Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, ngày 23 tháng 11 năm 2014

Vấn đề Kampuchia: Tranh chấp lãnh thổ

“Không may” cho ông Trần Văn Truyền

Kết luận của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương liên quan đến tài sản của nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền cho thấy một lỗ hổng lớn trong việc kê khai tài sản của cán bộ.
Báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng năm 2014 tại phiên họp của Uỷ ban Tư pháp ngày 15.9 vừa qua, đã đưa ra con số rất lý tưởng, đó là gần 1 triệu người kê khai tài sản năm 2013, chỉ có 1 trường hợp không trung thực.
Trần Văn Truyền, tham nhũng, biệt thự, Thanh tra Chính phủĐã có nhiều ý kiến phản biện, không tin con số này là trung thực. Và sự hoài nghi đó đã đúng. Nếu như chỉ 1 trường hợp không trung thực duy nhất, chẳng lẽ người đó là ông Trần Văn Truyền. Dù không cần đến con số thống kê chính xác, cũng biết chắc chắn còn nhiều người khác như ông. Rõ ràng, việc thực hiện kê khai tài sản quá hình thức, sơ sài cho nên mới có con số báo cáo khác với thực tế. 
Đơn cử như trường hợp ông Trần Văn Truyền, nếu xác minh kê khai tài sản công khai, minh bạch, chính xác, thì sẽ không có kết cục như ngày hôm nay. Ông Truyền không trung thực đã đành, nhưng xin hỏi trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức khác ở đâu? 
Theo thông báo nội dung kết luận của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, một số nhà và đất của ông Truyền mua ở TPHCM, Bến Tre đều qua các thủ tục theo quy định, được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Nếu như các cơ quan đó làm đúng, sẽ không có hậu quả này. Cá nhân ông Truyền mất uy tín là đương nhiên, nhưng lớn hơn là làm mất uy tín chung vì ông Truyền là Tổng Thanh tra Chính phủ. Tổn thất này không dễ bù đắp.
Về việc không chịu trả nhà công vụ không chỉ riêng ông Trần Văn Truyền mà còn không ít cán bộ. Nay chỉ nêu ra trường hợp của ông Truyền là không công bằng, mà cần phải công khai danh sách tất cả các cán bộ hiện nay không chịu trả nhà công vụ. Đã có nhiều ý kiến đề xuất nên công bố danh sách những người về hưu không chịu trả nhà công vụ, ghi cụ thể địa chỉ nhà để người dân được biết. Nhưng đến nay, vì cả nể hay lý do nào khác đã chưa thực hiện nghiêm túc. Hy vọng sau vụ ông Trần Văn Truyền, nhiều người sẽ sợ mà đem nhà trả cho Nhà nước.
Dư luận đặt vấn đề “có bao nhiêu ông Trần Văn Truyền” không phải là không có lý. Người ta không bênh vực ông Truyền, nhưng cho rằng ông chỉ là người... không may. Có thể còn không ít cán bộ sở hữu tài sản như ông hoặc lớn hơn ông. Có điều họ không hoặc chưa bị lộ mà thôi.
Lê Thanh Phong
(Lao Động)

Từ vụ ông Trần Văn Truyền: Những ai chưa bị lộ nên tự giác trả lại tài sản!

Từ vụ ông Trần Văn Truyền: Những ai chưa bị lộ nên tự giác trả lại tài sản!

Sau khi Ủy ban Kiểm tra Trung ương công bố sai phạm và thu hồi tài sản của cựu Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền, phóng viên đã ghi nhận những ý kiến khác nhau xung quanh sự kiện được dư luận đánh giá là rất trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền, đối với những sai phạm của cán bộ cao cấp dù đã nghỉ hưu!
Đã đến lúc cần phải xem xét toàn bộ những thiết chế về cán bộ, công chức, nhất là trong kiểm soát, kiểm tra chính trị nội bộ để thấy được những lỗ hổng cần khắc phục. 
Những ai chưa bị lộ nên tự giác trả lại tài sản

ong vu quoc hung hinh anh
Ông Vũ Quốc Hùng - nguyên phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng
Vụ việc liên quan đến ông Trần Văn Truyền,đối với tôi, đây là tin xót xa, dẫu sao thì UBKT TƯ đã thực hiện nhiệm vụ của mình một cách đúng đắn. Tôi cho rằng, nếu thực hiện sớm hơn nữa để nhân dân hiểu rằng, chống tham nhũng không có vùng cấm, không chừa một ai thì tốt hơn. Điều nhức nhối và cần bàn nhất hiện nay là làm thế nào để cán bộ Đảng viên, nhất là các cán bộ cao cấp ngay khi đang đương chức sai phạm thì phải kịp thời nhắc nhở, ngăn chặn được.
Đây không chỉ là giữ cái uy tín cho người cán bộ ấy, mà còn giữ uy tín cho Đảng, cho cả hệ thống chính trị. Bài học của ông Trần Văn Truyền cho thấy, cần thiết phải có một sự rà soát lại tất cả những cán bộ khi đương chức và cả những cán bộ đã về hưu trên cơ sở ý kiến của nhân dân.
Đồng chí nào khi đương chức có khuyết điểm nhưng giờ nghỉ hưu phải được UBKT  và các cơ quan chức năng của TƯ kịp thời nhắc nhở, làm rõ, giải quyết và xử lý. Phải chủ động tránh việc để dư luận ầm ĩ một thời gian dài rồi mới đi đến kết luận.
Bên cạnh đó, việc quan trọng nhất vẫn là để phòng ngừa chuyện tiêu cực xảy ra, rút kinh nghiệm từ vụ việc ông Truyền, công tác giám sát tài sản cán bộ công chức và đấu tranh chống tham nhũng cần thiết phải làm quyết liệt hơn.Thanh tra Chính phủ cũng có đảng bộ, có Ban cán sự Đảng, trong đó ông Truyền cũng là một Đảng viên, tại sao để sự việc kéo dài đến khi UBTU vào cuộc mới phát hiện ra.
Sau vụ việc của ông Truyền có thể thấy, chống tham nhũng hiện nay không có vùng cấm. Cán bộ thuộc diện ông Truyền thì nên ra khai báo khẩn cấp.
Chỉ tịch thu tài sản đứng tên “quan tham”  là vẫn chưa thỏa đáng!
Trước hết tôi rất ủng hộ việc làm của UBKT TƯ Đảng trong vụ việc liên quan đến nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền.
Qua vụ việc này cho thấy việc kê khai tài sản đối với các cán bộ đảng viên trong thời gian qua là chưa đạt yêu cầu như kỳ vọng.
ong Ha Tuan Trung hinh anh
Ông Hà Tuấn Trung, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra T.Ư
Vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát tốt được tài sản của cán bộ công chức. Việc để đến khi về hưu được vài năm rồi mới phát hiện ra được tài sản phi pháp là muộn so với thực tiễn đòi hỏi trong công tác chống tham nhũng.
Sở dĩ, việc phát hiện tài sản phi pháp của các bộ có chức quyền hiện nay muộn là vì công tác kê khai tài sản cá nhân làm mang nặng tính hình thức. Giám sát việc kê khai tài sản thì nửa vời và không có tính răn đe. Điều này khiến cán bộ công chức tham lam vẫn ngang nhiên hưởng thụ tài sản phi pháp trong một thời gian dài.
Người kê thì kê không đúng thực tế, kê xong, cơ quan lại có chức năng kiểm tra, giám sát lại để đó. Thông tin kê khai không công khai để cho dân biết. Đáng lẽ, đối với tài sản của cán bộ cao cấp như ông Truyền phải được kê khai rõ và công khai trước dư luận để nhân dân cùng thấy và giám sát. Do không công khai, không có sự giám sát của nhân dân nên dẫn tới việc ai muốn kê khai thế nào thì tùy tiện kê.
Việc xử lý tài sản phi pháp phải chủ động, không nên để dư luận phản ứng mạnh quá không thể bỏ qua được thì mới bắt tay vào xử lý. Tôi cho rằng, kê khai tài sản rồi để đó thì kê khai làm cái gì?! Có thông tin về tài sản mà người kê khai không muốn tiến hành kê khai thì phải điều tra xác minh.
Công tác kiểm tra giám sát tài sản của cán bộ, công chức đòi hỏi phải chủ động, còn như hiện nay không thiếu. Liên quan đến vụ việc của ông Trần Văn Truyền tôi cho rằng, cần thiết phải làm rõ về việc bổ nhiệm một loạt cán bộ trước khi về hưu của ông Truyền. Những cán bộ nào bị phát hiện là bổ nhiệm “có vấn đề” thì phải có hình thức xử lý nghiêm.
Để tịch thu lại tài sản phi pháp mà chỉ dựa vào tài sản đứng tên “quan tham” là chưa thỏa đáng so với thực tế. Nhiều nước khi phát hiện ra dấu hiệu tham nhũng ở một cán bộ cấp cao, lập tức họ tiến hành niêm phong, khoanh vùng tài sản của các thành viên trong gia đình . Làm như thế mới gọi là làm đến nơi đến chốn!  
Nhóm PV Đời sống & Pháp luật
(Một Thế Giới)

'Ủy viên Bộ chính trị hãy công khai tài sản'

Nhân vụ việc Tổng Thanh tra Chính phủ VN bị tuyên bố vi phạm, mắc khuyết điểm về 'chính sách nhà, đất' khi 'sở hữu quá nhiều' bất động sản có giá trị, một nhà quan sát trong nước kêu gọi các lãnh đạo cao cấp trong Bộ Chính trị, Chính phủ, Quốc hội 'công khai tài sản' ra toàn dân.
Trao đổi với BBC hôm 22/11/2014 từ Sài Gòn, luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội Việt Nam, nói:
Luật sư Trần Quốc Thuận
"Tôi hy vọng sau vụ ông Truyền thì có thể Đảng và Nhà nước sẽ đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng và đặc biệt trên Facebook, trên Internet, người ta sẽ có dịp đưa hình ảnh những người có tài sản lớn lên.
"Cái đó cũng là việc đấu tranh chống tham nhũng và góp phần xây dựng nhà nước này trong sạch, vững mạnh. Cái đó là điều tốt."
Trước câu hỏi vì sao đợt này chỉ có một mình ông Trần Văn Truyền bị đưa khuyết điểm, sai phạm ra công bố, mà không phải là những quan chức lãnh đạo, cấp cao nào khác nữa, ông Thuận nói:
"Trước nhất là ông Trần Văn Truyền nghỉ hưu rồi, mạng lưới quyền lực suy giảm rồi cho nên ông bị đưa ra, còn những người đương đầy quyền lực thì việc đưa ra cũng không dễ.
"Hay nói một cách thẳng thắn là không ai đưa ra chọc với những người đang 'cầm gươm, cầm súng', cho nên chưa biết có đưa ra được không, họ lại bắn trước, họ lại chém trước.
'Hãy công khai, làm gương'
Từ việc ông Truyền, nên chăng, muốn lấy lòng tin của nhân dân một cách rõ ràng thì công khai tài sản đăng trên báo hết, tất cả các ông lãnh đạo cấp cao, rồi lần lần xuống các địa phương, làm gương trước, cũng như Nghị quyết Trung ương IV là phải kiểm điểm từ trên kiểm điểm xuống - Luật sư Trần Quốc Thuận
Theo luật sư Thuận, đã tới lúc các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam trong các cơ quan quyền lực đứng đầu của Đảng và Nhà nước tỏ ra 'gương mẫu', ông nói:
"Cho nên vấn đề quan trọng là bây giờ phải công khai tài sản của mấy ông ấy lên, mà trước hết là mấy ông lớn, các vị trong Bộ Chính trị, các vị trong Chính phủ là phải công khai trước.
"Rồi tiếp tục là các đồng chí Thường vụ Quốc hội là công khai hết đi, công khai in một cái đặc san trong đó. Đặc san có thể bán vài triệu bạc người ta cũng mua. Và yêu cầu nhân dân giám sát mà theo Hiến pháp mới là bây giờ Đảng phải theo sự giám sát của nhân dân."
Theo luật sư Thuận, việc giám sát này tập trung trọng tâm chính vào 'tài sản, đạo đức và chủ trương."
Ông nói: "Giám sát là tài sản là chính, giám sát đạo đức, rồi giám sát chủ trương làm việc - chủ trương có sai, đúng hay không, những việc ông ban hành có sai, đúng, gây thiệt hại hay không...
"Từ việc ông Truyền, nên chăng, muốn lấy lòng tin của nhân dân một cách rõ ràng thì công khai tài sản đăng trên báo hết, tất cả các ông lãnh đạo cấp cao, rồi lần lần xuống các địa phương, làm gương trước, cũng như Nghị quyết Trung ương IV là phải kiểm điểm từ trên kiểm điểm xuống," cựu quan chức Văn phòng Quốc hội Việt Nam nói với BBC.
(BBC)

Trương Nhân Tuấn - Vấn đề Kampuchia: Tranh chấp lãnh thổ

Lời tác giả: Từ nhiều tháng qua, liên tiếp các cuộc biểu tình chống người Việt đã xảy ra trên đất Kampuchia, đã qui tụ nhiều người. Cầm đầu là nhóm « Liên hiệp Khmer Kampuchea Krom (AKKK) », do ông Thạch Setha lãnh đạo. Mục đích của các cuộc biểu tình này là yêu cầu ông đại sứ VN là Trần Văn Thông phải lên tiếng xin lỗi người dân Kampuchia, nguyên do vì ông này đã nói rằng « đất Khmer Krom, theo lịch sử là của VN ». Từ đó đến nay không thấy phía tòa đại sứ VN tại Kampuchia lên tiếng trả lời hay bình luận gì về việc này. Tòa đại sứ cũng từ chối các cuộc phỏng vấn của báo chí. Vừa rồi, vị sư có tên là Sơn Hải, nghe nói xuất thân từ Trà Vinh, nguyên là một trong số những người Khmer Krom cầm đầu biểu tình, bị nhà cầm quyền Kampuchia bắt và bỏ tù 1 năm vì tội « cản trở nhân viên công lực thi hành nhiệm vụ ». Trước dư luận dân chúng Khmer cũng như VN, sự im lặng của đại sứ Trần Văn Thông được hiểu như là mặc nhiên nhìn nhận sự sai trái trong lời tuyên bố của mình. Việc nhà sư Sơn Hải bị bắt, có thể vì một lý do khác, nhưng điều này không hề giải quyết được vấn đề mà ngược lại, nó càng làm cho sự hận thù của một thành phần dân tộc VN đối với đất nước của mình càng thêm sâu sắc.

VN (qua các đại diện của mình ở các nước), sẽ phải trả lời trước dư luận thế giới như thế nào để chủ quyền quốc gia về lãnh thổ không bị thách thức, đồng thời lịch sử không bị bóp méo vì quan điểm chính trị hay tinh thần dân tộc chủ nghĩa? Bài này được viết ra, như sự ủy nhiệm của người dân VN, để tìm một câu trả lời thỏa đáng.
* * *
Quân tình nguyện Việt Nam tiến vào Phnom Penh - Ảnh: Corbis Sygma
Tranh chấp về lãnh thổ giữa hai bên VN và Kampuchia, nếu xét trên phương diện những yêu sách khác nhau của người Khmer hiện nay về lãnh thổ thì ta thấy các học giả Khmer nghiêng về lịch sử. Mà nói về lịch sử thì có thể nói là tranh chấp hai bên đã xảy ra từ rất lâu. Dầu vậy ta có thể chia ra làm năm thời kỳ. Mỗi thời kỳ bản chất của tranh chấp khác nhau, các lý lẽ biện minh cho yêu sách của các bên khác nhau. Điều này xảy ra do ảnh hưởng địa chính trị, hoàn cảnh lịch sử cũng như tinh thần dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ từ các bên.
- Thời kỳ đầu, từ đầu thế kỷ thứ 17 đến khi Nam kỳ trở thành thuộc địa của Pháp 1862.
- Thời kỳ thứ hai, từ năm 1862 đến năm 1945, sau khi Đại chiến thế giới kết thúc.
- Thời kỳ thứ ba, từ 1945 cho đến năm 1954, hiệp định Genève được ký kết.
- Thời kỳ thứ tư, từ 1954 đến 1975.
- Thời kỳ thứ năm từ 1975 đến hôm nay.
Giữa hai bên có ba loại tranh chấp. 1/ về lãnh thổ trên đất liền, có hai khuynh hướng tranh chấp, thứ nhứt là đất khu vực dọc theo biên giới, thứ hai, tranh chấp vùng đất mà người Kampuchia gọi là Khmer Krom 2/ về chủ quyền các đảo, quan trọng nhất là đảo Phú Quốc và 3/ tranh chấp về ranh giới hải phận, về hiệu lực các đảo trong vịnh Thái Lan.
Muốn biết nội tình các tranh chấp này ra sao, lý lẽ mà các học giả Kampuchia vịn vào để đòi đất đai, lãnh thổ là như thế nào, cũng như các lý lẽ này có hợp lý hay không? điều cần thiết là ta cần phải hiểu ngọn nguồn, tức là vừa theo lịch sử của tranh chấp, vừa theo tinh thần của luật pháp quốc tế.
1/ Thời kỳ thứ nhất, thuần túy lịch sử. Cũng cần nói sơ qua vì các yêu sách của phía Khmer hiện nay nghiêng về lịch sử.
Bắt đầu sau khi VN bình định xong Chiêm Thành khoảng đầu thế kỷ 17. Lãnh thổ VN được mở ra về phía nam cho đến Bình Thuận. Từ đó hai dân tộc VN và Khmer trực tiếp đối đầu với nhau. Vào thời điểm này thì đế quốc Khmer đã suy tàn.
Đế quốc Khmer là một đế quốc hùng mạnh, cao điểm là thế kỷ thứ 11. Theo ý kiến các học giả phương Tây thì lãnh thổ đế quốc này trải dài từ bắc Thái Lan, một phần Miến Điện, bao gồm thêm nam Lào cho đến miền Nam VN hiện nay. Đế quốc này suy tàn bắt đầu từ thế kỷ 14. Các đế quốc Xiêm lần lượt mang tên Sukhôthaï, Ayuthia và Bangkok, đã chinh phục hầu như 80% lãnh thổ đế quốc Khmer. Đế quốc Khmer hùng mạnh ngày xưa đã bị đế quốc Thái tiêu diệt gần hết. Dân chúng Khmer sót lại đã chạy đi tản mát, một số trở thành các bộ lạc nhỏ trong rừng sâu, núi thẳm, số còn lại lui về lập đô ở Nam Vang. 2/3 diện tích nước Thái Lan hiện nay vốn ngày xưa thuộc về đế quốc Khmer. Các di tích lịch sử, đền đài của Khmer như Angkor Thom và Angkor Vat, hoàn toàn xóa bỏ trong ký ức của dân Khmer, bị bỏ hoang phế. Chỉ đến giữa thế kỷ thứ 19 thì các phế tích này mới được mọi người biết đến.
Công cuộc nam tiến của VN, cũng như sự bành trướng của đế quốc Thái gặp nhau. Vô hình chung đế quốc Khmer ở Nam Vang trở thành một quốc gia « trái độn » ở giữa hai thế lực mạnh mẽ là Thái và Việt. Việc dằn co hai bên Thái-Việt về Khmer kéo dài khoảng 1 thế kỷ.
Trong khoảng thời gian dằn co này, ta có thể nói rằng VN đã xây dựng và củng cố xong địa bàn của mình ở miền Nam hiện nay. Các tỉnh Biên Hòa, Mỹ Tho được xây dựng dưới thời các chúa Nguyễn, nhờ công lao các cựu trung thần nhà Minh, như Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên. Khu vực Hà Tiên và vùng chung quanh như Châu Đốc, Rạch Giá, Phú Quốc… cũng được xây dựng nhờ công lao của một người Hoa khác, thần phục VN, tên là Mạc Cửu.
Năm 1834 dưới triều Minh Mạng, VN đã áp đặt được quyền lực của mình lên đế quốc Khmer. Nam Vang được gọi là « Trấn Tây Thành », lãnh thổ nước này được phân chia ra thành 32 tỉnh, huyện. Đến năm 1841, được sự trợ giúp của quân Xiêm, dân Khmer ở Nam Vang nổi loạn, quân VN phải rút đi. Nhưng đến năm 1845 phía Khmer lại cầu cứu VN, vì so ra ách cai trị của quân Xiêm còn bạo tàn nhiều hơn VN. Cuối cùng đế quốc Khmer phải chịu thần phục cùng lúc hai nước VN và Thái Lan. Việc này kéo dài cho đến khi đế quốc Pháp vào VN.
Trong khoảng thời gian này thì không có vấn đề gọi là « tranh chấp về biên giới hay lãnh thổ » giữa hai bên Việt và Miên, mà chỉ có hiện tượng gọi là cá lớn nuốt cá bé, xảy ra thường trực ở mọi nơi trên thế giới. Tức là, một dân tộc muốn tồn tại là phải mạnh và không thể để hiện hữu các thế lực đe dọa chung quanh. Ta thấy, ở Châu Á, trường hợp đế quốc Trung Hoa với các dân tộc chung quanh, hay tại Châu Âu, Trung Á, các nước Ả Rập... các đế quốc chinh phục lẫn nhau để mở rộng bờ cõi. Mạnh được yếu thua. Ta thấy biết bao nhiêu đế quốc mạnh mẽ như Roma, Ottoman, các đế quốc thuộc văn minh Nhị Hà (tức là Mésopotamia) thuộc Irak, Iran hiện nay... có lúc cực thịnh, nhưng rồi đều suy tàn. Cá lớn nuốt cá bé. Các việc chinh phục xảy ra thường trực mà không hề dựa trên một phép tắc hay theo một đạo lý nào. Đế quốc Khmer, đến thế kỷ 14 mạnh mẽ biết bao nhiêu. Sau đó thì suy tàn, đến đỗi con cháu họ không biết đến nền văn minh rực rỡ Angkor Vat, Angkor Thom của tổ tiên họ ra sao. Các học giả Tây phương cùng đồng ý rằng, nếu Pháp không kịp thời có mặt tại Đông dương, đế quốc Khmer chắc chắn sẽ bị mất về hai đế quốc Thái lan và VN.
Các học giả Khmer hiện nay lên án rằng VN chiếm đất của tổ tiên họ. Điều này trên quan điểm lịch sử và luật lệ quốc tế thì không thuyết phục. Cũng như VN hiện nay khó mà nại lý do Trung Hoa chiếm đất của tổ tiên mình ở Quảng Đông, Quảng Tây. Cũng như dân Ý bây giờ đâu thể nào đòi lại lãnh thổ trước kia thuộc đế quốc Roma, hay nước Thổ đòi tái dựng lại đế quốc Ottoman. Nếu ai cũng nại lý do như vậy thì thế giới sẽ đảo lộn, biển Địa Trung Hải sẽ trở thành « nội hải » của nước Ý. Nếu chỉ nói trong khu vực, tại Trung Quốc, các tỉnh Mãn Châu, Vân Nam, Tây Tạng, Quảng Đông v.v... trước kia là các quốc gia độc lập. Ai cũng lên tiếng đòi đất, đòi độc lập thì lãnh thổ của Trung quốc sẽ không còn.
Mặt khác, dân Khmer, ảnh hưởng văn minh Ấn Độ, không có quan niệm quốc gia với đường ranh giới rạch ròi, như là quan niệm của văn minh Trung Hoa. Chính người Khmer, khi lục lại lịch sử của họ cũng không tìm thấy một tấm bản đồ nào cho mọi người biết là lãnh thổ của họ đã mở từ đâu đến đâu. Không biết lãnh thổ mình có từ đâu đến đâu thì đòi lại cái gì? và ở chỗ nào?
Quan niệm về quốc gia của dân tộc Khmer chỉ mới có sau khi tiếp xúc với văn minh Tây phương. Và chỉ sau khi tiếp xúc với Pháp, công nhận sự bảo hộ của Pháp, lãnh thổ Khmer mới lần hồi thành hình qua các đợt phân giới và cắm mốc sau này.
Những yêu sách về lãnh thổ của các học giả Khmer khi nại lịch sử là điều không phù hợp công pháp quốc tế, không ai chia sẻ. Kể cả những học giả quốc tế có cảm tình nhất với dân tộc này.
2/ Thời kỳ thứ hai, từ năm 1862 đến năm 1945:
Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước giao các tỉnh miền Nam cho Pháp năm 1862, thì năm 1856 vua Norodom (Nặc Ông Dương) thỉnh cầu được sự bảo hộ của Pháp. Ngày 11 tháng 8 năm 1863 hai bên ký ký hiệp định, vương quốc Khmer, lúc đó gọi là Cambodge, được đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp. Từ đó Pháp đại diện cho vương quốc Khmer trong các lãnh vực đối ngoại và đối nội.
Nhưng nội dung kết ước này vua Norodom không hề nói tới lãnh thổ, biên giới của vương quốc mình có từ đâu tới đâu.
Người lãnh đạo Pháp ở địa phương lúc đó là đô đốc De La Grandière, ông này quyết định phân định biên giới nhằm xác định lãnh vực thuộc quyền quản trị của Pháp. Nhưng sự mù mờ của biên giới, cộng với sự thiếu hiểu biết tình hình địa chính trị của khu vực, ông này đã làm cho phía Thái Lan hưởng lợi.
Biên giới giữa Cambodge với Thái Lan được phân định hấp tấp, Pháp đại diện Khmer ký kết hiệp ước đầu tiên với Xiêm vào ngày 15 tháng 6 năm 1867, Xiêm từ bỏ quyền « thuợng quốc » của Xiêm đối với Khmer, nhưng Pháp phải nhượng cho Thái lãnh thổ Khmer ở hữu ngạn sông Cửu Long, tức ½ lãnh thổ Kampuchia hiện nay, gồm các tỉnh Battambang, Sisophon và Siemreap hiện nay.
Điều này trái ngược trên thực tế, vì trước khi Pháp vào Cambodge, vương quốc này phải chịu thần phục cả hai bên VN và Thái Lan. Lập trường ở Paris, là khi ký hiệp ước 1862 với triều đình nhà Nguyễn, nước Pháp có thẩm quyền thay thế nhà Nguyễn về quyền thượng quốc ở vương quốc Khmer. Kết ước giữa Pháp với vua Norodom chỉ có ý nghĩa tượng trưng chứ không mang tính bó buộc của pháp lý. Tức là có hay không có hiệp ước này thì lãnh thổ Khmer vẫn chịu quyền thuợng quốc, tức quyền bảo hộ, của Pháp. Điều này hoàn toàn phù hợp với « luật lệ quốc tế » trong thời kỳ.
Sự sai lầm về biên giới Thái-Miên được sửa chữa lại vào năm 1893. Các tỉnh của Cambodge nhượng cho Thái trước kia được khôi phục lại.
Biên giới Việt-Miên được phân định qua hai thời kỳ: năm 1870 và năm 1873. Cuộc phân định năm 1870 có sự hiện diện của quan chức Khmer, cắm được 60 mốc, nhưng sau khi phân định xong thì họ lại phản đối. Họ đòi lại vùng gọi là « mỏ vịt », và người Pháp đồng ý vạch lại biên giới, trả lại vùng này cho Cambodge. Cuộc phân định năm 1873 gồm 64 mốc.
Các tài liệu của Pháp về phân định biên giới cho thấy, vừa sau khi cắm mốc xong, phía Cambodge phản đối, các cột mốc vừa cắm liền bị nhổ đi và dời về phía VN.
Năm 1887 khối Đông dương được thành lập, Cambodge trở thành một thành phần của khối này, cùng với Cochinchine (Nam Kỳ), An Nam (Trung Kỳ) và Tonkin (Bắc Kỳ). Lào chỉ được thành lập sau này, do yêu cầu của ông August Pavie, vào năm 1893.
Đường biên giới giữa Cochichine (miền nam) và Cambodge trở thành đường biên giới hành chánh, nội bộ của Đông dương, thuộc thẩm quyền của quan Toàn Quyền người Pháp.
Vùng Darlac thì được sáp nhập và VN năm 1895. Điều này xảy ra do việc trao đổi đất đai: VN nhượng đất Trấn Ninh cho Lào, đồng thời Lào nhường vùng đất phía nam nước này cho Cambodge. Nhưng sau đó, năm 1899 vùng này lại trả về Lào, đến năm 1904 mới chính thức trở lại VN. Năm 1923 vùng Kontum cũng được nhập vào Darlac, đồng thời với vùng đất đỏ phía nam là Buôn Mê Thuộc.
Về lãnh thổ trên biển thì được xác định năm 1939, do nghị quyết của Toàn quyền Brévié. Đó là một đường thẳng 140°, thẳng góc so với bờ biển, theo đó các đảo phía bắc đường này thuộc Cambodge và các đảo phía nam thuộc VN, trong đó bao gồm đảo Phú Quốc.
Đến năm 1939, biên giới trên đất liền hai bên Việt-Khmer được phân định hoàn tất. Biên giới này là biên giới thuộc địa, thuộc nội bộ của nước Pháp, chứ không phải là đường biên giới quốc tế giữa quốc gia với quốc gia.
Các học giả Kampuchia hiện nay, một số theo chủ nghĩa « irrédentisme », tức chủ nghĩa đòi lại đất, cho rằng Pháp đã thiên vị VN lúc phân định biên giới, do đó có khuynh hướng không nhìn nhận đường biên giới này. Chủ quyền đảo Phú Quốc và các đảo chung quanh cũng bị đặt lại. Điều này không phù hợp với các luật lệ cũng như tập quán quốc tế.
Theo nguyên tắc « Uti possidetis » của công pháp quốc tế, áp dụng cho lãnh thổ các nước thuộc địa sau khi lấy lại được nền độc lập. Trong thời kỳ thuộc địa, lãnh thổ đó do bên này quản lý, thì sau khi dành được độc lập, vùng đất đó sẽ tiếp tục do bên này quản lý.
Vì vậy, hầu hết lập luận của các học giả Kampuchia hiện nay, khi lên tiếng đòi lại đất của VN, như đảo Phú Quốc, vùng lãnh thổ gọi là Khmer Krom (tức là vùng đất hiện nay thuộc tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu…), đều không thuyết phục, nếu không nói là trái ngược với luật lệ và tập quán quốc tế.
Thử tưởng tượng, ai cũng có thể đòi lại đất như vậy, thì nước Mỹ, nước Úc, Canada v.v… sẽ biến mất, vì đất đó là của người dân bản địa, chứ không phải của dân da trắng hiện nay. Cũng như nhiều nước Nam Mỹ, các nước Châu Phi… sẽ không còn tồn tại. Nên biết là đường biên giới các nước Phi Châu là do hai đế quốc thực dân Anh và Pháp phân định. Để ý thì thấy là đường biên giới ở đây thường đi theo đường thẳng, đường kinh tuyến, vĩ tuyến… nguyên nhân vì hai bên phân định trong văn phòng, trên bản đồ. Hậu quả của việc phân định như thế làm cho nhiều dân tộc không có quốc gia, hay một dân tộc bị chia cắt ra, mỗi phần ở trên một quốc gia khác nhau. Và ta thấy rằng các đường biên giới đó vẫn còn giá trị pháp lý cho đến hôm nay.
Vì thế đòi hỏi của các học giả Khmer, đi ngược lại tinh thần của quốc tế công pháp. Điều cần nhấn mạnh là các cuộc phân giới, mặc dầu do quan người Pháp điều khiển, nhưng các quan chức người Miên và người Việt đều có hiện diện. Vấn đề là họ không phản đối lúc phân định mà chỉ phản đối khi phân định đã hoàn tất. Sau này ta sẽ thấy, lập luận của Sihanouk về biên giới thay đổi như chong chóng, hết dựa phía này đến dựa phía bên kia.
Năm 1945 khi Nhật đến thì lập tức nhảy sang Nhật. Khi thấy thế lực Trung Cộng nổi lên, Mao Trạch Đông thắng Tưởng Giới Thạch tháng 10 năm 1949, Sihanouk lại có khuynh hướng dựa vào Trung Cộng. Trong thời gian hội nghị Genève 1954, ông này nghĩ rằng sẽ được TQ giúp đỡ lấy lại đất, do đó đưa ra những yêu sách rất phi lý. Trong thời chiến tranh VN, Sihanouk lại thiên về phía CSVN, giúp phe này, hy vọng khi họ chiến thắng sẽ trả lại đất đai. Rồi sau 1975, các phe Kampuchia, kể cả Sihanouk, cũng lại chống VN vì họ cho rằng lãnh đạo CSVN không giữ lời hứa trả lại đất, vì thế cuộc chiến 1978 bùng nổ. Từ đó cho đến nay, vấn đề biên giới, lãnh thổ, hải phận… giữa VN và Kampuchia, lúc nóng, lúc lạnh tùy thuộc vào sự tốt lành quan hệ ngoại giao giữa VN và TQ. Những lúc sau này, tranh chấp giữa VN và TQ căng thẳng vì việc TQ đặt giàn khoan 981 trong thềm lục địa của VN, ta thấy các sư sãi, các chính trị gia Kampuchia lại dấy lên các cuộc biểu tình, đòi lại đất. Những điều này ta sẽ trở lại nói rõ hơn ở phần sau.
3/ Thời kỳ thứ ba, từ 1945 cho đến năm 1954:
Trước khi nói về các diễn tiến liên quan đến biên giới giữa hai bên Việt-Miên trong thời kỳ này, cũng nên nói lại một số chi tiết liên quan đến đất đai, lãnh thổ sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9 tháng ba năm 1945.
Sihanouk đơn phương tuyên bố Cambodge độc lập. Tháng 6 năm 1945 Sihanouk đưa kiến nghị lên lãnh đạo Nhật, xin Nhật trả lại Nam Kỳ cho Cambodge, thay vì trả cho triều đinh Huế. Nên biết, lúc đó Nam Kỳ có qui chế là thuộc địa của Pháp, tương tự các lãnh thổ hải ngoại của Pháp hiện nay như Calédonie, Gyuane hay Réunion. Quan chức Nhật chưa quyết định gì thì thua trận Đại chiến trước Đồng minh.
Pháp vào lại VN, gặp nhiều sự kháng cự của kháng chiến VN, trong khi chính phủ của ông Hồ tuyên bố thành lập nước VNDCCH ngày 2-9-1945 ở miền Bắc. Do những khó khăn này, cùng với thế lực kiệt quệ do đất nước bị tàn phá do Thế chiến II, Chính phủ Pháp quyết định tổ chức các nước Đông dương để trở thành Khối liên hiệp Pháp. Ông Bảo Đại được Pháp đề nghị trả lại lãnh thổ mà nhà Nguyễn đã ký giao cho Pháp trước kia. Điều kiện Bảo Đại là phải trả Nam Kỳ và nước VN là một nước thống nhất ba miền bắc, trung, nam. Pháp đồng ý nguyên tắc này và điều này được lập lại trong Hiệp định Genève 1954. Quốc gia VN được thành lập vào năm 1949, đúng với thể thức quốc tế công pháp. VN cùng với Lào và Combodge, trở thành những « quốc gia liên kết » trong khối Liên hiệp Pháp.
Phái đoàn của Cambodge được gởi qua Paris điều trần ngày 2 tháng 4 năm 1949, mục đích thuyết phục quốc hội Pháp trả lại Nam Kỳ cho Cambodge. Lý lẽ của phái đoàn Cambodge là lúc ký hiệp định bảo hộ với Pháp năm 1863, nội dung kết ước không nói đến số phận của Nam Kỳ, là vì vương quốc này nhường đất này cho Pháp sử dụng. Bây giờ Pháp không cần đến lãnh thổ này nữa, hợp lý là phải trả lại cho Cambodge chớ không thể trả cho triều đình Huế.
Lý lẽ này không thuyết phục được chính giới Pháp vì lẽ, các tỉnh Nam Kỳ là do triều đình Huế nhượng cho Pháp theo các hiệp ước 1862 và 1874. Trong khi hiệp định 1863 giữa Pháp và Miên thì không hề có một điều bảo lưu nào về lãnh thổ.
Quốc hội bác yêu sách này với đa số. Nhưng yêu sách về lãnh thổ của Cambodge thì được một số dân biểu cách tả của quốc hội Pháp ủng hộ.
Thấy đòi nguyên cả Nam Kỳ không xong, ngày 2-5-1949 Quốc hội Cambodge cho ra một kiến nghị yêu cầu nhà nước Pháp phân định lại biên giới. Những người này cho rằng biên giới giữa Nam Kỳ và Miên chưa bao giờ được phân định. Các cuộc phân định trước hoàn toàn mang tính cách thiên vị, gây thiệt hại cho Cambodge. Kiến nghị này cũng bị quốc hội Pháp bác bỏ.
Do căm hận Pháp đã không thỏa mãn các yêu sách của mình, Sihanouk có khuynh hướng nghiêng về Trung Cộng, là một thế lực đang lên, đứng sau chính phủ Hồ Chí Minh, đối đầu với Pháp trong vấn đề VN. Ông này nghĩ rằng TQ sẽ dùng chính phủ của ông chống lại Pháp ở mặt trận phía tây. Vì thế trong hội nghị Genève 1954, Sihanouk công bố trước các đại cường yêu sách về lãnh thổ của Cambodge. Sihanouk đề nghị 6 giải pháp, hết sức là cường điệu, có nội dung dẫn lại sơ lược như sau:
Sihanouk đòi, hoặc trả lại cho Cambodge toàn vùng đất phía hữu ngạn sông Hậu Giang, bao gồm thêm các tỉnh Trà Vinh, đảo Phú Quốc và vùng đất giới hạn giữa kinh Tân Châu và sông Tiến Giang đồng thời tàu bè Cambodge có quyền quá cảnh ở Sài Gòn.
Hoặc là trả lại các vùng lãnh thổ trải dài cho tới hữu ngạn sông Tiền Giang, gồm các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc và đảo Phú Quốc, quyền được quá cảnh ở Sài Gòn đồng thời dân Khmer phai được bảo vệ.
Hoặc phải « quốc tế hóa Nam Kỳ », kinh Vĩnh Tế và hải cảng Sài Gòn có qui chế tự do, bãi miễn thuế quan. Còn không là phải đặt Nam Kỳ và đảo Phú Quốc dưới sự quản trị của LHQ.
Các đòi hỏi phi lý này không được nước nào ủng hộ. Sự bẽ bàng của Sihanouk càng lên cao trong hội nghị Genève tháng 8 năm 1954 giữa Pháp và các nước Đông dương. Yêu sách của Sihanouk dĩ nhiên không được ngó ngàng đến. Tuy vậy, kết cuộc hội nghị nhìn nhận Cambodge được quyền thông lưu trên sông Cửu Long để ra biển cũng như được quyền sử dụng thuơng cảng Sài Gòn. Nhưng các điều này bị VN bảo lưu, lý do cần xem xét lại luật lệ quốc tế để xem rằng Cambodge có chính đáng được hưởng các quyền này hay không? Cuối cùng thì các quyền này của Cambodge bị VN bác bỏ dưới thời ông Diệm.
4/ Thời kỳ thứ tư, từ 1954 đến 1975.
Sau thất bại ở hội nghị Genève 1954, Sihanouk nuôi dưỡng ý định trả thù. Ông này dung dưỡng mọi thế lực chống lại chính phủ Bảo Đại, sau này là Ngô Đình Diệm.
Một số thí dụ, các lực lượng tôn giáo chống ông Diệm được Sihanouk cho phép lập sào huyệt trên đất Miên. Vì vậy để tảo thanh, quân VNCH buộc phải đi vào đất của Cambodge. Các xung đột này bắt đầu từ năm 1955. Dĩ nhiên, Sihanouk lợi dụng các việc này vừa tố cáo VN, trong khi trên thực địa thì cho người dời cột mốc phân giới sang phía VN. Để trả đũa, ông Diệm tuyên bố hủy bỏ mọi « quyền lịch sử » của Cambodge trên lãnh thổ VN.
Đến năm 1960 thì lực lượng MTGPMN được thành lập. Tổ chức này cũng xây dựng sào huyệt trên lãnh thổ Cambodge, dĩ nhiên dưới sự đồng ý ám thị của Sihanouk. Theo một số tài liệu, phía VNDCCH « nhìn nhận đường biên giới hiện trạng của Cambodge », trong khi MTGPMN, cũng như nhiều cán bộ cấp cao của CSVN, thì hứa hẹn, nếu thắng được VNCH thì sẽ trả lại đảo Phú Quốc cho Cambodge.
Vì các hứa hẹn này các đường mòn gọi là đường mòn HCM được Sihanouk đồng ý cho thiết lập. Con đường huyết mạch tiếp tế lương thực và vũ khí cho quân MTGPMN cũng như quân chính qui miền Bắc sau này.
Quan hệ giữa Sihanouk và VNDCCH thân thiết đến mức độ vào tháng 8 năm 1963, Cambodge tuyên bố chấm dứt ngoại giao với VNCH.
Sau khi ông Diệm bị đảo chánh 1-11-1963, quan hệ hai bên VNCH và Cambodge vẫn không ấm áp trở lại, mà còn tệ hai hơn. Nguyên nhân, người Mỹ chính thức đổ quân vào VN, các cuộc hành quân, càn quét, dội bom trên đất Kampuchia nhằm phá hoại đường mòn HCM… các việc này gây ra những thiệt hại đáng tiếc cho phía thường dân Kampuchia. Tháng 7 năm 1965, Sihanouk kiện VNCH lên LHQ về việc xâm phạm lãnh thổ. LHQ có điều tra nhưng chỉ kết luận rằng VNCH có vào lãnh thổ Cambodge sau đó rút về, vì lý do bên Cambodge có dung chứa các lực lượng đối kháng, chứ VNCH không có xâm chiếm lãnh thổ của Cambodge.
Không hài lòng kết quả điều tra của LHQ, Sihanouk lên tiếng kêu gọi quốc tế ủng hộ Cambodge, nhìn nhận « đường biên giới hiện trạng » của nước này. Một số nước ủng hộ, trong đó có Pháp. Điều này có thể hiểu vì Pháp vẫn còn cay đắng Mỹ trong việc dành chỗ của Pháp tại Đông Dương, không giúp Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Năm 1966 Pháp ủng hộ Cambodge « trung lập ». Nhưng việc này không thuyết phục được ai vì tên đất Kampuchia vẫn còn nguyên các sào huyệt của MTGPMN cũng như các con đường tiếp tế gọi là đường mòn HCM.
Cuối cùng thì Sihanouk bị tướng Lon Nol lật đổ năm 1970.
Sau khi lên nắm quyền, Lon Nol yêu cầu tất cả các lực lượng của CSVN rút khỏi Kampuchia. Cũng như bất kỳ một người Cambodge nào khác, Lon Nol cũng rất bài Việt. Trong lúc cuộc đảo chánh, các cuộc thảm sát thường dân VN đã diễn ra, thây người thả đầy trên sông Cửu Long. Một số lớn người Việt phải hồi hương. Việc này càng tạo thêm gánh nặng và sự bất ổn trong xã hội miền Nam.
Lực lượng Khmer đỏ được thành lập dưới sự yễm trợ và huấn luyện của CSVN. Trên thực tế, vùng phía bắc lãnh thổ Kampuchia hoàn toàn do quân đội CSVN kiểm soát. Nhưng trong nội bộ của Khmer đỏ lại có nhánh có tinh thần bài Việt cực kỳ. Vì thế họ ly khai. Những nhóm này cũng giết chóc và khủng bố đồng thời trục xuất người Việt, như những lãnh đạo khác của Kampuchia.
Tóm lại, thời kỳ này đường biên giới, cũng như kiều dân VN sống trên đất Kampuchia, trở thành con tin bị các phía Kampuchia trao đổi quyền lợi chính trị. Trong thời chiến, vấn đề biên giới không kiểm soát được, nhưng dân chúng VN là nạn nhân trực tiếp của các tranh chấp này. Con số nạn nhân VN bị giết phải nói là rất lớn.
5/ Thời kỳ thứ năm từ 1975 đến hôm nay.
Từ năm 1975 cho đến 1990, ta có thể nói rằng khu vực Đông dương vừa là một chiến trường, vừa là một bàn cờ địa chiến lược của các thế lực quốc tế, gồm có các nước liên hệ trong khu vực và các đại cường Trung Cộng, Liên Xô và dĩ nhiên là Mỹ. Vấn đề biên giới, Cambodge không chỉ có tranh chấp với VN mà còn có tranh chấp với Thái Lan về chủ quyền ngôi đền Préah Viheart cũng như ranh giới ngoài biển, từ sau khi lấy lại độc lập năm 1953. Trong thời gian này vấn đề biên giới giữa các bên không chính thức đặt ra, mặc dầu nó luôn là cái cớ để chiến tranh bùng nổ. Nhất là đối với hai nước Việt-Miên.
Sau khi quân Pol Pot tiến vào Nam Vang, cũng như quân miền Bắc chiếm Sài Gòn. Tháng 6 năm 1975, một phái đoàn của Khmer đỏ gởi đến Hà Nội để nhắc lại những cam kết của CSVN: « nhìn nhận đường biên giới hiện trạng của Cambodge » trong thập niên 60 về vấn đề lãnh thổ của Kampuchia. Những người này, theo dự kiến là sẽ ký kết ước với Hà Nội để bảo đảm sự « toàn vẹn lãnh thổ » của hai nước. Nhưng nhóm Khmer đỏ thân TQ trong phái đoàn bất đồng ý kiến với nhóm thân Hà Nội. Phe thân Bắc Kinh lên tiếng đòi VN trả lại cho họ vùng lãnh thổ gọi là « Khmer Krom ». Điều nên biết, chiến thắng ngày 30-4-1975 của CS miền Bắc đã làm cho lãnh đạo Bắc Kinh tức tối. Chủ trương của TQ từ xưa nay là chống lại VN thống nhất, cũng như chống lại việc VN quá thân thiện hay lệ thuộc vào Liên Xô. Phía bắc, áp lực của Liên Xô đã trầm trọng, quân Liên Xô đóng dài dài trên biên giới gây áp lực. Biển Hoa Đông thì bị Nhật, Đài Loan án ngữ. Biển Đông thì hạm đội Liên Xô đã có mặt tại Cam Ranh. Nếu Kampuchia hòa hoãn hay thân thiện với VN thì TQ sẽ không có cách gì để phá vỡ thế cô lập. Mặt khác, quyền lợi của Mỹ cũng bị đe dọa, các nước chung quanh như Thái Lan, Mã Lai v.v... sẽ sụp đổ, theo như thuyết Domino của Mỹ. Vì vậy Bắc Kinh, cũng như Mỹ, chắc chắn phải tìm cách đẩy hai bên VN và Kampuchia vào thế đối đầu.
Vì thế, cả hai đại cường, Mỹ và TQ, một tư bản, một cộng sản, do cùng mục tiêu ngăn chặn Liên Xô bành trướng, lại hợp tác với nhau, ra mặt ủng hộ Pol Pot chống lại VN. Dĩ nhiên, nguyên nhân bên ngoài là tranh chấp đất đai, nhưng bên trong là sự tranh giành ảnh hưởng địa chiến lược trong khu vực của các đại cường. Vì vậy, như đã nói, lãnh thổ trong quảng thời gian này là cái cớ để chiến tranh bùng nổ.
Để kích thích VN vào vòng chiến, trong lúc phái đoàn Khmer đỏ còn ở Hà Nội thì quân Khmer đỏ đã đánh chiếm cù lao Poulo Wai trong vịnh Thái Lan. Dọc biên giới thì quân Khmer đỏ đã sẵn sàng dàn quân ứng chiến. Như thường lệ, những người dân VN sinh sống ở Kampuchia lại trở thành nạn nhân. Trên 150.000 người bị ngược đãi, trục xuất về VN. Con số bị giết không biết là bao nhiêu, nhưng chắc chắn không nhỏ. Tháng 6 năm 1976, VN gởi sứ giả sang Nam Vang hy vọng làm dịu tình hình, nhưng phía Khmer đỏ đòi phải phân định lại biên giới, thay đổi đường biên giới theo các bản đồ của Sở địa dư Đông dương ấn hành năm 1954, trong khi phía VN thì nhìn nhận đường biên giới hiện trạng là đường biên giới thể hiện trên bộ bản đồ này. Mặt khác, hai bên cũng không đồng thuận về biên giới trên biển.
Phía Khmer đỏ gia tăng khiêu khích, từ năm 1975 đến 1978, bọn này đã tiến sang VN đánh phá và tàn sát dân chúng ở 25 huyện và 96 xã, gây ra trên 257.000 nạn nhân màn trời chiếu đất. Trong năm 1977, Pol Pot cho quân lính tiến sang Tây Ninh tàn sát dân chúng sinh sống ở đây, nhưng sự phản ứng của quân VN, do thiện chiến hơn, đã làm cho quân Khmer thiệt hại nặng. Và cũng để trả đũa những vụ tàn sát dân lành vô tội sinh sống các tỉnh dọc biên giới, tháng 12 năm 1977, VN mở một cuộc hành quân thần tốc vào tỉnh Svay Rieng khiến quân Khmer đỏ thiệt hại nặng nề. Cuối năm, Pol Pot tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với VN.
Chiến tranh Việt-Miên bùng nổ. Dưới sự quan sát của các học giả quốc tế, cuộc chiến này là một cuộc chiến « ủy nhiệm ». Pol Pot đánh VN là đánh cho Trung quốc. Còn VN đánh là đánh cho Liên Xô.
Tháng 12 năm 1978, quân VN tiến vào Nam Vang, đánh đuổi Pol Pot và thành lập chính phủ thân VN ở đây. Cùng với chính phủ này, VN đã ký kết các hiệp định « các nguyên tắc giải quyết các vấn đề biên giới ». Trên đất liền ký năm 1982, trên biển ký năm 1983.
Trả lời phỏng vấn báo chí, Nguyễn Cơ Thạch cho rằng VN tôn trọng đường biên giới hiện trạng theo bộ bản đồ Đông dương 1/100.000. Nhưng Sihanouk, năm 1984, tố cáo trước dư luận, qua thủ tướng Thái Lan, rằng VN đã chiếm vùng « mỏ vịt », tức là tỉnh Svay Rieng.
Về biên giới trên biển, theo nội dung các văn bản tham khảo được thì hai bên cùng đồng ý "lấy đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia các đảo trong khu vực này", hai bên đồng thuận về « vùng nước lịch sử » trong khu vực đảo Phú Quốc và "sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp… để hoạch định đường biên giới biển giữa hai nước".
Đảo Wai được VN trả lại cho Kampuchia.
Tháng 12 năm 1985 hai bên ký lại « Hiệp ước hoạch định biên giới ». Ngày 10-10-2005 ký thêm « Hiệp ước bổ sung » về biên giới. Hai bên bắt đầu cắm mốc từ năm 2006. Ta thấy tỉnh Svay Riêng, tức vùng Mỏ vịt, vẫn thuộc lãnh thổ của Kampuchia. Tức là lời tố cáo của Sihanouk là không đúng.
Điều nên biết, sau khi quân Pol Pot vào Nam Vang thành lập chính quyền thì Sihanouk được mời về làm quốc trưởng. Nhưng liền sau đó thì bị bạc đãi, tính mạng bị đe dọa. Bắc Kinh tìm cách can thiệp và đưa ông này đi Trung Quốc. Ở Bắc Kinh Sihanouk được đối đãi như là một thuợng khách. Bởi vì lãnh đạo Trung Nam Hải biết được giá trị ở con cờ Sihanouk. Ông vua này có thể làm bất cứ điều gì để chống lại VN. Cũng vì lý do này mà đất nước Kampuchia điêu linh, thần dân của ông bị nhà nước Khmer đỏ tiêu diệt gần 1/3, trong đó có họ hàng thân thích của ông. Điều trớ trêu là nhà nước này do TQ dựng lên, lúc đó ông là một thành phần của nhà nước này.
Tuy vậy, hiện nay TQ vẫn là một đồng minh được ưa chuộng tại Kampuchia. Người Việt ở đây bị kỳ thị bao nhiêu thì người Hoa được ưu đãi bấy nhiêu. Toàn thể huyết mạch kinh tế TQ hiện nay là do 10 giòng họ người Hoa nắm giữ. Liên minh Trung Hoa – Khmer hứa hẹn sẽ bền chặt lâu dài mà chất keo hàn gắn hai bên là tinh thần bài Việt. Vấn đề lãnh thổ luôn được các bên sử dụng như là một cái cớ để khích động dân chúng để chống đối VN.
6/ Yếu tố Trung Quốc.
Như đã nói ở trên, sau 1975, lãnh thổ chỉ là cái cớ để TQ kích động khiến Khmer đỏ gây hấn VN. Thì bây giờ cũng vậy, vấn đề lãnh thổ cũng là cái cớ để TQ khích động tinh thần bài Việt trong dân chúng Kampuchia trong thời gian gần đây.
Vấn đề là biên giới trên đất liền đã được hai bên ký hiệp định và các mốc giới vừa được cắm xong. Hai bên đều thỏa mãn với yêu sách của mình, vì việc phân giới được thực hiện trên tinh thần bình đẳng, không ai ép ai. Do đó sử dụng lãnh thổ vùng biên giới để kích động đã không còn hữu hiệu. Những người Kampuchia hiện nay lên tiếng chống VN thuộc phe Sam Rainsy, một người theo dân tộc chủ nghĩa, rất thân TQ. Lá cờ đầu để những người này trương lên chống VN trước kia là các cột mốc biên giới, nay đổi lại là vùng Khmer Krom và những người dân bản địa sống ở đó.
Nhưng việc khích động người dân như thế không dễ dàng, nếu không có một cái cớ chính đáng nào đó. Điều này lại do nhà cầm quyền CSVN tạo ra. Đó là chính sách hà khắc của nhà cầm quyền này lên những người dân của họ. Điều này không làm ai ngạc nhiên, vì chính đồng bào ruột thịt của họ là dân miền Nam cũng bị phân biệt đối xử. Những người dân bản địa (mà nhiều người hiện nay gọi là người Việt gốc Miên) bị truất hữu ruộng đất, và đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân khiến người dân ở đây chống nhà cầm quyền VN.
Nếu ta xét lại những đòi hỏi của những người tổ chức biểu tình chống VN ở Nam Vang thì ta thấy nó không rõ ràng, đôi khi mâu thuẩn. Những yêu sách của họ như buộc VN phải « nhìn nhận sự thật lịch sử », hay nhìn nhận « VN chiếm đất của Kampuchia » đều có vẻ không thực tế.
Vấn đề là họ đã lầm lẫn giữa quyền sở hữu đất đai của những người dân bản địa bị nhà nước CSVN truất bỏ, với chủ quyền về lãnh thổ.
VN có chủ quyền về lãnh thổ ở các khu vực mà dân Khmer gọi là Khmer Krom, điều này đã được củng cố bởi thời gian hàng nhiều thế kỷ qua, cũng như được bảo đảm bởi luật lệ quốc tế. Ý nghĩa của từ chủ quyền ở đây là « quyền lực chủ tể » trên vùng lãnh thổ đó chứ không phải là « quyền làm chủ », hay quyền sở hữu vùng lãnh thổ đó như nhiều người đã hiểu lầm. Quyền lực chủ tể có thể ban phát quyền sở hữu về đất đai, nhưng cũng có thể truất hữu, hay bãi bỏ quyền đó. Vấn đề là nhà nước CSVN lạm dụng « quyền chủ tể » này, truất hữu hàng loạt ruộng đồng, nhà cửa, không chỉ của dân bản địa, mà của nhân dân trên khắp ba miền đất nước, gây sự bất mãn cùng cực nơi mọi tầng lớp người dân. Cán bộ CS lạm dụng quyền chức, lấy đất của người thấp cổ bé miệng giao cho những thế lực tài phiệt nhằm trục lợi. Các điều này tạo ra những bất công, làm cho sự thù hận của người dân ngun ngút đến trời cao.
Vì vậy, do nhập nhằng về khái niệm, những người dân bản địa phẫn uất đã bỏ VN sang sinh sống ở Kampuchia. Tại đây họ được các thế lực bài Việt kích động, trở lại chống VN. Điều cần nhấn mạnh: họ là người VN, sinh đẻ tại VN, tổ tiên của họ đã ở trên vùng đất đó từ lâu đời. Điều ngạc nhiên là đến bây giờ những người này vẫn bị xem là « người Việt gốc Miên ». Tức là chính sách phân biệt giai cấp của CSVN đã đổi màu để biến thành chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
Trên đất Kampuchia, mặc dầu họ có chung nguồn gốc xa xôi, nhưng họ vẫn là người VN. Để tạo sự tin tưởng nơi người Kampuchia chính gốc, những người dân Việt ly hương này chống VN còn cực đoan hơn những người dân Kampuchia chính gốc. Đây là một hiện tượng tâm lý, dễ bị người khác lợi dụng.
Điều đáng lo ngại là TQ có thể sử dụng lớp người bất mãn này, nuôi dưỡng họ, huấn luyện họ. Trong khi kinh tế Kampuchia lại có khuynh hướng phát triển hơn VN. Việc này càng tạo cho Kampuchia một sức hút khiến người Việt đổ xô về đây tìm cách sinh sống. Tất cả các yếu tố này đều nguy hiểm cho VN. Ta không thể bỏ qua viễn tượng, một ngày nào đó, chính những người Việt này được TQ vũ trang để trở về chống lại VN.
Lúc đó, một VN yếu, kinh tế kém phát triển, kéo theo sự yếu kém về quân sự, có thể dễ dàng bị lệ thuộc vào nước ngoài.
7/ Giải pháp nào?
Như đã nói, vấn đề bài Việt ở những người dân bản địa VN, vấn đề đòi lại đất, là do từ chính sách hà khắc của nhà nước CSVN. Chủ trương « sở hữu tập thể về đất đai » thực ra là để tạo một nguồn kinh tài cho đảng CSVN. Ở VN hiện hữu cái gọi là « quĩ đất ». Lãnh đạo có thể sử dụng đất từ các « quĩ » này như là một nguồn tài chánh, tương tự như các mỏ dầu khí, đưa vào ngân sách quốc gia để chi phí điều hành. Việc lạm dụng đã tạo ra tại VN một tầng lớp dân oan, những người trắng tay vì đất đai bị truất hữu. Việc truất hữu phần nhiều không minh bạch, vì mục đích của nó không nhằm phục vụ cho quyền lợi của số đông mà chỉ cho một vài cá nhân, tài phiệt. Những người dân oan này phần nhiều là những người dân tộc thiểu số vùng tây bắc, trên tây nguyên, hay ở miền Nam.
Trong khi việc tạo « quĩ đất » không hề thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngược lại, tệ nạn đầu cơ về nhà đất đã tạo ra những bong bóng tài chính đe dọa sự hiện hữu cũng như các hoạt động chủ yếu của ngân hàng. Nền kinh tế VN có nguy cơ sụp đổ.
Khi đã biết được nguyên nhân thì biện pháp chế ngự hệ quả không phải là việc khó khăn. Đối với những người dân bản địa ở miền Nam, để họ không bỏ nước sang Kampuchia lập tổ chức chống đối, điều nhà nước cần phải làm là cho những người đó thấy là sống ở VN sung sướng, thoải mái hơn là sống ở Kampuchia. Việc này không chỉ áp dụng cho những người dân bản địa, mà cho chung mọi người dân VN. Tức là kinh tế VN phải phát triển hơn Kampuchia. Chế độ VN nhân bản, tình người hơn chế độ Kampuchia. Tức là, chỉ còn cách duy nhất là thay đổi thế chế chính trị: dân chủ hóa chế độ. Chỉ dưới một chế độ dân chủ VN mới có thể phát triền lành mạnh.
Tiếp theo là trả lại cho người dân những gì đã là của họ. Những gì của tổ tiên họ đã tạo ra, đã là của họ, thì phải trả lại cho họ. Trả ở đây là trả quyền sở hữu đất đai chứ không phải từ bỏ « chủ quyền lãnh thổ ». Kế đến là xây dựng một chính sách « hòa giải dân tộc ». Làm thế nào cho mọi người dân thấy rằng họ được tôn trọng. Tôn trọng về nhân vị là tôn trọng văn hóa, tôn giáo, lịch sử, lề lối sinh hoạt… của người dân đó.
Sẽ không có biện pháp nào khác. Mọi đàn áp, trừng trị tù tội hôm nay sẽ không dẹp được ngọn lửa căm hờn, mà chỉ làm cho áp lực ngày càng tăng thêm. Một khi nhà nước yếu đi, vì lý do kinh tế thí dụ vậy, thì ngọn lửa này sẽ bùng cháy mãnh liệt. Nếu được sự tiếp tay của ngoại bang, thì VN sẽ không có cách nào trấn áp được. Lãnh thổ bị phân liệt là điều sẽ đến.
Trương Nhân Tuấn
(Dân Luận)

Tin mật báo: Tập Cận Bình hạ lệnh bắt 8 tay chân thân tín của Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu

Ngày 2 tháng 11, tạp chí <Tài Chính> đại lục dẫn lời một nguồn thông tin đáng tin cậy của một nhân sĩ xác nhận, ủy ban kiểm tra kỷ luật Trung ương, chủ nhiệm phòng giám sát kiểm tra kỷ luật lần thứ tư – Nhậm Ngụy Kiện, đã tham gia điều tra vụ án tham nhũng hàng loạt trong thời gian tại vị của Chu Vĩnh Khang ở Tứ Xuyên mật báo (Nguồn: Getty Images)
Cựu phó chủ tịch ủy ban quân sự Trung Cộng – Từ Tài Hậu sau khi bị rớt ngựa, Tập Cận Bình cử hành “Hội nghị Tân Cổ Điền”; yêu cầu quân đội nghiêm túc thanh trừ toàn diện di độc của Từ Tài Hâu; sau sự kiện này bên ngoài liên tục chú ý vào động thái của quân đội. Ngày 17 tháng 11 giờ Bắc Kinh, nhiều kênh truyền thông hải ngoại tiết lộ, trong thời gian Tập Cận Bình đến Úc tham dự hội nghị thượng đỉnh G20, ủy ban kiểm tra kỷ luật Trung Cộng cùng lúc nhận được lệnh hành động, ít nhất 8 thiếu tướng đã bị bắt, trong đó đại bộ phận là thân tín của Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu.
(Chú thích : Hội nghị Cổ Điền là để chỉ năm 1929, Hồng quân công nông quân đội ĐCSTQ triệu tập hội nghị lần thứ 9 toàn quân đội tại thị trấn Cổ Điền, huyện Thượng Hàng, tỉnh Phúc Kiến. Đây là hội nghị quan trọng của ĐCSTQ.) – nguồn wiki
Trang tin mạng Boxun của hải ngoại đưa tin; chiến dịch kiểm tra kỷ luật quân sự lần này là chiểu theo chỉ lệnh của chủ tịch Tập Cận Bình, thống nhất triển khai hành động. Những tướng lĩnh bị rớt ngựa lần này, đa số là có quan hệ với hai ông trùm lớn của ủy ban quân sự trước đây là Quách bá Hùng, Từ Tài Hậu; cho đến ủy viên quân ủy trung ương Lý Kế Nại. Lý từng nhậm chức chủ nhiệm tổng cục chính trị, tổng bộ trưởng thiết bị vũ trang, là thân tín của Từ. Tin tức chỉ ra rằng làn sóng bắt quan tham này không những chủ yếu nhắm vào tổng cục chính trị, tổng cục hậu cần và quân khu tỉnh đương địa, mà điều tra chống tham nhũng trong quân đội đã đi sâu vào các quân binh, các quân khu lớn.
Đại thanh trừ trong quân đội – Tin mật báo nhiều thân tín của Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu bị điều tra
Nhật báo Đông Phương của Hồng Kông trích dẫn  tin truyền thông hải ngoại, một nhân sĩ cho hay, chính quyền đương cục đã đi sâu điều tra vào các loại binh chủng trong quân đội Trung Cộng, các quân khu, các ban ngành chính trị trong quân đội. Phó chủ tích ủy ban quân sự trước đây của ĐCSTQ là Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu  cho đến các thân tín của ủy viên quân ủy Lý Kế Nại, gần đây vì liên quan đến tham nhũng mà bị lập án điều tra. Nghe nói có thông tin truyền rằng, trong đó có chiến hữu của quân khu Bắc kinh, đoàn trưởng ca vũ đoàn Lưu Bân, tư lệnh trước đây của quân khu tỉnh Hồ Bắc Uyển Thế Quân, tư lệnh quân khu tỉnh Hắc Long Giang  Khẩu Thiết, bộ trưởng hậu cần quân khu Thẩm Dương Vương Ái Quốc .v.v..
Thật trùng hợp, tin mạng Boxun tại hải ngoại cũng có tin tức nói rằng: Lưu Bân bị ủy ban kiểm tra kỷ luật quân sự bắt đi vào ngày 13 tháng 11. Được biết, vấn đề của Lưu là có liên quan đến Từ Tài Hậu và Thang Xán. Cho đến các vấn đề của cuộc sống sinh hoạt hũ bại của y. Ngày 16 tháng 11, phó chủ tích quân ủy Trung Ương Hứa Kỳ Lượng tại hội nghị công tác văn nghệ trong quân đội, từng cảnh cáo những người công tác văn nghệ quân đội cần phản tỉnh sâu sắc vấn đề của tự thân, và chỉ rõ đối tượng cụ thể là Lưu Bân .v.v…và các loại người như vậy.
Báo cáo trích dẫn thông tin của một nhân sĩ thân tín với phòng tổng cục quân ủy tiết lộ, những con hổ lớn trong quân đội bị rớt ngựa này, bao gồm phó ủy viên chính trị hải quân thiếu Tướng Mã Phát Tường – người nhảy lầu tự sát tại tổng bộ hải quân vào tuần trước. Giới chức bên ngoài loan truyền rằng Mã đã nhảy lầu vào ngày 14, nhưng tin tức chứng minh là vào trưa ngày 13 tháng 11, sau cuộc nói chuyện của ủy ban kiểm tra kỷ luật quân sự Trung Ương đã thông báo trước với Mã;  lần theo dấu vết của y được biết Mã đã nhảy lầu tự sát từ tầng thứ 15 mà chết.
Theo báo cáo, người thứ 3 bị bắt là phó bộ trưởng tổng cục hậu cần Lưu Tranh. Ông ta không những bị bắt đi, mà còn bị ủy ban kỷ luật quân đội tịch thu tài sản, từ trong nhà đem đi không ít vật chứng nghi ngờ có liên quan đến tham nhũng. Tin tức chỉ ra rằng ông ta đã phụ trách thu mua trang thiết bị truyền thông của tổng cục hậu cần một thời gian dài, mà trong quá trình thăng tiến còn có liên quan đến việc mua quan bán chức với phó chủ tịch quân ủy tiền nhiệm Từ Tài Hậu. Đương thời, Từ được bổ nhiệm làm quản lý cả hai ngành tổng cục chính trị và tổng cục hậu cần.
Người thứ tư bị bắt là bộ trưởng tổng cục bảo an chính trị Vu Thiện Quân. Người thứ năm là phó ủy viên chính trị quân khu tỉnh Cát Lâm, Tống Ngọc Văn.
Ba vị tướng lĩnh về hưu của Trung Cộng cũng bị bắt giữ
Bên cạnh đó, theo tin tức Boxun cho biết: những người bị quân ủy ban kỷ luật điều tra bắt đi còn có ba tướng đã nghỉ hưu: 1 là nguyên tư lệnh quân khu tỉnh Hắc Long Giang Khấu Thiết, 2 là nguyên tư lệnh quân khu tỉnh Hồ Bắc Uyển Thế Quân, 3 là bộ trưởng hậu cần quân khu Thẩm Dương, thiếu tướng Vương Ái Quốc.
Khấu Thiết 64 tuổi xuất thân từ quân dã chiến, nhiều lần đảm nhiệm chức vụ phó đội trưởng sư đoàn cơ giới hóa của quân đoàn 40, đội trưởng sư đoàn bộ binh cơ giới,  sư trưởng sư đoàn xe tăng số 5 của đội quân 40, trưởng tham mưu đội quân 40, phó quân trưởng, quân trưởng quân đoàn 23 và tư lênh quân khu tỉnh Hắc Long Giang. Quân đoàn 40 và quân đoàn 23 đều thuộc về quân khu Thẩm Dương, vốn nằm trong phạm vi thế lực của Từ Tài Hậu.
(chú thích: sư đoàn Cơ giới hóa là lấy bộ binh không trang bị vũ trang phòng hộ làm chủ thể trong bộ đội, thông thường có năng lực di chuyển nhất định và áp chế hỏa lực.)
Uyển Thế Quân 65 tuổi cũng là xuất thân từ quân dã chiến, từng đảm nhiệm Sư trưởng sư đoàn 121 thuộc quận đoàn 41, là phó tư lệnh đầu tiên của bộ đội đóng quân tại Hồng Kông (trước khi trao trả cho Trung Quốc), không có kinh nghiệm đóng quân; sau khi trở về từ Hồng Kông, ông ta đã được điều đến bổ nhiệm làm tư lệnh quân khu tỉnh Quảng Đông, năm 1997 thăng chức làm thiếu tướng, năm 2010 làm đến chức tư lệnh quân khu tỉnh Hồ bắc thì về hưu.
Vương Ái Quốc một thời gian dài nhậm chức tai quân đoàn dã chiến quân khu Thẩm Dương, năm 2007 được thăng chức làm thiếu tướng. Vương giành được đánh giá cao của Từ Tài Hậu, người sau đó đã nâng đỡ ông ta lên chức bộ trưởng hậu cần, đến năm 2011 thì về hưu. Điều bất ngờ là cuối cùng ông vẫn chưa được hạ cánh an toàn, vẫn phải đối mặt với kết cục bị điều tra xử lý.
NTD Television
(Đại Kỷ Nguyên)

Hàng vạn người dân và hàng ngàn cảnh sát xảy ra kịch chiến ở tỉnh Hải Nam, Trung Quốc


Hàng vạn người dân thôn làng tỉnh Hải Nam cùng với hơn 1000 cảnh sát xảy ra cuộc chiến kịch liệt, hơn 10 chiếc xe cảnh sát bị phá hủy.
[Phóng viên Cố Hiểu Hoa đưa tin] Ngày 18 tháng 11, hơn vạn người dân thị trấn Tam Giang thành phố Hải Khẩu tỉnh Hải Nam Trung Quốc, đình công, bãi khóa, kháng nghị phản đối chính quyền tại thị trấn xây dựng bệnh viện Phong cùi, bệnh viện AIDS, nhà hỏa táng hợp nhất làm một thể với khu vườn giải trí.
Chính quyền đương cục điều động hơn ngàn cảnh sát, cảnh sát đặc nhiệm, cảnh sát phòng chống bạo lực, cảnh sát vũ trang biên phòng, và các nhân viên quản lý nội thành tiến hành trấn áp. Cả hai bên nổ ra cuộc xung đột kịch liệt, bên phía cảnh sát triển khai chiến đấu với khí ga, cùng lúc còn sử dụng đạn cao su bắn trúng đầu 1 người đàn ông, người đàn ông này vẫn chưa biết sống chết ra sao. Dân làng lật đổ đập vỡ hơn 10 chiếc xe cảnh sát, xe công vụ. Hàng chục dân làng bị thương.
Phóng viên hết thời hạn gửi báo cáo, tiếp tục có hàng ngàn dân làng tập trung kháng nghị phản đối chính quyền thị trấn đương địa, có tin nói rằng chính quyền đương cục tiếp tục điều động một lượng lớn cảnh sát, đồng thời thông báo phát lệnh bắt giữ người dân làng tham gia đập phá xe.
Từ ngày 14 tháng 11 trở đi, hàng trăm người dân thôn làng địa phương đến công trình thôn Nam Đầu ngăn chặn thi công, bị hàng trăm bảo an khu vực đánh chặn, nhiều người bị đánh trọng thương phải nhập viện. Đến ngày 14 sự kiện leo thang, hơn vạn dân chúng toàn thị trấn tiến hành đình công, bãi khóa, học sinh bãi khóa, hiệu triệu kêu gọi dân chúng, trưa ngày 18 tập hợp tại khu chợ thị trấn, đến công trường tiếp tục kháng nghị phản đối tập thể , chính quyền đương cục điều động càng nhiều lực lượng cảnh sát tiến hành trấn áp.
Ngày 18 tháng 11, hơn vạn người dân thôn làng thị trấn Tam Giang tỉnh Hải Nam thành phố Hải Khẩu cùng với hơn ngàn cảnh sát, cảnh sát đặc nhiệm, cảnh sát phòng chống bạo lực, cảnh sát vũ trang biên phòng, và các nhân viên quản lý nội thành nổ ra cuộc xung đột kịch liệt (hình ảnh trên mạng)
Buổi sáng 6h ngày 18, hơn ngàn nhân viên quản lý cùng với cảnh sát tiến vào quảng trường chợ của thị trấn bắt đầu bắt người, có 4, 5 người dân làng bị bắt đi.
Bà Hàn, người dân thôn, nói với phóng viên Đại Kỷ Nguyên: “ chúng tôi tập hợp tại quảng trường chợ của thị trấn, họ (cảnh sát, nhân viên quản lý) buổi sáng 6h hơn đã đến bắt người, bao vây chúng tôi lại”, còn động thủ đánh người, “người già, trẻ em, phụ nữ đều bị đánh.”
Ngày 18 tháng 11, hơn vạn người dân thôn làng thị trấn Tam Giang tỉnh Hải Nam thành phố Hải Khẩu cùng với hơn ngàn cảnh sát, cảnh sát đặc nhiệm, cảnh sát phòng chống bạo lực, cảnh sát vũ trang biên phòng, và các nhân viên quản lý nội thành nổ ra cuộc xung đột kịch liệt (hình ảnh trên mạng)
Vào lúc 9h sáng, tại công trường tập trung hơn ngàn dân chúng, người dân tức giận phá hủy lá chắn tại công trường, một lượng lớn cảnh sát phòng chống bạo lực, cảnh sát vũ trang biên phòng nhanh chóng đến hiện trường, tay nắm chặt khiên đứng thành bức tường người, cùng với người dân đứng song song đối lập, dân chúng tâm tình kích động, tay nắm lấy đá, gậy xông lên phía trước,  bên phía cảnh sát tức thì ném lựu đạn hơi cay về phía người dân.
Một người dân làng tại hiện trường – ông Thẩm cho biết: “Một người bạn tốt của tôi trong lúc xung đột, anh là người đầu tiên xông lên phía trước, cảnh sát vũ trang lấy súng ra, trong chớp mắt đầu của anh ấy bị đạn cao su bắn trúng, ngã xuống đất bất động, chỉ nhìn thấy đầu lắc lư ở đó, người dân làng đứng bên cạnh đã đem anh ấy đi giải cứu.” Được biết, người đàn ông này trước mắt đang nằm tại bệnh viện hôn mê bất tỉnh, sống chết vẫn chưa biết, bệnh viện sẽ tiến hành phẫu thuật trị liệu.
Tại hiện trường xung đột cũng có lượng lớn xe cảnh sát cùng với xe công vụ bị dân chúng lật ngược phá hủy.
Ngày 18 tháng 11, hơn vạn người dân thôn làng thị trấn Tam Giang tỉnh Hải Nam thành phố Hải Khẩu cùng với hơn ngàn cảnh sát, cảnh sát đặc nhiệm, cảnh sát phòng chống bạo lực, cảnh sát vũ trang biên phòng, và các nhân viên quản lý nội thành nổ ra cuộc xung đột kịch liệt (hình ảnh trên mạng)
Buổi chiều. hơn vạn người dân thôn làng bắt đầu bao vây cơ quan chính quyền thị trấn, từng tốp từng tốp cảnh sát nhanh chóng đến cơ quan chính quyền thị trấn, Ông Thẩm nói: “ Trên đường đến chính quyền thị trấn đều có người, người dân thôn ném đá vào cảnh sát, cảnh sát dùng khiên để bảo vệ, sau đó lại có rất nhiều xe tới, người dân thôn đã lật đổ xe, cuối cùng người đến càng lúc càng nhiều. Tại thị trấn Tam Giang gần đó, học sinh trung học cũng không lên lớp xuống đường phá xe. Cảnh sát lấy roi điện, xông lên đánh người dân thôn làng. ”
Bà Hàn cho biết, khi đó hiện trường có 7, 8 chiếc xe cảnh sát, bên phía cảnh sát còn thuê hơn 30 chiếc xe khách, tuy nhiên đã  bị cơn phẫn nộ của thôn làng đập nát. Bà Hàn cho biết : ” Tại cơ quan chính quyền thị trấn buổi trưa và buổi chiều đều có xung đột, sự kiện không dập tắt được mà vẫn còn tiếp tục, hiện tại mạng internet của chúng tôi đều bị phong tỏa , truyền phát hơn 500 tin thì bắt đầu bắt người.”
Bà Hàn tiết lộ, ngày 18 có hơn 20 dân làng bị bắt, những người bị thương bao gồm nam nữ, già trẻ, lớn nhỏ, thiếu niên dân thôn làng tổng cộng ước tính có gần trăm người, nằm viện hơn mười mấy người, tuy nhiên những con số này vẫn chưa thực sự chính xác.
Ông Thẩm cho biết, bệnh viện thị trấn Tam Giang gần tòa nhà chính quyền thị trấn, đã đầy các bệnh nhân, người dân làng bị thương phải xếp hàng để vào bệnh viện.
Người dân địa phương tiết lộ, chính quyền đương cục đang điều động ngày càng nhiều lực lượng cảnh sát tiếp tục tiến hành trấn áp, cùng lúc còn bắt đầu bắt giữ người trên phạm vi lớn.
  
Ngày 18 tháng 11, hơn vạn người dân thôn làng thị trấn Tam Giang tỉnh Hải Nam thành phố Hải Khẩu cùng với hơn ngàn cảnh sát, cảnh sát đặc nhiệm, cảnh sát phòng chống bạo lực, cảnh sát vũ trang biên phòng, và các nhân viên quản lý nội thành nổ ra cuộc xung đột kịch liệt (hình ảnh trên mạng)
Theo báo cáo của truyền thông đại lục đưa tin, chính quyền địa phương cần xây dựng dự án khuôn viên giải trí bao gồm trung tâm trị liệu phòng chống bệnh da liễu của tỉnh .v.v.. là 3 bệnh viện với chức nghiệp phòng chống bệnh. Quan chức địa phương dự đoán về môi trường, có thể đạt được khả năng xử lý ô nhiễm, tuy nhiên cách nói này nhận lấy sự chất vấn của người dân thôn làng. Dân làng nói, dự án này bao gồm trị liệu bệnh phong cùi, bệnh viện AIDS cho đến nhà hỏa táng, chất thải có thể sẽ được đổ xuống sông gây ô nhiễm làm ảnh hưởng đến sự sống còn của người dân vốn phụ thuộc vào biển cả, hơn nữa bệnh phong cùi còn là bệnh truyền nhiễm .
Ngày 18 tháng 11, hơn vạn người dân thôn làng thị trấn Tam Giang tỉnh Hải Nam thành phố Hải Khẩu cùng với hơn ngàn cảnh sát, cảnh sát đặc nhiệm, cảnh sát phòng chống bạo lực, cảnh sát vũ trang biên phòng, và các nhân viên quản lý nội thành nổ ra cuộc xung đột kịch liệt (hình ảnh trên mạng)

 

Ném cho dân khúc xương...

Tôi không nghĩ các bạn vì quá yêu nghề giáo của mình, hoặc của người khác mà phản ứng dữ dội thái quá đến thế trước sự việc VTV chiếu câu chuyện "Nhặt xương cho thầy" hay còn có tên khác là "Trao thương cho trò". Tôi nghĩ các bạn chưa thoát ra được hội chứng sợ người ta không coi trọng mình, hoặc thảm họa hóa vấn đề theo thuyết âm mưu.
Khiêm tốn một chút, bình tĩnh một chút đặc biệt là đối với những người làm cái nghề cần có đức tính, tố chất đó thì thấy vấn đề cực kì là bình thường, chẳng có gì. Nên đón nhận câu chuyện hài hước, ngộ nghĩnh đó là một món quà vui, ý nghĩa dù phảng phất sự chua chát trong cái ngày mà thời trong phim chưa có. Thời đó chưa có ngày Thầy Đồ.
phat-song-phim-gay-phan-cam-vtv-bi-phat-30-trieu-dongCác bạn nóng mặt, thậm chí có cậu Tiến sĩ triết còn ấm ức khóc lóc ăn vạ VTV bằng một bài viết khi cho rằng mẩu chuyện là cái tát vào mặt giới giáo viên thì thật quá đáng. Rồi tự suy diễn là VTV xem các thầy như giới trộm cắp, đĩ bợm. Thật là không thông minh và quái gở cho tư duy của một giáo viên triết, ĐH tp HCM. Sao phải căng thẳng, nâng cao quan điểm đến thế. Tại sao không thể mỉm cười bâng quơ rồi đỏ mặt nhớ lại xem đã bao lần mình giả vờ đứng sau lưng cô sinh viên xem bài, rồi liếc trộm khe áo ngực cô ấy!
Khi biết rằng những câu chuyện đại loại giống chuyên VTV chiếu là có sẵn trong kho tàng văn học dân gian thì các bạn lại quay sang phê phán về thời điểm chiếu 20/11. Đúng vậy không? Hay vẫn chỉ là hình ảnh ông Đồ trong phim không đẹp?
Nếu các bạn nghĩ nghề nào đó theo các bạn là nghề có ý nghĩa cao quí thì rõ ràng một năm có 365 ngày, ngày nào cũng ý nghĩa và cần được tôn vinh. Đâu cần phải là ngày cụ thể này, cụ thể nọ.
Các bạn nhao nhao la ó phản đối câu chuyện, giống như dã dân đánh hôi trộm chó đâu có biết rằng là một người thầy đúng nghĩa thì cần luôn khiêm tốn và dạy dỗ học trò, nhất là bọn trẻ con đầu còn cứt trâu nhớ một điều là nghề nào trong đời cũng là nghề cao quí. Không có sự phân biệt, không nên nhồi nhét cho những cái đầu thơ ngây bê- tông hóa ngay trong đầu nghề nào cao quí nghề nào không cao quí, nghề nào chả ra gì.
Nếu như đứa bé sinh ra mà thấy được cảnh bác sĩ phụ khoa đỡ đẻ ngồi trực giữa hai chân mẹ nó, đón đỡ nó lúc giây phút chào đời thì chả cần giới bác sĩ bắt nó công nhận thì nó cũng khóc ré lên lương y là nghề cao quí nhất.
Nếu một xác chết vô thừa nhận trôi sông mà nhìn thấy hình ảnh người chèo thuyền đi nhặt xác thì hẳn nhiên linh hồn của cái xác sẽ quì xuống lạy tôn vinh nghề nhặt xác trôi sông là nghề cao quí nhất.
Các bạn nịnh đời phá cổng trường đạp lên nhau để nộp đơn xin học cho con đâu có hiểu là thà nhặt xương cho thầy như trong phim còn hơn chứng kiến cảnh bố mẹ mình xô đẩy bố mẹ bạn trước sự dửng dưng dự đoán trước của giới giáo viên.
Tôi dám cam đoan là những nhà giáo chân chính, có lương tri và lương tâm sẽ trầm ngâm, ưu tư trước câu chuyện được VTV3 chiếu trong ngày Hiến chương.
Tôi dám chắc là bản thân các bạn đang la ó, khóc lóc, đòi lại "công bằng" vẫn chưa phân biệt nổi đâu là Thầy giáo đâu là Thợ giáo.
Tôi nghĩ rằng, phần lớn các bạn do mải mê tập trung công việc bàn giao con chữ cho học sinh nên khi thấy VTV3 kể câu chuyện đã vội vơ hết vào mình bức xúc một cách không đúng mực. Biết đâu, cậu học trò trong phim chính là cậu bé Đỗ Viết Khoa làm nghề dọn xương cho ông thầy đã cao chạy xa bay thì sao? Nếu đúng thế thì các bạn cần có lời xin lỗi và tạ ơn VTV3 khi đã trót hồ đồ la làng ăn vạ.
Tôi dừng ở đây vì không muốn các bạn vì giận mà mất khôn, không biết là tôi viết như vậy không có nghĩa là tôi không có những thầy cô tôi yêu mến, kính trọng. Không có nghĩa là tôi không có những người bạn là giáo viên mà tôi cảm mến phục tài. Không có nghĩa là những người ruột thịt gần gũi nhất của tôi không từng và đang là thầy giáo, cô giáo.
Tất nhiên tôi không quên nhắn các bạn một lời cuối là các bạn từng đã lên án chuyện thầy trò nào đó oánh nhau trên bục giảng, nhưng bản thân các bạn cũng đang ầm ĩ giật đầu, bứt tóc, vác đá ghè nhau với VTV ngay trên bục Hiến chương 20/11 của mình mà không biết.
   Phạm Hưng
(FB Phạm Hưng)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét