Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 8 năm 2014

"Việt - Trung những điều không thể không nói ra" - Nước ta đã có chủ nghĩa cộng sản

"Việt - Trung những điều không thể không nói ra"

Mõ Làng: Bài viết dưới đây là của Tiến sỹ Vũ Cao Phan được đăng trên Amari Tx dưới tiêu đề "Những điều không thể không nói ra"
Ảnh minh họa
Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước. Một ví dụ là ngay từ thời Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu chuyện về tướng Lý Ông Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược của đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước Tần, giúp Hoàng đế dẹp loạn miền Tây Vực khiến quân Hung nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã nằm xuống.

Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sự tranh chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy. Trong tinh thần đó, chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: “Những điều không thể không nói ra” mà Tạp chí “Tri thức thế giới” của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm ngoái. Đó là các bài: “Lịch sử và sự thật: Diễn biến quan hệ Trung – Việt trước năm 1949”(Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương, Viện KHXH Trung Quốc) –“Quan hệ Trung – Việt từ 1949 đến nay” (Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam” (Tôn Hồng Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ” (Lục Đức An, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và “Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á” (Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).

Tất cả được đăng trong số 14, ra tháng 7 năm 2011. Như cách đặt vấn đề và như chúng tôi có thể hiểu, các tác giả muốn vẽ lên một bức tranh chân thực về những gì diễn ra trước hết trong quan hệ Việt – Trung, và sau nữa là trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó góp phần điều chỉnh nhận thức của người này người khác, ở phía bên này hoặc bên kia.Ý định ấy là tốt và cần thiết. Lời lẽ trong các bài viết cũng tương đối vừa phải, trừ vài ngoại lệ.

Chú thích: Những chữ để nghiêng trong bài này là trích từ “Những điều không thể không nói ra” hoặc từ các cuốn sách xuất bản ở Trung Quốc (TG).

Tuy nhiên, hoặc do quan điểm, nhận thức, hoặc do nguồn tư liệu dựa vào thiếu khách quan, nhiều nội dung trong loạt bài này đã không phản ánh sự thật, làm hỏng mục đích mà người viết có thể muốn đặt ra.

Vì một số lý do, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chưa có ý định trao đổi toàn bộ và triệt để các vấn đề mà “Những điều không thể không nói ra” đã đề cập. Chúng ta còn có nhiều dịp và nhiều cách để cùng nhau tìm đến sự thật.


*

* *
Lịch sử thành văn của nước Việt – nghĩa là những điều được ghi lại trên giấy trắng mực đen – xuất hiện khá muộn, hàng ngàn năm sau công nguyên. Hai lý do chủ yếu: chữ viết xuất hiện muộn và cả một thiên niên kỷ mất độc lập được gọi là “thời kỳ Bắc thuộc” – một ngàn năm Bắc thuộc. Lịch sử Việt Nam trong những năm tháng này còn là một phần lịch sử Trung Hoa, điều dù muốn hay không cũng phải thừa nhận. Và dù muốn hay không cũng phải thừa nhận, với Việt Nam một ngàn năm ấy là một ngàn năm không bình yên, nói một cách khiêm tốn. Liệu có cần thiết phải nhắc lại những chuyện “sát phu, hiếp phụ”, “bỏ xác cho hổ đói lên rừng bắt chim chả, chặt ngà voi; chịu để giao long ăn thịt xuống biển mò ngọc trai, kiếm đồi mồi” cung phụng các quan cai trị? Rồi một ngàn năm độc lập, những cuộc xâm lược từ phương Bắc đã để lại những gì tưởng chỉ cần nhắc đến một câu của thi hào Nguyễn Trãi thế kỷ thứ XV, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ dưới hầm tai họa”, viết trong “Đại cáo bình Ngô”. Những cuộc xâm lược của Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam đều hết sức khốc liệt, đâu có phải quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ này “trên tổng thể là hòa bình, hữu nghị”. Tác giả của “Diễn biến quan hệ Việt – Trung trước năm 1949” chỉ thừa nhận một cuộc xâm lược đến từ phía Bắc, đó là cuộc xâm lược của nhà Nguyên trong thời kỳ này (và lịch sử chính thống của Trung Quốc cũng chỉ thừa nhận như vậy) còn thì “phần nhiều những cuộc xung đột và chiến tranh giữa hai nước là do giới phong kiến Việt Nam quấy nhiễu biên giới Trung Quốc gây ra”. Cần phải nói rõ những điều này. Một, chỉ một lần duy nhất nhà nước phong kiến Việt Nam có cuộc Bắc phạt và cũng chỉ với một mục đích duy nhất là phá cuộc chuẩn bị xâm lược Việt Nam của nhà Tống. Đó là vào ngay thời kỳ đầu sau Bắc thuộc, năm 1075, nhà Lý (Việt Nam) phát hiện nhà Tống (Trung Quốc) lập các tiền đồn tích trữ binh lương ở Quảng Tây nhằm chuẩn bị tiến đánh “Giao Châu” (nước Việt) nên đã xuất quân, đánh xong lập tức rút ngay về phòng ngự mà vẫn không tránh khỏi cuộc tiến quân ồ ạt sau đó của nhà Tống. Hai, có lẽ chỉ dựa vào chính sử do các triều đại phong kiến Trung Quốc để lại mà các tác giả của “Những điều không thể không nói ra” không thừa nhận có các cuộc xâm lược Việt Nam của Tống, Minh, Thanh. Bởi vì “chính sử” luôn tìm cách mô tả đấy là những cuộc hành binh khôi phục trật tự, lập lại ngôi vương chính danh được các triều đình phong kiến Trung Quốc thừa nhận (nhưng là những phế để, phế triều đã bị sóng triều lịch sử Việt Nam gom về bến rác). Sự thực như thế nào? Lấy ví dụ cuộc tiến quân dưới danh nghĩa “phù Trần, diệt Hồ” của nhà Minh đầu thế kỷ XV. “Phù Trần diệt Hồ” ở chỗ nào khi diệt xong cha con Hồ Quý Ly rồi liền bắt các kỳ hào, bô lão ký vào một tờ biểu dâng lên rằng: “Nay họ Trần không còn ai nữa, vả đất An Nam vốn là Giao Châu ngày trước, xin được đặt lại quận huyện như cũ” (theo “Minh sử”). Nhưng có một thực tế là con cháu nhà Trần vẫn nổi lên ầm ầm chống lại quân Minh, lập nên một triều đại được lịch sử gọi là “kỷ Hậu Trần” thì người Minh lại gọi là “giặc” và phái binh đàn áp! Một thời kỳ “Bắc thuộc mới” kéo dài 20 năm với chính sách đồng hóa quyết liệt (tất cả sử sách nước Nam đều bị thu hết về Kim Lăng), với sưu cao thuế nặng, bắt phu khai mỏ vàng mỏ bạc rồi “chim trả, ngà voi” tận thu tận diệt khiến dân tình vô cùng khổ sở. Phải một cuộc kháng chiến gian khổ máu xương dằng dặc 10 năm của Lê Lợi – Nguyễn Trãi cuối cùng mới đưa được “cuộc phù Trần” về bên kia biên giới. Làm sao có thể nói trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ hai, “giới thống trị Trung Quốc bấy giờ hoàn toàn không chủ động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam” được? Và ngay trong thời kỳ được coi là giao kết hòa hiếu giữa hai nước trong quan hệ “tông phiên” thì các triều đình phong kiến Việt Nam vẫn luôn bị sách nhiễu, áp lực. Chỉ riêng việc đòi hỏi cung phụng, cống nạp – nhất là những sản vật quý hiếm – cũng trở thành gánh nặng tài chính cho nước Việt, gánh nặng khổ ải cho thứ dân, không thể nói là “không đáng kể”, “tổng giá trị (của các đồ cống nạp) luôn thấp hơn đồ “hồi tặng” (từ phía triều đình Trung Quốc)” được.

Năm 1950, khi đích thân tiếp và tiễn đoàn cố vấn quân sự của nước Trung Hoa nhân dân sang giúp Việt Nam kháng Pháp, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn: “Các đồng chí phải nói với nhân dân Việt Nam rằng tổ tiên chúng ta đã có lỗi với Việt Nam, chúng ta xin tạ tội và nguyện một lòng một dạ ra sức giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp” (trích Hồi ký bằng tiếng Hán của các Cố vấn Trương Quang Hoa, Vũ Hóa Thẩm, Đặng Kim Ba). Thủ tướng Chu Ân Lai trong lần đầu tiên sang thăm Việt Nam năm 1955, việc đầu tiên mà ông làm là đến thắp hương Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ tướng Việt Nam kiệt xuất trong thế kỷ thứ nhất cầm quân nổi dậy chống quân xâm lược nhà Hán và đã anh dũng hy sinh. Thiết nghĩ không cần phải dẫn thêm những ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo khác như Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh… xung quanh vấn đề này.

Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định, mối quan hệ tổng thể giữa hai nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc suốt mấy ngàn năm lịch sử không phải là một bức tranh tối màu, nhất là quan hệ dân gian. Trong sự phát triển và trưởng thành của mình, người Việt, nước Việt đã tiếp thu và học tập được nhiều từ nền văn hóa – văn minh Trung Hoa. Đấy cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến sự gần gụi, hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Đấy cũng là thực tế hiển nhiên không thể phủ định. Không thể có chuyện giới nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong trăn trở tìm về nguồn cội lại bỏ qua những giá trị xác định để thay bằng những lập luận “khoác lác”, “hư cấu”? Càng không thể tưởng tượng ra rằng nó có mục đích “đưa vào nội dung giáo dục quốc dân” để làm băng hoại quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.

Nửa sau của thế kỷ trước (thế kỷ XX), Việt Nam đã phải liên tục chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh không cân sức: Kháng Pháp và kháng Mỹ. Cùng với nhân dân toàn thế giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Vào thời kỳ cao điểm, khi Mỹ trực tiếp đổ quân vào tham chiến – có lúc lên đến hơn nửa triệu – nhiều chính phủ và tổ chức nhân dân trên thế giới đã tuyên bố sẵn sàng gửi quân chí nguyện đến giúp đỡ Việt Nam, nếu được phía Việt Nam chấp nhận. Với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính và cũng xét tới các hệ lụy, Chính phủ Việt Nam không chủ trương nhận quân tình nguyện chiến đấu, đặc biệt là bộ binh, và đã bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đến thiện chí năm châu. Những quân nhân nước ngoài có mặt ở phía Bắc Việt Nam lúc ấy bao gồm một số lượng hạn chế các cố vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô trong các binh chủng kỹ thuật (tên lửa phòng không, không quân… ), một vài biên đội không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu. Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhiều lần bày tỏ thiện chí sẵn sàng gửi quân tình nguyện đến Việt Nam trong các tuyên bố công khai cũng như trong những lần gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Việt Nam. Kết quả là đã dẫn tới các ký kết giữa hai nước về việc đưa bộ đội hậu cần (công binh) của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào giúp việc khắc phục giao thông bị phá hoại bởi cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở Miền Bắc. Trung Quốc cũng đề nghị đưa vào cả bộ đội pháo cao xạ để bảo vệ lực lượng công binh tác nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến lực lượng này. Người yêu cầu các nhà lãnh đạo Quân đội Việt Nam không đưa bộ đội Trung Quốc đến những vùng quá khó khăn ác liệt vì bạn chưa quen. Thời kỳ đó, không quân Mỹ chia chiến trường Bắc Việt Nam thành ba vùng tác chiến: Vùng đánh phá tự do suốt ngày đêm từ Thanh Hóa trở vào vĩ tuyến 17, là vùng ác liệt nhất. Vùng thứ hai, vùng đánh phá có trọng điểm bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các vị trí chiến lược phía nam đường số 5. Vùng thứ ba, đánh phá có chọn lọc, là các tuyến giao thông phía bắc đường số 5. Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ đội Trung Quốc đã được bố trí tác nghiệp trong vùng từ phía bắc đường số 5 đến biên giới Việt – Trung. Các lực lượng chí nguyện Quân Giải phòng Trung Quốc đã chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, quên mình vì nghĩa lớn, đồng cam cộng khổ với nhân dân Việt Nam, không chỉ góp phần khắc phục đường sá bị phá hoại, giúp Việt Nam làm mới nhiều con đường, nhiều công trình mà còn tham gia chiến đấu, trực tiếp bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ. Tổng cộng đã có hơn 310.000 lượt bộ đội Trung Quốc có mặt trên chiến trường miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 (nói chung, 6 tháng thay quân một lần) trong đó hơn 1000 chiến sĩ hy sinh (hơn 4000, bao gồm cả các chiến sĩ bị thương). Theo đề nghị của phía Trung Quốc, các liệt sĩ Trung Quốc đã được chôn cất tại trên 40 nghĩa trang ở Việt Nam và hiện nay vẫn được chính quyền và nhân dân các địa phương coi sóc, tu tạo.

3. Phía Trung Quốc từng xuất bản một cuốn sách công bố 7 lần xuất quân ra nước ngoài của Quân Giải phóng Nhân dân từ sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, trong đó quá nửa là xuất quân sang Việt Nam. Điều đau lòng là, hầu hết những lần xuất quân đến Việt Nam ấy đều được mô tả là để “đánh trả”, “trừng phạt” cái quốc gia mà Trung Quốc từng coi là anh em (đến bây giờ có lẽ vẫn là “anh em” vì lãnh đạo hai bên nói chung vẫn ôm hôn nhau theo kiểu “các nước anh em” thường làm).

Chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây bản chất các cuộc “đánh trả”“trừng phạt” ấy – xin trở lại một dịp khác, nếu cần thiết – mà chỉ xin trao đổi những gì liên quan được nêu ra từ các bài viết trong “Những điều không thể không nói ra”.

Thứ nhất, phải khẳng định rằng, trừ cuộc “tiến quân” trong giai đoạn 1965 -1968 nhằm chi viện nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà tôi vừa đề cập, tất cả các cuộc tiến quân khác (1974: đánh chiếm Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là Tây Sa; 1979: Chiến tranh biên giới Việt – Trung; 1983 – 1984: đánh chiếm các điểm cao chiến lược ở tỉnh Hà Giang – Trung Quốc gọi là Lão Sơn (và xung quanh); 1988: đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa – Trung Quốc gọi là Nam Sa) đều do Trung Quốc âm thầm khởi binh rồi bất ngờ đánh úp, nhằm lúc đối phương chưa sẵn sàng chuẩn bị. Tất cả đều giống nhau, không ngoại lệ. Làm gì có cái gọi là “sự xâm lăng, khiêu khích từ phía Việt Nam”? Mưu kế chiến tranh từ thời Tôn Tử đã chẳng lạ gì phương sách mà sau này L.Hart và nhiều tác gia quân sự đông tây phải ngả mũ, “Nguyên cớ ư? Ở ta!”.

Thêm nữa, sau năm 1975, mặc dù giành được nguyện vọng ngàn đời là độc lập dân tộc, thống nhất non sông, Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ bởi ba mươi năm chiến tranh (nền kinh tế Việt Nam bị tụt đến đáy trong thập niên 75 – 85 là một minh chứng). Lo ăn, lo mặc cho dân mình còn chưa xong lẽ nào Việt Nam còn muốn mang sức kiệt đi đánh nước người? Mà đó lại là quốc gia hùng mạnh Trung Quốc và còn hơn thế nữa, một đất nước đã có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong kháng chiến! Ơn vừa mới đó mà đã quên được ư? Trọng ơn là truyền thống của dân tộc này, không ai có thể bới ra được chứng cứ ngược lại!

Và do đó phải thừa nhận là Việt Nam đã bị bất ngờ khi cuộc chiến tranh tháng 2/1979 xảy ra. Có thể có xung đột cường độ thấp nhưng là cả một cuộc chiến tranh với sự tiến quân ồ ạt của hàng chục sư đoàn đối phương trên toàn tuyến biên giới là điều chưa được phía Việt Nam tiên liệu.

Thứ hai, cần phải nói rõ một điều: Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) là của một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Và càng không có việc Việt Nam đã “hoàn toàn thay đổi lập trường” về vấn đề này. Câu chuyện như sau: Năm 1958, sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng hộ tuyên bố ấy, chỉ đơn giản như vậy. Sự ủng hộ đó là thiện chí nếu tính tới cuộc xung đột giữa nước Trung Hoa nhân dân với Đài Loan trong vùng Kim Môn, Mã Tổ lúc bấy giờ. Còn trong năm 1974, khi xảy ra sự việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (Tây Sa), chính các bên đang quản lý thực tế vùng biển này là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối.

Thứ ba. Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX mà mà vận mệnh của ba nước Đông Dương gắn chặt với nhau: chung một kẻ thù, chung một mục đích giải phóng và độc lập dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chung, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia anh em và Việt Nam cũng hết lòng vì đất nước và nhân dân bạn. Làm theo lời dạy đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là giúp mình”, hàng chục vạn chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc xương máu chiến đấu quên mình trên đất nước Lào và đất nước Campuchia, không nhằm một mục đích tiểu bá, đại bá hay Liên bang Đông Dương nào hết. Một khi chiến tranh kết thúc, tình hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng được quy tập về đất mẹ Việt Nam (con số được quy tập đến nay đã là gần 50.000 liệt sĩ). Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay lại cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển đất nước mình, với tư cách là những quốc gia độc lập, có chế độ chính trị riêng biệt, điều mà cả thế giới đều thấy rõ.

Đáng ngạc nhiên là trong bài “Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á”,tác giả gợi lại vấn đề không có thực là “lãnh thổ K.K.K”“một phần đất đai Campuchia bị mất vào tay Việt Nam”. Với mục đích gì vậy? Tác giả có biết rằng trong tháng 8 năm 2012 vừa qua chính đại diện của nước CHND Trung Hoa tại Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu bác bỏ yêu cầu được có tiếng nói tại tổ chức quốc tế này của cái gọi là “phong trào K.K.K”? Sự trung thực cộng sản – nếu có thể gọi như vậy – là ở chỗ nào?

Thứ tư. Có những sự thực ít người biết đến, nhưng chẳng lẽ những người chủ trì một tạp chí có tên tuổi trong ngành như “Thế giới tri thức” lại ở trong trường hợp như vậy? Tôi muốn đề cập câu chuyện về điểm cao khống chế 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Trong bài “Quan hệ Việt – Trung từ năm 1949 đến nay”, tác giả đã mô tả những trận đánh đẫm máu, ác liệt để giành khu vực này vào năm 1984 như là cuộc chiến đấu vinh quang chống lại sự xâm lược của quân đội Việt Nam. Hơn nữa, chúng tôi còn được biết, nơi đây nay đang trở thành một điểm du lịch của phía Trung Quốc với những trưng bày và thuyết minh bất chấp chân lý, bất chấp mọi sự nhẫn nhịn, trên thực tế phá hoại quan hệ Việt-Trung mà các bạn bày tỏ muốn vun đắp. Liệu có cần phải đánh thức “sự thật lịch sử”?

Cuối cùng, về câu chuyện hoang đường “Việt Nam bắt nạt Trung Quốc”, “Việt Nam luôn áp dụng phương châm đối đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi”, để thay lời kết luận, tôi xin kể hai chuyện nhỏ: Tháng 1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia – Thái Lan trong “tích tắc”, thì lập tức nhận được lệnh buông lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát. Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự “người nước ngoài” bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ. Câu chuyện thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản công và một chiến dịch – chiến lược tiến công quy mô với lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái.

Thẳng thắn và mà nhìn nhận, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bản chất là một mối quan hệ tích cực và cần phải như vậy. Xin được đề cập đến vào một dịp khác. Bài viết này của tôi không có mục đích tranh luận, ngay cả về phương diện học thuật. Nó đơn giản chỉ là “những điều không thể không nói ra”, không thể không làm rõ vậy thôi.
(Blog Mõ Làng)

PV Quốc Doanh - Nước ta đã có chủ nghĩa cộng sản

Theo sách, chủ nghĩa cộng sản là làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Ở nước ta hiện nay, rất nhiều người đã làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, thậm chí làm dưới năng lực mà hưởng trên nhu cầu. Đó là các quan chức, càng cao càng sống đầy đủ sự sung sướng của chủ nghĩa cộng sản.

Làm theo năng lực hoặc dưới năng lực thì đã rõ. Nhiều đại biểu quốc hội thừa nhận, có chừng 30-40% quan chức làm việc dưới năng lực. Cũng có người cho là chỉ khoảng 10-15% quan chức làm việc kém. Còn người dân đã phải làm việc với các quan chức thì đánh giá, hầu hết không biết làm việc và vô trách nhiệm.

Nóng dư luận hiện nay chuyện buôn bán trẻ em ở chùa Bồ Đề tại Hà Nội, hàng trăm trẻ em và người già được nuôi dưỡng chục năm rồi, mà chính quyền các cấp dường như chẳng biết gì cả. Hoặc biết mà không quan tâm. Hoặc có quan tâm nhưng thoảng qua mà không có bất cứ động thái gì giúp đỡ. Nay mới phê phán là cơ sở nuôi dưỡng thiếu giấy nọ giấy kia. Quan chức nước ta được đào tạo cái lối chỉ biết ngồi chờ dân đến xin và phán cho hay không (mọi việc cả làm ăn, múa hát), chứ không biết sống với dân để chủ động phục vụ dân. Nên nhiều người nói, quan chức nước ta được đào tạo từ HV mà không phải HV nên hư hỏng từ trong trứng, nghĩa là được đào tạo từ Học viện (Mác Lê, Chính trị…) chứ không phải từ đại học Harvard.

Còn hưởng theo nhu cầu hoặc cao hơn nhu cầu, cũng rất rõ. Làm quan càng to muốn gì được nấy. Muốn biệt thự hoành tráng bên Hồ Tây là có, muốn lấy vợ của người khác cũng được, lấy bồ của con trai làm vợ cũng xong. Làm quan từ cấp tỉnh trở lên, mấy ai không có biệt thự, xe hơi? Nghỉ hưu rồi, xây biệt thự dễ như chơi. Quan bé ở gần tôi, có anh sỹ quan công an cấp phường, khi xây nhà, khoe vật liệu có người chở đến cho, cả cánh cổng sắt. Còn ông phó bí thư cao hơn anh sỹ quan công an phường hai cấp chính quyền, được tiếng trong sạch, dè đâu hay đến doanh nghiệp xin tiền, khi 200 triệu, khi 300 triệu đồng. Khốn khổ một công ty cổ phần bến xe (cổ phần từ quốc doanh nên vẫn độc quyền) cho ông ta rồi, mua hoá đơn đỏ ngoài vỉa hè để hợp thức hoá, bị phát hiện nhưng ông ta quay lưng, phải chạy vạy đủ đường may lĩnh án treo.

Chẳng những được hưởng quá nhu cầu của bản thân họ, còn cho con cháu và người hầu kẻ hạ. Ở mọi địa phương và lên đến trung ương, ai cũng có thể dễ dàng chỉ ra con cháu ông nọ bà kia còn trẻ đã được đặt vào những cái ghế bổng lộc béo bở. Rồi cận vệ, thư ký và cả nhân tình khối vị cũng được cất nhắc lên làm lãnh đạo.

Có vài vị cán bộ to nói với tôi, cấp dưới nhiều người không làm việc, chỉ ngồi nhìn ngó kiếm ăn và gây chuyện nhưng muốn kỷ luật mà không được. Ở địa phương, chưa kỷ luật đã có điện thoại của mấy vị cựu uỷ viên thường vụ gọi đến, còn trên trung ương thì cựu uỷ viên bộ chính trị. Nghỉ hưu rồi mà các vị còn sướng thế, muốn đi đâu được xe đưa rước, của ngon vật lạ bưng tận miệng, còn có quyền bảo vệ (bao che) đám đệ tử làm ăn không ra gì.

Nên mới có cô luật sư xinh đẹp khoe, đã biếu được ông D. viên kim cương lớn. Có anh cán bộ tuyên giáo lấy làm hãnh diện, có mặt trong tiệc sinh nhật cháu của ông T. Lại có một toà soạn báo ngành nọ, tết vừa rồi, xin được đứng ra lo tiệc tất niên ở nhà vị lãnh đạo ngành, cạnh tranh với nhiều tổng công ty và được chọn, mừng như bắt được vàng, từ tổng biên tập trở xuống kéo cả vợ chồng con cái đến nhà lãnh đạo lo tiệc “vui hơn tết”. Được mọi tầng lớp quan chức cung phụng, đáp ứng đủ thứ thứ nhu cầu lớn bé, các các quan chức làm sao không sướng như đã đến chủ nghĩa cộng sản?

Chuyện làm ăn đi đứng của quan chức, mấy hôm nay thiên hạ bàn nhiều về chuyến đi Mỹ của ông Phạm Quang Nghị. Trước hết, bàn nhiều ở việc ông tặng quà. Theo báo Tiền Phong ngày 3/8/2014, bài “Một tuần công du nước Mỹ của ông Phạm Quang Nghị”, ông Nghị tặng ông John McCain tấm ảnh chụp nơi ông John McCain bị bắt năm 1967 ở hồ Trúc Bạch, được gọi là “món quà độc đáo”. Về giá trị, ý nghĩa cũng như hình thức món quà này, đã có rất nhiều bàn luận, tôi không dám góp lời, chỉ nghĩ: chẳng lẽ Hà Nội không có món quà nào ĐẸP hơn tấm ảnh, cho ông Bí thư Thành uỷ Hà Nội đi tặng ông Thượng nghị sỹ Mỹ John McCain? Việt Nam không có món quà nào ĐẸP hơn để mang sang Mỹ hay sao? Tôi lại tự hỏi: nếu sang Trung Quốc ông Nghị có dám mang tấm ảnh chụp Gò Đống Đa làm quà tặng không? Nếu sang Pháp, sang Nhật ông Nghị có mang quà là những tấm ảnh chụp các địa điểm dân ta đã bắt lính Pháp, lính Nhật làm tù binh hay không? 
clip_image001
Tấm ảnh trên báo Tiền Phong được chú thích “Ông John McCain nhận món quà từ ông Phạm Quang Nghị”.
Trong phép ngoại giao, hình như kỵ nhất là những hành vi dù vô tình hạ thấp người nói chuyện. Nâng cao mình bằng cách hạ thấp người khác là lối tư duy của tiểu nhân. Quan hệ quốc gia dù có muốn hạ thấp xuống thành chuyện “gia đình” như Đại tướng Phùng Quang Thanh thì cũng cấm kỵ hành vi hạ thấp người khác. Trong bàn nhậu bổ bã nhất, người biết uống rượu không bao giờ xúc phạm bạn nhậu.

Cũng tờ báo Tiền Phong còn cho biết ông Nghị có tặng quà khác nữa (không rõ tặng ai): “Nghe nói ông đã tặng quà là bình gốm Chu Đậu? À, đúng là có tặng những bình gốm Chu Đậu, làm theo mẫu mã của bình gốm đang được trưng bày tại Viện bảo tàng ở Thủ đô Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Bây giờ làng gốm Chu Đậu và Mỹ Xá đã khôi phục lại được phương pháp chế tác gốm men rạn những tưởng đã bị thất truyền. Món quà này bạn rất thích. Tôi nói vui rằng, đây là đặc phẩm cổ truyền của Việt Nam, nhưng giá của nó rất mềm. Các vị không phải khai báo với Bộ Tài chính đâu. Tuy nhiên nếu cất giữ đồ này một trăm năm nữa sẽ là cổ vật, khi đó sẽ đắt giá lắm đấy”.

Cổ kim chưa nghe ai đi tặng quà lại đề cập đến giá trị bằng tiền chi tiết như thế, còn bảo cất giữ “sẽ đắt giá lắm đấy” như giọng con buôn đồ cổ. Tôi chỉ có thể mượn câu nói dân gian mà bình luận, vì HV chứ không phải HV!

Bỏ qua chuyện quà cáp, chuyến đi Mỹ của ông Nghị trong bối cảnh hiện nay, tiêu tốn tiền của dân mà dân không tiếc là hy vọng ông làm được việc có lợi cho nước nhà trong cuộc chống chọi với sự xâm lấn của Trung Quốc. Cũng bài phỏng vấn trên tờ báo Tiền Phong viết: “Ngoài những vấn đề bên lề cuộc gặp, hai người chắc là có nói đến chuyện biển Đông? Chuyện biển Đông, chuyện giàn khoan HD981 của Trung Quốc, báo chí, dư luận cả trong nước, thế giới và chính giới Mỹ nói sôi sùng sục, sao lại không nói? Nhưng mà, ngài Thượng Nghị sỹ Mỹ đã đề cập ra sao? (Cười) Thông tấn xã Việt Nam đã nói rồi, “đó là những vấn đề hai bên cùng quan tâm”. Các anh đừng có tò mò!”.

Ông Phạm Quang Nghị đi Mỹ về và trả lời sự chờ đợi của dân như thế! Phóng viên của một tờ báo là đại diện cho độc giả của họ, một bộ phận dân tộc, cũng chính vì thế mà có tư cách hỏi ông Nghị và ông Nghị phải trả lời. Nhưng ông Nghị trả lời như thế, không những dốt, còn hỗn. Còn phóng viên báo Tiền Phong, Xuân Ba-Lê Thọ Bình, chẳng biết một hay hai người, mang tư cách đại diện cho độc giả Tiền Phong mà sau khi nghe ông Nghị trả lời như thế, lại nói thế này: “Vậy thì xin chuyển sang chuyện khác”.

Buồn chán vô cùng, dù biết các ông đã được sống với chủ nghĩa cộng sản, và HV chứ không phải HV.
Ngày 6/8/2014
PV Quốc Doanh
Tác giả gửi BVN
(Bauxitevn)

Người Việt có giàu óc sáng tạo?

Phương pháp thực hiện mô hình của ông Bùi Khắc Kiên chủ yếu là phương pháp thử - sai – sửa- thử lại cho đến khi thành công.

LTS: Cách đây ít lâu, xã hội ồn ào xung quanh câu chuyện sáng chế “lò đốt rác” của ông Bùi Khắc Kiên, với nhiều dư luận đa chiều, kẻ khen hết lời, người chê cũng… hết lời. Mới đây, Tuần Việt Nam nhận được bài viết của TS Tô Văn Trường về hiện tượng này. Xin được đăng tải dưới đây

Nông dân là tầng lớp cống hiến hy sinh nhiều trong thời chiến và thời bình nhưng cũng là tầng lớp chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Nhưng có một hiện tượng lạ, nhiều người không được học hành đến nơi đến chốn, không bằng cấp nhưng say mê sáng tạo chẳng kém ai. Thậm chí họ toàn bỏ cả tiền túi ra thực hiện hoài bão của mình. Mà câu chuyện lò đốt rác của ông Bùi Khắc Kiên (Thái Bình) gần đây gây nên những tranh cãi đa chiều, là một ví dụ cụ thể.

Ủng hộ và phản đối

Đi tiên phong cổ vũ, động viên cho thành quả của ông Bùi Khắc Kiên là loạt bài báo có tít rất kêu đã phê phán mạnh mẽ các cơ quan chức năng của Thái Bình đã quan liêu, sợ trách nhiệm, trù dập "phát minh của nông dân" đồng thời ca ngợi "phát minh tầm cỡ thế giới của ông Kiên". Như “Nông dân Thái Bình làm nhà máy điện cạnh tranh EVN”;  “Thảm cảnh lò đốt rác phát điện- người  Nhật thấy ngọc”; “Lò đốt rác ông Kiên  địa phương mất, nước ngoài …hưởng ngọc thay”; “Doanh nghiệp ca ngợi muốn hợp tác làm lò đốt rác ông Kiên”….

Được sự hướng dẫn về quy trình thủ tục của một nhà quản lý khoa học, ông Bùi Khắc Kiên đã làm đơn  đăng ký cho sáng chế của mình đã được chấp nhận là đơn hợp lệ theo quyết định số 31704/QĐ-SHTT ngày 21/6/2012 tại Cục Sở hữu trí tuệ  của Bộ Khoa học & Công nghệ. 
lò đốt rác, Thái Bình, nông dân, Bùi Khắc Kiên, Tô Văn Trường, sáng tạo
Ảnh: Dân việt

Bên cạnh đó, luồng ý kiến phản đối lò đốt rác của ông Kiên tập trung mấy ý chính: Coi đây chỉ đơn giản là một chu trình rankin bình thường biến nhiệt năng thành cơ năng và chuyển cơ năng thành điện năng. Nếu cái máy này ra đời thế kỉ 16- 17 thì quả là một thành tựu của khoa học. Còn bây giờ thì nó rất khó ứng dụng vì nhiên liệu là rác thu thập về không được phân loại xử lý, gây ra ô nhiễm môi trường tại nơi tập kết là nhà ông nằm giữa khu dân cư.

Nhiều nhà khoa học quan ngại là việc đốt rác không đúng quy cách có thể sinh ra dioxin từ sự nhiệt phân các chất hữu cơ (nhất là các chất nhựa). Ngay cả các lò đốt rác theo quy trình công nghệ vẫn có thể sản sinh dioxin là chất rất độc hai theo nồng độ tính bằng phần tỉ. Nó hiện diện trong hóa chất khai quang mà trước kia quân đội Mỹ phun tràn lan ở miền Nam Việt Nam, gây ra nhiều hậu quả cực kỳ tệ hại và lâu dài.

Rõ nhất là lò đốt rác của ông Kiên chỉ đạt được 01 yêu cầu, cho rác vào là đốt được mà thôi, không để ý đến vấn đề lọc bụi cho khói, đồng thời cơ cấu lọc bụi kiểu thô sơ, không để ý đến việc xử lý  thành phần độc hại trong khói. 

Lò khó vận hành, rất thủ công, không khử được mùi, người vận hành luôn ở trong môi trường độc hại, khó chịu. Phần lò hơi và phát điện vốn vô cùng phức tạp, đắt tiền và đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu trong nhiều lĩnh vực, các thông số kỹ thuật được chỉ ra ở các bài báo về nhiệt độ, điện năng sản xuất đều do ông Kiên cung cấp mà không được kiểm chứng  về mặt nguyên lý.

Phân tích đánh giá khách quan và thực tế

Bản thân người viết bài này cũng xuất thân từ gia đình  nông dân ở Thái Bình nên rất đồng cảm, chia sẻ với ông Kiên, một người nông dân ham mê, sáng tạo, kiên trì nghiên cứu lò đốt rác trong khoảng 06 năm trời với nguồn kinh phí hoàn toàn do tiền túi còm cõi của gia đình bỏ ra.  Ông Kiên là người dám nghĩ, dám làm, chỉ riêng điều đó cũng rất đáng trân trọng.

Tuy nhiên, phương pháp thực hiện mô hình của ông Kiên chủ yếu là phương pháp thử - sai – sửa- thử lại cho đến khi thành công.  Trong quá trình thực hiện mô hình, các ý tưởng dẫn đến việc chỉnh sửa, sửa đổi chủ yếu đến từ việc tham khảo các thiết bị tương tự ở các nơi mà không có thiết kế tổng thể, hợp lý.

Việc đốt rác và sử dụng nhiệt thừa phát điện theo mô hình của ông Bùi Khắc Kiên là hoàn toàn có thể thực hiện được về mặt nguyên lý. Do nhiều khó khăn về kiến thức chuyên môn và nguồn lực thực hiện, mô hình do tác giả dựng lên có những vấn đề tồn tại. 

Đó là việc phát điện chỉ là mang tính trình diễn có thể làm sáng các bóng đèn sợi đốt. Chất lượng điện ra không đảm bảo về mặt tần số để có thể sử dụng cho các việc khác. Mô hình được lắp đặt tại nhà nằm trong khu dân cư thiếu tính an toàn cháy nổ, an toàn lao động và có thể gây ảnh hưởng tới vệ sinh môi trường. Việc phát điện cần được tính toán trước về mặt công suất để hệ thống mang tính kinh tế khả thi. Nếu công suất lò đốt rác quá nhỏ, việc phát điện không thực hiện được vì không có thiết bị thích hợp và không có tính kinh tế khi triển khai.

Ví như: Tua bin hơi nước là thiết bị sử dụng năng lượng của hơi nước ở áp suất và nhiệt độ cao đi qua một hệ thống cánh quay để biến đổi thành cơ năng làm quay trục nối với máy phát để phát điện. Đây là thiết bị thuộc loại cơ khí chính xác cao mà VN chưa chế tạo được. Tua bin tự chế của ông Kiên là sự mô phỏng các thiết bị quay kiểu guồng nước, không có tính toán thiết kế mà chỉ là thử - sai – sửa. Tua bin không có bình ngưng đi kèm, không điều khiển được tốc độ quay trục, tốc độ quay thấp.

Lò hơi và đường ống dẫn hơi được chế tạo và lắp đặt bởi công ty cổ phần nồi hơi và thiết bị áp lực Đông Anh. Đây là một cơ sở chế tạo có năng lực và được phép chế tạo các thiết bị áp lực nên lò hơi và hệ thống ống dẫn hơi, đảm bảo về mặt an toàn thiết bị. Tuy nhiên, hệ thống lò hơi được bảo quản bằng bông cách nhiệt có bọc vải bên ngoài và nằm ngoài trời nên với ảnh hưởng của thời tiết có mưa, bông cách nhiệt bị ướt gây nên tổn thất nhiệt lớn. Một số đoạn ống trần có khả năng gây bỏng khi tiếp xúc.

Hệ thống giàn giáo được lắp đặt thủ công bằng tre, ván gỗ không chắc chắn dẫn đến nhiều khó khăn trong việc xử lý sự cố nếu cần. Khi vận hành rất nguy hiểm và có thể gây mất an toàn khi sự cố nổ lò xảy ra.

Lò đốt rác thải đã có sự để ý đến việc lọc khói, tận dụng nhiệt thừa khói thải để sấy không khí cấp cho quá trình cháy trong lò. Hệ thống tích nhiệt có thể giúp cho lò đốt được những loại rác khó cháy. Nhưng do chỉ có 01 quạt gió cấp không khí vào lò nên áp suất trong lò là áp suất dương dẫn đến sự phì lửa ra ngoài khi đốt gây nguy hiểm

Khói thải của lò mặc dù được lọc bụi khá tốt ở cường độ đốt gián đoạn không liên tục nhưng chưa có cơ chế để loại bỏ các khí thải độc hại sinh ra trong quá trình cháy. Cấu tạo của lò cũng sẽ dẫn tới nhiều khó khăn trong vận hành trong trường hợp lò hoạt động liên tục.

Thay cho lời kết

Những “nhà khoa học” nông dân như ông Bùi Khắc Kiên rất đáng quý trọng vì năng nổ, dám nghĩ, dám làm với mục đích góp phần vào sự nghiệp phát triển những cơ cấu ứng dụng trong đời sống kinh tế, xã hội cho đất nước.

Nhưng mọi thông số tính toán và thiết kế của ông Kiên thì chỉ toàn là ... áng chừng. Những khiếm khuyết tồn tại trong lò đốt rác này là điều dễ hiểu cho nên rất cần các nhà khoa học chuyên ngành và nhà quản lý có trách nhiệm hợp tác, phối hợp khắc phục những khiếm khuyết, giúp đỡ, kết hợp luận cứ khoa học và thực tiễn, tiến hành thử nghiệm để nếu thành công có thể đưa sáng chế đi đúng hướng, tạo ra những sản phẩm có ích cho xã hội.
     Tô Văn Trường
( Tuần Việt Nam )

Phạm Thị Hoài - Sự thật về sự thật rẻ tiền

Đầu tiên là một bài đăng ngày 25/7/2014 trên Die Allgemeine Morgenpost Rundschau, một trong hàng triệu hay hàng chục triệu trang cá nhân ở Đức: “Phi công Ukraine thú nhận bắn rơi MH17“. Chủ nhân trang này ghi rõ: “Die Allgemeine Morgenpost Rundschau là một trang châm biếm. Tất cả những nội dung mà bạn đọc được ở đây đều hoàn toàn là hư cấu và đôi khi thậm chí là bịa trắng trợn.
Trong trường hợp có bài này hay bài khác kéo theo nguy cơ nhầm với hiện thực thì xin đừng ghè đầu chúng tôi, mà hãy ghè đầu hiện thực.” Song khó mà có nguy cơ nhầm. Phương châm “Liêm chính và bán mình, phiến diện và độc lập, công bằng và cơ hội” ghi ngay trên đầu trang, cùng những cái tít kiểu “tin khó tin” như “Mỹ không thể trưng bày bằng chứng vì Colin Powell còn đi nghỉ“… báo hiệu hơi quá rõ rằng chúng tôi đang đùa, bạn chuẩn bị cười dần đi là vừa. Mẫu mực của những trang trào phúng như vậy, trang Củ hành của Mỹ, vẫn là đỉnh cao chưa ai vượt qua.
Nhưng khi ồ ạt đăng cái tin “phi công Ukraine thú nhận bắn rơi MH17″ ấy thì truyền thông Việt Nam – không chỉ những tờ lá cải mà cả hàng loạt cơ quan truyền thông chính thức, từ  Đài Tiếng nói Việt Nam đến báo Công an, thậm chí cả tờ Tuổi Trẻ – lại trưng ra một nguồn tin khác, được gọi là “tờ báo Đức” mang tên Wahrheit für Deutschland (Sự thật cho nước Đức). Đã chọn một cái tên như thế thì chủ nhân trang ấy dĩ nhiên không biết đùa, ông ta đăng uỵch cái “tin khó tin” kia lên như một sự thật sâu sắc. Rồi đến lượt những tờ báo Nga của Putin khuếch trương sự thật ấy. Truyền thông Việt Nam hồ hởi ăn theo. Cho đến tận bây giờ, trừ tờ Tuổi Trẻ đã lẳng lặng rút bài nhưng để lại dấu vết trên đường link, câu chuyện có phần củ chuối thay vì củ hành này vẫn hiện diện nguyên vẹn trên rất nhiều trang báo trong nước, như một sự thật. Một sự thật rẻ tiền.
2.
Một tờ báo khác, cũng mang tên Sự thật, tờ Комсомольская правда (Sự thật Komsomol), sáu năm trước đã thực hiện một đoạn phim phóng sự về một cựu chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam, ông Yury Trushyekin, người cho biết rằng mình đã đích thân bắn rơi máy bay của viên phi công Mỹ John McCain ngày 26/10/1967, nay đang sống nghèo khổ và bị lãng quên. Tin này cũng được Hãng Thông tấn Nga RIA Novosti loan tải. Nhân vụ ông Phạm Quang Nghị mang “quà độc” sang Mỹ tặng ông Thượng Nghị sĩ John McCain, một bài viết trên trang Dân Làm Báo, được nhiều website tiếng Việt ở hải ngoại chia sẻ, lại dẫn tin này để đưa ra những kết luận rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam bị bẽ mặt vì cố tình giấu diếm việc Liên Xô Trung Quốc trực tiếp tham gia chiến tranh, nay bị chính các nước này nói thẳng toẹt ra sự thật đó; vậy là Đảng nói láo; Quân đội Nhân dân Việt Nam kém cỏi, phải nhờ đến ngoại bang Liên Xô Trung Quốc mới thắng, vì thế phải mang ơn mà dâng đất, dâng biển đảo cho ngoại bang.
Sự thật Komsomol tránh được số phận của tờ báo Đảng Sự thật (Правда), bắt đầu chuyển sang hướng lá cải từ thời hậu Xô-viết và trở thành tờ báo rẻ tiền kinh hoàng và nhiều thế lực nhất ở nước Nga dưới thời Putin, từ lâu do đồng chí Vladimir Sungorkin phụ trách, người vừa được vị Tổng thống này thưởng Huân chương Tổ quốc vì những đóng góp xuất sắc trong Chiến dịch sáp nhập Krym. Cá nhân tôi sẽ xấu hổ nếu phải dẫn tờ báo này ra làm nguồn tin. Báo chí rẻ tiền thường lòi đẳng cấp của mình ngay trong những tiểu tiết. Theo tờ báo ấy, ông cựu sĩ quan Xô-viết bắn rơi chiếc F-4 Con Ma. Nhưng máy bay của “tên Jchn Sney Macan” mà chúng ta rất biết lại là Chim Ưng A-4. Tấm huy chương “Đoàn kết chiến thắng giặc Mỹ” đề tên ông là có thật, nhưng hàng trăm cựu chuyên gia Liên Xô từng giúp Hà Nội trong chiến tranh cũng có, họ có thể bắn rơi Jchn Sney Macan hàng trăm lần. Tìm ông Yury Trushyekin trên mạng, tôi có được vỏn vẹn 59 kết quả, trong đó 90 % từ các trang tiếng Việt.
Vì sao một phóng sự cẩu thả trên một tờ báo lá cải, chiếc loa tuyên truyền khổng lồ của một hệ thống chính trị càng ngày càng xích lại gần quá khứ Xô-viết chuyên chế, lại được một tờ báo tiếng Việt ở hải ngoại đang phấn đấu chống một chế độ cũng chuyên chế, cũng đầy gắn bó với Liên Xô, nghiễm nhiên coi là sự thật? Chiến tranh thông tin trên thế giới ngày nay đang khiến cả những cơ quan truyền thông uy tín ở phương Tây có nguy cơ sa bẫy tuyên truyền, song dù thế nào tôi vẫn có đủ lí do để tin BBC hơn truyền thông Nga. Ở đâu các nhà báo dám đương đầu với quyền lực cũng gặp rắc rối, song ở Nga họ bị bỏ tù, đầu độc hay ám sát là chuyện bình thường. Vâng, ở Nga, cách đây vài ngày, blogger độc lập Timur Kuashev chỉ còn là một cái xác bị quẳng trong rừng. Mới đầu tháng Sáu vừa rồi, hãng truyền hình Nga LifeNews, rất thân thiết với Putin, đăng tin quân Kiev ném bom phốt-pho xuống làng Semenovka, song đoạn video làm bằng chứng lại nguyên là của CNN trong Chiến tranh Iraq từ năm 2004, như trang stopfake.org của một nhóm nhà báo Ukraine, mới ra đời từ tháng Ba năm nay, chỉ rõ. Cảnh một vụ tai nạn đường sắt ở Quebec City, Canada, thì bị truyền thông Nga giả mạo thành hình ảnh thành phố Sloviansk của quân li khai chìm trong khói lửa. RIA Novosti thì lấy ngay bức hình một người Hồi giáo bị lính Nga hành hình trong chiến tranh Chechnya để biến hóa thành một trong 300 nạn nhân bị “mổ bụng moi gan” tại Ukraine những ngày này… Vụ “phi công Ukraine thú nhận bắn rơi MH17″ kể trên dĩ nhiên cũng nằm trong bộ sưu tập của stopfake.

Trở lại với bài viết trên trang Dân Làm Báo: Ngay cả khi cái phóng sự rẻ tiền nói trên có cho biết sự thật thì tôi vẫn không hiểu, từ một ông Liên Xô bắn rơi máy bay Mỹ làm cách nào có thể suy ra chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam “dâng đất, dâng biển cho ngoại bang”. Liên Xô hình như không phải là Trung Quốc. Last but not least, hàng năm cứ đến ngày 5/8, ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Hải quân và Bộ đội Phòng không Việt Nam, Đại sứ quán Việt Nam tại CHLB Nga đều tổ chức gặp mặt những cựu chuyên gia Liên Xô từng chung chiến hào chống Mỹ, trong tinh thần “Vũ khí của Nga vẫn bảo vệ bầu trời Việt Nam“. Những hình ảnh còn nóng sốt của kỉ niệm tròn 50 năm vài hôm trước có đầy trên mạng, song thú vị nhất có lẽ qua ống kính của nhà báo Nga Vitaliy Ragulin.
 Ngắm những cụ ông cụ bà cựu công dân Liên Xô, ngực nặng huân huy chương ngồi nghe kể chuyện ngày xưa đánh giặc ở một xứ sở lạ hoắc, thưởng thức văn nghệ cây nhà lá vườn từ một sinh viên Việt Nam để kiểu tóc kết hợp giữa Kim Chính Ân và Kim Chính Nhật, ngoan ngoãn xếp hàng ăn buffet lèo tèo vài món cơm rang nem rán, rồi đứng nghiêm chụp hình lưu niệm để sang năm lại như thế, tôi chỉ thấy một cảnh thác ngộ thời đại, nửa gợi thương cảm, nửa gây cười. Không có gì chứng tỏ phía Việt Nam muốn giấu diếm hay thậm chí chối bỏ công lao của các bạn Xô-viết.
Phạm Thị Hoài
(pro&contra)

Việt kiều ở Mỹ là ‘tù khổ sai’!

Ác mộng giấc mơ Mỹ. Ảnh  internet
Ác mộng giấc mơ Mỹ. Ảnh internet

HM Blog. Thấy trên Facebook có ông Lê Dũng Vova tag mình một phát và ra bài này. Đăng lại cho bà con đừng bỏ thiên đường tìm cách sang Mỹ.  Đó là ác mộng ở âm ty.  Nghe tin có cô bạn đang trên đường sang Mỹ đưa con du học. Nếu đọc bài này xong, có khi nàng mua vé return luôn.

Bài này hợp với thứ 6 cuối tuần, bà con đọc cho vui, hiểu thêm về nước Mỹ.


(Đời sống) – Hàng ngày, trên khắp đất nước Việt Nam, vẫn có rất nhiều người mòn mỏi chờ đợi được đến với vùng đất hứa: nước Mỹ

Để có thể chạm đến “giấc mơ Mỹ”, nhiều người có thể chờ đợi hơn 10 năm theo diện đoàn tụ, có người thậm chí còn chấp nhận kết hôn giả, du học giả… Nhưng, với những người Việt hiện đang ở Mỹ, thì nước Mỹ không phải là thiên đường như mọi người lầm tưởng. Để hưởng thụ cuộc sống được cho là “chất lượng cao” ở nước Mỹ, họ phải nai lưng ra làm việc, vất vả như một con trâu, chẳng khác gì “tù khổ sai”.

Nhìn bề ngoài, bạn có tất cả, nhưng thật ra bạn chẳng có gì cả. Tất cả đều là nợ, bạn phải trả cho chính phủ cả đời. Qua bài viết của Danny Nguyen, trên một tờ báo về du học, chúng ta có thể thấy rõ ràng khuôn mặt thật của nước Mỹ cũng như cuộc sống đầu tắt, mặt tối của hầu hết Việt kiều ở đó.

Đối với thành phần lao động này ở Mỹ thì phải nói là vô cùng vất vả. Tất nhiên, ở Mỹ không ai ép buộc mình phải làm việc nhiều giờ cả, nhưng vì cuộc sống và bạn muốn có tất cả mọi thứ nên phải làm việc cộng lái xe 11-13 giờ/ngày, 7 ngày/tuần. Với mức vật giá đồ ăn người Việt ưa thích tương đối đắt đỏ: 8 USD cho một kg rau muống, 1,29 USD cho 3 nhánh sả hoặc rau thơm các loại, 12 USD một kg nhãn tươi, 3,99 USD một trái đu đủ, hoặc thơm, 20 USD cho một hộp chôm chôm 36 trái… thì với mức lương khiêm tốn 1500-2500 USD/tháng chưa xài đã hết.

Vì vậy đa số thành phần lao động chi tiêu hết sức tiết kiệm và dĩ nhiên là rất nhiều người không dám bỏ tiền để mua bảo hiểm y tế.”Dù ở Việt Nam bạn đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học hay hơn thế nữa, nhưng khi tới Mỹ thì bạn như là người mù chữ. Việc tìm được một công việc phù hợp với bằng cấp đã học ở Việt Nam sẽ là điều không thể, vì vậy khi đặt chân tới mảnh đất thiên đường này, việc bạn phải trở thành thành phần lao động chân tay sẽ là điều tất yếu.

Bảo hiểm ở Mỹ rất mắc. Ngay bản thân tôi, gia đình gồm 8 người và nhiều bạn bè của tôi hầu như không ai có bảo hiểm. Cũng vì điều này nên tôi đã chứng kiến nhiều cảnh đau lòng. Chẳng may bạn mắc bệnh, đi khám bác sỹ dù bác sĩ không chữa được bệnh cho bạn nhưng cũng lấy 120-150 USD và bác sĩ đó giới thiệu tới một bác sĩ khác mà bác sĩ đó cũng bó tay luôn thì cũng lấy một khoảng tương tự. Ở Mỹ chữa bệnh vô cùng đắt đỏ, một ca phẫu thuật nhiều khi trả cả đời không hết. Cũng vì lý do này nên nhiều người dù mang bệnh trong người nhưng điều kiện kinh tế eo hẹp nên cứ chịu đựng để lâu ngày dẫn đến bệnh nặng và tử vong cũng là chuyện thường xảy ra.

Hầu hết ở Mỹ ai cũng phải làm việc nhiều giờ, nên không còn thời gian để chăm sóc bản thân, gia đình và con cái. Đi làm về đến nhà đã đau nhừ toàn thân, ăn cũng không muốn ăn chứ đừng nói là làm cơm tối cho gia đình và tất nhiên là cũng chẳng còn mặn mà tới chuyện chăn gối nữa vì phải giữ sức để mai đi cày.

Đối với chị em, khi đến Mỹ cứ nghĩ mình là số một, nhưng tôi thấy chị em chẳng sung sướng tí nào cả. Nhiều khi họ còn phải làm việc vất vả hơn cánh đàn ông ấy chứ. Chỉ đơn cử việc sinh đẻ thôi cũng đã là một thiệt thòi lớn. Thông thường ở Mỹ sau khi sinh, chỉ ở lại bệnh viện 48 giờ. Chồng thì cũng chỉ nghỉ 2-3 ngày sau đó là chị em phải tự lo cho bản thân và con nhỏ, 1-2 tuần nhiều lắm là 4 tuần lại phải đi làm. Con nhỏ chưa đầy tháng tuổi phải gửi trẻ 11-12 giờ/ngày.

Nhiều khi nhìn con còn quá bé mà phải đưa đi gửi cả ngày ứa cả nước mắt, nhưng biết làm sao bây giờ. Nghỉ ở nhà để lo cho con ư? Lấy tiền đâu ra để mà sống? Ai lo cho đống hóa đơn hàng tháng? Đến khi con đi học thì cả tuần không thấy mặt con ấy chứ.

Ở Mỹ, hầu hết thực phẩm đều là đông lạnh có khi hàng tháng. Đồ ăn thì nấu một lần cho 2-3 ngày. Ăn thì chẳng bao giờ đúng bữa, mà cũng chẳng còn kịp nhai nữa, nuốt cho đầy bụng để mà làm việc. Bữa sáng thì ăn ở trên xe, bữa trưa thì ăn ở chỗ làm, rỗi lúc nào thì ăn lúc đó, nhiều hôm bận quá chẳng có thời gian để mà ăn phải uống sữa trừ cơm. Rất nhiều hôm bữa tối, cơm canh đổ đầy một tô, hâm nóng bằng lò vi sóng, chồng lái xe vợ vừa ăn vừa đút cho chồng ăn vội vã tới đón con kẻo trễ, bảo mẫu than phiền. Đọc đến đây thôi thì nhiều bạn đã đặt câu hỏi: Tại sao không về Việt Nam mà sống?

Khi đi thì tìm mọi cách đi cho bằng được giờ về sợ xấu hổ, con cái học hành dở dang, khả năng kinh tế không cho phép, nhà ở Việt Nam giờ quá mắc. Nếu ngày xưa ai có nhà mặt phố bán để ra đi thì đừng bao giờ về tìm hiểu xem căn nhà đó bây giờ bao nhiêu, nếu không bạn sẽ không ngủ được đâu. Về Việt Nam lại phải bắt đầu lại từ đầu…Xin thưa với các bạn, có rất nhiều nguyên nhân.

Riêng bản thân tôi thì, mình đã quá hèn mọn, không làm được gì cho dân tộc thôi thì hy sinh chút sức mọn này cho gia tộc. Chỉ mong những người thân trong gia tộc tôi nói riêng và những người ở Việt Nam có thân nhân ở nước ngoài nói chung thực sự hiểu được giá trị của đồng tiền mồ hôi nước mắt mà người con tha hương gửi về.
Có nhà nhưng không sở hữu nhà. Ảnh: HM
Có nhà nhưng không sở hữu nhà. Ảnh: HM
Mua nhà trả góp ở Mỹ rất dễ dàng. Nhưng theo sự hiểu biết của tôi thì bạn đã chui vào một cái bẫy tài chính hết sức tinh vi mà các chuyên gia kinh tế hàng đầu tạo ra. Tại sao vậy? Vừa ký mua căn nhà thì bạn đã mất đi 6% giá trị của căn nhà cho “tiền môi giới”, mà nhiều người cho rằng người bán trả, nhưng theo tôi thì người mua đưa tiền cho người bán trả.

Nếu không tin thì bạn bán ngay căn nhà vừa mua thì sẽ biết là mình mất bao nhiêu %. Chẳng hạn, bạn mua một căn nhà 400.000 USD, cứ cho là trả trước 100.000 USD thì ngân hàng phải trả cho chủ đầu tư 300.000 USD, tức bạn mượn 300.000 USD tiền mặt thế chấp bởi căn nhà với lãi suất 4,99-7,99 %/năm tùy tín dụng từng người. Bên cạnh đó, bạn phải trả thuế tài sản 1,75-4 %/năm tùy từng khu và thành phố mình ở.

Cũng vì những lý do kể trên, dù tôi đã ở Mỹ lâu năm nhưng tôi lại thuê phòng hoặc căn hộ để ở. Bao nhiêu tiền làm ra tôi đều đầu tư về Việt Nam, vừa xây dựng quê hương đất nước vừa thắng lợi lớn. Hiện tại, có những bất động sản của tôi ở Việt Nam đã lên giá 30 lần vì tôi mua từ năm 1998. Hàng tháng tôi vẫn có thu nhập từ tiền thuê nhà, còn hơn cả thu nhập ở Mỹ. Và nhất định một ngày không xa tôi sẽ về Việt Nam để sinh sống.
Sẵn sàng thịt lẫn nhau. Ảnh internet
Sẵn sàng thịt lẫn nhau. Ảnh internet
Theo cách nghĩ của riêng tôi, nếu như một ngày nào đó các bạn ở Việt Nam qua Mỹ để du lịch, thấy cuộc sống ở Mỹ quá hào nhoáng mà bỏ một triệu đô để mua đứt một căn nhà thì bạn đã thuộc thành phần đại gia.

Mà đại gia thì sống ở Mỹ làm gì cho buồn mà chủ yếu là lo cho con cháu. Mà lo cho con cháu thì phải tính 20 -30 năm hay hơn thế nữa, thì bạn không chỉ bỏ một triệu, mà phải chuẩn bị thêm ngót nghét một triệu nữa để đóng thuế. Cho nên tôi thiết nghĩ, đại gia thì không dại gì đầu tư một cách thiếu khôn ngoan như vậy. Thà bỏ tiền ra làm từ thiện hay xây cho liệt tổ liệt tông một căn nhà thờ còn để lại tiếng thơm ngàn đời cho con cháu.

Thật ra thì còn nhiều điều phải nói lên nữa nhưng thời gian không cho phép và sự hiểu của tôi về xã hội Mỹ còn rất khiêm tốn. Qua đây cũng cầu xin những ai hiểu biết về xã hội Mỹ, đặc biệt là về khía cạnh luật sở hữu và thừa kế tài sản, hãy viết lên một bài để cộng đồng người Việt chúng ta ở nước ngoài có thêm kinh nghiệm để bảo toàn tài sản của mình”.
Quỳnh Như. 
(Đất Việt)
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét