyền dân tộc.
Bảo thủ không thay đổi là có tội với lịch sử.
N.T.V.
Tác giả gửi BVN.
(Bauxitevn)

Trần Dần – Ghi chép về Cải cách Ruộng đất ở Bắc Ninh 1955-1956 (1)

Sau đợt "vi phạm kỉ luật" lần thứ nhất và bị giam kiểm thảo từ 13/6 đến 14/9/1955 [1], nhà thơ Trần Dần được cử đi dự hội nghị tổng kết đợt 4 và tham quan Cải cách Ruộng đất đợt 5 tại Bắc Ninh, đợt cuối cùng của cuộc cách mạng „long trời lở đất“ ở nông thôn Việt Nam sáu mươi năm trước. Phổ biến với tên gọi „đi thực tế“, đó là hình thức đưa các văn nghệ sĩ và trí thức vào „thực tế cách mạng“ của công nhân, nông dân và binh sĩ, trụ cột của liên minh quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, để thúc đẩy và củng cố „giác ngộ giai cấp“ của tầng lớp trí thức, vốn được gắn với ý thức hệ tiểu tư sản, hay dao động và thiếu „tinh thần cách mạng triệt để“. 

Không chỉ riêng Trần Dần đi thực tế. Trong cuốn sổ ghi chép năm 1955 của mình, ông ghi: „Hoàng Yến [2] than phiền: Mình đi CCRĐ. Ai thấy mình cũng thành kiến là mình đả Tố Hữu, đả Trung uơng. Thành thử khó làm ăn quá.“ Ngày 2/11/1955, ông ghi: „Trước khi đi, Văn Phác [3] họp một số anh em, những Văn Cao, Lương Ngọc Trác [4], [...], Đỗ Nhuận để dặn dò. Văn Cao: Tôi thấy đi có lợi lắm, [...] dĩ nhiên là lợi lắm. Trước kia đồng chí Trần Dần hay tự do sinh hoạt, tôi lo nhỡ ra đồng chí Trần Dần lại khuyết điểm thì bỏ mẹ chúng mình. [...]“
Ngày 3/11, Trần Dần đến Bắc Ninh, được phân công vào đội Thái Hoà ở xóm Thịnh Lang, Đình Bảng. Thời gian dự hội nghị tổng kết đợt 4 được ông ghi lại như sau:

6/11: Khai mạc – 1 ngày
6-9/11: Học nghị quyết trung ương – 4 ngày
11-18/11: Báo cáo Đảng – 7 ngày
19-22/11: Kinh nghiệm cụ thể một số vấn đề – 4 ngày
23-27/11: Chỉnh đốn tổ chức – 5 ngày
28/11- 4/12: Chỉnh huấn – 7 ngày
5-14/12: Sắp xếp đội ngũ, khái quát 4 bước, kinh nghiệm, sản xuất, công giáo, kế hoạch buớc 1-10 ngày
Cộng: 38 ngày

Tháng 2/1956 ông đã quay lại Hà Nội, như vậy ông chỉ tham quan hai tháng đầu của đợt 5, còn chủ yếu là tham dự hội nghị tổng kết đợt 4, nhưng có lẽ chỉ ở tư cách dự thính. Ông ghi:

Đoàn ủy viên bảo TD: – Sớm nay đi họp đảng viên nhé.
TD: – Tôi không được họp.
Đoàn ủy viên im lặng không nói gì. Lát sau đồng chí Khoa lại bảo TD đi họp.
TD: – Tôi không được họp. TD đem ít báo CCRĐ đợt 4 ra đầu ngõ ngồi xem. Ngõ rải đầy rơm mới xanh úa, nắng nửa ngõ, bóng râm nửa ngõ. Gà nó bới tung cả rơm. Một bà xi con đái đầu ngõ. Mấy đứa trẻ lăn lộn tùng phèo trên đống rơm. Trong nhà họp Đảng. TD muốn để cả tâm trí vào tờ báo, song lại lơ đãng nhìn nắng, nhìn rơm, những ý nghĩ nó để đi đâu. TD đứng dậy không thèm rũ rơm, đi tìm một cái quán ngồi ăn chút gì, nói chuyện với bà hàng, nghĩ đi đâu, nhưng chợt lại nhớ rằng ở nhà Đảng đang họp. TD không được họp.

Như vậy ghi chép của ông về CCRĐ là những thu hoạch từ hội nghị tổng kết đợt 4 này, không phải từ trải nghiệm trực tiếp, vì thế chúng cũng không được đề ngày tháng nối tiếp như các ghi chép mang tính nhật kí khác. Tuy vậy, những trang „ghi nóng“ này, ngay giữa cao trào của CCRĐ, là những tư liệu lịch sử quý giá, lẽ ra chúng phải chiếm một vị trí đặc biệt trong một triển lãm về CCRĐ. Tôi đã đưa một phần những ghi chép này vào cuốn Trần Dần: Ghi 1954-1960, do nhà Văn Nghệ ở California in năm 2001. Nhân sự kiện cuộc triển lãm về CCRĐ tại Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội phải đóng cửa sau vài ngày, đánh thức sự quan tâm mạnh mẽ của dư luận về một chương đau đớn trong lịch sử Việt Nam, tôi bổ sung vào phần đã công bố nhiều đoạn khác, mong được một công luận rộng rãi tại Việt Nam tiếp cận.

Những nghiệm thu của Trần Dần đặc biệt thú vị vì một mặt ông vẫn còn là một „cán bộ“ trong guồng máy tuyên truyền của Đảng, chấp hành về căn bản những đường lối lớn của Đảng; thậm chí quan sát thực tế CCRĐ qua một lăng kính và một bộ lọc thông tin chính thống hoặc không xa chính thống. Mặt khác, cũng chính thực tế đó đã khiến ông không hòa giải được với Đảng của mình mà ngược lại. Số phận bất đồng chính kiến mà ông vừa bắt đầu đã đi tiếp những kịch tính của nó, để rồi dẫn đến Nhân văn-Giai phẩm không lâu sau đó mà tín hiệu rõ ràng nhất là truyện ngắn „Anh Cò Lấm“ viết về CCRĐ của ông, với bút danh Trần Bá Xá. Cuối tháng 1/1956, tạp chí Tổ quốc số 27 đăng truyện ngắn này. Đầu tháng 3/1956, cũng tạp chí này, số 30, đăng lời „Tự phê bình“ gay gắt vì đã „sai lầm nghiêm trọng“, không nhận ra „mánh khóe tinh vi“,„tính chất phản động“ của tác phẩm đó [5]. Nhân văn-Giai phẩm rất cần đặt chung với Cải cách Ruộng đất trong cùng một khung cảnh chính trị.

Bản gốc các sổ ghi chép của Trần Dần vẫn được lưu tại gia đình ông. Bản chụp tôi có trong tay nhiều đoạn không đọc rõ, sau đây được kí hiệu bằng dấu [...]. Khi biên soạn những cuốn sổ ghi chép vốn không dành cho công luận này, việc chọn, bỏ, sử dụng nguyên văn hay can thiệp vào văn bản, dù chỉ là sửa chính tả, đều đặt người biên soạn trước những quyết định khó khăn, nhất là khi phần ghi chép về CCRĐ của Trần Dần lại nằm tương đối không theo trật tự thời gian trong 3 cuốn số khác nhau. Người biên soạn mong được sự thông cảm và hi vọng khi toàn bộ di cảo của Trần Dần được công bố, dựa trên bản gốc dễ đọc hơn, những sai sót nếu có trong văn bản sau đây chắc chắn sẽ được sửa lại.

Phạm Thị Hoài

___________

Vụ tự sát ở xã Quốc Tuấn

1) Nguyễn Văn Cộng 47 tuổi. CCRĐ bị duyệt là bá, hôm sau cả hai vợ chồng thắt cổ tự vẫn. Nghe bên nhà nó có tiếng động mạnh, cán bộ chủ quan cho là trâu bò cọ mình, nên không sang.

2) Nguyễn Văn Ân. Nghi phú ông, tự sát. Bị đình chỉ sinh hoạt. Ăn một bữa thịt chó cho sướng đời.

Những vụ tự sát như vậy – nhất là vụ 2 – không ngăn ngừa được thì rất hại chính trị và sai chính sách. Cán bộ kiểm điểm: tả, thiếu cảnh giác.

*

Chết vì bức tử

Ở Hoàn Long. Vợ cán bộ CCRĐ. Chị bị hậu sản, không làm ăn gì được.

Tay sai địa chủ dọa dẫm: „Chị [...] ăn bám. Chị là địa chủ rồi. Nay mai sẽ đấu, không ai đi lại chơi bời với nữa. Ra đường phải gọi trẻ con là ông.“

Chị toan treo cổ mấy lần, chú và mẹ chồng biết, ngăn lại được. Nhưng cứ bị dọa dẫm [...] đi đâu cũng không thoát. Rừng xanh núi đỏ cũng bắt về đấu. Hoang mang mãi, rốt cục bị điên đầu bể óc. Hai mẹ con cùng chết.

Địa chủ như vậy. Khi chúng mất ruộng, chúng còn cố bắt mạng của người ta.

*

Thuốc độc

Ở Quỳnh Côi địa chủ sai người bỏ thuốc độc ám hại cán bộ CCRĐ và nhân dân. Trong 4 ngày 3 vụ liền.

Một vụ: chúng cho một em bé có 100 $, đưa em một cục bằng quả chanh, bảo em vào chơi chỗ cấp dưỡng rồi tìm cách bỏ lẻn cục thuốc vào nồi nước. Anh chị em cấp dưỡng vô tình, lại hay mến trẻ, đứa bé lên 10 kháu khỉnh ngây thơ ngày nào chả chơi ở đó, ai mà chẳng yêu.

Em bé đánh rơi cục thuốc, vỡ ra, em chỉ nhặt có một mảnh bằng ngón tay cái. Lừa lúc vô tình, em bỏ vào nồi nước.

Kết quả: 76 anh chị em cán bộ bị đi tả, nôn mửa mất 3 ngày, tưởng chết, – may có thuốc giã ngay từ hôm đầu, không có thì nguy.

*

Đem nhà ngói trả Nông hội

Ông cụ gàn dở bị nó dọa: nhà ngói này sắp đổ. Địa chủ nó chết thành ma, nó quật đổ nhà chết người. Ông cụ hoảng quá đem nhà ra trả nông hội.

*

Một vụ ám sát cả gia đình 7 người

Bọn Quốc dân Đảng giết cả một gia đình: 5 người con nhỏ nằm chết ngang giường, người mẹ nằm dọc, cổ tím bầm cả, chắc là bị bóp cổ. Người cha treo cổ kèo nhà. Khám thi thể không thấy hộc máu vãi cứt, tức là không phải chết vì treo cổ, mà có vết tay ở cổ, chắc bị chúng bóp chết rồi mới treo lên.

Ta mất với địa chủ 7 người, một gia đình nông dân, một cái rễ tốt, một đầu mối biết rất nhiều về bọn địa chủ và Quốc dân Đảng ở đó.

*

Cảnh giác quá

Hội nghị họp ở Đình Bảng, đã giảm tô, bọn phản động càng hoạt động dữ: cắt điện thoại, đốt nhà một lần, ném đá hai lần.

Có anh phê bình ngay Đoàn ủy là thiếu cảnh giác. Vậy thì muốn có cảnh giác phải lên trời mà họp hay sao?

Một anh khác đóng ở một gia đình rất tốt. Anh em đi vắng, chủ nhà cất ba lô vào buồng rồi khóa. Anh ta bị ám ảnh những địch, phản động nọ kia, vội phê bình: ta mất cảnh giác cao độ! [...] Người ta gọi là cảnh giác quá. Quá nghĩa là lố bịch, gàn, hoảng hốt.

*

Không mưa mà cũng có ếch

Khi thảo luận nội quy, chị X cứ thắc mắc về mục: „Thế nhỡ anh ấy ở đoàn bạn, lâu ngày mới gặp thì có được đi nói chuyện với nhau không?“.

Anh em can: Không nên đi một trai một gái nhiều quá. Tuy là vô tư nhưng nhân dân có con mắt nghi ngờ, kẻ địch có cái miệng hiểm, đàn bà có cái lưỡi bép xép, v.v…

Về sau ban đêm có hai cái bóng cõng nhau ngoài đồng. Ì ọp mãi. Có anh thấy vắng chị ở giường, mãi sau chị mới về, thay quần áo ban đêm. Anh đâm nghi, hôm sau báo cáo.

Dư luận nhân dân tức thì ngay hôm ấy có ngay câu: „Không mưa mà lại có ếch. Ếch to lắm, cõng nhau ngoài đồng.“.

Về sau chị X mới kiểm thảo ra. Và dĩ nhiên chịu kỉ luật của đoàn.

Chị X: mắt một mí, lông mi nhổ còn một vệt cong mà sắc, hay hát „từng đoàn bươm bướm xinh, tung tăng cánh bay vờn…“, người thanh, mặt trái xoan, mắt đảo như chớp, giọng nói uốn éo.

*

[...] figures

1. Đội trưởng Thái Hòa tên là ông Liễu. Người gày đét, quần áo nâu bạc, khoác một cái vét ton tím, có giòng giọc trắng đã bạc, cổ áo đã sờn, khuỷu tay áo rách lòi vải lót trắng. Mũ trắng phở. Đeo kính. Mặt khô đét. Nhưng đôi môi dầy lúc nào cũng mở làm cho bộ mặt có cái gì dễ tính. Cả mặt chỉ có đôi môi là có duyên. Cả mặt chỉ thấy môi. Thành phần gì? – Trung nông. Quê đồng chí phát động chưa? – Chưa. Vậy thì cái trung nông ấy là có vấn đề đấy. Đánh một cái dấu hỏi. Ông Liễu cười khì.

2. Đội trưởng đoàn giảm tô Vĩnh Phúc trước sát nhập sang đây chỉ làm đội viên. Trên 40 tuổi. Mắt to, vuông. Mắt sâu vào lỗ, xong lại lồi lên trong đáy, viền đỏ; khi nhìn cứ trờn trợn đôi mắt toét lên, lông mày nhấp nháy, đôi môi mỏng mà sắc, hai mép nhọn hoắt cứ mấp máy, bộ mặt tuy xanh vàng nhưng có lẫn những vầng máu đỏ nó tụ lên, cổ khoác khăn mặt, quần áo nâu mới, dáng cứng, tất cả toát lên một cái vẻ gì hào lý cũ. Ăn nói sang sảng, gọi người trống không. Có ai thắc mắc gì không? – Không đâu, nhưng tổ tôi có lẽ có anh Tôm anh Tiếc gì đấy thắc mắc sát nhập gì đó… Phải không?… Có thì nói lên… Nhưng không ai nói cả… Ông ta cười.

Bên kia làm đội trưởng, sang đây làm đội viên, ông ta có thắc mắc ngầm nhưng không nói, định xui bẩy đội viên khác nói. Phát biểu ra vẻ đành hanh, kiểu ta đây biết rồi: – Kinh nghiệm bên Quỳnh Côi thế này là ổn lắm… Chứ đây thì…

Làm ra vẻ không có thắc mắc, càng cố tích cực. Ban sáng, xắn quần gánh một gánh nước đầy về cho anh em rửa mặt. Đấy, nước đấy các cậu ạ… Chiềng hết người này người nọ.

Hội trường kém 7 đầy 5 nghìn người, mà ông ta đề nghị: ra từng đội, hết đội này đến đội khác cho nó có trật tự! Người ta phản đối, vì lâu quá, mất 4,5 tiếng đồng hồ sao? Ông ta nhất định giữ ý kiến: cần phải trật tự. Người ta có cảm tưởng ai làm việc với ông ta sẽ bị biến thành con cờ gỗ, tùy ông xếp đặt cho nó đẹp mắt, gọn gàng, khỏi lung tung có vấn đề gì lôi thôi cho ông ta.

Tôi xin thảo luận, theo tôi thì anh em ở cải cách mới có biết chứ chúng tôi ở giảm tô thì biết sao được. Mà theo Đảng ủy thì bảo rằng bên cải cách là chính cơ mà.

Phát biểu gì là có tính cách thay mặt anh em Vĩnh Phúc. Kiểu anh chị. Hay cãi. Hay chối. Hay chiềng. „Sở dĩ tôi nói thế là vì… Ý tôi là thế này cơ… Đấy tôi làm việc ấy đấy…“

*

Gọi „bà Quản“ là mất 5 cân gạo

Đội vừa về, đi đâu thấy dân đang nói chuyện bỗng im thin thít. Mãi sau mới là vì có tin tung ra đội phát động về, hễ ai gọi ông bà là bị phạt 5 cân gạo. Thành ra dân sợ, giữ mồm miệng. Nếu nói kiêng thì phải kiêng nhiều lắm: Ông Quản, bà Lý, ông Hào, cụ Thơ, ông Chánh, bà Giáo…

Đã biết ai là địa chủ ai không mà tránh? Đâu mà đã dễ đổi giọng lưỡi, hôm qua ông bà, hôm nay thằng ngay? Đó là tâm lý của nhân dân. Chi bằng giữ miệng là hơn.

*

Vụ lựu đạn Xã Cảnh Hưng (Phủ Từ Sơn)

9 người chết, 39 người bị thương. Đang hội nghị, nhân dân thì bị ném lựu đạn. Sau bắt ra thủ phạm: con địa chủ, là học sinh, mới ở Hà Nội về.

*

Cấm thoái tô

Chúng cấm không địa chủ nào được thoái tô cho nông dân. Một địa chủ xin ta về sớm mai sẽ trù tính thoái tô. Chúng lẻn ban đêm vào bóp cổ cả hai vợ chồng địa chủ này; xong đem lên gác, buộc thừng vào cổ, chằng hai đầu vào hai tay, xếp hai vợ chồng sóng soài trên sàn gác, làm như họ tự vẫn.

Chúng giết lẫn nhau để cảnh cáo nhau và để vu cho cán bộ ta.

*

Lương giáo

Lương giáo gặp nhau, tránh vào ngõ, rẽ đường khác. Đang ngồi hàng bỏ đi. Không thèm nói với nhau một câu nào.

*

Giết rễ

Ông cụ đi đồng về. Vợ đang phơi thóc ngoài sân. Ông cụ ngả nón vào buồng định nghỉ hút điếu thuốc. Lát sau bà vợ vào thấy chồng nằm thẳng cẳng. Trên mái nhà có một lỗ hổng.

Chúng rỡ mái ra vào bằng đường ấy, giết mất ông cụ.

*

Ta khác địa chủ

Một anh cán bộ X thấy tịch biên gia sản của địa chủ, lại tịch thu từ cái tã của con cái nó. Anh thương lắm.

Anh Y bảo: Thường gì nó? Nó có thương con cái nhân dân mình đâu?

Anh X đáp: Tôi nghĩ ta khác địa chủ ở chỗ đó. Những đứa bé con kia có tội tình gì? Chúng nó giết trẻ con. Chúng ta cứu trẻ con chứ, Mà phải cứu cho trẻ con thoát cả khỏi ảnh hưởng bố mẹ nó nữa chứ.

*

Không đem xe đạp – Ông tỉnh đội trưởng không biết gì

Trước khi đi, ông tỉnh đội trưởng không biết nghe đâu về nói ầm ầm với anh em những đi cải cách phải mặc quần áo nâu, không được mang theo xe đạp… Ông ấy gắt ngậu lên cơ mà. Đem xe đạp đi mà nát nông dân à?

Thế là có anh gửi, có anh bán xe đáng 8, 9 vạn chỉ bán 6, 7 vạn thốc tháo đi. Tới nơi mới thấy là không có xe đạp thì khổ quá [...] dại quá, nghe ông tỉnh đội trưởng không biết gì ấy đâm ra khổ. Phàm ở đời, những anh không biết gì lại là những anh ngậu xị, nhắng nhất.

Gắt: Đi cải cách mà ăn vận công tử vậy à (quân phục mới)? Xe đạp với xe điếc, đem đi người ta lại đuổi về cho ấy à? Đừng có làm xấu hổ tỉnh đội ta đi. Tôi xin các ông, các ông miễn cho cái món xe cộ xa xỉ ấy đi cho. Ba cùng mà lại còn kè kè cái xe bên cạnh sao? Giải quyết thế nào á? Gửi đi… Bán đi… Chiều nay là lên đường rồi… Lại còn coi cái xe hơn là cải cách sao?…

*

Gánh củi đi nhanh

Cán bộ ba cùng với một anh làm nghề đốn củi rừng bán kiếm ăn. Ban sớm đi theo anh vào rừng. Anh ta đi thoăn thoắt, cán bộ theo không kịp, một lát thì thấy mất hút, vào rừng tìm mãi mới thấy anh ta thì bó củi đã to rồi. Cán bộ đẵn giúp ít cành, cũng chưa kịp phát động gì cả. Anh kia bó vội thành hai bó, xâu đòn gánh chạy về. Cán bộ đuổi theo không kịp. Loáng cái lại mất hút. Cán bộ nghĩ có lẽ anh ấy sợ cán hộ hay sao? Có vấn đề gì mà cứ lẩn như vậy?

Mãi sau mới biết: chỉ vì anh ấy không có gạo, phải vội đi vội về, bán củi lấy tí gạo mà ăn.

*

[...]

Cạnh thị xã Bắc Ninh. Hơn 4000 người/ 43 địa chủ.

Một tên giả điên cầm dao đi các xóm thực hiện âm mưu đe dọa, phản tuyên truyền, của địa chủ.  Một ông cụ trung nông, gù, mất lao động, ăn nhờ gia đình bị đe dọa là Việt Minh sẽ đấu, coi là địa chủ. Ông hoảng hốt định tự vẫn.

Bọn phản động bàn nhau giết hai tên đã già mà hay hoang mang của chúng (Côn và Mưu). Để khi đội về sẽ tố cả vào hai tên đã chết ấy.

Con giai giết bố (Tuân)

Tây: như nắm tay co vào rồi sẽ duỗi ra. Nhân dân đấu địa chủ. Tây về, địa chủ lại đấu nhân dân. Ai có tội, ngụy quân ngụy quyền v.v… Việt Minh nó sẽ đấu hết. Chào thầy Cai,… Chết bà mất lập trường rồi.

*

Đấu tên Bút

Anh Bông là một anh em họ, làm thẩm phán. Anh nói đến một tiếng đồng hồ để thanh minh sự liên quan của anh với tên Bút. Quần chúng xì xào, anh em với nó thì kể lể gì? Ai cũng sốt ruột. Cán bộ véo anh Bông hai lần, véo cái nào Bông càng thanh minh dài dòng mãi. Trời nắng nhễ nhại. Cuối cùng Bông cũng im, hết lời lải nhải.

Trong khi đấu, tên Bút cứ nhìn lên trời. Anh Bông tố. Xong hỏi, Bút, mày có nhận không? – Dạ thưa ông, bố ông chết tôi phải chôn, mẹ ông đi lấy chồng tôi phải rước ông với các con ông về nuôi. Ông tố vậy, chúng tôi xin nhận là có ạ. Xong nó lại nhìn lên trời cười ha hả.

Quần chúng có người cười. Có người mắng: Lại còn cười, mất cả lập trường. Có người chửi sư thằng phản động. Có người trách: Cái anh Bông mới dại chứ! Mà sao thẩm phán cứ ngồi im cả thế kia! Nắng quá càng thêm khó chịu.

Kết quả: phải ngừng cuộc đấu lại.

(còn tiếp)

Trần Dần

© 2014 pro&contra

Theo pro&contra

[1] Vì những tội: 1) cùng 5 văn nghệ sĩ khác đệ trình „Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hóa“ yêu cầu tự do sáng tác và sửa đổi chính sách quản lý văn nghệ trong quân đội; 2) quyết định kết hôn với bà Bùi Thị Ngọc Khuê bất chấp sự phản đối của các cấp lãnh đạo; 3) viết đơn xin giải ngũ và đơn xin ra khỏi Đảng. (Các chú thích trong bài đều của người biên soạn.)
[2] Nhà văn Hoàng Yến (1922-2012). Bài viết được nhắc tới là bài „Tập thơ Việt Bắc có hiện thực không?“ viết ngày 28/2/1955, đăng trên tập san Sinh hoạt Văn nghệ số 35, báo Văn nghệ và báo Nhân dân. Xem talawas, 9/7/2005.
[3] Nhà văn Văn Phác (1926-2012). Ở thời điểm năm 1955, ông là Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ Quân đội, cơ quan của Trần Dần. Sau này ông trở thành Bộ trưởng Văn hóa, Ủy viên BCHTƯ Đảng, đại biểu Quốc hội.
[4] Nhạc sĩ Lương Ngọc Trác (1928-2013)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét