Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, ngày 11 tháng 8 năm 2014

NHIỀU MÓN NỢ ĐẪM MÁU GIỮA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

Lực cản lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam


Giá thành năng lượng quá cao là một trong những nguyên nhân khiến kinh tế VN không thể cất cánh.
Xăng dầu ở Việt Nam đắt nhất trên thế giới, nếu so sánh bằng tỉ lệ lương tối thiểu/ giá xăng, mặc dầu VN là một nước xuất khẩu dầu thô.
Sản lượng dầu thô đóng góp cho ngân sách quốc gia năm 2013 là khoảng 12,5%, năm 2006 là 25%.
Con số dầu thô đóng góp vào ngân sách nhà nước 12,5% xem ra rất là lớn, nếu ta so sánh với những đóng góp của các khu vực khác. Những nước có nền du lịch năng động như Pháp, Tây Ban Nha… hay Thái Lan… đóng góp của lãnh vực này vào GDP chỉ khoảng dưới 10%.
Giá xăng hiện nay ở VN là 26.000 đồng. Mức lương tối thiểu là 2.700.000 đồng, tức lương mỗi tháng tương đương khoảng trên 100 lít xăng.
Nếu ta so sánh VN với các nước (sản xuất dầu tương tự) trong khu vực, ta thấy sai biệt con số rất là lớn.
Mã Lai, lương tối thiểu (tùy theo khu vực) là 291 và 259 đô la, trong khi giá xăng khoảng 0,60 đô. Tỉ số lương tối thiểu/ giá xăng trung bình là 485 lít và 432 lít.
Lương tối thiểu của Indonésie là 285 đô la, giá xăng dưới 0,50 đô. Tỉ số lương tối thiếu/giá xăng trung bình là 570 lít.
Điều cần nhấn mạnh là lượng công nhân lãnh lương tối thiểu ở Mã Lai hay ở Indonésie rất thấp so với VN. Trong khi tỉ số đóng góp cho ngân sách nhà nước của dầu thô ở các nước này là không đáng kể so với VN.
(Một trường hợp ngoại lệ Vénézuela, một nước xuất cảng dầu, đồng thời cũng là một nước « xã hội chủ nghĩa », như VN, thì giá xăng ở đây chỉ có 1 xu (0,01 đô) với lương tối thiểu (đã điều chỉnh năm 2014 do lạm phát trên 50%) là 675 đô. Tỉ số lương tối thiểu/ giá xăng là 67.500 lít.)
Giá xăng ở VN đắt một cách bất bình thường. Giá lương thực ở VN cũng cao không kém các nước trong khu vực. Mặc dầu VN là một nước xuất cảng dầu và lương thực.
Đây là một nghịch lý khiến kinh tế VN trì trệ.
Các nước phát triển trong khu vực như Đài Loan, Nam Hàn, Mã Lai, Indonésie… thành công là nhờ sự phát triển của nền kinh tế nội địa mà xương sống là thành phần thủ công nghiệp, xí nghiệp nhỏ và tiểu thuơng. Nên biết Đài Loan xây dựng lên được nền công nghiệp điện tử hiện đại hôm nay là nhờ nền thủ công về nhựa (tức sản xuất các mặt hàng plastic cung ứng cho cả thế giới). Các tập đoàn tài phiệt lớn hiện nay ở Nhật, Nam Hàn, Đài Loan… trước kia đều là các xí nghiệp nhỏ gia đình.
Giá cả xăng dầu như vậy thì làm sao các xí nghiệp thủ công gia đình ở VN có thể sống và phát triển ?
Với một mức giá năng lượng (cao phí lý) như vậy không một nền kinh tế nào có thể tồn tại, kể cả các nền kinh tế năng động nhất Âu Mỹ, chứ đừng nói đến VN.
Theo FB Trương Nhân Tuấn

Hoàng Sa – Trường Sa: Hợp tác để chia sẻ ? Hợp tác và chia sẻ cái gì ? Như thế nào ?

biendong

Góp ý với ba vị giáo sư có hơn 30 năm giảng dạy ở Hoa Kỳ.
Thật tình tôi không thể chia sẻ bất kỳ ý tứ nào của của ba vị (giáo sư tiến sĩ ) trong bài phỏng vấn của BBC ở đây. Bài phỏng vấn có tựa đề: “Hoàng Sa-Trường Sa : hợp tác để chia sẻ”.
Ý kiến của ba vị này, như theo ông GS Trần Hữu Dũng :
“Tôi nghĩ rằng Việt Nam hơi sai khi đặt nặng vấn đề về chủ quyền hơn là vấn đề an ninh khu vực và tự do khu vực.”
Vấn đề đặt ra là : VN hợp tác với ai, về cái gì và chia sẻ với ai, về cái gì ?
Nói về Hoàng Sa. TQ đã chiếm quần đảo này (trên tay VNCH) từ năm 1974.
Nếu chỉ tính từ biến cố giàn khoan 981, lý do mà TQ đưa ra trước quốc tế để bào chữa cho hành động đặt giàn khoan này là :
1/ Hoàng Sa là lãnh thổ của TQ.
2/ Vị trí đặt giàn khoan 981 thuộc về thềm lục địa của các đảo HS.
Ban đầu TQ cho rằng vị trí giàn khoan nằm trong “lãnh hải” của đảo Tri Tôn. Sau đó họ nhận ra rằng việc này là không đúng, vì vị trí giàn khoan nằm cách đảo Tri Tôn đến 17 hải lý (trong khi bề rộng lãnh hải theo luật định chỉ có 12 hải lý). Vì vậy họ mới chữa là giàn khoan nằm trong vùng “tiếp cận lãnh hải” của đảo Tri Tôn. TQ còn nói thêm rằng, dầu thế nào thì giàn khoan cũng nằm trong hải phận của các đảo HS (nếu tính hiệu lực các đảo như Phú Lâm…)
Thử đặt giả thuyết, VN không đặt nặng vấn đề chủ quyền như ý kiến của các giáo sư : (Hoàng Sa là của VN), thì VN chỉ có lý do duy nhất để phản bác hành vi của TQ (khi đặt giàn khoan 981) là các đảo Hoàng Sa quá nhỏ (để có hải phận kinh tế độc quyền).
Nhưng khi nói vậy, thứ nhứt VN mặc nhiên nhìn nhận HS thuộc chủ quyền của TQ. Thứ hai, tranh chấp giữa VN và TQ trở thành tranh chấp về việc cách diễn giải điều 121 của Luật Biển 1982 về hiệu lực các đảo, mà điều này phần thua 99% thuộc về VN. Bởi vì Luật Biển 1982 không hề phân biệt đảo nhỏ hay đảo lớn (để có vùng kinh tế độc quyền 200 hải lý) mà chỉ phân biệt đảo mà con người có thể sinh sống và có nền kinh tế tự túc hay không.
Quan niệm như vậy, TQ sẽ không cho VN “hợp tác” và “chia sẻ” bất cứ cái gì (như hiện nay) ở Hoàng Sa (và vùng biển chung quanh).
Tức là nếu VN không đặt nặng vấn đề chủ quyền (Hoàng Sa là của VN), có nghĩa là VN sẽ phải “chia sẻ” và “hợp tác” với TQ vùng biển (và thềm lục địa) của mình, từ bờ biển miền Trung cho đến đảo Tri Tôn.
Phải chăng ý kiến của ba vị giáo sư “có 30 năm kinh nghiệm giảng dạy tại Hoa Kỳ” (sic!) là vậy ?
Còn về an ninh và tự do hàng hải, thực ra, nếu nhìn sâu xa, thì hiện nay VN mới là bên có thể đe dọa “an ninh” và “tự do hàng hải” trong Biển Đông hơn cả TQ. Trong một mức độ chiến thuật, nếu khủng hoảng giàn khoan 981 bùng nổ, thì chỉ phía VN là bên có khả năng “ngăn chặn” tất cả các tàu buôn, của TQ hay của các nước khác, qua lại. Hải quân TQ chưa đủ mạnh để có thể kiểm soát Biển Đông. Trong khi vùng biển Hoàng Sa thì không hề nằm trên trục qua lại của tàu bè các nước. Do đó, khi Hoa Kỳ cũng như các nước lo ngại vụ giàn khoan 981 sẽ đe dọa an ninh khu vực, phần lớn là do từ khả năng “du kích đại dương” của VN mà ra, chứ không phải đe dọa từ TQ.
Cá nhân tôi nhận thấy rằng, trong vấn đề giàn khoan 981, phản ứng của VN như vậy là khá hợp lý, trong khi phía TQ có lẽ đã phạm sai lầm. VN đã sử dụng thành công các mặt vận động dư luận, vận động về pháp lý, kể cả việc răn đe… Điều còn lại là VN nên nắm lấy cơ hội để đưa tranh chấp Hoàng Sa ra một trong tài quốc tế.
Câu hỏi đặt ra, ở Hoàng Sa, điều hợp lý là VN phải “đặt nặng” hay “đặt nhẹ” vấn đề chủ quyền ?
Còn ở khu vực Trường Sa, vấn đề cũng đặt ra là : VN hợp tác với ai, về cái gì và chia sẻ với ai, về cái gì ?
Giả sử nếu không có TQ, thì tranh chấp Trường Sa giữa VN với các nước Phi, Mã Lai, Indonésie… sẽ không là việc khó. VN có thể tuyên bố các đảo này quá nhỏ để có hiệu lực về ZEE, hoặc đề nghị một vùng khai thác chung trong vùng biển thuộc Trường Sa. Các đề nghị này đều có thể được người dân VN dễ dàng chấp nhận.
Vấn đề nổi cộm là đòi hỏi phi lý của TQ về chủ quyền các đảo TS cũng như vùng biển chung quanh (và vùng biển theo đường chữ U).
VN và các nước liên quan có thể “hợp tác” và “chia sẻ” cái gì ở Trường Sa với Trung Quốc ?
Vấn đề là TQ muốn gì ?
Đối với VN, trong quá khứ, TQ chiếm một số đảo của VN năm 1988, thảm sát gần trăm binh lính VN (không cầm khí giới). Thập niên 90, TQ đã cho các tập đoàn dầu khí (của Hoa Kỳ) khai thác trên thềm lục địa của VN, thuộc vùng Tư Chính- Vũng Mây (mà TQ gọi là Vạn An Bắc), cách bờ biển VN khoảng 300km. Gần đây TQ cho gọi đấu thầu khai thác dầu khí trên các lô thuộc thềm lục địa của VN, cách bờ biển các tỉnh miền Trung chỉ hơn 100km. Ngoài ra còn có các hành vi ngang ngược như cắt cáp tàu Bình Minh, ra lệnh cấm đánh cá…
Đối với Phi, TQ chiếm đảo Vành Khăn (thập niên 90). Gần đây chiếm bãi cạn Scarborough, đe dọa chiếm bãi Cỏ Rong…
Đối với Indonésie, TQ mở tranh chấp lãnh thổ ra tới đảo Natuna. Với Mã Lai thì cho tàu bè chiếm đóng các bãi cạn…
Bỏ các nước kia ra một bên, VN có thể « chia sẻ » cái gì với TQ ? Vùng Tư Chính – Vũng Mây ? Hay thềm lục địa miền Trung (khu vực giữa đá Gạc Ma và bờ biển VN) ?
Không thấy quí vị giáo sư “có 30 năm kinh nghiệm giảng dạy tại Hoa Kỳ” (sic!) nói rõ ý kiến « chia sẻ và hợp tác », trường hợp với TQ, là chia ở đâu, và chia như thế nào ?
Theo tôi, nếu VN không đặt nặng vấn đề chủ quyền : Trường Sa là của Việt Nam, thì VN sẽ không có cách nào khả dĩ bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình trước những yêu sách ngang ngược của TQ.
 Theo FB Trương Nhân Tuấn

Hoàng Sa trước những “cái bắt tay tội lỗi” giữa Mao Trạch Đông và Nixon

mao_and_nixon

Mao Trạch Đông tung máy bay Mig vào không phận Việt Nam đã nâng thành phần đội quân đi xâm chiếm Hoàng Sa lên “mức phối hợp tổng lực” (hải lục không quân) bộc lộ rõ ác tâm bành trướng ra biển Đông theo thỏa hiệp “cân bằng lực lượng ở châu Á – Thái Bình Dương” đã bàn với tổng thống Mỹ Nixon trước đó… Đêm 19.1.1974, quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) vẫn trú phòng tử thủ Hoàng Sa sau trận hải chiến. Sáng hôm sau:
Ngày 20.1.1974: “Các phi cơ Mig Trung Cộng xuất hiện và oanh tạc 3 đảo còn quân ta đóng giữ, các chiến hạm của ta phải phân tán về hướng Tây Nam. Một số chiến hạm Trung Cộng đến hải kích vào các đảo Hoàng Sa, Cam Tuyền, Vĩnh Lạc. Sau đó bộ binh Trung Cộng đổ bộ. Ta mất liên lạc với các toán quân trú phòng hồi 10 giờ 45”.
Tài liệu VNCH (đã dẫn ở Kỳ 38) tường thuật tiếp, nêu tổn thất của đôi bên (tr. 24) :
* PHÍA VIỆT NAM CỘNG HÒA:
- Về tàu chiến: “1 chiếc bị hư hại toàn diện (hộ tống hạm HQ.10), 1 chiếc hư hại nặng (tuần dương hạm HQ.16), 2 chiếc khác bị hư hại nhẹ (khu trục hạm HQ.4 và tuần dương hạm HQ.5)”.
- Về nhân mạng: “18 tử thương, 43 bị thương, 116 mất tích trên các đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc, Hoàng Sa và 59 người trên hộ tống hạm HQ.10”.
* PHÍA TRUNG CỘNG:
- Về tàu chiến: “1 chiến hạm loại Kronstadt bị cháy và chìm, 1 chiếc bị hủy hoại, ủi vào bờ sau đó, 2 tàu loại T43 hư hại nặng khó phục hồi được”.
- Về nhân mạng: “không ghi nhận được nhưng chắc chắn là rất nặng nề”.
(Sau này, từ Bắc Kinh, Tân Hoa xã loan báo phía Trung Quốc: có 4 chiến hạm bị trúng đạn, 18 tử thương, 67 bị thương. Và một số sĩ quan binh lính VNCH trực tiếp tham chiến ở “mặt trận Hoàng Sa 1974” có những bài viết và phát biểu mà chúng tôi sẽ nêu sau, vào một dịp thuận tiện). Trở lại tài liệu của VNCH:
* Tại quốc nội: “Hầu hết các tỉnh tại miền Nam Việt Nam bao gồm dân chúng và các đại diện dân cử, đoàn thể tôn giáo, đảng phái, nghiệp đoàn, hiệp hội, đã lần lượt tổ chức mít-tinh, hội thảo, tuần hành, ra quyết nghị để “lên án đế quốc Trung Cộng” (…) và thỉnh cầu Liên Hiệp Quốc, Tòa án quốc tế La Haye có biện pháp thích đáng đối với Trung Cộng (…) ”.
* Tại quốc ngoại: Việt kiều và sinh viên du học ở “Pháp, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Tây Đức, Ý, Mã Lai Á, Ai Lao, Cộng hòa Khmer… cũng có những phản ứng rất quyết liệt. Sinh viên Việt Nam tại Thụy Sĩ còn tuyệt thực 24 giờ và tổ chức đêm không ngủ phản đối Trung Cộng tại Lausanne ngày 26.1.1974”.
* Dư luận quốc tế: Thủ tướng Tân Tây Lan Norman Kirk tuyên bố: “với tư cách hội viên Liên Hiệp Quốc, Tân Tây Lan không thể tán thành hành động võ lực của Trung Cộng”. Hòa Lan và Nam Dương cũng lên tiếng với nội dung tương tự. Ngoại trưởng Costa Rica là tiến sĩ Gonzalo Jr. Facio – đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc – cho biết Costa Rica ủng hộ Việt Nam. Ở Úc, tờ Sydney Morning Herald chỉ tríchchính sách bạo lực của Trung Cộng, nhận định rằng “ngoài lý do kinh tế, chiến lược và chính trị nội bộ – Trung Quốc đang lợi dụng những yếu tố khác để chiếm đoạt Hoàng Sa”.
* Thái độ của Liên Xô: Tờ Pravda  (Sự Thật) – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Liên Xô – đã chỉ trích hành động quân sự thô bạo của Trung Quốc (số ra ngày 27.1.1974) và bình luận: “Mao Trạch Đông chủ tâm reo rắc mầm mống xáo trộn trong đời sống quốc tế với thâm ý phá hỏng chính sách hòa hoãn và che đậy cảnh tranh quyền và khó khăn ngày càng tăng trong nội bộ Trung Cộng” (số ra ngày 10.2.1974).
* Thái độ của Mỹ:“không can dự” dầu VNCH rất cần được yểm trợ. Cả việc tìm vớt “nhân đạo” các binh sĩ Việt Nam sống sót bị trôi dạt trên biển sau trận hải chiến cũng bị Hạm đội 7 của Mỹ làm ngơ, phải nhờ đến ngư dân miền Trung: “ngày 30.1.1974 có 14 chiến sĩ biệt hải sau 11 ngày lênh đênh trên biển được ngư phủ vớt đem về điều trị tại Quân y viện Quy Nhơn” (tài liệu VNCH đã dẫn). Cách xử sự “lạnh lùng” kiểu Mỹ của tổng thống Nixon trong biến cố Hoàng Sa, theo các nhà quan sát thời cuộc lúc đó, đã bộc lộ phần nào những “thỏa thuận ngầm” giữa Mao Trạch Đông và Nixon trong chiến lược “cân bằng lực lượng” đôi bên ở châu Á – Thái Bình Dương. Đặc biệt Mao – Nixon “bắt tay” để kiềm siết Việt Nam trong bom đạn (của Mỹ) và tràn chiếm vùng đảo Hoàng Sa (bởi Trung Quốc) một cách nhịp nhàng và tội lỗi từ 1972 – 1974. (còn nữa).
THEO MỘT THẾ GIỚI

NHIỀU MÓN NỢ ĐẪM MÁU GIỮA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

Năm 1979 Bắc Kinh đã phủ lên láng giềng phía Nam của họ một cuộc chiến dữ dội. Và ngay từ thời đó thì đã là vì biên giới rồi, những đường biên giới mà các thế lực Phương Tây đã ép buộc Trung Quốc trong các “hiệp ước bất bình đẳng”
Quân đội Việt Nam trước khi rút khỏi Campuchia trong tháng 12 năm 1988. Mười năm trước đó, họ đã lập đổ chế độ cộng sản Pol Pot đồng minh với Trung Quốc. Hình: picture-alliance / dpa
Cùng hướng tới các học thuyết của Marx và Lênin không ngăn cản các quốc gia dùng bạo lực tấn công nhau, điều này đang được Trung Quốc và Việt Nam chứng minh trong những ngày này. Đã có nhiều người chết trong những cuộc bạo động chống nhà máy Trung Quốc ở Việt Nam, và tờ “Toàn Cầu Thời Báo” Trung Quốc thân với chính phủ đe dọa là nước này cũng có thể dùng tới những “biện pháp không hòa bình”, nếu như các cuộc biểu tình chống Trung Quốc khoan dầu ở Biển Đông trở thành quá khích.
Đó không phải la những lời đe dọa suông, điều này thì đã được hai nước chứng minh trước đây 35 năm. Thời đó, nhiều trăm ngàn lính Trung Quốc tấn công miền Bắc Việt Nam. Người ta cho rằng 80.000 người đã tử trận hay bị thương chỉ trong vòng vài tuần. Nguyên cớ cho cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba, như cuộc Chiến tranh Việt – Trung thỉnh thoảng cũng được gọi như vậy, thêm một lần nữa là những cuộc tranh cãi biên giới. Nguyên nhân của chúng lại nằm trong các “hiệp ước bất bình đẳng” mà các thế lực nước ngoài đã ép buộc đế chế Trung Quốc trong thế kỷ 19. Qua đó, tranh cãi giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể so sánh được với xung đột vì các hòn đảo không người sinh sống Senkaku hay Điếu Ngư ở biển Hoa Đông, những hòn đảo mà Nhật Bản đã giành lấy từ láng giềng to lớn sau chiến thắng năm 1895 của họ.
Cả hai trường hợp này là những ví dụ rất tốt cho việc Trung Quốc hiện đại dùng lịch sử của họ như là một sức mạnh nhận dạng như thế nào. Trong trường hợp của Việt Nam thì đó là kết quả của cuộc Chiến tranh Thuốc phiện lần thứ nhì. Năm 1856, Liên hiệp Anh lợi dụng một hành động của cảnh sát Trung Quốc chống một con tàu dưới lá cờ Anh để gởi Hải quân Hoàng gia chống lại đất nước của hoàng đế. Nước Pháp dưới Napoleon III cũng tham gia.
Năm 1858, tàu chiến Phương Tây chiếm và phá hủy nhiều pháo đài. Trong Hiệp ước Thiên Tân, Trung Quốc phải mở cửa mười cảng cho những người chiến thắng, bảo đảm tự đo đi lại cho người ngoại quốc, bồi thường và hợp thức hóa việc buôn bán thuốc phiện. Khi hoàng đế từ chối không ký tên vào hiệp ước, một đoàn quân viễn chinh của đồng minh đã phá hủy dinh mùa hè tuyệt đẹp ở đông bắc Bắc Kinh. Nhà văn Victor Hugo cay đắng ghi nhận: “Một ngày nào đó, hai tên cướp xông vào dinh thự mùa hè. Một tên cướp bóc, tên kia phóng hỏa… Chúng ta người châu Âu là văn minh, đối với chúng ta người Trung Quốc là dân man rợ: Thế đấy, nền văn minh đã làm điều đó với dân man rợ.”
Sau đó, Bắc Kinh đã dựng kịch bản đánh trả thù cho lần tấn công vào Việt Nam của họ. Tháng Hai 1979, quân đội Trung Quốc vượt qua biên giới. Hình chụp một đơn vị pháo binh của Việt Nam. 
Hiệp ước Hữu nghị với Pol Pot
Hiệp ước Thiên Tân là một dấu mốc trong sự sụp đổ hệ thống triều cống mà với nó Trung Quốc đã trói buộc các quốc gia láng giềng vào vũ trụ của nó. Qua triều cống – tượng trưng – những người đang trị vì Việt Nam công nhận quyền tối cao của hoàng đế. Bây giờ thì người Pháp bắt đầu không chỉ mang miền Nam của “Đông Dương” vào vòng kiểm soát của họ mà cũng thâm nhập ra miền Bắc, Bắc Bộ. Trong nhiều bước, Trung Quốc buộc phải chấp nhận đường biên giới mà các thế lực thuộc địa ép buộc.
Lần chia biên giới đó đã dẫn tới xung đột vũ trang năm 1979. Trong các cuộc chiến chống Pháp (cho tới 1965) và Hoa Kỳ với đồng minh của nó (cho tới 1975) nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã hỗ trợ rất nhiều cho chính quyền Bắc Việt. Điều đó đột ngột thay đổi, khi Việt Nam, dựa trên liên minh với Liên bang Xô viết, can thiệp vào Campuchia năm 1979 và lật đổ chế độ độc tài thời Đồ Đá của Khmer Đỏ.
Những người này là đồng minh của Bắc Kinh. Ở đó, người ta hiểu lần mở rộng vùng ảnh hưởng của Việt Nam này là một cố gắng bao vây của Xô viết ở phía Nam và tức giận phản ứng. Một hiệp ước hữu nghị được ký kết với chế độ Pol Pot đang chao đảo. Và Việt Nam bị tấn công vì liên tục xâm phạm biên giới. Trong khi Trung Quốc đưa ra 3535 vụ việc thì dân tộc cộng sản anh em thù địch trả đũa với 2158 “lần khiêu khích”.
Vào ngày 17 tháng Hai, quân đội Trung Quốc tấn công. Tròn 200.000 người, được yểm trợ bởi nhiều xe tăng và máy bay chiến đấu, thâm nhập vào đất Việt nam sâu có cho tới 40 kilômét. Những người chiến đấu bảo vệ đã làm việc mà họ đã từng làm trong những cuộc chiến tranh thắng lợi chống các cường quốc Phương Tây: họ lui về các hệ thống phòng thủ trong rừng rậm và kháng chiến linh hoạt.
Mặc dù có thế mạnh hơn, quân đội Trung Quốc phải chịu nhiều tổn thất lớn. Có cho tới 80.000 người bị cho là đã tử trận hay bị thương trong cuộc chiến kéo dài ba tuần. Chiếm hữu vì tài nguyên
Mặc dù phần lớn lực lượng Việt Nam còn đang hoạt động ở Campuchia và miền Nam, người Trung Quốc vẫn không đạt được một chiến thắng vinh quang. Còn ngược lại. Peter Scholl-Latour trong quyển sách bán chạy của ông “Der Tod im Reisfeld” ["Cái chết trên ruộng lúa"] (1980) đã mô tả lại sức chiến đấu của người Việt Nam. Vào ngày 16 tháng Ba, “cú đánh trả thù”, như sử gia Kai Vogelsang phỏng đoán chiến dịch này, chấm dứt. Cả hai bên đều tuyên bố chiến thắng. Ước lượng của các nhà quan sát, mà theo đó các đối thủ đã mất mỗi bên tròn 40.000 người, nói về một bất phân thắng bại – không làm cho cường quốc Trung Hoa hài lòng.
Sau đó, hai chính quyền đã có thể dàn xếp được các tranh cãi biên giới của họ, ít nhất là đối với đường biên giới trong rừng rậm trên đất liền. Tuy vậy, cuộc tranh cãi vì các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước bờ biển nhiều trăm kilômét vẫn tiếp tục. Vào lúc ban đầu, nước Pháp đã trao các hòn đảo lại cho đế chế, nhưng sau đó lại thôn tính chúng.
Với những lập luận lịch sử, cả Malaysia, Đài Loan, Brunei và Philippines cũng tuyên bố chủ quyền nhóm các hòn đảo bé tí đó, trước hết như là danh hiệu sở hữu cho tài nguyên ở dưới đáy biển. Không phải bỗng dưng mà những người biểu tình ở thủ đô Manila của Philippines đã yêu cầu Trung Quốc chấm dứt các hành động “gây rối” ở biển Đông sau các cuộc bạo loạn tại Việt Nam.
Trong khi đó Trung Quốc dường như đang kiên quyết xác định vị thế quyền lực mới của họ cùng với việc xét lại các “hiệp ước bất bình đẳng” và các hậu quả rắc rối của chúng. Đã từ lâu, xã hội cộng sản phát triển không còn là mục tiêu của ĐCS nữa, mà là “xã hội hài hòa”, như nhà tư tưởng thời xưa Khổng Tử đã giảng dạy: như là “là khái niệm tư tưởng dẫn đầu của sự thống trị tuyệt đối” (Kai Vogelsang) cho đối nội và – càng nhiều càng tốt – cho đối ngoại.
Tháng Tư năm 2000, kỷ niệm 25 năm ngày chiến tranh chấm dứt ở Việt Nam, Đài Phát thanh và Truyền hình Trung Đức (MDR) đã phát sóng một bộ phim tài liệu truyền hình về cuộc chiến tranh ba mươi năm ở Đông Dương gồm năm tập, dài tổng cộng gần bốn tiếng dưới tựa đề “Apokalyse Vietnam”, trong đó cũng có phỏng vấn rất nhiều nhân chứng của tất cả các bên. Quyển sách cùng tên “Apokalyse Vietnam” đã ghi lại tất cả những cuộc trao đổi này. Các bài dịch dưới đây đều được trích dịch từ quyển sách nói trên. Dịch giả tuân thủ theo cách phân chia cũng như tựa đề của mục lục.
Võ Nguyên Giáp
Tướng Võ Nguyên Giáp là tổng tư lệnh của quân đội Việt Minh trong Chiến tranh chống Pháp. Từ 1946 cho tới 1980 ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH). Ông được cho là nhà chiến lược của cuộc đấu tranh giải phóng của người Bắc Việt, ngay cả khi ông chống lại việc nước VNDCCH tham chiến ở Nam Việt Nam cả một thời gian dài.
Nếu như muốn nói về lịch sử chiến tranh ở Việt Nam thì người ta không được phép giới hạn ở thời kỳ của người Mỹ, mà phải liên kết với cuộc đấu tranh chống người Pháp, vâng, cuối cùng thì phải xem xét đến cuộc đấu tranh giành độc lập tròn một ngàn năm của Việt Nam.
Sau khi đất nước chúng tôi thoát được sự thống trị một ngàn năm của Trung Quốc mà không bị đồng hóa, chúng tôi là một nhà nước độc lập kể từ thế kỷ thứ 10. Từ thời đó, chúng tôi luôn phải chống cự lại với những kẻ xâm lược từ phương Bắc, những kẻ hùng mạnh hơn chúng tôi rất nhiều. Nhưng mặc dù vậy, chúng tôi đã đánh bại tất cả bọn họ, những binh đoàn từ Mông Cổ cũng như những đạo quân Minh và quân Mãn Thanh – chúng tôi đã đương đầu thắng lợi trước bất kỳ cuộc tấn công nào.
Chậm nhất là với thành công ở Điện Biên Phủ năm 1954 thì tướng Giáp, tổng tư lệnh quân đội Việt Nam, đã trở thành một huyền thoại
Rồi những người xâm lược Phương Tây đến trong thế kỷ 19, người Pháp. Đó là một xung đột giữa một nhà nước phong kiến và một thế lực công nghiệp hiện đại đã lợi dụng ưu thế về vật chất và kỹ thuật một cách bất chấp để mở rộng chế độ thực dân. Đối với cuộc kháng chiến không bao giờ gián đoạn của dân tộc Việt Nam, năm 1930 đã trở thành một bước ngoặc quyết định, khi Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản ở nơi lưu vong. Mười năm sau đó, chúng tôi nhìn lần chiến bại của nước Pháp trước quân đội Đức ở châu Âu như là một cơ hội thực sự cho nền độc lập của chúng tôi. Năm 1941, Hồ Chí Minh trở về Việt Nam và lãnh đạo hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, quyết định đường lối giải phóng đất nước thông qua khởi nghĩa vũ trang.
Vào thời gian đó, tôi cộng tác ngay bên cạnh Hồ Chí Minh. Chúng tôi thành lập mặt trận quốc gia của Việt Minh, được tất cả các tầng lớp nhân dân ủng hộ. Đã có lo ngại, vì chúng tôi hoàn toàn không có vũ khí. Thế là Hồ Chí Minh đã đưa ra một câu nói trở thành động lực cho hoạt động của chúng tôi: “Đừng lo – trước là người, sau đến vũ khí; đầu tiên là phải tranh thủ người dân, rồi thì sẽ có vũ khí!”
Thế rồi chúng tôi khởi hành, để chiêu mộ người cho Việt Minh. Tôi tổ chức mọi việc trong khu vực phía Bắc Việt Nam và tại các dân tộc thiểu số. Để làm việc đó, tôi phải học tiếng của họ; ba, bốn thứ tiếng. Tôi thành lập các nhóm chiến đấu, tổ chức nhóm tự vệ và các lực lượng địa phương. Sau đó, Hồ Chí Minh giao cho tôi nhiệm vụ thành lập quân đội.
Tháng Tám năm 1946, chúng tôi chỉ cần một tuần để động viên người dân trên toàn nước bước vào chiến đấu. Chúng tôi tiếp nhận quyền lực và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó là tổ chức bầu cử để hợp thức hóa chính phủ. Sau khi chúng tôi tuyên bố độc lập, người Pháp đã quay trở lại. Chúng tôi có nhiệm vụ xây dựng đất nước và đánh đuổi quân xâm lược. Lúc đó, Hồ Chí Minh đã chỉ ra ba kẻ thù mà chúng tôi phải chống lại: nạn đói, nạn mù chữ và quân xâm lược nước ngoài.
Trong giai đoạn đó, chúng tôi có quân đội của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc và người Anh ở miền Nam. Hồ Chí Minh muốn ký kết hòa bình với cả hai, để tập trung mọi lực lượng vào cuộc chiến chống người Pháp.
Tướng Philippe Leclerc chỉ huy đạo quân viễn chinh Pháp. Ngay từ lúc ban đầu, ông đã biết rằng ông sẽ không còn đối phó với một quân đội trẻ tuổi nữa, mà là với sự chống cự của cả một dân tộc. Vì vậy mà thật ra thì ông muốn một cái gì đó khác. Nhưng de Gaulle muốn có một tiếng trống thuộc địa vang dội, và vì vậy mà đã xảy ra chiến tranh.
Sau Cách mạng tháng Tám, lãnh đạo của chúng tôi đã chuẩn bị ở Hà Nội. Cả một nhóm người Mỹ, đã nhảy dù xuống chỗ chúng tôi ở trong vùng giải phóng, cũng có mặt vào lúc đó, chứng minh cho chính sách vẫn còn là tiến bộ của Hoa Kỳ vào thời điểm đó. Bây giờ thì thủ đô bị người Pháp tấn công. Chúng tôi bảo vệ Hà Nội 60 ngày, sau đó kẻ địch bắt đầu tiến hành một chiến dịch tấn công lớn trên khắp nước. Cho tới năm 1950, năm năm trời, chúng tôi chiến đấu hoàn toàn chỉ dựa vào sức mình và chứng tỏ cho những kẻ xâm lược biết rằng họ không thể chiến thắng cuộc chiến này bằng những phương tiện quân sự. Họ chỉ có hai khả năng: hoặc là đàm phán với chúng tôi hoặc là dựa vào sự giúp đỡ của người Mỹ. Đó là lý do tại sao người Mỹ bị lôi kéo vào trong xung đột này.
Trong thời gian tiếp theo sau đó, chiến tranh nhân dân đã phát triển một lực mạnh không thể tưởng tượng được. Mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi một ngôi làng là một pháo đài, mỗi một con đường là một mặt trận. Già và trẻ, phụ nữ cũng như nam giới – cả một dân tộc đứng trong cuộc chiến đấu vì tự do và độc lập. Người Pháp đến với một đạo quân viễn chinh chuyên nghiệp, với những sư đoàn được trang bị tốt nhất, với những viên chỉ huy nổi tiếng đã thu thập được nhiều kinh nghiệm chiến đấu trong Đệ nhị Thế chiến. Và tuy vậy họ vẫn bị đánh bại.
Viên tổng tư lệnh Pháp ở Đông Dương, tướng Henri Navarre, phát triển một kế hoạch chiến lược để ép buộc chúng tôi tiến tới một trận đánh quyết định ở đồng bằng sông Hồng. Ông tập trung các lực lượng quân sự của ông ở đó. Đồng thời, ông lại muốn chiếm đóng nhiều hơn ở toàn miền Nam Việt Nam và miền Trung. Ngày càng có nhiều lính từ Pháp đến, quân đội bù nhìn Sài Gòn được tăng lên gấp đôi.
Hồ Chí Minh triệu tập Bộ Chính trị, và rồi chúng tôi suy nghĩ: Nếu Navarre muốn tập trung lực lượng của ông lại thì chúng tôi phải bắt buộc ông phân tán chúng ra. Trong chiến tranh bao giờ cũng có những vị trí quan trọng chiến lược được kẻ địch đóng quân tương đối yếu – và người ta phải đâm vào đó, như vào trái tim của con người. Và thế là chúng tôi gửi quân đội của chúng tôi tới miền Tây Bắc, lên cao nguyên và tới những hướng khác.
Khi Navarre nhận ra sự dịch chuyển sang hướng Tây Bắc của chúng tôi, ông cũng phải cử những binh đoàn của ông tới đó. Họ đóng quân ở Điện Biên Phủ. Điểm này, theo các kế hoạch của người Pháp và người Mỹ, sẽ trở thành “cỗ máy xay thịt” cho Việt Minh. Nhiều thành viên của chính phủ Pháp đã đích thân đến tận nơi, cả Nixon và viên tổng chỉ huy của quân đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, và tất cả đều tin chắc rằng pháo đài này là không thể bị đánh chiếm được, và tin vào chiến thắng của người Pháp.
Cuối cùng thì chúng tôi đã chiến thắng, đạt được điều mà thế giới cho rằng không thể. Chúng tôi chiến thắng vì chúng tôi đã đứng ở phía của chân lý, vì người dân chúng tôi đã tâm niệm câu nói của Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và cuối cùng thì chúng tôi cũng chiến thắng là nhờ vào học thuyết quân sự độc nhất vô nhị về chiến tranh nhân dân của chúng tôi. Ở Điện Biên Phủ, chúng tôi đã đánh bại người Pháp, nhưng lần đầu tiên là cả người Mỹ nữa; vì vào thời điểm đó, họ đã chi trả cho tới 80 phần trăm ngân sách chiến tranh của Pháp.
Vào buổi chiều của ngày 7 tháng Năm năm 1954, người Pháp đầu hàng. Tôi đánh điện báo tin thành công của chúng tôi về cho Hồ Chí Minh. Câu trả lời của ông chúc mừng tôi, nhưng cũng nhắc nhở: “Chiến thắng thật to lớn, nhưng đó chỉ là bước đầu.”
Những đứa con ngỗ nghịch của Trung Quốc
Trung Quốc tấn công Việt Nam, Xô viết đe dọa Trung Quốc – sau ba cuộc Chiến tranh Đông Dương, cuộc chiến thứ tư, có lẽ là cuộc chiến nguy hiểm nhất, đang hiện hình. Cường quốc mới Trung Quốc muốn chứng tỏ cho thế giới biết rằng họ dám bước ra chống lại tử thù Liên bang Xô viết của họ. Mạo hiểm có tính toán trước của những người cộng sản?
Vào giữa tháng Hai, mây đen bao phủ trên vùng biên giới Việt-Trung. Vì vậy mà vệ tinh trên trời của Mỹ, trước sau thì cũng đã ít có mặt trên khu vực không còn được cho là quan trọng, không thể nhận biết những gì đang xảy ra trên mặt đất.
Cả liên lạc vô tuyến cũng không cho thấy điều gì bất thường. Con số ít ỏi của những gì mà các trạm nghe lén của Mỹ thu thập được trên thực tế là vô giá trị. Hẳn là người Mỹ đã cân nhắc việc gửi một con tàu gián điệp vào Vịnh Bắc Bộ, nhưng lại không thực hiện để tránh mọi rủi ro: đã có quá nhiều tàu thủy Xô viết đang đi lại ở đó.
Vì vậy mà thế lực quân sự mạnh nhất thế giới lại bất ngờ thêm một lần nữa, khi tấm màn sân khấu được kéo lên trước một khung cảnh quen thuộc đối với họ, cho một tấn kịch chiến tranh hoàn toàn mới vào ngày 17 tháng Hai 1979: vào lúc 4 giờ 30, ba đạo quân Trung Quốc, có lẽ là 160000 người, bắt đầu tấn công sang Việt Nam trên toàn bộ biên giới dài 700 kilômét.
Chỉ bốn năm sau khi cuộc Chiến tranh Đông Dương kéo bài 30 năm chấm dứt, địa danh Việt Nam lại được nhắc tới trên báo chí thế giới, những địch thủ mới lại chiến đấu chống lại nhau trong rừng rậm Viễn Ấn: không còn là đế quốc Nhật, thực dân Pháp hay người Mỹ chống cộng sản, mà là những người cộng sản với nhau, cộng sản Á châu, dân tộc láng giềng. Cuộc “Chiến tranh Mácxít-Mácxít” mới là nguyên cớ để tờ “Monde” ở Paris viết rằng: “Chúng ta hãy liều đánh cược: sẽ có nhiều cuộc chiến như vậy nữa.”
Đứng đe dọa ở phía sau đạo quân xâm lược là năng lực của trên 800 triệu người Trung Quốc và tuyên bố bất khả sai lầm mang tính khiêu khích của một quyền lực cổ xưa ở châu Á.
Nhưng đứng ở sau Việt Nam, theo Hiệp ước Hữu nghị của ngày 3 tháng Mười Một 1978, là thế lực Xô viết trên 60 tuổi, đã may mắn vượt qua được tất cả các cuộc khủng hoảng tồn tại và các lãnh tụ của nó ngày một mang ấn tượng ngột ngạt, rằng có thể cuộc xung đột to lớn cuối cùng rồi cũng sẽ ập lên họ vào một lúc nào đó. Một hạm đội Xô viết với một tuần dương hạm hạng nặng đã bắt đầu di chuyển hướng tới biển Đông.
Sự to tiếng và bực tức trong phản ứng của Moscov cho thấy rằng ngay cả Liên bang Xô viết đầy cảnh giác cũng bị bất ngờ bởi người Trung Quốc.
Ngoại trưởng Gromyko vì một hội nghị khẩn mà không thể đón tiếp đồng nhiệm Tiệp Khắc Chnoupek trên sân bay Moscow đúng theo nghi lễ được; sếp Đảng Breshnev đang nghỉ mát ở ngoài thủ đô Xô viết. Ba mươi tiếng đồng hồ sau khi người Trung Quốc tấn công, chính phủ Xô viết tuyên bố giận dữ: “Giới cầm quyền ở Bắc Kinh cần phải dừng lại trước khi quá muộn.”
Ngay sau tuyên bố này, một chiến dịch tuyên truyền vô tiền khoáng hậu để chống kẻ thù không đội trời chung Trung Quốc đã bùng phát ra trong Liên bang Xô viết và trong CHDC Đức. Trong nhà máy, nông trường và khu dân cư, người dân Xô viết tụ tập lại dưới những câu khẩu hiệu của tình đoàn kết bền vững với Việt Nam, xuất phát từ thời cuộc Chiến tranh chống Mỹ.
Radio Moscov loan báo những tin tức khủng khiếp về những đứa trẻ con bị người Trung Quốc nhận xuống các vũng bùn cho tới chết, về những người dân làng bị đốt chết bằng súng phun lửa. Tờ “Pravda” cũng có một bài thơ chống người Trung Quốc với cái tựa đơn giản “Những kẻ điên”:
Hòa bình cực nhọc vừa được củng cố
Thì những tên “gangster” mới đã có ý tưởng
Bước vào ngôi nhà đầy đau khổ, rạn nứt
Của người Việt.
Những người đã bị áp bức ba lần
Bây giờ lại bị hành hạ nữa?
Thực hiện điều đó
Chỉ có thể là những kẻ điên rồ.
Mang sự hằn thù vào đất nước láng giềng
Là một tên nghiện ngập điên rồ.
Hởi con người trên hành tinh tươi đẹp Địa Cầu
Tất cả chúng ta phải nói:
Hãy ngừng lại, đồ điên rồ!
Người ta không được phép hỗn láo
Chà đạp sự thật, tự do và lương tâm.
Khối Đông Âu rút ra khỏi Liên hoan Phim Berlin vì phim Mỹ “The Deer Hunter” mà trong đó Việt Cộng buộc các tù nhân Hoa Kỳ của họ phải chơi roulette Nga.
Ở Prag, giới trẻ hào hứng biểu tình chống cuộc xâm lược của người Trung Quốc. Có một lúc, người dân Ba Lan lo sợ là tân binh có thể sẽ được gửi sang Viễn Đông. Tin đồn lan truyền, rằng Hiệp ước Warsaw, tờ giấy khai sinh của liên minh quân sự khối Đông Âu, đã được sửa đổi theo ý này.
Cũng như thường lệ tại từ ngữ xâm lược, những người đang khẩu chiến lại nhắc tới nước Đức ở mọi lúc mọi điều. Việt Nam lên án tuyên truyền Trung Quốc là “theo lối Goebbels”. Albany vừa mới rời bỏ Bắc Kinh nhận thấy rằng “những lời tuyên bố của Trung Quốc về “lần trừng phạt” này có thể xuất phát từ Adolf Hitler, từng từ một”.
Chính phủ Hà Nội rõ ràng là cũng bị bất ngờ bởi cuộc xâm lược. Viên tổng tư lệnh quân đội của họ đang ở tại Romania, thủ tướng, nhiều bộ trưởng và tổng tham mưu trưởng cũng đang ở ngoài nước.
Họ ngủ trong ngôi nhà khách chính phủ ở thủ đô Campuchia và vào lúc đầu cũng ở lại Pnom Penh vẫn còn không một bóng người. Vào ngày hôm sau đó, họ ký kết với nước chư hầu Campuchia của họ một hiệp ước về “hữu nghị và cộng tác”, như họ đã ký kết với nước chư hầu Lào của họ năm 1976: tờ giấy đó hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Việt Nam, bây giờ cũng cả ở Campuchia nữa. 16 sư đoàn Việt Nam hiện nay đang đóng ở Campuchia, thêm bốn sư đoàn khác ở Lào – đa phần của 31 quân đoàn Việt Nam đóng quân ở nước ngoài.
Qua đó, Hà Nội thống trị cả Đông Dương – và qua đó họ thách thức những kẻ xâm lược ở biên kia biên giới. Cuộc xung đột tự nó đã báo trước từ lâu – không khác nhiều cho lắm khi so với những cuộc chiến tranh khác.
Hàng tháng trời, hai bên cáo buộc nhau đã xâm phạm nghiêm trọng biên giới, trước khi họ trừng phạt nhau: lúc đầu là Việt Nam trừng phạt láng giềng Campuchia, rồi Trung Quốc trừng phạt láng giềng Việt Nam. Bình luận của Đài Truyền hình Moscov: “Đây không phải là thời phong kiến Trung Quốc, và một cuộc chiến tranh như vậy phải bị trừng phạt.”
Vào ngày 9 tháng Hai, Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối tại Sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội về những cuộc tấn công và “nhiều tội phạm”.
Vào ngày 10 tháng Hai, thông tấn xã Bắc Kinh “Xinhua” cáo buộc người Việt, rằng từ tháng Giêng họ đã xâm phạm biên giới 50 lần dưới sự che chở của bóng tối, sương mù và hỏa lực.
Vào ngày 14 tháng Hai, Việt Nam phản công: 2158 lần xâm phạm biên giới trong năm năm vừa qua (cộng thêm 568 lần “xử lý bất hợp pháp đất Việt Nam”) cũng như “chuẩn bị chiến tranh một cách điên rồ”. Vào ngày 17 tháng Hai, Bắc Kinh tổng kết có 700 vụ xâm phạm biên giới với 300 người chết trong vòng sáu tháng vừa qua.
Rồi giới truyền thông Trung Quốc còn giữ kín những gì cụ thể đã xảy ra ở mặt trận trước người dân của họ nữa. Người ta cho đó chỉ là bảo vệ biên giới thôi mà. Việt Nam có nhiều kinh nghiệm trong quan hệ công chúng phân phát qua đại sứ quán vẫn tiếp tục hoạt động ở Bắc Kinh các thông báo với góc nhìn của họ về các sự việc và cũng mời nhà báo từ năm nước tới thăm thành phố trại lính Lạng Sơn: họ nhìn thấy những người nông dân đang chạy trốn và những người lính đang hành quân – không còn thấy gì xảy ra nhiều hơn từ cuộc Chiến tranh Việt-Trung trong thời đại truyền thông.
Hành động trừng phạt của Trung Quốc cung cấp cho tuyên truyền Xô viết một cái cúp độc nhất vô nhị: nỗi lo sợ Trung Quốc lâu đời của Nga dường như không còn lý do nữa, tất cả các cảnh báo đầy kích động, ảo tưởng của Moscov trước những kẻ gây chiến Bắc Kinh rõ ràng là có lý do. Giới lãnh đạo Xô viết: “Được chứng tỏ qua đó cũng là sự khinh suất mang tính tội phạm của giới lãnh đạo Trung Quốc khi cầm tới vũ khí.”
Phía sau gương mặt luôn mỉm cười của người Trung Quốc yêu hòa bình, những người thích siêng năng làm việc, tài giỏi trong buôn bán và trong biến đổi, mà việc tiến hành chiến tranh đối với họ là một việc gây phiền nhiễu từ hàng ngàn năm nay, những người lính má hồng trông giống phụ nữ của họ thích xoay tròn lưỡi lê: bất thình lình xuất hiện ở phía sau cái mặt nạ đẹp đó là nét mặt lạnh lùng của những kẻ giết người.
Những con người thực tế, những người muốn hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp một cách hợp lý và kiên quyết, bây giờ đối với nhiều người lại trông giống như những kẻ liều lĩnh hiếu chiến. Phương Tây bàng hoàng thức tỉnh sau khi hân hoan vì Trung Quốc: Đất nước có nhiều dân cư nhất thế giới có tự đẩy mình là lực lượng hòa bình lớn xuống khỏi bục hay không? Ngoại giao được kết nối hết sức nghệ thuật của Đặng – trao đổi với Nhật, Mỹ, Tây Âu – chỉ là ngụy trang cho một chính sách bạo lực?
Trong con mắt Phương Tây, lần quyết định tấn công Việt Nam gần giống như một bộc phát của tính phi lý Viễn Đông: thế giới nghi ngại nhìn một Trung Quốc rõ ràng là hung hãn trong ngoại giao cũng như trong hành động, và không thể đoán trước được giống như thời trước tại những thời hỗn loạn trong nội bộ.
Điều gì đã thúc đẩy người Trung Quốc chấp nhận tất cả những rủi ro này?
Một mối đe dọa qua những giàn phóng tên lửa Xô viết trong “Cuba của châu Á”, như Trung Quốc đã gọi Việt Nam như vậy, không thể là nguyên nhân cho lần tấn công này: Việt Nam không sở hữu hỏa tiển tầm trung có thể đe dọa được Trung Quốc.
Có lẽ Trung Quốc muốn phá vỡ vòng bao vây bởi Nga ở phương Bắc và Việt Nam ở phương Nam, cho tới chừng nào mà họ còn có khả năng? Điều này thì khó có thể hoàn tất với một hành động trừng phạt “có giới hạn”.
Trung Quốc có ý định muốn ngăn chận không cho Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết tiếp cận với nhau trong chính sách giảm căng thẳng, muốn – với những phương tiện mạnh bất hợp lý – ngăn cản [hiệp định hạn chế vũ khí] Salt II? Để làm việc này thì không có đủ bảo đảm rằng Hoa Kỳ chấp nhận “bài học” này.
Dường như rằng những người cầm quyền ở Bắc Kinh sau hàng chục năm cô lập đã mất đi khả năng phán đoán thế giới bên ngoài một cách thích hợp – điều mà một loạt sai lầm về ngoại giao ủng hộ, ví dụ như chuyến viếng thăm của Chủ tịch Hoa trên bán đào Balkan và, trong thời gian của cuộc Cách mạng Ba Tư, vua Ba Tư.
Theo cách nhìn của Trung Quốc, các động cơ cho cuộc “phản công” là hoàn toàn khác. Theo đó, chiến dịch này đã được chuẩn bị trước một cách cẩn thận, các rủi ro chính trị cũng như quân sự đã được toan tính trước là có thể chấp nhận được. Từ đường lối an ninh và quyền lực của Trung Quốc thì cuộc tấn công Việt Nam có thể giải thích một cách hợp lý: nó tương ứng với thái độ cư xử của một cường quốc.
Trung Quốc phô diễn cho thấy rằng họ không còn là kẻ khổng lồ đang mê ngủ của quá khứ nữa, không còn là quả bóng của các nhà nước nhỏ bé nữa. Tại Washington, Đặng tuyên bố trong một buổi tiệc chiêu đãi của hội đồng về chính sách ngoại giao:
Chúng tôi không thể cứ để cho Việt Nam mãi đóng vai kẻ hung hăn. Vì lợi ích của hòa bình thế giới và vì sự ổn định, và vì lợi ích của đất nước chúng tôi, chúng tôi có thể nhìn thấy mình bị bắt buộc phải hành động trái với ý muốn của chúng tôi.
Việt Nam, đất nước có thể đe dọa với thanh kiếm của Nga, tiếp tục thách thức Trung Quốc: họ xua đuổi thiểu số người Hoa của họ, họ cũng có phần của họ trong những lần xâm phạm biên giới, họ lật đổ đồng minh của Trung Quốc ở Campuchia bằng phương tiện quân sự.
Nhiều năm trời, Trung Quốc đã cảnh báo thế giới về sự bành trước của Xô viết, và đã đổ lỗi cho Tây Âu cũng như Hoa Kỳ, là đã thực hiện chính sách nhân nhượng đối với Moscov. Bây giờ, một nước chư hầu Xô viết nhỏ bé lại thách thức Trung Quốc ngay trước cửa nhà của họ. Nếu như Bắc Kinh không tỏ ý muốn ngăn nhận sự bành trướng của Xô viết ở Đông Nam Á, thì các nước trong vùng này – những nước mà nhiều năm nay Moscov đã hoài công cố gắng tranh thủ họ cho cái được gọi là một hệ thống an ninh tập thể – trong tương lai sẽ khó mà chống đỡ lại được với áp lực Xô viết.
Theo cách nhìn của mình, Trung Quốc muốn cho Phương Tây thấy rằng không chỉ Việt Nam là một con cọp giấy, mà cả người anh Liên bang Xô viết của họ nữa, sau những thành công của Xô viết tại Angola và Ethiopia, Afghannistan và có thể là cả ở Ba Tư nữa.
Nếu như Trung Quốc muốn được xem là cường quốc trong tương lai của châu Á, và là đối tác tiềm năng của Phương Tây, thì họ phải làm một điều gì đó theo sự hiểu biết riêng của họ, để đối đầu với Moscov và đồng minh Việt Nam của nó.
Thuật ngữ “chinh phạt” trong tiếng Trung Quốc cũng phù hợp với vốn từ vựng của tư tưởng chư hầu xưa cũ thời hoàng đế: Trung Quốc xuất hiện trong môi trường xung quanh nó, cái tương ứng với vòng các nước chư hầu ngày xưa, như là một cường quốc đòi hỏi. Điều đó có nghĩa là: sự bất tuân của các dân tộc ở vùng biên cương đối với trung ương sẽ bị trừng phạt.
“Đại pháo gầm vang, khói của trận đánh làm tối đen bầu trời, biển Đông hét lớn; và mắt của cả thế giới nhìn xuống Hoàng Sa, quần đảo anh hùng.” Một trường ca anh hùng gồm 30 khổ thơ của nhà thơ Đảng Trương Vinh Muội bắt đầu như vậy, bài thơ mà bất cứ đứa học trò nào ở Trung Quốc đều cũng phải học thuộc lòng.
Nó mô tả cuộc đụng độ kéo dài ba ngày mà qua đó, tàu tuần tra Trung Quốc vào đầu tháng Giêng 1974 đã đẩy các lực lượng chiến đấu của Nam Việt Nam ra khỏi quần đảo Hoàng Sa.
Ngược với kỳ vọng của nhà thơ, phần thế giới còn lại ở bên ngoài Trung Quốc và Việt Nam đã không biết tới lần giao chiến vì một chục rạn san hô không người sinh sống đó.
Nhưng đó là – ngoại trừ những giúp đỡ về vũ khí và vật chất – phần tham dự tích cực của Trung Quốc cộng sản vào cuộc chiến chống chính quyền Sài Gòn được Hoa Kỳ trợ giúp.
Hai năm sau đó – nước Mỹ đã bị xua đuổi khỏi Sài Gòn, miền Nam Việt Nam được giải phóng bởi quân đội miền Bắc cộng sản – bưu điện Việt Nam phát hành một con tem đặc biệt mà trên đó quần đảo Hoàng Sa được đánh dấu là lãnh thổ Việt Nam.
Bắc Kinh phản ứng giận dữ trước “khiêu khích to lớn” này. Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố trước giới chóp bu chính trị và quân sự: “Trong trường hợp Việt Nam cả gan muốn thôn tính quần đảo Hoàng Sa”, thì trung ương đã đưa ra chỉ thị cụ thể cho đơn vị đồn trú tại đó: tức là “phải giải quyết một cách kiên quyết, triệt để và sạch sẽ mọi xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc trong bất cứ trường hợp nào”.
Đó là lời đe dọa một cuộc chiến tranh nóng đầu tiên của Bắc Kinh. Rằng tại cuộc tranh chấp gay gắt này giữa hai láng giềng đỏ là về những mỏ dầu khổng lồ được phỏng đoán ở dưới những rặn san hô vô giá trị đó, điều này thì cho tới ngày nay cả hai bên đều không nói ra. Yêu cầu chủ quyền của cả hai bên đều dựa trên chỉ dẫn về “biên giới lịch sử”.
Nhưng trong lịch sử trên 2000 năm giữa các láng giềng thù địch này không có biên giới rõ ràng và được hai bên chấp nhận cả trên đất liền lẫn trên biển. Nhìn theo lịch sử thì Trung Quốc có thể đòi chủ quyền nhiều phần lớn của Việt Nam cũng như Việt Nam nhiều phần lớn ở Nam Trung Quốc.
Từ thời tiền sử, những gì mà con người không làm thì thiên nhiên đã lo liệu cho ở trên đất liền. Dãy núi cao cho tới 3000 mét, phần kéo dài về phía Đông của dãy Himalaya, phần lớn được phủ bởi rừng mưa nhiệt đới khó đi lại, là rào cản tự nhiên của Việt Nam chống lại Trung Quốc ở phía Bắc và Lào ở phía Tây.
Những lổ hổng duy nhất xuyên qua khối núi đá đó là các thung lũng lởm chởm của sông Hồng và sông Đà mà trong thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, các bộ tộc Việt đã từ miền Trung Trung Quốc, bị người Trung Quốc đẩy đi, lùi về phương Nam.
Triều đại các hoàng đế người Hán thôn tính miền Nam, thiết lập một chế độ quân quản, và Việt Nam ngày nay đã thuộc về “Vương quốc ở giữa” 1000 năm trời.
Tầng lớp trên, phần lớn đều có quan hệ qua hôn nhân với người Trung Quốc, nhanh chóng tiếp nhận văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo của dân tộc cai trị họ. Nhưng sự chống đối những kẻ chiếm đóng thì lại càng dữ dội hơn trong giới nông dân: một loạt những cuộc nổi dậy, tất cả đều bị nhận chìm vào trong máu, là nguyên do cho sự căm thù tỉnh táo của người Việt đối với láng giềng hùng mạnh.
Cho tới ngày nay, những người anh hùng dân tộc của Việt Nam vẫn là những người đã hy sinh trong cuộc chiến đấu giành tự do chống người Trung Quốc. Như đền thờ quan trọng nhất của Hà Nội là đền thờ Hai Bà Trưng huyền thoại, những người đã dẫn đầu cuộc nổi dậy đầu tiên của nông dân trong năm 40 trước Công Nguyên để chống hoàng đế người Hán. Khi thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai lần đầu tiên viếng thăm Hà Nội năm 1954, ông chỉ có thể bắt đầu các cuộc trao đổi sau khi đã bày tỏ sự tôn kính của mình tại tượng đài kỷ niệm những người phụ nữ du kích quân đó.
Một trong những con đường chính ở Sài Gòn được đặt theo tên người anh hùng đấu tranh giành tự do Lê Lợi, một ngư dân, người theo truyền thuyết đã chiến thắng được thế lực vượt trội của Trung Quốc nhờ vào một thanh kiếm thần và tự lên làm hoàng đế. Và tượng đài kỷ niệm quan trọng nhất ở Sài Gòn nhắc nhở tới đô đốc Trần Hưng Đạo, người đã chiến thắng hạm đội Trung Quốc năm 1284, bằng cách dụ họ vào luồng nước nông, nơi các chiếc thuyền bị đâm thủng bởi hàng ngàn cọc nhọn bằng tre đã được dấu kín.
Sự phản kháng tiềm tàng thành công: vùng đất định cư của người Việt, bị chinh phục về quân sự, có tên là “An Nam” (miền Nam được bình định), có thể vứt bỏ sự cai trị của nước ngoài và thành lập triều đại riêng của mình với vương quốc Đại Việt. Bắt đầu từ thế kỷ 11, các vị vua còn trở thành hoàng đế, phải triều cống hoàng đế hùng mạnh hơn nhiều ở Trung Quốc.
Đối với Bắc Kinh, đất nước An Nam bên cạnh Nhật Bản và Triều Tiên là “em”, người theo học thuyết của Khổng Tử “phải vâng lời người anh”.
Hoàng đế và quan lại kình địch nhau đã chia cắt đất nước, chỉ một lãnh tụ dân nhân có thể vứt bỏ thêm một lần nữa sự giám hộ của người láng giềng. Năm 1787, Tây Sơn Nguyễn Huệ, một người con trai của các dân tộc miền núi không thuộc dân tộc Việt, tiến quân chống hoàng đế Lê của Việt Nam được Trung Quốc hỗ trợ. Ông lật đổ người cai trị, xua đuổi người Trung Quốc và tự mình lên làm hoàng đế Quang Trung. Nhưng ngay đến người nổi loạn này cũng tuân theo học thuyết đạo Khổng: Việt Nam tiếp tục triều cống cho triều đình ở Bắc Kinh.
Ngay cả khi người Pháp xâm chiến dần từng phần một đất nước này, và buộc triều đình An Nam phải ký một hiệp định về “trợ giúp chống mọi xâm lược từ bên ngoài và những cuộc nổi dậy từ bên trong, người Việt vẫn tiếp tục nghi thức khuất phục của mình đối với Bắc Kinh.
Sử gia người Việt Hoang Van Chi lý giải sự phục tùng khó hiểu đó:
Tuy là nền văn hóa Trung Quốc vào lúc ban đầu rất tốt cho Việt Nam, nhưng cùng với học thuyết Khổng Tử, nó đã thành một công thức, in sâu cùng một hình dạng vào trong mỗi một cái đầu và qua đó đã loại trừ những ý tưởng độc lập và tinh thần đổi mới… Sự nô dịch của người Việt Nam dưới chủ nghĩa thực dân Phương Tây là hậu quả của sự nô lệ lâu dài trong nền văn hóa cứng nhắc của Trung Quốc.
Mục đích thật sự mà vì nó thế lực thực dân Pháp đổ bộ vào An Nam và sau đó vào Bắc Kỳ nằm ở Trung Quốc: người Pháp muốn thâm nhập vào Nam Trung Quốc dọc theo sông Hồng và nếu cần thì sẽ dùng lưỡi lê để phá vỡ những cánh cửa vào thị trường Trung Quốc đã bị Bắc Kinh đóng kín.
Cũng vì vậy mà một trong các việc làm tiên phong ở châu Á, công cuộc xây dựng đường sắt của Pháp, kết quả của chiến lược dành cho Trung Quốc của Pháp, hầu như không mang lại lợi ích gì cho nước Việt Nam bị Pháp chiếm đóng.
Vì đoạn đường sắt đầu tiên dài tròn 1000 kilômét, được đặt trên 107 cây cầu và qua 172 đường hầm xuyên qua rừng núi dưới những cực nhọc và hy sinh không tả xiết, dẫn từ thành phố cảng ở Bắc Việt Nam Hải Phòng qua Hà Nội vượt qua biên giới vào Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam nằm cạnh biên giới.
Mãi cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa thực dân trong những năm giữa hai thế chiến mới mang giới đối lập có tư tưởng quốc gia chủ nghĩa từ Trung Quốc và Việt Nam lại với nhau. Các ý tưởng của người thành lập nước Cộng hòa Trung Hoa Tôn Dật Tiên đã tạo phấn khởi cho Mao và Chu Ân Lai cũng như cho các người Việt Hồ Chí Minh và Pham Văn Đồng.
Những người bạn về chính trị phát hiện nhiều gốc rễ chung: hơn năm mươi phần trăm tiếng Việt là từ vay mượn từ tiếng Trung, chữ tiếng Việt, được phát triển trong thế kỷ 14 từ ký tự Trung Quốc, mãi 300 năm sau đó mới nhận được phiên âm La tinh qua các nhà truyền giáo châu Âu.
Lúc 180.000 lính Quốc Dân Đảng Trung Quốc chiếm đóng miền Bắc Việt Nam sau khi Đệ nhị Thế chiến chấm dứt theo quyết định của phe Đồng Minh, những người cộng sản Việt Nam còn sẵn sàng hợp tác với những kẻ chiếm đóng. Họ thu thập tiền và tặng cho thống đốc Trung Quốc tướng Trương Phát Khuê một bộ hút thuốc phiện bằng vàng: Họ thích triển vọng trở thành một tỉnh của Trung Quốc hơn là việc người quốc gia chủ nghĩa cánh hữu chiến thắng ở Việt Nam.
Một chương lịch sử Đảng mà những người cộng sản của Hồ Chí Minh nhanh chóng quên đi khi người cộng sản Mao nắm lấy quyền lực ở Trung Quốc: trong một vài năm, cho tới khi cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc bùng nổ, Bắc Kinh và Hà Nội thật sự là gắn kết với nhau “như môi với răng”: Trung Quốc cách mạng là gương mẫu cho một Việt Nam cách mạng.
Thế nhưng ý muốn làm bá chủ của giới lãnh đạo Hà Nội, yêu cầu được thể hiện hết sức rõ ràng, muốn lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng không chỉ cho Việt Nam mà cho toàn Đông Dương, chẳng bao lâu sau đó đã làm cho các đồng chí Trung Quốc bực dọc.
Đặc biệt là Chu Ân Lai đã hết sức ghê tởm các cuồng vọng của Việt Nam. Chu nói về người anh hùng chiến tranh của Việt Nam, tướng Giáp: “Một tên hạ sĩ quan lên mặt ta đây.”
Ngược lại, Việt Nam chế giễu công khai cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc mà sự lộn xộn của nó không phù hợp với kỷ luật quân đội của tình trạng tổng động viên liên tục ở Việt Nam. Trong giai đoạn này, từ 1965 tới 1970, định hướng mới mang lại nhiều hậu quả nặng nề của Hà Nội, quay sang với Liên Bang Xô viết, được đưa ra.
Trung Quốc thành công thêm một lần nữa trong việc áp đặt ý muốn của mình lên Hà Nội: Trong tháng Tư 1970, các lãnh tụ của bốn mặt trận đang chiến đấu ở Đông Dương gặp nhau tại Quảng Châu: Việt Cộng của Nam Việt Nam, Pathet Lào của Lào, Khmer Đỏ của Campuchia và Quân đội Giải phóng Nhân dân của Bắc Việt Nam.
Dưới sự giám sát của Chu, các đại biểu long trọng hứa hẹn tại chiếc bàn vuông, rằng sẽ bảo đảm cho nền độc lập của láng giềng ngay cả khi chiến thắng. Việt Nam, Campuchia và Lào, ba người em nhỏ, tốt hơn nữa là một Việt Nam bị chia cắt, tức là bốn, điều đó cũng phù hợp với các ý tưởng của Bắc Kinh về một cảnh quang chính trị trước cửa nhà của họ.
Những sự việc đã diễn ra khác đi. Còn trước cả chiến thắng ở Nam Việt Nam, người ta đã có thể thấy rõ, rằng mặc cho tất cả những lời hứa hẹn, Hà Nội vẫn không từ bỏ giấc mơ về một Đông Dương thống nhất và có sức chiến đấu mạnh. Chỉ nhờ vào sự giúp đỡ của Trung Quốc, người Khmer Đỏ ở Campuchia mới có thể chiến thắng được hoàn toàn, Hà Nội và Moscov khước từ không cung cấp vũ khí hạng nặng cho họ.
Ngược lại với ý muốn của Bắc Kinh, Hà Nội nhanh chóng thống nhất hai miền đất Việt Nam, và bắt đầu một cuộc tranh chấp biên giới đẫm máu với láng giềng Campuchia.
Trong tháng Ba 1978, ở biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng đã có trận chiến đầu tiên giữa hai liên đoàn xe tăng thù địch rồi – việc mà cả hai bên kiên quyết phủ nhận. Một nhà ngoại giao Á châu ở Hà Nội nói với SPIEGEL: “Bắc Kinh bực tức những đứa trẻ con hỗn xược trong ngôi vườn ở phía Nam của Trung Quốc.”
Trong đêm rạng sáng ngày 1 tháng Năm 1970, khi quân đội Mỹ tiến vào Campuchia, tổng thống Hoa Kỳ Nixon đã lý giải quyết định xâm lấn của ông trên truyền hình: “Khi các con bài được lật ngữa”, thì Hoa Kỳ không được phép được đứng đó như một “tên khổng lồ bất lực đáng thương hại”. “Cái được thử thách vào đêm nay không phải là sức mạnh của chúng ta, mà là ý chí và tính cách của chúng ta.
Trung Quốc cộng sản cũng đã nhiều lần sẵn sàng chứng minh một cách kỳ lạ như vậy cho những rủi ro từ quyền lực của nhà nước. Ở Triều Tiên, người Trung Quốc đánh đuổi người Mỹ, những người đã cân nhắc tới việc tấn công bằng bom nguyên tử, từ biên giới Jalu với Trung Quốc về cho tới vỹ tuyến 38. Họ dừng lại ở đó – một chiến dịch có giới hạn.
Năm 1958, họ đấu pháo binh với Đài Loan trên các hòn đảo Kim Môn và Mã Tổ – và mặc dù vậy vẫn không đổ bộ lên các hòn đảo. Năm 1962, họ tấn công Ấn Độ – và sau nhiều tháng chinh chiến trên núi đã đơn phương tuyên bố ngưng bắn. Họ trao trả các từ binh và vũ khi thu được.
Năm 1969, họ có giao tranh ở biên giới với Liên bang Xô viết cạnh sông Ussuri – và không để xảy ra chiến tranh lớn. Một nhà ngoại giao Xô viết sau đó đã nói với SPIEGEL, Moscov đã dạy cho Trung Quốc “một bài học” mà họ sẽ không thể quên được. Thế như hòn đảo bị tranh chấp Damanski/Trân Bảo cho tới nay vẫn thuộc Trung Quốc.
Thời gian dài chuẩn bị tấn công Việt Nam cho thấy chính khách Bắc Kinh cũng đã cân nhắc và lập kế hoạch cẩn thận cho chiến dịch này.
Họ di tản gần nửa triệu người Trung Quốc từ biên giới với Liên xô sâu vào 30 kilômét và qua đó đã tính toán trước với một phản ứng của Nga. Hoa Kỳ và Nhật Bản được Đặng đích thân thông báo trước về đại cương, ngay cả khi không được thông báo về thời điểm và quy mô. Ba ngày trước lần tấn công, tờ báo Đài Loan “Lien-ho” nói rằng ở Nhật Bản, người ta đã được thông báo trước về những biện pháp phản công có thể có của Trung Quốc.
Rủi ro, nước ngoài Phương Tây có thể quay mặt đi với một Trung Quốc hung hãn, rõ ràng là được xem nhẹ. Với cuộc “phản công”, Trung Quốc cũng tính toán trước rằng mình sẽ không bị ưa thích trên thế giới, tờ “Politika” của Nam Tư tường thuật hồi tuần trước từ Bắc Kinh. Nhưng nó tin rằng phản ứng có hại này sẽ không kéo dài. Người Trung Quốc không có sự lựa chọn nào khác.
Cho tới cuối tuần vừa rồi, dẫn sao đi nữa thì họ cũng đã tính toán đúng. Vào thứ Tư, trong lúc chiến sự đang diễn ra, ủy viên Liên minh châu Âu Roy Jenkins đến Bắc Kinh. Tại buổi tiệc chiêu đãi đầu tiên của mình, ông xác nhận: “Mỗi người trong chúng ta đều có một mối quan tâm đặc biệt tới sức mạnh và thịnh vượng của người kia.” Phái viên của tập đoàn Liên bang Đức MBB ký kết ở Bắc Kinh một hiệp định về bán vệ tinh truyền hình, trực thăng và dụng cụ y khoa.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Blumenthal bắt đầu chuyến đi theo kế hoạch của ông tới Bắc Kinh. Chuyên gia Xô viết của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Marshall Shulman, thông báo đường hướng của Hoa Kỳ: không có quan hệ ngoại giao với Việt Nam (việc này sắp sửa xảy ra), không hoãn việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, việc đã được lên kế hoạch cho tuần này. Shulman: “Bình thường hóa nằm trong mối quan tâm của chúng tôi.”
Đối với Moscov, cuộc tấn công của Đặng thì lại là kết quả một sự cộng tác của Hoa Kỳ với Trung Quốc – đồng thời, Điện Kreml cũng ra hiệu cho người dân của họ, rằng cả những khả năng can thiệp của mình cũng bị giới hạn, nếu như không muốn thách thức người Mỹ và qua đó là mạo hiểm một cuộc chiến tranh lớn. Sự mỉa mai của chiến lược Trung Quốc: họ dự tính rằng Liên bang Xô viết sẽ lui lại trước một cuộc chiến tranh thế giới.
Liên bang Xô viết cũng hầu như không thể tấn công trực tiếp bằng vũ khí hạt nhân, vì ngày nay Trung Quốc đã có khả năng điều khiển tên lửa tầm xa có đầu đạn hạt nhân cho tới Moscov. Vì vậy và các nhà lập kế hoạch ở Bắc Kinh rõ ràng là cũng đánh giá thấp mối nguy hiểm của một cuộc can thiệp bằng phương tiện quân sự của Xô viết vào xung đột với Việt Nam.
Có thể nghĩ tới một cuộc chinh phạt Xô viết: một chiến dịch nhanh với những tập đoàn lớn, cơ động, tiến tới các trung tâm của Trung Quốc, trở về lại bên này biên giới sau khi phá hủy chúng.
Theo tính toán của Trung Quốc, một chiến dịch săn lùng như vậy có thể được tiến hành từ Mông Cổ hướng về Bắc Kinh hay về vùng thưa dân cư Tân Cương hay trải ra trên những vùng công nghiệp và mỏ dầu ở Mãn Châu – trong trường hợp nào thì cũng là một chiến dịch liều lĩnh.
Ngay mùa Đông lạnh giá là đã chống lại những hành động như vậy rồi: vùng Amur và Ussuri đang có tuyết cao bốn mét. Chuyên gia người Mỹ Shulman cho rằng những trận tấn công như vậy là “không có thể”.
Vì việc hết sức đáng ngờ là liệu Liên bang Xô viết có muốn chấp nhận những rủi ro như vậy vì nước Việt Nam xa xôi hay không. Moscov luôn có khuynh hướng để cho những nhóm hỗ trợ mang hạt dẻ ra khỏi đám lửa đang cháy, như người Cu Ba.
Liên bang Xô viết – nếu như họ không muốn đứng đó như là con cọp giấy – chỉ còn cách tăng sự giúp đỡ cho Việt Nam. Và vì vậy mà trong tuyên bố đầu tiên ủa họ, người Xô viết ca ngợi khả năng của Việt Nam, chiến thắng bằng chính sức lực của mình.
Đó thật sự là mối nguy hiểm lớn nhất cho Trung Quốc – rằng cuộc trừng phạt thất bại tại con số nạn nhân. Dự tính, sau khi đưa ra “bài học”, tức là tiêu diệt nhiều đơn vị lớn của Việt Nam, sẽ rút lui về từ đất địch, rõ ràng là đã không thành công ở cuối tuần vừa rồi.
“Quyền lực của Trung Quốc chỉ xa như bộ binh của họ có thể hành quân tới”, một nhà ngoại giao quân sự ở Viễn Đông mô tả khái quát khả năng của Quân đội Giải phóng Nhân dân lạc hậu về kỹ thuật. Nhưng bộ binh Trung Quốc muốn hành quân xa cho tới đâu?
Hôm thứ Ba, thứ trưởng Bộ ngoại giao Hà Tĩnh thông báo cho đại sứ Libanon như là trưởng đoàn đoàn ngoại giao ở Bắc Kinh, quân đội Trung Quốc đã bắt đầu rút lui về nước. Ngay sau đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phủ nhận tin này.
Cuộc phản công của Việt Nam vừa mới bắt đầu vào thời điểm này: khéo léo về chiến thuật – theo nguyên tắc của Mao: “Kẻ địch tấn công, chúng ta lui lại” – Hà Nội đã rút phần lớn quân chính quy của họ ra khỏi các vùng đất biên giới và để cho lực lượng dân quân địa phương chống cự đầu tiên. Một nhà ngoại giao Hoa Kỳ: “Bắc Kinh không tính trước với việc là người Việt Nam sẽ làm điều mà người Trung Quốc sẽ làm khi người Nga tấn công họ.”
Thế nhưng người Việt cũng đã phải cho các đơn vị chính quy từ Bắc Lào hành quân về tỉnh Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc Việt Nam và người ta còn cho rằng đã rút một phần ba lính của họ từ Campuchia về – đúng theo tính toán của Trung Quốc, lôi kéo Việt Nam vào trong một cuộc chiến hai mặt trận.
Vì ở Campuchia, chiến tranh không hề chấm dứt. Ở đó, có ước chừng 20.000 du kích quân của Khmer Đỏ đang chiến đấu chống lại những kẻ chiếm đóng người Việt.
Đài phát thanh bí mật của họ, đóng ở Nam Trung Quốc, loan báo cả chục cuộc tấn công vào tuần trước. Trước đây ba tuần, Khmer Đỏ chiếm tỉnh lỵ Takéo và giữ nó ba ngày liền.
Theo nhận biết của tình báo Thái Lan, những người kháng chiến này có xe bọc thép và đại bác. Vũ khí, đạn dược và lương thực được mang lên núi với số lượng lớn trước khi người Việt tiến vào.
Kho hàng trong các thành phố đã trống rỗng, những người chiếm đóng đang gặp khó khăn về cung cấp. Từ lý do này mà người dân còn chưa trở về các thành phố.
Người ta cho rằng tinh thần chiến đấu của những người chiếm đóng không được tốt: du kích quân không bắt tù binh. Họ giết chết các trưởng làng do người Việt bổ nhiệm. Lòng căm thù truyền thống của người dân Campuchia đối với người Việt bắt đầu xua đi nỗi niềm vui mừng được giải phóng khỏi chủ nghĩa cộng sản đồ đá của Khmer Đỏ.
Vì vậy mà vào tuần vừa rồi trông có vẻ như một cuộc chiến kéo dài mới ở Đông Dương đang bắt đầu thay thế cho “chiến dịch có giới hạn” của Trung Quốc, với tổn thất nặng cho tất cả các bên.
“Các anh chị nghĩ rằng chúng tôi không có cơ hội chống lại người Trung Quốc ư?” Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch hỏi nhà báo hồi tuần rồi ở Liên Hiệp Quốc. “Các anh chị hãy nhớ rằng trong lịch sử của mình, Việt Nam đã chiến đấu thành công chống lại một một vài nước rất lớn.”
Cuộc Chiến tranh Lạnh kế tiếp
Guam là một hòn đảo nhỏ ở giữa Thái Bình Dương, cách Hongkong bốn và cách Hawaii sáu giờ bay. Từ 1899, Guam là lãnh thổ của Hoa Kỳ. Nó có tầm quan trọng chiến lược to lớn đối với Hoa kỳ. Nó là tiền đồn cực Tây của họ ở Thái Bình Dương. Từ đây, máy bay và tàu chiến của họ có thể khởi hành hướng về châu Á trong trường hợp khẩn cấp.
Đối với người Mỹ thì hòn đảo này giống như một chiếc hàng không mẫu hạm nằm tại chỗ. Đóng trên Anderson Air Force Base là những chiếc máy bay ném bom chiến lược B-2 và B-52 cũng như những chiếc máy bay chiến đấu F-15 và F-22. Đường băng cất và hạ cánh vừa được cải mới cho chúng. Người Mỹ đã tốn tổng cộng 40 tỉ dollar vào trong việc hiện đại hóa căn cứ Guam.
Ngay từ những năm 60 và 70 trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, Guam đã đóng một vai trò chiến lược quan trọng, Và ngày nay, Guam lại cũng quan trọng giống như vậy đối với người Mỹ. Nhưng dẫu cho Guam là một mảnh ghép rất quan trọng, thì nó cũng chỉ là một mảnh ghép trong chiến lược châu Á mới của Mỹ.
Trong những năm vừa qua, giới quân sự Mỹ đã khéo léo mở rộng các quan hệ thân thiện cũ trong vùng và giao kết quan hệ mới – từ Đông Á qua Đông Nam Á cho tới Nam Á, từ Nhật cho tới Ấn:
Nhật Bản: đồng minh trung thành nhất của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương là Nhật Bản. Hai quốc gia liên kết chặt chẽ với nhau qua một hiệp ước an ninh. Treaty of Mutual Cooperation and Security netween the United States and Japan, được ký kết năm 1960, quy định hai quốc gia hỗ trợ cho nhau nếu như lãnh thổ của họ bị tấn công. Tròn 38.000 người lính Mỹ từ mọi binh chủng đóng quân ở Nhật.
Hoa Kỳ rất muốn mở rộng liên minh với nước Nhật qua Hàn Quốc. Cũng đã có những cuộc tập trận chung trên biển đầu tiên của ba quốc gia. Nhưng đề tài này rất nhạy cảm, vì Hàn Quốc và Nhật Bản có những mối hận thù lịch sử. Ví dụ như hiệp ước quân sự đầu tiên giữa Seol và Tokio đã bị hủy chỉ vài giờ trước khi ký kết vào cuối tháng Sáu 2012.
Nam Hàn: Đối với Hoa Kỳ, Nam Hàn giống như một cậu trẻ gương mẫu về quân sự. Người Hàn Quốc nhộn nhịp tăng cường vũ trang từ nhiều năm nay. Tỷ lệ chi phí cho quân đội trên tổng sản phẩm quốc dân cao hơn là ở Trung Quốc và Nhật Bản. Hoa Kỳ còn đóng tròn 28.000 người lính trên Hàn Quốc. Tuy Hàn Quốc và Trung Quốc có gắn kết chặt chẽ về kinh tế, và họ có cùng trải nghiệm gây chấn thương của thời Nhật Bản chiếm đóng, nhưng hai láng giềng này cũng không còn có điểm chung nào nữa. “Không có điều gì cho thấy rằng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ thay thế Hoa Kỳ trở thành đồng minh quan trọng nhất của Nam Hàn trong tương lai gần đây”, Sebastian Heilmann và Dirk Schmidt viết. Nam Hàn sẽ vẫn ở bên phe của Mỹ.
Philippinies: Đó là một nghi thức mang tính tượng trưng trên chiếc USS Fitzgerald trong vịnh Manila. Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thời đó Hillary Clinton đã nhân chuyến đi thăm của bà trên chiếc tàu hàng không mẫu hạm vào giữa tháng Mười Một 2011 để đưa ra một lời phát biểu rõ ràng: “Hòa Kỳ sẽ luôn luôn đứng bên cạnh Philippines, và chúng tôi sẽ chiến đấu cùng với các anh.” Tình hữu nghị giữa Hoa Kỳ và quốc đảo này không phải lúc nào cũng chặt như vậy. Vào đầu những năm 90, người Mỹ đã phải đóng cửa căn cứ không quân Clark và căn cứ hải quân Subic Bay trên Philippines. Bây giờ, người Mỹ quay lại – tất nhiên là với những đơn vị nhỏ hơn, nhưng có sức chiến đấu mạnh hơn. Giới quân đội Philippines cần sự giúp đỡ này, vì trước hết là hải quân của họ bị cho rằng không có nhiều sức chiến đấu cho lắm. Lực lượng này nhỏ và phải dùng vật liệu lỗi thời. Về mặt thể chế, Hoa Kỳ và Philippines cũng thắt chặt quan hệ của họ. Năm 2012 là lần đầu tiên có những cuộc trao đổi được gọi là 2+2 mà các bộ trưởng bộ ngoại giao và quốc phòng của hai nước gặp nhau ở đó.
Việt Nam: Lần đầu tiên sau 30 năm, một bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ lại đến thăm vịnh Cam Ranh vào đầu tháng Sáu năm 2012. Leon Panetta nói rất đúng – với một chiếc mũ bóng chày trên đầu – trên tàu USS Richard E. Byrd: “Đây là một chuyến đi lịch sử.” Vịnh Cam Ranh, nằm trong Nam Việt Nam trước đây, là một căn cứ hải quân quan trọng đối với người Mỹ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Thời đó, họ xây mở rộng nó thành cảng tự nhiên lớn nhất của Đông Á. Và bây giờ thì người Mỹ đã trở lại, họ lại được phép cập cảng này. Gần 40 năm sau khi Chiến tranh Việt Nam chấm dứt lại có những cuộc tập dượt quân sự của hai địch thủ ngày xưa. Chiếc hàng không mẫu hạm USS George Washington và tàu khu trục hạm USS John McCain đã cùng tập dượt với hải quân Việt Nam trên biển Đông. Đi kèm theo những lần tập dượt quân sự đó là những cuộc trao đổi tích cực trên bình diện chính trị cao nhất. Từ 2009 đã có US-Vietnam Political, Security and Defence Dialogue được thể chế hóa. Người Mỹ còn muốn tăng cường thêm cho các quan hệ. Họ cố gắng vươn tới một đối tác chiến lược với nước cộng sản này. Người Mỹ còn chưa cung cấp – ít nhất là chính thức – vũ khí. Việt Nam, nước đã tăng cường vũ trang mạnh trong những năm vừa qua, mua theo truyền thống ở Nga. Họ vừa mới đặt máy bay chiến đấu Su-30 và sáu chiếc tàu ngầm hạng Kilo. Chí phí tổng cộng: 3,2 tỷ dollar.
Myanmar: Cả một thời gian dài là một quốc gia bị bài xích, Myanmar – Miến Điện trước đây – đã biến đổi trong những năm vừa qua. Chính phủ dân sự đang cầm quyền, vẫn còn bị giới quân đội thống lĩnh, tạo cho mình một lớp sơn dân chủ, cuối cùng cũng để cho nữ chính khách đối lập nổi tiếng thế giới Aung San Suu Kyi vào Quốc Hội. Và bất thình lình, các quốc gia Phương Tây ve vãn chính quyền mới. Hillary Clinton tới thăm vào cuối tháng Mười Một 2011 như là chính trị gia hàng đầu đầu tiên của Phương Tây, và trong tháng Mười Một 2012, Barack Obama vừa tái đắt cử đã lướt qua cựu thủ đô Yangoon của Miến Điện sáu giờ đồng hồ trong chuyến đi ra nước ngoài đầu tiên (!) của mình. Cũng đã có những cuộc trao đổi bí mật giữa các chuyên gia quân đội hai bên với mục đích đào tạo người quân đội Miến Điện ở Hoa Kỳ. Hoa Kỳ bây giờ hưởng lợi từ việc rằng cả trong thời tẩy chay bởi Phương Tây, họ luôn giữ tiếp xúc không chính thức với giới quân đội. Hoa Kỳ là nước Phương Tây duy nhất có một tùy viên quân sự trong sứ quán của họ.
Thái Lan: Quan hệ với Thái Lan là một trong những quan hệ đối tác lâu đời nhất giữa Hoa Kỳ và một nước châu Á. Nó bắt nguồn từ một hiệp ước năm 1833. Thế nhưng trong những năm vừa qua, quan hệ giữa hai đối tác lâu năm này đã trì trệ. Đồng thời, các quan hệ của Thái Lan đối với Trung Quốc lại ngày một tốt hơn. Ian Storey, chuyên gia ở International Institute for Strategic Studies (IISS) tại Singapore, nói: “Trong tất cả các quốc gia ở Đông Nam Á, Thái Lan có những quan hệ quân sự chặt chẽ nhất với Trung Quốc.”
Singapore: Quốc đảo nằm ở khởi điểm của Eo biển Malacca cho phép bốn chiếc tàu chiến siêu nhanh của người Mỹ, những cái được gọi là Littoral Combat Ships (LCS) thường xuyên cập bến cảng Singapore. Chiếc đầu tiên của những tảu này đến đó vào trong mùa Xuân 2013 và được phép đóng ở đó mười tháng. Singapore đồng minh tuy không phải là một căn cứ quân sự chính thức của người Mỹ, nhưng người ta có thể gọi đó là một căn cứ trên thực tế.
Indonesia: Cả một thời gian dài, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Indonesia bị trục trặc. Nhưng từ khi đất nước này biến đổi từ một chế độ độc tài sang một nền dân chủ bền vững, Hoa Kỳ và Indonesia đã tiến lại gần nhau. Trong năm 2010, một Comprehensive Partnership Agreement được ký kết, cái cũng bao gồm cả một cộng tác quân sự. Hiện nay, người Mỹ cũng cung cấp vũ khí cho quân đội Indonesia, ví dụ như hai chục chiếc máy bay chiến đấu F-16 đã qua sử dụng và tám chiếc trực thăng Apache mới tinh.
Úc: Hoa Kỳ và Úc có một truyền thống cộng tác quân sự trên 60 năm. Sự cộng tác này còn được tăng cường thêm trong những năm vừa qua. Trong một thỏa thuận trong tháng Chín năm 2011, Úc cho phép Hoa Kỳ tiếp cận không giới hạn các căn cứ và cảng quân sự của Úc. Có tầm quan trọng đặc biệt trong đó là Darwin, thành phố cảng ở miền Tây Bắc của Úc. Thành phố này nằm gần biển Đông nhất. Người Mỹ muốn đóng tròn 2500 lính Thủy quân Lục chiến ở đó, Darwin cũng có thể được mở rộng thành căn cứ cho máy bay Hoa Kỳ, vì Guam đơn giản là nằm cách quá xa những điểm nóng trong tương lai.
Ấn Độ: Dưới thời của Tổng thống George W. Bush, một hiệp ước bảo vệ (New Framework for the US-India Defense relationship) có hạn mười năm được ký kết năm 2005 giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ. Sự tiếp cận về quân sự này diễn ra tiếp tục dưới thời Obama. Ấn Độ, cả một thời gian dài phụ thuộc vào vũ khí do Nga cung cấp, hiện nay đã mua ngày càng nhiều trên thị trường vũ trang Mỹ. Dù là pháo siêu âm, trực thăng có trang bị hỏa tiển hay máy bay vận tải – hiện giờ thì người Mỹ sẵn sàng thỏa mãn các ước muốn của quân đội Ấn.
Bên cạnh nhiều liên minh và hợp tác đa phương này, người Mỹ cũng cỗ vũ cho sự cộng tác về quân sự giữa các đối tác châu Á của họ. Dấu hiệu rõ rệt nhất là con số tăng lên của những cuộc tập trận trên Thái Bình Dương mà thường có nhiều quốc gia tham dự.
Trước những hoạt động đa dạng về quân sự này của người Mỹ ở châu Á, người Trung Quốc có cảm giác họ bị Hoa Kỳ và bạn bè hay đồng minh của nó bao vây. Họ nhìn thấy một vòng vây theo dạng của một chữ C lớn, cái trải dài từ Nhật Bản qua Đông Nam Á cho tới Ấn Độ. Đái Húc, đại tá không quân Trung Quốc còn nhìn thấy cả một NATO Á châu đang thành hình.
Người Mỹ tất nhiên là chối cãi việc họ muốn bao vây hay ngăn chận Trung Quốc. Dù đó là Obama, Biden phó của ông hay giới cao cấp trong quân đội Hoa Kỳ – họ phủ nhận làu làu là có những ý định xấu xa như vậy. Ví dụ như Phó Tổng thống Joseph R. Biden thường hay nói: “Tôi dứt khoát cự tuyệt những ý nghĩ của một sự bao vây.”
Nhưng người ta không cần phải là chuyên gia quân sự để nhận ra một mâu thuẫn lớn giữa những lời nói và việc làm này. Chính sách liên minh trong những năm vừa qua của Mỹ ở châu Á cần phải chống lại ai nếu như không chống lại Trung Quốc?
Người ta cũng phải lên án cả người Trung Quốc vì sự không thành thật này. Họ ngây thơ tuyên bố rằng họ không có ý định làm bá chủ ở châu Á, thế nhưng hành động của họ đã cho thấy rằng họ nói dối.
Một chính sách mới có nhiệm vụ hệ thống hóa và củng cố ảnh hưởng của Trung Quốc trên toàn thế giới. Tất cả trong một quy mô chưa từng có, và với một vận tốc mà chưa từng có quốc gia nào trải qua trước đó.
Thị trưởng Xiao Jia đã mời các nhân sĩ của thàng phố Tam Sa tới dự lễ động đất cho trường học xa xôi nhất và đắt tiền nhất của thế giới. Nhiều người khách không tới. Thành phố trẻ tuổi nhất của Trung Quốc chỉ mới có 1443 người dân. Đối với 40 đứa trẻ của ngư dân địa phương, nhân viên nhà nước và quân đội thì một giấc mơ đã trở thành hiện thực.
Chính phủ Bắc Kinh cách đó 3700 kilômét cấp 36 triệu nhân dân tệ (4,5 triệu euro) để xây trường học. Giữa tháng Sáu, viên đá đầu tiên được đặt trên đảo Vĩnh Hưng (đảo Phú Lâm). “18 tháng nữa, ngôi trường sẽ được xây hoàn tất”; thị trưởng Xiao long trọng nói. Thông tấn xã “Xinwenshe” reo mừng: “Thời gian không có trường học riêng cho thành phố Tam Sa đã chấm dứt.”
Tam Sa không phải chờ đợi lâu. Thành phố ở trên biển, cách bờ biển Nam của tỉnh Hải Nam 350 kilômét, chỉ mới có từ hai năm nay. Mảnh đất rộng 2,13 kilômét vuông ít nhất thì cũng là lớn nhất trong số 40 rạn san hô và bãi cát của quần đảo Hoàng Sa. Tháng Sáu 2012, Tam Sa thông qua một quyết định hành chánh đã được nâng lên thành thành phố nhỏ nhất của Trung Quốc.
Thế như Bắc Kinh có nhiều ý định to lớn với thành phố đảo này. Nó là cứ điểm đầu tiên trong các kế hoạch bành trước địa chính trị của nước Cộng hòa Nhân dân, để đặt chân lên biển Đông theo đúng nghĩa đen của nó. Và nó sẽ không phải là cứ điểm cuối cùng. Tam Sa là một phần của một chiến lược mới mà với nó, người đứng đầu nhà nước Tập Cận Bình muốn làm cho một giấc mơ trở thành hiện thực: Trung Quốc cần phải trở thành một “nước lớn”, một vương quốc rộng khắp thế giới.
Trung Quốc trả giá cho những đầu tư vào các chính phủ tham nhũng
Vì vậy mà bây giờ mọi việc diễn ra nhanh chóng ở Tam Sa: bốn tuần sau khi được thành lập, thành phố có một hội đồng riêng với 45 đại biểu đến từ Hải Nam. Cuối tháng Bảy 2012, nhân viên nông nghiệp trước đây của Hải Nam, Xiao Jie, được bổ nhiệm làm thị trưởng. Ông ấy ngự trong một tòa nhà thị chính có mái vòm. Ủy ban Quân sự Bắc Kinh đóng quân ở một trại lính.
Qua đó, Trung Quốc có được một trung tâm hành chánh ở biển Đông mà nhờ vào nó họ muốn tạo nên một lối đi vào không gian sống mới, cũng như tới các vùng biển có nhiều cá và tài nguyên, trước hết là dầu và khí đốt. Kế hoạch của Bắc Kinh dự định trong tương lai sẽ sử dụng đại dương như là điểm xuất phát cho sự bành trước thương mại chính trị toàn cầu của họ, để bảo đảm tiếp tế nguyên liệu và cung cấp năng lượng. Nhưng cũng để tái nâng cao tăng trưởng kinh tế và có được những thị trường tiêu thụ mới ở Nam Á và châu Phi.
Cho tới nay, một chính sách “Go Global” được điều phối không tốt chỉ dẫn tới điều là nhiều đầu tư và dự án công nghiệp ở nước ngoài đã thất bại. Quỹ đầu tư nhà nước CIC phải chấp nhận nhiều vụ thua lỗ nặng tại các đầu tư bạc tỉ của họ, vì các nhà quản lý quỹ đầu tư không có kinh nghiệm. Doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào các dự án cảng biển và cảng hàng không trên bán đảo Krym bây giờ do nước Nga chiếm giữ, ở bờ biển Pakistan, ở Nicaragua, tại Piraeus của Hy Lạp hay tại phi trường nhỏ Parchim của Đức. Thế nhưng tất cả các dự án này được kết nối quá ít với nhau để mà có hiệu quà.
Bắc Kinh luôn đánh giá quá thấp mối nguy hiểm nằm trong việc đầu tư vào các nhà nước có nhiều rủi ro với chính quyền chuyên chế và tham nhũng. Trung Quốc đã phải trả giá cho các nhận định sai lầm này. Năm 2011, Bắc Kinh phải đón về 35.000 công nhân cho các dự án từ Libya và 1800 từ Ai Cập. Bắc Kinh trả tiền và can thiệp vào trong nhiều vụ bắt cóc kỹ sư của họ – từ Pakistan cho tới Trung Phi. Mới đây, trong tháng Năm sau những vụ bạo loạn chống Trung Quốc ở Việt Nam, Bắc Kinh phải di tản tròn 3500 công nhân từ các nhà máy ở đó và trong tháng Sáu đã cứu 1200 người ở Iraq đã rơi vào giữa hai chiến tuyến.
“Chiến lược Đường Tơ lụa Đôi”
Một chính sách mới bây giờ cần phải hệ thống hóa và củng cố ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới. Đường lối chỉ đạo mà sếp nhà nước Tập Cận Bình đưa ra trước quốc gia có thể được dịch là “Chiến lược Đường Tơ lụa Đôi”.Tập muốn hồi sinh hai tuyến buôn bán của “Con đường Tơ lụa”. Tuyến đường bộ cần phải trở thành “Con đường Tơ lụa của các hành lang kinh tế”, đường biển thành “Con đường Tơ lụa của thế kỷ 21″. Ngày xưa, Con đường Tơ lụa là một tuyến đường buôn bán dài 7000 kilômét mà Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động ngoại thương của nó ở trên đó. Trong lúc nở rộ của nó dưới thời nhà Đường, con đường bộ dẫn từ thành phố Tây An của các hoàng đế thời đó qua Trung Á và các quốc gia Ả Rập cho tới Địa Trung Hải. Con đường Tơ lụa thứ nhì trên biển chạy từ bờ biển Nam Trung Quốc qua biển Đông tới Nam Á, Iran và cho tới Đông Phi. Thương gia Ả Rập, Ba Tư, Á châu và Âu châu mang hàng hóa của họ theo những con đường này tới Trung Quốc. Ngày nay thì Trung Quốc tự mình đi và muốn tạo “những hành lang kinh tế dài 10.000 kilômét”.
Quỹ tiền của Bắc Kinh đầy ắp. Thủ tướng Lý Khắc Cường hứa hẹn trong tháng Năm tại lần ông thăm viếng châu Phi là sẽ nâng những khoảng cho vay ưu đãi của Trung Quốc lên 30 tỉ. Tiền được gắn liền với các dự án hạ tầng cô sở mà doanh nghiệp Trung Quốc phải hưởng lợi từ đó. Qua đó, các nhà cạnh tranh Phương Tây cần phải bị đẩy bật ra ngoài.
Châu Phi mang tính Trung Quốc nhiều hơn
2500 doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu tư 25 tỉ dollar vào các nhà máy nông nghiệp ở châu Phi, hầm mỏ, mỏ dầu cho tới khai thác uranium ở Namibia. Điều đó phần nào đã mang lại hình ảnh ít được ca ngợi, như là một thế lực thực dân mới.
Chiến lược Con đường Tơ lụa dự định liên kết vào trong các hàng lang thương mại 40 quốc gia châu Á, châu Phi và châu Âu với ba tỉ người, phân nửa dân số thế giới. Quyền lực thương mại lớn nhất và nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới dường như đã tìm ra một con đường để sử dụng sức mạnh kinh tế của nó cho lần trỗi dậy về địa chính trị của nó.
Nhưng chiến lược của Trung Quốc một phần cũng có định hướng chống Hoa Kỳ. Qua đó, Bắc Kinh phản ứng lại với Vùng Thương mại Tự do châu Á – Thái Bình Dương, do Hoa Kỳ qua mặt Trung Quốc đề xuất, Huo Jianguo phân tích, giám đốc nghiên cứu tại Bộ Thương mại. Chiến lược này muốn có Indonesia hay Malaysia như là đối tác cho Con đường Tơ lựa mới, để giảm thiểu ảnh hưởng của Hoa Kỳ đang muốn củng cố mình thành một thế lực Thái Bình Dương ở châu Á.
Hải Nam sẽ hưởng lợi từ chiến lược Con đường Tơ lựa như là “cánh cổng phía nam”. Và thành phố nhân tạo Tam Sa cần phải là một trung tâm giao thông, trạm tiếp tế và thiên đường cho khách du lịch. Hòn đảo được Bắc Kinh giao cho một vai trò quan trọng. Năm 1974 có một trận hải chiến ngắn vì quần đảo này, khi tàu chiến Trung Quốc đánh đuổi hải quân Việt Nam. Việt Nam dẫn chủ quyền của mình về cho tới thế kỷ 17, Trung Quốc về tới thế kỷ thứ 10, một nhân viên của Bộ Ngoại giao nói. “Chủ quyền của chúng tôi lâu đời hơn tới 700 năm.”
Vụ việc nhỏ nhất có thể dẫn tới chiến tranh
Hiện giờ, Tam Sa có một đường băng dài 2500 mét cho máy bay quân đội và dân sự. Hai cảng được mở rộng, thiết bị khử muối nước biển, sản xuất điện và tiêu hủy rác có nhiệm vụ tạo khả năng tự cung tự cấp cho thành phố đảo này. Tam Sa có nghĩa là ba bãi cát. Tên này có nguồn gốc từ ba nhóm đảo nằm rải rác trên biển Đông mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền: quần đảo Hoàng Sa mà họ đang kiểm soát, Bãi Trung Sa (Macclesfield Bank) và quần đảo Trường Sa (Spratley).
Tân Hoa Xã đưa ra tính toán: “Thành phố có chủ quyền hành chánh trên 200 đảo, bãi cát và rạn san hô với 13 kilômét vuông đất ở biển Đông và qua đó là trên hai triệu kilômét vuông diện tích nước trong các vùng biển.” Tức là Tam Sa được đo đạc với một vùng rộng lớn gần gấp sáu lần nước Đức. Thế như không một quốc gia lân cận nào chấp nhận sự diễn giải này.
Nước Cộng hòa Nhân dân phớt lờ tất cả các phản đối, mặc dù bên cạnh Hoàng Sa họ chỉ kiểm soát bảy rạn san hô của quần đảo Trường Sa. Hiện giờ, Việt Nam giữ 29 hòn đảo dưới quyền quân quản của họ, Philippines chín, Malaysia năm và Đài Loan một. Sau những bạo loạn chống Trung Quốc mới đây ở Việt Nam, những vụ việc được châm ngòi qua lần thả neo giàn khoan Trung Quốc trước bờ biển Việt Nam 130 hải lý, Bắc Kinh yêu cầu Việt Nam và Philippines hãy rời bỏ “các hòn đảo chiếm đóng trái phép” của họ.
Ngoài ra, Trung Quốc tuyên bố muốn lắp đặt và thả neo thêm ba giàn khoan nữa tại biển Đông. Bước leo thang kế tiếp đã có thể nhìn thấy được. Manila phát hiện vào giữa tháng Sáu, rằng tàu vận tải Trung Quốc đã đổ cát lên các bãi gần “Rạn san hô Johnson Nam”, để có thể xây dựng ở đó. Philippines cáo buộc Bắc Kinh muốn xây đảo nhân tạo để tạo cứ điểm mới.
Ở biển Hoa Đông, Trung Quốc và Nhật Ban tranh chấp nhau về quần đảo Senkaku-Điếu Ngư, do Tokio quản lý. Vụ việc nhỏ nhất giữa những con tàu cảnh sát biển đang đe dọa nhau hàng ngày của hai nước có thể dẫn tới một phản ứng dây chuyền. “International Crisis Group” lên án chính sách bành trướng của Trung Quốc. Lỗi thuộc về Bắc Kinh vì “quy mô và tính không chính xác của các tuyên bố chủ quyền cũng như phong cách xuất hiện ngạo mạn của họ.”
Mối nguy hiểm của một sự bất ổn định trong xã hội
Ham muốn các mỏ dầu và khí đốt còn chưa được phát hiện ra, tăng cường vũ trang của tất cả các bên tham dự, tiếng nói dân tộc chủ nghĩa, đặc biệt là từ thủ tướng Nhật Shizo Abe đang nhìn thấy cơ hội của mình, ông muốn làm cho quốc gia của ông lại trở thành một cường quốc quân sự – tất cả những điều đó biến hai vùng biển thành vùng khủng hoảng mới của thế giới. Biển Đông là một trong những tuyến đường hàng hải quan trọng nhất cho các vùng đang tăng trưởng của châu Á, và là lộ trình của 80 phần trăm những chiếc tàu chở dầu tới Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Ai thống trị biển Đông, người đó sẽ kiểm soát đường hàng hải từ Eo biển Malacca, từ Tây Á, châu Phi và châu Âu sang Đông Á. Đó là một trong những lý do tại sao Hoa Kỳ đóng 60 phần trăm hải quân của họ ở Thái Bình Dương.
Hàng ngàn năm trời, Trung Quốc quan tâm trước hết là tới chính mình. Ngay tới bảy chuyến thám hiểm biển khơi của nhà hàng hải-thái giám Trịnh Hòa trước đây 600 năm cũng nhanh chóng bị chấm dứt từ những lý do về chính trị đối nội và không mang lại hậu quả nào cho số phận của đất nước này. Bây giờ thì Trung Quốc đang tiến lên. Nhưng tốc độ ngạt thở trong chuyển đổi kinh tế và xã hội đối nội của nó cũng ẩn chứa mối nguy hiểm của một sự bất ổn định về xã hội, nhà nghiên cứu Trung Quốc người Mỹ Kenneth Lieberthal cảnh báo trong tờ “Bưu điện Nam Hoa buổi sáng”.
Tất cả đều diễn ra trong một tốc độ, trong một quy mô và phạm vi mà không một nước nào trải qua trước đó. Điều này cũng đúng cho sự bành trướng của nó. Một quốc gia mà trước đây 15 năm chỉ có thể mơ về những chuyến lặn xuống biển sâu và hàng không vũ trụ hiện giờ đang dùng tàu ngầm để tìm tài nguyên ở đáy biển dưới độ sâu 4000 tới 7000 mét.
Tập đoàn đóng tàu CSIC tuyên bố sẽ sản xuất hàng loạt tàu ngầm có người lái. Chúng có nhiệm vụ đi tìm nguyên liệu, chủ yếu là ở biển Đông. Còn đáng ngạc nhiên hơn là các thành tích trong hàng không vũ trụ. Năm 2020, khi trạm vũ trụ quốc tế ISS đóng cửa theo dự định, Trung Quốc muốn là nước duy nhất của thế giới có riêng một trạm vũ trụ có người và khiến cho các quốc gia hàng không vũ trụ khác phụ thuộc vào họ.
“Người ta không phê phán ngân hàng của mình”
Thuộc đường hướng chiến lược của Bắc Kinh là việc có mặt trong số các tay tham gia cuộc chơi khai thác những vùng cuối cùng còn chưa phân chia của Trái Đất ở Bắc cực và Nam cực. Mặc dù nước Cộng hòa Nhân dân do không phải là nước nằm lân cận nên không thể tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Bắc và Nam cực, họ vẫn có địa vị của một nhà quan sát trong Hội đồng Bắc cực và đã thiết lập một cơ quan cho các vấn để về Bắc cực và Nam cực.
Vào ngày 11 tháng Bảy, một chuyến thám hiểm Bắc cực lớn, chuyến thứ sáu kể từ 1999, bắt đầu một cuộc hành trình thăm dò Bắc cực kéo dài tám tuần, nơi dự đoán có những mỏ dầu và khí đốt cũng như khoáng sản thuộc loại lớn nhất thế giới. Lãnh đạo chuyến nghiên cứu Wang Zong nói với tờ “China Daily”: “Cũng giống như những nước khác, chúng tôi quan tâm tới việc khai thác tài nguyên dưới lớp băng và ở Hành lang Tây Bắc.” Một ngày nào đó, khi tuyến đường này vì biến đổi khí hậu mà không còn băng tuyết và có thể đi lại được thì những chiếc tàu chở container của Trung Quốc có thể tiết kiệm được 5186 kilômét hay chín ngày đi trên đường tới châu Âu.
Cả văn hóa cũng tham gia vào trong chiến dịch tấn công của Trung Quốc. Năm 2005, Viện Khổng tử đầu tiên được khánh thành ở Hàn Quốc, một dự án thí điểm để thực thi độc quyền của Bắc Kinh trên toàn cầu về việc truyền bá và tiếp thị ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc. Những người khởi xướng dự án bạc triệu này của nhà nước đã ngạc nhiên vì thành công của nó. Cuối tháng Sáu đã có 445 Viện Khổng tử làm việc ở 122 nước hay vùng đất.
Đó là lần quảng bá hình ảnh thành công nhất của Trung Quốc, nước thường hay bị chỉ trích mạnh mẽ vì liên tục vi phạm nhân quyền, vì bất công xã hội và chính sách đối ngoại ngạo mạn. Ở Đức có 15 Viện Khổng tử, ở Hoa Kỳ là 100. Ở đó, hiện bây giờ đang có sự chống đối trong giới khoa học vì lo sợ bị ảnh hưởng tới sự tự do giảng dạy tại các trường đại học, đối tác của các Viện Khổng tử.
Đứng phía sau đợt tiến công lớn của Trung Quốc là một kho báu ngoại tệ khổng lồ mà Trung Quốc, công xưởng của thế giới, đã tích lũy được và khiến cho Bắc Kinh trở thành nhà mua công phiếu lớn nhất của Mỹ. Câu nói dí dỏm của nữ ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton ngày nay lại có lý hơn bao giờ hết: “Người ta không phê phán ngân hàng của mình”, bà nói, khi được hỏi tại sao bà không nói thẳng các vấn đề với Bắc Kinh. Cơ quan ngoại hối (SAFE) thông báo giá trị tất cả các đầu tư tài chánh ở nước ngoài được ghi nhận chính thức của Trung Quốc là 6,3 ngàn tỷ cho cuối tháng Ba.
Lần trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc như là lời tuyên truyền
Phần chính là các dự trữ ngoại tệ với 4,01 ngàn tỳ. Các con số này cũng hé lộ rằng các đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Trung Quốc ở nước ngoài cho tới nay chỉ chiếm mười phần trăm kho báu ngoại tệ của họ, tức là 621,5 tỉ dollar. Ngược lại, nước ngoài đã đầu tư 2,42 ngàn tỉ dollar Mỹ ở Trung Quốc, tròn gấp bốn lần. “Lực tài chính” của nước Cộng hòa Nhân dân là có giới hạn, khi con số nợ 4,14 ngàn tỷ do SAFE đưa ra được tính vào kho báu ngoại tệ.
Cho tới nay, châu Âu và Hoa Kỳ chỉ cảm nhận gián tiếp các hậu quả của chính sách bành trướng của Trung Quốc, khác với các láng giềng châu Á của Trung Quốc. Thế nhưng các nhà phân tích của Viện Nghiên cứu Hòa bình ở Stockholm (Sipri) lo ngại rằng điều đó chẳng bao lâu nữa sẽ thay đổi. Trong nghiên cứu vừa mới được xuất bản “Sự bảo vệ các lợi ích ở nước ngoài của Trung Quốc” họ nhận định Bắc Kinh đang dần từ giã nguyên tắc không can thiệp của họ.
Lần trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc trở thành sự diễn đạt hoa mỹ của tuyên truyền. SiPri nhận thấy rằng người đứng đầu nhà nước Tập, người bây giờ đã nhận chức vụ được hai năm, chưa từng bao giờ phát biểu về lời dặn dò nổi tiếng mà nhà kiến trúc sư cải cách Đặng Tiểu Bình đã để lại cho những người nối nghiệp: “Luôn tỉnh táo, dè dặt, thu nhỏ mình trong các tranh chấp quốc tế và không bao giờ vội vàng tiến ra trước.”
Ngày nay, Bắc Kinh tin rằng họ không còn cần điều đó nữa. Tuần này, nhà xuất bản bản đồ Hồ Nam với sự chấp thuận công khai đã đưa ra một tấm bản đồ dọc mới gây nhiều tranh cãi. Trên tấm bản đồ đó, biển Đông mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền không còn được dấu ở góc phía dưới của tấm bản đồ trong tỷ lệ nhỏ nữa, như những tấm bản đồ được vẽ ngang trước đây. Tấm bản đồ mới này thể hiện vùng biển Đông rộng hơn ba triệu kilômét vuông trong cùng tỷ lệ như đất liền Trung Quốc, một Trung Quốc được mở rộng thêm một phần ba. Trên hình ảnh thì đó là một đại vương quốc mới – trên đất liền và trên biển. Trung Quốc làm mọi việc, để giấc mơ cỗ xưa này nhanh chóng trở thành hiện thực.
Một vùng tự do thương mại quanh Thái Bình Dương: bên này là các quốc gia châu Mỹ, bên kia là các quốc gia châu Á – đó là giấc mơ to lớn của người Mỹ, giấc mơ mà họ muốn hiện thực nó trong những năm tới đây. Giấc mơ này mang cái tên tương đối phi lãng mạn Trans-Pacific Partnership (TPP). Mười một quốc gia hiện đang thương lượng về một hiệp ước như vậy, trong đó là Hoa Kỳ, Spiritus Rector ["tinh thần dẫn đầu"] của TPP, Australia, Việt Nam, Singapore và Malaysia. Nước Nhật cũng đã bày tỏ sự quan tâm của mình.
Vào cuối một quá trình thương lượng dài, vùng tự do thương mại lớn nhất thế giới có thể sẽ thành hình mà trong đó hàng hóa và dịch vụ có thể lưu thông không gặp những trở ngại lớn như thuế quan. Tất cả các thành viên của vùng sẽ có thêm tăng trưởng – ít nhất là trên lý thuyết.
Chỉ có một đất nước sẽ không hưởng lợi từ đó: Trung Quốc. Người Trung Quốc không có mặt trong các cuộc thương lượng. TPP này – ngay cả khi người Mỹ không nói ra – có định hướng chống Trung Quốc. Tuy là họ tuyên bố công khai, cả Trung Quốc cũng có thể tham gia vào vùng này, ví dụ như Barack Obama đã nói trong bài diễn văn Canberra nổi tiếng của ông. Nhưng đồng thời, người Mỹ lại đặt ra cho người Trung Quốc những điều kiện cao tới mức họ sẽ không bao giờ muốn và có thể tham gia. Trước hết là các quy định về bảo vệ sở hữu trí tuệ, về các tiêu chuẩn lao động và bảo vệ môi trường cũng như về các công ty nhà nước đã được lập ra sao cho người Trung Quốc không thể chấp nhận chúng được.
Hoa Kỳ đẩy mạnh các cuộc thương lượng về TPP trước hết là từ hai động cơ. Thứ nhất, họ hy vọng qua thương mại tăng lên với các quốc gia TPP mà sẽ có được kích thích tăng trưởng cho nền kinh tế đang dậm chân tại chỗ của họ. Và thứ nhì, họ muốn qua đó mà ngăn chận ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc trong châu Á.
Vì người Mỹ đang lo lắng về thế thống trị kinh tế của Trung Quốc trong châu Á còn lại. Hiện nay, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất trong gần như tất cả các nước trong vùng. Điều này tạo ra sự phụ thuộc mà Hoa Kỳ không thích nhìn thấy. Ngoài ra, họ lo sợ sẽ bị loại trừ ra về kinh tế. Họ có ít hiệp định thương mại tự do với các nước châu Á hơn là Trung Quốc.
Người Trung Quốc đã sớm có các hiệp định song phương và đa phương với mười quốc gia ASEAN và các nước khác của khu vực Thái Bình Dương. Hiệp định quan trọng nhất cho tới nay là Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAn và Trung Quốc, có hiệu lực từ ngày 1 tháng Giêng 2010. Với 1,9 tỷ người và tổng số thương mại gần 500 tỷ, nó là khối thương mại lớn thứ ba của thế giới – sau EU và North American Free trade Agreement NAFTA (Hoa Kỳ, Canada và Mexico).
Với TPP trên kế hoạch, bây giờ người Mỹ muốn bắt đầu chống lại các liên minh về kinh tế của người Trung Quốc. Và đó không phải là showdown duy nhất của hai cường quốc thế giới trong vùng này.
Một chính sách mới có nhiệm vụ hệ thống hóa và củng cố ảnh hưởng của Trung Quốc trên toàn thế giới. Tất cả trong một quy mô chưa từng có, và với một vận tốc mà chưa từng có quốc gia nào trải qua trước đó.
Thị trưởng Xiao Jia đã mời các nhân sĩ của thàng phố Tam Sa tới dự lễ động đất cho trường học xa xôi nhất và đắt tiền nhất của thế giới. Nhiều người khách không tới. Thành phố trẻ tuổi nhất của Trung Quốc chỉ mới có 1443 người dân. Đối với 40 đứa trẻ của ngư dân địa phương, nhân viên nhà nước và quân đội thì một giấc mơ đã trở thành hiện thực.
Hết. Cảm ơn
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguồn: nhà giáo Vũ Bích San 

 NHỮNG VIỆC CẢ VIỆT NAM LẪN TRUNG QUỐC CÙNG BÍ MẬT

 
ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN ĐOÀN CỐ VẤN QUÂN SỰ TRUNG QUỐC GIÚP VIỆT NAM CHỐNG PHÁP
Rất nhiều người đã biết đến Kháng Mỹ viện Triều của nước ta vào thập kỷ 50 thế kỷ 20, nhưng nói đến Kháng Pháp viện Việt thì rất ít người biết. 
Vào đầu thập kỷ 50, nước ta từng phái Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc do Vĩ Quốc Thanh làm Trưởng đoàn tới viện trợ cho cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, đây là một đoạn sự thật lịch sử mà ai cũng biết.
I.  Việc lập ra và hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự giúp Việt Nam của Trung Quốc
Khỏang giữa tháng 1, tháng 2 năm 1950, Chủ tịch Đảng Cộng sản Đông Dương (đến năm sau đổi thành Đảng Lao động Việt Nam) Hồ Chí Minh đi thăm Liên Xô, đã cùng với Stalin và Mao Trạch Đông khi ấy đang ở thăm Liên Xô thảo luận về những vấn đề quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Sau khi Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh quay về Bắc Kinh, Hồ Chí Minh nêu yêu cầu giúp đỡ Việt Nam với Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, trong đó bao gồm trợ cấp quân sự và phái Đoàn cố vấn quân sự tới trợ giúp  cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam.
Theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc quyết định, đồng thời với việc cung cấp trang bị quân sự và trợ cấp quân sự, sẽ phái Đoàn cố vấn quân sự tới hiệp trợ Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức, chỉ huy tác chiến và xây dựng quân đội Việt Nam.
Quyết sách này của Trung ương, cũng giống với việc phái chí nguyện quân tới Triều Tiên chống Mỹ viện Triều sau đó, là một quyết sách trọng đại chi viện cho quân đội nước ngoài đầu tiên kể từ khi lập nước.
Hai nước Trung-Việt núi liền núi sông liền sông, môi hở răng lạnh.
Để chi viện cho Đảng anh em và nước láng giềng thân thiện giành được độc lập nước nhà và giải phóng dân tộc, Đảng cộng sản Trung Quốc, trong tình trạng vừa mới giành được thắng lợi trên toàn quốc, đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, vẫn cương quyết ra quyết định viện trợ cho Việt Nam, giúp đỡ không hoàn lại cả về mặt trợ cấp và quân sự, đồng thời phái ngay La Quý Ba là đại diện liên lạc của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc tới Việt Nam, trao đổi với Đảng Cộng sản Đông Dương về những việc trọng đại giúp Việt Nam chống Pháp.
Phái Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc do Vĩ Quốc Thanh làm Trưởng đoàn, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàn làm Phó đoàn tới hiệp trợ Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức, chỉ huy tác chiến và xây dựng quân đội Việt Nam.
Tiếp đó lại phái Trần Canh đại diện cho Đảng cộng sản Trung Quốc tới Việt Nam hiệp trợ chỉ huy Chiến dịch Biên giới khai thông đường biên giới Trung Việt và phụ trách thống nhất xử lý những việc có liên quan đến viện trợ quân sự cho Việt Nam.
Giữa tháng 4, Bộ tổng tham mưu Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc lựa chọn trong toàn quân ra được 59 cán bộ các loại có kinh nghiệm đánh trận thật và trình độ chính trị nhất định cùng với các nhân viên công tác khác, tổng cộng 281 người, hợp thành Đoàn cố vấn quân sự.
Tháng 7, Đoàn cố vấn quân sự được chính thức thành lập ở Nam Ninh, để tiện cho việc bảo mật, Đoàn cố vấn quân sự không công khai ra bên ngoài, lấy mã hiệu là “Đoàn công tác Hoa Nam”.
Vào thượng tuần tháng 7, Trần Canh dẫn các nhân viên của Đoàn cố vấn quân sự được điều chọn từ Nhị dã[1] do Trần Canh dẫn đầu đi vào Việt Nam từ hướng Vân Nam.
Sau đó, ngày 11 tháng 8, Đoàn cố vấn quân sự đi vào Việt Nam từ Tịnh Tây, Quảng Tây, rạng sáng ngày 12 tháng 8 đến Bộ tổng tham mưu Quân đội Việt Nam ở Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam.
Sau khi Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc nghe Bộ tổng tham mưu Quân đội Việt Nam giới thiệu về tình hình Quân đội nhân dân Việt Nam và nêu những kiến nghị công việc với Đoàn cố vấn, đã tuyên bố về phân công tổ chức.
Đoàn cố vấn được chia thành các tổ cố vấn quân sự, chính trị và hậu cần.
Vĩ Quốc Thanh đảm nhận nhiệm vụ Cố vấn cho Tổng Quân ủy Việt Nam và Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Mai Gia Sinh đảm nhận nhiệm vụ Tổ trưởng Tổ cố vấn quân sự. Đặng Dật Phàn đảm nhận nhiệm vụ Tổ trưởng Tổ cố vấn chính trị. Mã Tây Phu đảm nhận nhiệm vụ Tổ trưởng Tổ cố vấn hậu cần, đồng thời lần lượt đảm nhận nhiệm vụ cố vấn cho Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục chính trị và Tổng cục hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, cử các tổ cố vấn cho 3 sư đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ngày 16 tháng 9, Chiến dịch Biên giới nổ ra, ngày 23 tháng 10 kết thúc thắng lợi. Ngày 1 tháng 11, Trần Canh hoàn thành xong nhiệm vụ đã định và quay về nước.
Tháng 6 năm 1951, sau khi kết thúc Chiến dịch Kinh Bình[2], Đoàn trưởng Đoàn cố vấn quân sự Vĩ Quốc Thanh bị ốm về nước nghỉ dưỡng, nhận thấy ông ta không thể quay về Việt Nam làm việc được, ngày 29 tháng 5 năm 1952, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã bổ nhiệm La Quý Ba (Đoàn trưởng Đoàn cố vấn chính trị giúp Việt Nam) kiêm nhiệm Đoàn trưởng Đoàn cố vấn quân sự, Mai Gia Sinh là Phó đoàn thứ nhất, Đặng Dật Phàn là Phó đoàn thứ hai.
Ngày 16 tháng 6, sát nhập Đoàn cố vấn quân sự với Đoàn cố vấn chính trị. Đồng thời, theo yêu cầu của phía Việt Nam, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc quyết định lại tiếp tục tuyển chọn hơn 10 cán bộ sư đoàn từ Giải phóng quân nhân dân đưa sang Việt Nam, đảm nhận nhiệm vụ làm cố vấn cho các Bộ tham mưu và các cơ quan cấp sư đoàn của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Theo kiến nghị của các đồng chí Nhiếp Vinh Trăn…, ngày 6 tháng 12, được sự phê chuẩn của Mao Chủ tịch, đã sát nhập các cán bộ do Vĩ Quốc Thanh, La Quý Ba đứng đầu thành Tổng đoàn cố vấn, La Quý Ba là Tổng cố vấn, đặt ra một Phó tổng cố vấn phụ trách các công việc về mặt quân sự.
Để tiện cho việc quản lí công việc thật sâu sát, ngày 10 tháng 10 năm 1953, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc bổ nhiệm Vĩ Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự, chịu trách nhiệm giúp Quân đội nhân dân Việt Nam các công việc về mặt tác chiến và xây dựng quân đội. La Quý Ba làm Tổng cố vấn chính trị, chịu trách nhiệm giúp Việt Nam các công việc về mặt xây dựng Đảng, chính quyền và làm chính sách ở các địa phương.
Không lâu sau, Đoàn cố vấn quân sự tách ra khỏi bộ máy Đoàn cố vấn chính trị. Ngày 25 tháng 10, Vĩ Quốc Thanh khỏi bệnh quay lại Việt Nam, lập tức nghiên cứu luôn  tác chiến mùa đông với phía Việt Nam, giúp quân đội Việt Nam nghiên cứu tấn công Lai Châu, đồng thời bố trí tác chiến tấn công mùa đông để đánh Thượng, Trung, Hạ Lào và vùng bắc Tây Nguyên.
Ngày 22 tháng 7 năm 1954, sau khi Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam thắng lợi, Quân ủy Trung ương đã phái các tổ cố vấn pháo binh, công binh để giúp trang bị, huấn luyện pháo binh và bộ đội công binh của Việt Nam. Ngày 25 tháng 8, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã quyết định lập Đại sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam. Ngày 1 tháng 9, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam chính thức được thành lập, Đại sứ đầu tiên nhậm chức tại Việt Nam La Quý Ba đã trình quốc thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bởi nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi trong cuộc Chiến tranh chống Pháp, quân đội nhân dân được xây dựng đã bắt đầu đi vào quỹ đạo, nhiệm vụ giúp Việt Nam đã hoàn thành, nên Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã cân nhắc đến chuyện hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự và Đoàn cố vấn chính trị.
Vào trung tuần tháng 9, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam La Quý Ba đã truyền đạt lại đề nghị của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc về việc hủy bỏ dần Đoàn cố vấn quân sự và Đoàn cố vấn chính trị với Trung ương Đảng lao động Việt Nam, để trưng cầy ý kiến bên phía Việt Nam.
Trung ương Đảng lao động Việt Nam sau khi thảo luận đã biểu thị sự đồng tình với việc hủy bỏ bộ máy và tên gọi của Đoàn cố vấn, tán thành việc công khai mời cố vấn về sau này, nhưng cho rằng cố vấn hệ thống quân sự không nên áp dụng biện pháp mời công khai mà vẫn cần làm theo phương thức bí mật.
 Ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hà Nội được giải phóng. Vào hạ tuần cùng tháng, Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tiến về Hà Nội theo Bộ tổng tham mưu Quân đội nhân dân. Theo quyết định hủy bỏ dần Đoàn cố vấn quân sự, Phó tổng cố vấn Mai Gia Sinh cùng một bộ phận các cố vấn sư đoàn, trung đoàn đang nghỉ phép ở trong nước không quay về Việt Nam làm việc nữa.         
Vào giữa tháng 7, tháng 8 năm 1955, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình đã truyền đạt lại và ra chỉ thị về việc hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự của Trung ương với đồng chí Vĩ Quốc Thanh đang nghỉ phép ở Bắc Kinh.
Hạ tuần tháng 8, Vĩ Quốc Thanh rời Bắc Kinh đến Hà Nội, truyền đạt lại quyết định về việc hủy bỏ dần Đoàn cố vấn của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, Đảng ủy Đoàn cố vấn sẽ có sự sắp xếp cụ thể để quán triệt quyết định của Trung ương, quyết định cho các nhân viên của Đoàn cố vấn rút về nước làm 3 giai đoạn, đến đầu xuân sang năm là rút hết.
Các chuyên gia quân sự và nhân viên kỹ thuật được mời sẽ giao cho Văn phòng Tùy viên quân sự Đại sứ quán quản lí. Theo sự sắp xếp nói trên, Phó tổng cố vấn Đặng Dật Phàn sau khi hoàn thành nhiệm vụ làm việc tại Việt Nam, sẽ cùng một bộ phận các nhân viên cố vấn rời Hà Nội về nước vào trung tuần tháng 9 năm 1955.
Theo quyết định về việc hủy bỏ dần Đoàn cố vấn của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và theo yêu cầu của Việt Nam, ngày 24 tháng 12 năm 1955, Bộ quốc phòng, Bộ ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đồng công bố “Quyết định về việc hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự và đổi sang phái chuyên gia quân sự tại Việt Nam”, chỉ định Vương Nghiên Tuyền là Tổ trưởng Tổ chuyên gia, Quốc Lâm Chi là Bí thư Đảng ủy Tổ chuyên gia. Đồng thời, Bành Đức Hoài đã thông báo bằng thư cho Võ Nguyên Giáp về việc hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự cho Quân đội nhân dân Việt Nam, trình bày cụ thể về vấn đề hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự.
Trong thư nói: “Hòa bình của Việt Nam đã được thực hiện, Quân đội nhân dân Việt Nam đã được tôi luyện qua 8 năm kháng chiến, cả về mặt tác chiến và huấn luyện đều đã có sự tiến bộ rất lớn, đồng thời đã có được kinh nghiệm tác chiến khá phong phú, đặt được nền móng tốt cho việc đi vào hiện đại hóa chính quy hóa. Để thích ứng với tình hình nói trên, chúng tôi cho rằng cần phải thay đổi bộ máy tổ chức của Đoàn cố vấn quân sự do Trung Quốc phái đến hiện nay. Nếu Quân đội nhân dân Việt Nam có những việc gì cần giúp đỡ, mà chúng tôi lại có thể giúp được, thì sẽ đổi sang phái các cán bộ kiểu chuyên gia đến tiến hành giúp đỡ.”
Lời cuối của bức thư nói, “theo đề nghị của ông, đồng chí Vĩ Quốc Thanh sẽ lại tới Hà Nội một thời gian ngắn nữa để hiệp trợ Tổng quân ủy về một số công việc cần thiết đã thảo luận ở Bắc Kinh. Sau khi đã hoàn thành những công việc này, sẽ để ông ấy quay về Bắc Kinh luôn”. Vĩ Quốc Thanh mang theo mình bức thư của Bành Đức Hoài gửi Võ Nguyên Giáp, từ Bắc Kinh tới Hà Nội vào ngày 29 tháng 12 năm 1955, tiếp tục giúp Quân đội nhân dân Việt Nam sắp xếp bố trí cuộc trao đổi tại Bắc Kinh giữa ba bên Trung Quốc, Việt Nam và Liên Xô.
Ngày 13 tháng 1 năm 1956, lại có một đợt nhân viên nữa của Đoàn cố vấn quân sự về nước. Vĩ Quốc Thanh đang hoàn thành nhiệm vụ của mình, đồng thời tham dự Hội nghị cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, sau khi lắng nghe mọi yêu cầu và ý kiến về những công việc tiếp theo, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương, đã rời Hà Nội về nước cùng với tốp nhân viên cố vấn cuối cùng vào trung tuần tháng 3.      
Đến đây, Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc đã hoàn thành thắng lợi sứ mệnh giúp Việt Nam, mọi công việc đã kết thúc, bộ máy Đoàn cố vấn đã được hủy bỏ.
II. Sứ mệnh của Đoàn cố vấn quân sự
Trước khi Đoàn cố vấn quân sự vào Việt Nam, theo yêu cầu từ phía Việt Nam và tình hình cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam khi ấy, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã trao nhiệm vụ cho Đoàn cố vấn quân sự.
Một là giúp Việt Nam đánh thắng trận, đuổi quân xâm lược Pháp; hai là giúp Việt Nam xây dựng quân đội chính quy. Ngày 27 tháng 6 năm 1950, tại Di Niên Đường Bắc Kinh, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức đã tiếp những người phụ trách Đoàn cố vấn quân sự là Vĩ Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàn, một số cán bộ cấp trung đoàn trở lên và nhân viên công tác, đưa ra những chỉ thị quan trọng về ý nghĩa, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo… đối với công việc giúp Việt Nam của Đoàn cố vấn quân sự, đồng thời đề ra những yêu cầu về các mặt thái độ làm việc, phương pháp làm việc, tác phong tư tưởng và đoàn kết với phía Việt Nam…
Mao Trạch Đông nói: Các anh đến Việt Nam làm cố vấn là thực hiện nghĩa vụ quốc tế vẻ vang. Cách mạng Trung Quốc đã giành được thắng lợi, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn còn phải chịu đau khổ dưới gót giày của bọn thực dân Pháp, chúng ta cần tới giúp đỡ họ. Nhiệm vụ của Đoàn cố vấn  là hiệp trợ quân đội Việt Nam chỉ huy tác chiến, chủ yếu là hiệp trợ tổ chức chỉ huy vận động chiến và chính quy chiến với quy mô khá lớn, giúp họ đánh thắng trận; giúp đỡ Việt Nam tổ chức xây dựng một quân đội chính quy cách mạng. Tiếp đó, Người đưa ra những chỉ thị rõ về phương pháp làm việc… của Đoàn cố vấn:
Làm cố vấn tức là làm tham mưu, phải điều tra nghiên cứu nhiều, nêu ý tưởng, nghĩ biện pháp, nhưng không được bao biện làm thay, lại càng không được làm “Thái thượng hoàng”, chỉ tay ra lệnh, mà nhất thiết phải tỏ ra khiêm tốn thận trọng, thành tâm thành ý giúp đỡ họ, phải tôn trọng họ, đoàn kết với họ, làm theo tinh thần coi sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam là sự nghiệp của nhân dân Trung Quốc.
Chiểu theo phương châm và sự bố trí của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, từ tháng 8 năm 1950 đến tháng 3 năm 1956, Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc trong thời gian giúp Việt Nam chủ yếu đã tiến hành những công việc sau: Một là hiệp trợ Quân đội nhân dân tổ chức và chỉ huy tác chiến, giành thắng lợi trong cuộc Chiến tranh chống Pháp. Theo chỉ thị của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và thực tế cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, Đoàn cố vấn quân sự luôn coi việc giúp Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ huy tác chiến, liên tục giành thắng lợi ở các chiến dịch, trận chiến, đánh bại quân xâm lược Pháp là nhiệm vụ trung tâm của mình.
Từ ngày Đoàn cố vấn quân sự đến Việt Nam vào tháng 8 năm 1950 đến khi đình chiến ở Đông Dương năm 1954, Quân đội nhân dân đã lần lượt tiến hành 8 chiến dịch tương đối lớn như Biên giới, Trung du, Đông Bắc, Kinh Bình[3], Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ… , đã giành được chiến tích huy hoàng, đẩy nhanh được tiến trình thắng lợi. Trừ Chiến dịch Hòa Bình, Đoàn cố vấn quân sự vì đang tập luyện chỉnh đốn nên không ra tiền tuyến trực tiếp giúp đỡ chỉ huy ra, còn các chiến dịch khác, từ ra quyết sách đến tổ chức thực thi cả quá trình chiến dịch, đều được tiến hành dưới sự giúp đỡ của Đoàn cố vấn.
Hai là giúp xây dựng nền quân sự, nâng cao sức chiến đấu cho Quân đội nhân dân. Trong Chiến tranh chống Pháp, với sự giúp đỡ của Đoàn cố vấn, Quân đội nhân dân đã trải qua rèn luyện đánh trận thật, huấn luyện quân sự và tổ chức  trang bị biên chế…, đã thực hiện được sự chuyển đổi từ lối đánh du kích sang lối vận động chiến, chuyển đổi từ lối đánh tấn công quy mô nhỏ sang lối đánh tấn công quy mô lớn, chuyển đổi từ hoàn cảnh hòa bình đến thực hiện từng bước chính quy hóa, hiện đại hóa quân đội.
Ba là giúp Quân đội nhân dân tăng cường xây dựng chính trị, tăng cường xây dựng Đảng trong quân đội.
Bốn là giúp đào tạo huấn luyện cán bộ, nâng cao tố chất đội ngũ cán bộ. Năm là giúp Quân đội nhân dân Việt Nam tăng cường xây dựng hậu cần, nâng cao năng lực bảo đảm hậu cần.            
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng lao động Việt Nam, Tổng quân ủy hết sức tín nhiệm và ủng hộ Đoàn cố vấn trong công việc. Hồ Chí Minh nhiều lần nói, “với các cố vấn Trung Quốc, tôi tuyệt đối tín nhiệm”. Để động viên các đồng chí trong Đoàn cố vấn tích cực nêu kiến nghị, làm tốt công việc, Người yêu cầu “giữa cán bộ Trung Quốc và Việt Nam phải đoàn kết, cán bộ Việt Nam phải học tập cán bộ Trung Quốc một cách trung thực”.
Với những kiến nghị và quyết sách quan trọng về tác chiến và xây dựng quân đội cho Quân đội nhân dân Việt Nam của Đoàn cố vấn, Người đều đích thân giữ quyền ra quyết định, rồi sau đó mới do Tổng quân ủy tổ chức thực thi.
Tổng quân ủy và các Bộ tham mưu  hết sức tôn trọng, ủng hộ và gửi gắm niềm hi vọng vào các nhân viên Đoàn cố vấn cùng công việc của họ, cùng với sự phát triển của thực tiễn đã ngày càng tin tưởng vào tính chính xác của tư tưởng Mao Trạch Đông và kinh nghiệm của Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc, đồng thời cũng tỏ ra hết sức quan tâm đến mọi sinh hoạt của Đoàn cố vấn.
Tất cả những điều này là điều kiện quan trọng để Đoàn cố vấn làm tốt được công việc, hoàn thành thắng lợi được sứ mệnh giúp Việt chống Pháp.
(“Quân sự sử lâm”Trung quốc  cung cấp)
[1] Nhị dã:  Tên gọi đầy đủ: “Đệ nhị dã chiến quân”. Một trong những đội quân chủ lực của Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc trong thời kỳ chiến tranh giải phóng. – ND.
[2] Tôi chưa tra được tên tiếng Việt của Chiến dịch này. Phải chăng là Chiến dịch Hà-Nam-Ninh hay Chiến dịch Quang Trung?-ND.
[3] Xem chú thích 1. –ND.
Giải mật: vụ Hoàng Văn Hoan đào thoát sang Trung Quốc
Tác giả:  Phi Lâm
Ngày 3 tháng 12 năm 1960, Mao Trạch Đông hội kiến với Hồ Chí Minh-Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Bên phải là Hoàng Văn Hoan.
Lãnh đạo Việt Nam Hoàng Văn Hoan “đào thoát” tới Trung Quốc năm 1979
Năm 1979, giữa hai nước Trung-Việt xảy ra một sự kiện khiến cho tập đoàn Lê Duẩn đương quyền khi ấy ở Việt Nam bị bẽ mặt, cả thế giới phải kinh ngạc. Hoàng Văn Hoan – một trong những nhà lãnh đạo lão thành của Việt Nam đã đáp phi cơ từ Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) bay tới Bắc Kinh. Cho đến tận giờ, người ta vẫn gọi việc Hoàng Văn Hoan đến Trung Quốc là “Lãnh đạo cấp cao nhất của nước ngoài đào thoát tới Trung Quốc”.
Trong nội bộ Đảng cộng sản Việt Nam có hai phái thân Xô và thân Hoa. Phái thân Hoa có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Hoan… Sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ… thuộc phái thân Xô nắm hết quyền lực trong Đảng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã bị chết trận. Thượng tướng Chu Văn Tấn bị giam lỏng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bị treo giò.
Ông sinh năm 1905 tại tỉnh Nghệ An (nay là tỉnh Nghệ Tĩnh[1]), Việt Nam. Tên thật là Trần Xuân Phong. Năm 1925 tham gia học lớp đào tạo thanh niên Việt Nam do Hồ Chí Minh mở ở Quảng Châu, sau đó làm công tác cách mạng ở các nước Thái Lan, Miến Điện, Campuchia… và ở Châu Âu, nói thành thạo tiếng Trung Quốc giọng Quảng Đông, viết được những bài thơ hay bằng chữ Hán.
Chính Hoàng Văn Hoan đã ý thức được rằng nếu ở lại trong nước thì không những chẳng làm được việc gì, mà bệnh của mình lại có thể còn bị nặng thêm. Ông lợi dụng dịp đi thăm nước Cộng hòa Dân chủ Đức cũ, với sự giúp sức của bạn bè và tình báo Trung Quốc, đã tới Bắc Kinh theo ngả Pakistan.
Ngày thứ ba tới Bắc Kinh, kết quả kiểm tra ở Bệnh viện 301 Giải phóng quân cho thấy thực ra trong người ông có một khối u dài 6cm, rộng 5cm, được chẩn đoán là bị ung thư phổi sắp đến giai đoạn cuối.
Bệnh viện 301 áp dụng phương pháp Đông Tây y kết hợp, đầu tiên tiến hành xạ trị, tiếp đó dùng các bài thuốc Đông y quý để tiến hành liệu pháp Đông y. Nằm chữa trị ở bệnh viện được hơn 1 tháng, khối u đã nhỏ lại chỉ còn dài 5cm, rộng 4cm. Khối u nhỏ lại được nhanh như vậy có thể nói là hết sức có hiệu quả.
Bởi được trị liệu theo Đông Tây y kết hợp ở Bệnh viện 301, được dùng những bài thuốc Đông y vừa quý lại vừa đích thực có tác dụng kháng ung thư, cho nên Hoàng Văn Hoan đã hơn 70 tuổi vẫn sống tiếp được tới 15 năm nữa một cách đầy khỏe mạnh.  
Hoàng Văn Hoan tới Trung Quốc không lâu, Việt Nam lần lượt tuyên bố hủy bỏ các chức vụ Đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…, xóa Đảng tịch Đảng cộng sản Việt Nam của ông. Ngày 26 tháng 6 năm 1980, bị chính quyền Việt Nam xử tử hình vắng mặt. 
Với sự nỗ lực của Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, quan hệ Trung-Việt được khôi phục. Nhất là Nguyễn Văn Linh còn cho đưa cả người nhà của Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc, khiến cho Hoàng Văn Hoan được đoàn tụ với gia đình vào những năm cuối đời.
Còn có một giả thuyết khác, khi các nhà lãnh đạo Nguyễn Văn Linh… muốn khôi phục lại quan hệ bình thường với Trung Quốc, do qua kênh bình thường có chút khó khăn, nên con trai cả của Hoàng Văn Hoan đang làm việc tại Viện khoa học xã hội Việt Nam đã bí mật đến Sứ quán Trung Quốc để đẩy nhanh sự tiếp xúc giữa lãnh đạo hai nước. **
Mộ Hoàng Văn Hoan hình chữ nhật, sau mộ lập một tấm bia đá cao to, chính giữa bên trên có khảm bức di ảnh màu của Hoàng Văn Hoan, hai bên khắc nổi năm sinh năm mất “1905-1991”. Dưới di ảnh viết “Mộ đồng chí Hoàng Văn Hoan, nhà cách mạng lão thành Việt Nam, người bạn lâu năm được nhân dân Trung Quốc tôn kính”.  
Hoàng Văn Hoan (1905-1991)
Lãnh đạo Đảng và chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sinh ở tỉnh Nghệ An. Năm 1926 tham gia lớp huấn luyện cách mạng do Hồ Chí Minh mở ở Trung Quốc, sau gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Năm 1930, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1928-1942, lần lượt hoạt động cách mạng ở Xiêm và Trung Quốc.
Năm 1942, về nước triển khai đấu tranh vũ trang và tiến hành các hoạt động lập căn cứ địa. Năm 1945, được bầu làm Ủy viên trung ương, nhậm chức Bí thư Đảng ủy Khu giải phóng Việt Bắc, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng 8 cùng năm, từng nhậm chức Thứ trưởng Bộ quốc phòng và Ủy viên chính trị toàn quốc Vệ quốc quân.
Cuối năm 1946, nhậm chức Đại diện Liên khu 4 tại Chính phủ trung ương, lãnh đạo đấu tranh chống Pháp. Năm 1948, nhậm chức Đặc phái viên hải ngoại tại Chính phủ trung ương. Tháng 12 năm 1950, nhậm chức Đại sứ đầu tiên ở Trung Quốc, kiêm Đại sứ tại Triều Tiên, Mông Cổ. Tại “Đại hội 2” năm 1951 và “Đại hội 3” năm 1960 được bầu làm Ủy viên Trung ương. Hai lần, vào tháng 8 năm 1958 và tháng 9 năm 1960, được bầu làm Ủy viên Bộ chính trị Trung ương Đảng. Từ năm 1958, nhậm chức Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tháng 12 năm 1971, được bầu là Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc. Năm 1979, sau khi Việt Nam trắng trợn bài Hoa, vì phản đối tập đoàn Lê Duẩn… nên đã bị đánh và bức hại, để đấu tranh lại với những thế lực bài Hoa trong Đảng, vào tháng 7 bị bức phải rời Việt Nam gián tiếp chuyển tới Bắc Kinh, đã di cư tới Trung Quốc. Không lâu sau, Việt Nam lần lượt tuyên bố hủy bỏ các chức vụ Đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…, xóa Đảng tịch Đảng cộng sản Việt Nam của ông.
Ngày 26 tháng 6 năm 1980, bị chính quyền Việt Nam xử tử hình vắng mặt. Là người bạn lâu năm của nhân dân Trung Quốc, có tình cảm sâu nặng với nhân dân Trung Quốc. Đã làm rất nhiều công việc hữu ích để phát triển tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung-Việt. Đồng thời còn là một người “thông hiểu về Trung Quốc”, có nhiều nghiên cứu về văn hóa truyền thống Trung Quốc, đã viết nhiều bài thơ, câu đối bằng tiếng Hán trong đời. Trong thời gian bệnh nặng, các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước như Dương Thượng Côn, Trần Vân, Lý Tiên Niệm… đã lần lượt đến bệnh viện thăm và an ủi động viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 1991 qua đời tại Bắc Kinh, hưởng thọ 86 tuổi. An táng tại Nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn Bắc Kinh. Tác phẩm để lại có “Hoàng Văn Hoan văn tập”. 
[1] Chỗ này tác giả nhầm. Tỉnh Nghệ Tĩnh đã được tách ra lại thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh từ  năm 1991
Trang mạng được mở năm 2001, tiền thân là trang mạng mô phỏng chiến tranh thành lập năm 1999 tại Bắc Kinh; mạng www.tiexue.net có nội dung chủ yếu là về quân sự, cung cấp những thông tin thiết thực toàn diện và có giá trị. Qua vài năm phát triển, mạng www.tiexue.net đã phát triển thành mạng quân sự bằng tiếng Trung lớn nhất toàn cầu. (Nguồn: http://www.tiexue.net/).
Khi đã lưu vong ở Trung Quốc (TQ), Hoàng Văn Hoan, nhân vật lãnh đạo vào hàng cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đào thoát ra nước ngoài từ trước tới nay, nói rằng sau cuộc chiến Việt – Trung, có tới 300.000 đảng viên thân TQ bị phe “thân Liên Xô” của Lê Duẩn loại bỏ.
Một cuộc thanh trừng nội bộ quả đã diễn ra trong 1979-80, nhưng như hồ sơ Hungary tiết lộ, ông Hoan đã phóng đại nhiều về tầm mức. Việc thanh trừng vừa là nỗ lực bóc tách các “phần tử thân TQ” thật sự và tiềm năng, nhưng nó cũng là biểu hiệu của khủng hoảng kinh tế - xã hội ăn sâu ở VN.
Vai trò cá nhân
Sự đóng góp của ông Hoàng Văn Hoan cho phong trào Cộng sản VN không to lớn như ông nói mà cũng không nhỏ bé như phát ngôn nhân của Hà Nội cáo buộc sau khi ông đã bỏ trốn sang Trung Quốc. Là thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương, ông có thời gian dài ở TQ. Trong cuộc chiến kháng Pháp, ông giữ chức thứ trưởng quốc phòng. Năm 1948, ông được giao việc thành lập Văn phòng Hải ngoại ở Thái Lan, và sau đó là đại sứ đầu tiên của Bắc Việt ở TQ.
Mặc dù là thành viên thứ 13 trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1956, và sau này vào Bộ Chính trị, nhưng Hoan không thuộc vào nhóm lãnh đạo chủ chốt nhất. Vị trí cao nhất ông từng giữ là phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, và không nằm trong Ban Bí thư đầy quyền lực. Kết quả là, vị trí của ông bị lung lay hơn trước biến đổi trong quan hệ Việt – Trung, khi so với Trường Chinh hay Lê Duẩn là những người luôn có thể giữ vị trí, cho dù Hà Nội thân thiện với Bắc Kinh hay không.
Được biết vì tình cảm thân thiện với TQ, ông Hoan đạt đỉnh cao sự nghiệp vào đầu thập niên 1960 khi Bắc Việt tạm thời có thái độ thân TQ trong tranh chấp Liên Xô – TQ. Năm 1963, khi Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị thay bằng Xuân Thủy (thân TQ hơn), ông Hoan cũng thành Trưởng Ban liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng.
Nhưng trong giai đoạn 1965-66, quan hệ Xô – Việt bắt đầu cải thiện, cùng lúc với căng thẳng gia tăng giữa Hà Nội và Bắc Kinh. Trong môi trường mới này, ban lãnh đạo cảm thấy cần thay cả Xuân Thủy và Hoàng Văn Hoan bằng những cán bộ ít dính líu hơn đến chính sách thân TQ trước đây của ban lãnh đạo Hà Nội. Năm 1971-72, Hà Nội bất mãn vì Trung – Mỹ làm hòa, có vẻ càng làm vị thế Hoan bị suy giảm.
Dù vậy ông vẫn là nhân vật quan trọng trong quan hệ Việt – Trung. Ví dụ, năm 1969, chính ông đã giúp hoàn tất cuộc đàm phán kéo dài và khó khăn quanh viện trợ kinh tế của TQ. Tháng Năm 1973, ông tiến hành hội đàm bí mật tại Bắc Kinh về vấn đề Campuchia. Năm 1974, Hoan cùng Nguyễn Côn, Bí thư Trung ương Đảng, đi TQ để “chữa bệnh”, nhưng có thể sứ mạng thực sự lại liên quan đến đàm phán biên giới bí mật Việt – Trung từ tháng Tám tới tháng 11, mà kết quả đã thất bại.
Sự khác biệt giữa TQ và VN về Campuchia và Hoàng Sa đã không thể hàn gắn và làm cho Hoàng Văn Hoan không còn có thể đóng vai trò trung gian thành công. Lê Duẩn và các đồng chí kết luận họ không còn cần ông nữa. Những liên lạc của ông với Bắc Kinh nay bị xem là rủi ro an ninh.
Sau Chiến tranh Việt Nam, những cán bộ mà Lê Duẩn không còn cần hoặc tin tưởng dần dần bị thay thế. Năm 1975, công chúng không còn thấy Nguyễn Côn, và năm sau, Hoàng Văn Hoan bị ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1979, khi xung đột Việt – Campuchia và Việt – Trung lan rộng thành chiến tranh, vị trí của Hoan càng trở nên bấp bênh. Sang tháng Bảy, ông quyết định đào tẩu. Lấy cớ ra nước ngoài chữa bệnh, ông đã xuống máy bay ở Pakistan và sang Trung Quốc, ở lại đó cho tới ngày qua đời năm 1991.
Tại nhiều cuộc họp báo, Hoàng Văn Hoan giải thích sự đào tẩu bằng cách nhấn mạnh ông đã từ lâu chống đối chính sách của Lê Duẩn, mà theo ông là đã biến Việt Nam thành vệ tinh Xô Viết, làm người Hoa bị phân biệt đối xử, và dẫn tới việc chiếm đóng Campuchia. Cáo buộc của ông một phần dựa trên sự thật, vì ngay từ tháng Giêng 1977, Đảng Cộng sản VN đã dự định giải tán và tái định cư một phần cộng đồng người Hoa ở Chợ Lớn. Hiệp ước Việt – Xô 1978 cũng là một phần quan trọng cho sự chuẩn bị đánh Campuchia. Nhưng mặt khác, Hoan và nhà bảo trợ TQ dễ dàng bỏ qua là năm 1978, Việt Nam vẫn tìm cách tránh phụ thuộc Moscow quá mức bằng việc cải thiện quan hệ VN – Asean, và thảo luận cả khả năng gia nhập Asean trong tương lai.
Sự đào thoát của ông Hoan hẳn làm Bộ Chính trị vô cùng lúng túng vì họ vẫn quen tự mô tả mình là mẫu mực đoàn kết. Bắc Kinh càng làm vết thương thêm đau rát. Hai ngày sau khi tới Bắc Kinh, Hoàng Văn Hoan được Tổng Bí thư Hoa Quốc Phong đón tiếp, và ông Hoa tuyên bố “những kẻ phá hoại tình hữu nghị Việt – Trung sẽ vỡ đầu”.
Mặc dù VN nhấn mạnh sự trốn chạy của Hoàng Văn Hoan chỉ là trường hợp riêng lẻ, nhưng Bộ Chính trị biết chính sách của họ không được toàn dân ủng hộ. Mùa xuân 1979, khi giới chức bắt 8000 Hoa kiều tái định cư từ Hà Nội vào “Vùng Kinh tế Mới”, nhiều người VN đã không đồng ý khi các đồng đội người Hoa của họ bị buộc ra đi. Khác biệt cũng tồn tại trong nội bộ lãnh đạo. Tháng Sáu 1978, Trường Chinh và Lê Văn Lương ban đầu phản đối việc thông qua nghị quyết gọi TQ là kẻ thù nguy hiểm nhất của VN.
Khủng hoảng xã hội
Sự thanh trừng không lớn như Hoan cáo buộc, và cũng không đơn thuần do xung đột Việt – Trung.
Quyết loại bỏ những thành phần “bội phản”, giới chức có những biện pháp khắc nghiệt. Người Mèo và các cộng đồng thiểu số khác một phần đã phải ra đi khỏi các tỉnh miền bắc. Tại phiên họp của Ban Chấp hành Trung ương trong tháng Tám, ban lãnh đạo bàn vụ Hoan trốn thoát và chỉ trích ngành an ninh. Nhiều cán bộ cao cấp, như Lý Ban, cựu thứ trưởng ngoại thương có gốc Tàu, bị quản thúc. Tháng Giêng 1980, Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn bị buộc về hưu. Kiểm soát ngành an ninh được chuyển sang cho một ủy ban mới thành lập do Lê Đức Thọ đứng đầu. Xuân Thủy, người đã tiễn chân ông Hoan hồi tháng Sáu, cũng bị giáng chức.
Tuy nhiên, sự thanh trừng không lớn như ông Hoan cáo buộc, và cũng không đơn thuần do xung đột Việt – Trung.
Trước hết, các vụ tảo thanh trong hàng ngũ đảng đã bắt đầu từ những năm trước. Giai đoạn 1970 – 75, chừng 80.000 đảng viên bị loại khỏi hàng ngũ, còn trong giai đoạn 1976-79, con số này là 74.000.
Thứ hai, nhiều người mất thẻ Đảng vì những lý do không liên quan xung đột Việt – Trung. Việc trục xuất các cá nhân thân TQ đạt đỉnh cao từ tháng 11-1979 tới tháng Hai 1980, nhưng từ tháng Ba, quá trình này bắt đầu chậm lại, và ưu tiên của chiến dịch sau đó hướng sang chống tham ô, biển thủ và các hành vi tội phạm.
Tại miền Nam, khu vực mà số đảng viên chỉ chiếm một phần ba của đảng, giới lãnh đạo định loại bỏ chừng 5% đảng viên (so với tỉ lệ trung bình cả nước là 3%). Điều này không chỉ chứng tỏ Hà Nội nghi ngờ dân số miền Nam mà đây còn là cố gắng kỷ luật những cán bộ người Bắc đã lạm dụng quyền lực sau khi được bổ nhiệm vào Nam.
Các vấn nạn xã hội, kinh tế và tội phạm mà Đảng Cộng sản phải đương đầu có vẻ khiến họ cố gắng hạn chế thiệt hại hơn là mở đợt thanh trừng chính trị to lớn. Thất nghiệp và khan hiếm hàng hóa làm trộm cướp gia tăng. Giới chức đã phải huy động quân đội canh giữ ở cảng Hải Phòng nhưng cũng không có kết quả. Ngược lại, một nhà ngoại giao Hungary nhận xét quân đội khi đó đang trở thành “quân dự bị gồm những kẻ tội phạm”. Không có việc làm, nhiều người lính giải ngũ đã phải thành trộm cướp.
Trong tình hình đó, ban lãnh đạo cộng sản, dù đã kết án tử hình vắng mặt với Hoàng Văn Hoan năm 1980, chỉ muốn xóa tên ông ra khỏi ký ức công chúng thay vì đưa ông ra cho người dân mắng chửi. Và đến lúc qua đời, ông cũng đã "hết hạn sử dụng" đối với nước chủ nhà TQ, vì lúc đó, cả Hà Nội và Bắc Kinh đều muốn làm hòa chứ không cãi nhau quanh những sự kiện của quá khứ.
Sau 30 năm kể từ Chiến Tranh Biên Giới, Trung Quốc và Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá... sau một cuộc xung đột vũ trang được cho là lần đầu tiên xảy ra giữa hai quốc gia cùng ý thức hệ cộng sản.
Nhưng câu chuyện về ông Hoàng Văn Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc, người bỏ trốn theo Trung Quốc vào tháng 7/1979 vẫn chưa được bàn đến công khai.
Trong cuộc trao đổi dành riêng cho BBC hôm 13/2/2009, một trong những người cháu của ông Hoàng Văn Hoan xin không nêu tên, đã kể nhiều chi tiết 'đầy sóng gió' về số phận của họ.
'Bình phản án tử hình'
Người cháu ông Hoan cho biết:
"Ông Hoan có một người con trai duy nhất là ông Hoàng Nhật Tân, năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khoẻ đã rất kém, mà do mới đột quỵ hồi Tết, hiện không nghe, nói được. Trước đây, năm nào ông Tân cũng đề nghị Nhà nước bình phản lại án tử hình với cha ông nhưng đều không được."
"Hồi cụ Đồng (Phạm Văn Đồng) còn sống, ông đến kêu cụ Đồng, hồi cụ Trường Chinh còn sống, thì kêu với cụ Trường Chinh. Bây giờ các ông khác già hết rồi, chẳng biết kêu ai."
"Trước đây, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng có hứa với gia đình rằng 'Để rồi bác sẽ bàn, đề nghị với Bộ Chính trị', nhưng cũng nói rằng khó lắm vì đó là tương quan với ông Lê Duẩn".
Cuộc chạy trốn bí mật
Cuốn sách 'Giọt nước trong biển cả' của ông Hoan, có đoạn, nói rằng ông đã không theo quyết định của Bộ Chính trị vốn quyết rằng ông bị ung thư phổi và phải bay đi Đức để chữa bệnh.
Người cháu nay thuật lại ông Hoan tin rằng "nếu bay đi Đức thì chắc rằng chỉ một liều thuốc là xong".
Vì thế ông quyết định khi tới Karachi, tìm cách trốn sang sứ quán Trung Quốc và được đưa tới Trung Quốc. Trung Quốc đã mổ thành công và ông đã sống thêm 12 năm nữa. Trong 12 năm này, ông đã viết nhiều công trình mà một trong đó là cuốn 'Giọt nước trong biển cả.'
Trong cuốn sách, ông Hoan cũng nói rằng việc làm của ông là 'thiên thu định luận', tức một nghìn năm sau thì sẽ rõ. Sau đó, ông Hoàng Nhật Tân có viết một cuốn là 'Thiên thu định luận', 500-600 trang, thuyết minh rằng cha ông là một nhà yêu nước vĩ đại, nhưng cuối cùng cũng không được phát hành.


Vẫn theo lời chứng̉, vào năm 1991, khi gia đình được phép sang thăm ông trong vòng bốn tháng liền tại khu Ngọc Trường Sơn, trong Di Hoà Viên, nơi trước đây ông Lâm Bưu từng sống, khi ông già yếu và sắp mất, thì ông vẫn còn rất tỉnh táo, tỉnh táo cho đến phút chót.
"Người nhà cứ hai, ba ngày thay phiên nhau vào chăm sóc ông. Ông hỏi về tình hình Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam vào thời điểm đó. Ông rất tỉnh táo, câu hỏi sắc sảo. Ông không bình luận gì nhưng chịu khó nghe. Ông hỏi về so sánh Liên Xô đang cải tổ, Trung Quốc đang cải cách và Việt Nam đang đổi mới lúc đó, có gì giống nhau, khác nhau,"
"Sự chăm sóc của Trung Quốc đối với ông không có gì để bàn. Lúc đó, ông Giang Trạch Dân là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước, ông Lý Bằng là Thủ tướng Quốc vụ Viện, các ông coi ông Hoan là người bạn lớn của nhân dân Trung Quốc."
Nghĩa tử, nghĩa tận
Lễ tang của ông Hoan được coi như một lễ tang cấp cao của Đảng và của Nhà nước Trung Quốc vì ông được coi như một lãnh tụ của Đảng Cộng sản TQ. Không có chuyện Đại sứ quán Việt Nam tham dự.
Theo lời kể, khi đó do quan hệ hai bên còn căng thẳng, khi gia đình đi thăm ông Hoan, đều có an ninh của Việt Nam đi cùng.
"Lý do Việt Nam lúc đó đồng ý cho gia đình sang thăm là dàn xếp quan hệ cấp cao và nghĩa tử là nghĩa tận theo truyền thống, cho nên họ phải đồng ý. Khi đi, gia đình hứa là sẽ quay về."
"Gia đình cũng cam kết đảm bảo là không làm điều gì liên quan tới chính trị khi sang Trung Quốc mà đây chỉ là chuyện gia đình. Do đó không có vấn đề gì,"
"Ông Hoan không bao giờ dặn dò gì gia đình về chuyện chính trị hay sự nghiệp. Cùng thời gian đó, có việc Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 100 năm sinh Hồ Chí Minh. Một nhà nghiên cứu có tiếng của Việt Nam đã sang Trung Quốc và đề nghị gặp trực tiếp ông Hoàng Văn Hoan để tìm hiểu về Hồ Chí Minh, đặc biệt tìm hiểu các chi tiết đời tư chứ không phải với tư cách một chính khách."
Người cháu của ông kể tiếp:
"Khi ấy, ông Hoan đã cho thư ký là một cựu sinh viên người Hoa gốc Việt từng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ở Hà Nội, giỏi cả tiếng Việt và tiếng Trung, tiếp. Thư ký sau đó thuật lại việc nhà nghiên cứu này định hỏi ông Hoan về chuyện 'cụ Hồ có con riêng' có đúng hay không,"
Yêu đảng, yêu nước
Ông Hoan bảo: "Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!." Ông Hoan là người rất kín kẽ, ông không bao giờ tuỳ tiện cho ai biết những chuyện quan trọng. Ông thường chỉ làm việc ở cấp cao, còn gia đình thì cứ đi thăm, nói chuyện vui vẻ thôi, không nói chuyện gì về chính trị cả.
Vẫn theo lời thân nhân của ông, "Tuyệt đối không có chuyện họp gia đình, bàn chuyện này, chuyện kia, như là người ta đồn ông Hoan có cả quân đội, đài phát thanh. Đó là xuyên tạc! Ông Hoan ông không làm thế. Ông là nhà yêu nước đứng đắn, ông không làm chuyện gì khuất tất."
Ông Hoan muốn giải thích trong sách rằng ông vẫn yêu Đảng, yêu nước và ông muốn sống thêm để chứng minh rằng đã có người phản bội, nhưng ở Việt Nam vẫn không nhận ra, hoặc nhận thức lầm. Có vẻ ông đã cố chứng minh bằng những dữ liệu, số liệu, bằng chứng, quan điểm.
Người cháu kể ông có sự hỗ trợ của Trung Quốc, họ cung cấp mấy người thư ký, văn phòng làm việc, ô tô đi lại, điều kiện rất tốt.
"Phản biện lại những dư luận từ nhà nước Việt Nam, trong đó nhiều ý nói rằng ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống v.v..., ông đã chứng minh trong công trình của mình rằng ông không phản bội lợi ích của nhân dân mà chính người khác đã phản bội. Nhưng ông nói chuyện của ông 1.000 năm sau mới định được, còn định ngay lúc đó thì khó," người cháu ông Hoan kể.
'Chính trị phải thế'
"Ông nói rằng bản thân rơi vào tình trạng rắc rối và phải đi, mà bây giờ người ta gọi là bất đồng quan điểm. Ông không thể đi một nước thứ ba, như là Liên Xô, vì quan điểm của ông với Liên Xô không gần nhau,"
"Đúng là Trung Quốc tiếp đãi ông Hoan như thế vì ông thân Trung Quốc và có lợi cho Trung Quốc vào thời điểm bấy giờ. Chính trị phải thế! Trung Quốc coi ông có lợi cho họ. Nhưng đồng thời họ cũng nuôi dưỡng nhiều lực lượng cách mạng thực sự cho Việt Nam," người cháu nhận xét.


Về câu hỏi rằng liệu Việt Nam có thể tránh được cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc, nếu quan điểm, đường lối của ông Hoan trong quan hệ với Trung Quốc được Việt Nam lắng nghe hoặc điều hoà như thế nào đó, người nhà ông Hoan cho rằng cục diện trước đó quá rõ ràng. Hoàn toàn có thể tránh cả hai cuộc chiến Tây Nam và cuộc chiến 79.
"Đường lối của ông Hồ là sau hoà bình, sau cuộc chiến quá dài với Mỹ, mọi người kiệt quệ, là phải an dân, phải tránh chiến tranh, phải khoan sức dân, phải giảm thuế v.v... Ông Hoan rất phản đối và phê bình việc dẫn đến sự thể phải phát động cả hai cuộc chiến."
Người cháu ông Hoan cho BBC biết quan hệ giữa ông Đặng Tiểu Bình và ông Hoàng Văn Hoan rất tốt. "Cả hai ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng đều là người của ông Đặng. Trong đám tang ông Hoàng Văn Hoan ông Giang Trạch Dân và ông Lý Bằng đều đến viếng. Ông Đặng Tiểu Bình có gửi vòng hoa, viết rất nhiệt tình, đề cao ông Hoan."
"Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em."
Bi kịch cha con
Về quan hệ giữa hai cha con mà có dư luận rằng có sự mâu thuẫn, theo đó, ông bố thì được cho là thân Trung Quốc, ông con, Hoàng Nhật Tân, thân Nga Xô, trường hợp ông Tân được cho là một bi kịch.
Thân nhân ông Hoan kể rằng ông Tân học giỏi, ông được cử đi Nga học tập. Sang Nga, ông thấy đường lối của Khrushchev hay, ông có những phát biểu. Vì thế ông Hoan gọi về Việt Nam, thi hành kỷ luật, cho 'đi đầy' một năm, hai năm gì đó, xong rồi cho phục hồi.
"Vừa được phục hồi, nghe đâu đang làm thủ tục làm Phó Viện trưởng Viện Sử học, thì ông Hoan lại bỏ đi Trung Quốc (1979), cho nên người ta ép ông con ra khỏi Đảng, rồi ép đủ thứ. Nghe nói ông Tân đến tận bây giờ vẫn còn có người theo dõi,"
"Trong nhà hiện nay, chỉ có ông Tân là người bị theo hàng ngày, về lý do thì có thể là do họ sợ rò rỉ thông tin hoặc thế nào đó,"
"Thời các năm 1991, 1992 cho tới 1996, 1997, nhiều lúc con cháu của ông Hoan trong gia đình ở Hà Nội đi đâu, cũng có ít nhất một nhân viên công an đi theo sau. Bây giờ thì cũng thoáng rồi vì họ sống cũng đứng đắn, sống đúng theo tư cách công dân."
'Chăm sóc đặc biệt'
Cuộc sống gia đình rất phức tạp và là một câu chuyện dài với việc mỗi thành viên phải tự lo công việc của mình. Một người con gái của ông Hoàng Nhật Tân, cháu nội ruột của ông Hoan, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ra không có việc làm. Bà phải xin mãi mới về được Viện Triết học làm thư viện.
Theo người nhà ông Hoan thì ông Phạm Như Cương, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung và Viện trưởng, phải đứng ra bảo lãnh thì bà mới về làm việc được, chứ không phải tự nhiên mà vào làm nhà nước được, đó là ngay sau khi cụ Hoan ra đi (1979).

Người con trai cả của ông Hoàng Nhật Tân, là đảng viên, phải ra khỏi quân đội. Trong nhà có mấy người là đảng viên đó là bà Tân và ông con cả. Có một người con dâu của ông Tân mới kết nạp mấy năm nay. Còn lại đều không là đảng viên.
Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội, người nhà ông Hoan tin rằng đó có thể do lý do 'an toàn' nào đó. "Có một sự chăm sóc đặc biệt. Như ông Tân bị ép ra khỏi đảng. Ông phải chủ động viết đơn để ra khỏi đảng."
"Về kinh tế, tài chính thì những năm đó rất khó khăn, mọi người phải tự lo lấy mà sống. Nhưng có một việc không biết ở các gia đình khác ra sao, còn tại gia đình mình, ông Hoan có một đạo đức rất rõ ràng, tức là không ai được sống dựa vào ông ấy."
"Cho nên mọi người phải tự lực từ lâu. Khi ông đi, thì mọi người chẳng làm sao cả."
Ông bà Tân đều là cán bộ nhà nước. Các con cháu về sau cũng dần có được việc làm, với mức lương tối thiểu sống được. Bà Tân, con dâu cụ Hoan, từng làm ở Đảng uỷ Quận Hoàn Kiếm và làm cho đến lúc về hưu.
Khi ông Hoan đi, ông không hề cho ai trong gia đình biết, sau đó ông Tân gần như bị bắt.


"Nhưng người ta cứ nghĩ là ông Tân biết. Thực ra ông không hề biết và cũng chẳng ai biết. Nếu biết là rắc rối ngay. Khi tới Karachi (thủ đô Pakistan), ngay cả ba người tháp tùng ông Hoan là bảo vệ, thư ký và y tá đều không biết," người cháu ông Hoan kể tiếp.
Ở khách sạn tại Karachi, ông Hoan đi ra ngoài đi dạo, ông gọi xe taxi và đi về sứ quán của Trung Quốc. Ba người này về sau bị bắt, và vẫn theo lời kể, nhóm thư ký của ông Hoan đã bị tù mấy năm.
'Không có bản án?'
Đến tận hôm nay, có một điều gia đình vẫn không rõ. Đó là vì sao khi hai nước Trung Quốc, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ, thậm chí hai Đảng và hai Nhà nước đã hữu hảo hơn, mà bản án tử hình của nhà nước Việt Nam dành cho ông Hoan chưa được huỷ bỏ.
"Hình như năm ngoái, khi còn khoẻ, ông Hoàng Nhật Tân có tới Toà án để xin một bản sao bản án 'xử tử vắng mặt' đối với cha mình. Mục đích là để làm bằng chứng khi đi trình bày với các nơi và xin được hết án này với ông Hoan, thì được họ trả lời rằng không có văn bản nào cả." "Nhưng đây không phải là Toà án Tối cao hoặc Toà án nhà nước nào khác, mà dường như đây liên quan tới Toà Án Nhân dân TP Hà Nội. Nhưng họ nói là chẳng có văn bản gì cả. Sau đó, ông Tân cũng thôi không làm nữa. "
"Hồi đó người ta cũng không thông báo gì về bản án tử hình vắng mặt đó. Chỉ là thông báo, công bố trên đài báo, không có thông báo gì cho gia đình cả. Còn về kế hoạch có làm tiếp việc xin huỷ bỏ bản án trong tương lai, thì trong gia đình chỉ có một mình cụ Tân làm. Ngoài ra, không có ai nghĩ làm việc đó cả."
Trong lòng quê hương
Theo di chúc, hài cốt hoả táng của ông Hoan được chia thành ba phần. Một phần để ở nghĩa trang Bát Bảo Sơn, tương tự nghĩa trang Mai Dịch ở Hà Nội. Đó là một nghĩa trang dành cho các quan chức cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.
Ở đó, họ xây một cái mộ, hàng năm họ vẫn cho tiền gia đình, ít nhất hai người, sang đó để viếng thăm. Ông Hoan được để ở một chỗ rất long trọng. Một phần tro cốt được đưa đi Côn Minh để rắc trên đầu nguồn sông Hồng. Vì ông Hoan muốn về nước bằng con đường sông Hồng.
Vẫn theo lời kể của người cháu, một hộp tro nữa sau khi mang về nhà thờ mấy năm, nay được đưa về quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trung Quốc cho một ít tiền để xây một cái mộ tương đối lịch sự. Tất nhiên là mộ đó không bằng mộ của ông Hồ Tùng Mậu, mà nhà nước xây rất lớn. Ở đó có hai dòng họ là họ Hồ, lớn nhất, rồi đến họ Hoàng.


Hàng năm con cháu về đây viếng thăm. Trong nhà thờ họ Hoàng, đã có thờ ông Hoan. Họ không thờ ông là uỷ viên bộ chính trị, phó chủ tịch quốc hội mà tấm bia thờ chỉ đề ông Hoàng Ngọc Ân (tên tục của ông Hoan) là nhà yêu nước lớn.
Kết luận, người cháu của ông Hoan nói:
"Gần đây có một diễn biến và biểu hiện mới, mà chính sứ quán Trung Quốc nói với gia đình, là một vài hình ảnh của ông Hoan hồi làm Phó Chủ tịch ở Quốc hội, trước đây bị xoá hoặc bỏ đi, nay đã được phục hồi. Còn các hình ảnh ông Hoan bên cạnh ông Hồ thì họ xoá sạch."
Hồi ký của Hoàng Văn Hoan
Giọt nước trong biển cả là tựa quyển Hồi kí mới ra đời của Hoàng Văn Hoan (HVH), (1987 Hồi kí, tập 1, không ghi nhà xuất bản và giá bán). Năm 1979, ông li khai khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), trốn sang Bắc Kinh tị nạn, tại đây ông đã công khai ra mặt chống lại ban lãnh đạo đảng mình. HVH không phải là kẻ tầm thường. Vốn là bạn đồng hành của Hồ Chí Minh ngay từ những giờ phút đầu tiên, ông đã lần lượt có mặt ở những địa điểm then chốt của cuộc Cách mạng Đông Dương như Xiêm, Trung Quốc, Việt Nam. Nhân viên trong Bộ Chính trị từ 1956 đến 1976, ông giữ một địa vị quan trọng trong ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Khiêm nhượng thật hay giả vờ khiêm nhượng, ông tự ví mình như giọt nước trong biển cả của phong trào cách mạng mà ông đã tham gia từ hơn năm mươi năm nay.
Tác phẩm của ông lí thú trên nhiều phương diện. Ông cho chúng ta rất nhiều dữ kiện về sự thành lập các nhóm cách mạng Việt Nam đầu tiên tại Xiêm và Trung Quốc trong những năm 1920 và 1930. Ông tiết lộ bí mật về chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam và mối dây liên hệ giữa đảng này với Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Màn bí mật được vén lên, sư thật soi rọi vào một số bóng tối trên đường đi – lắm lúc ngoắt ngoéo – của Đảng CSVN, một đảng đầy mưu mô xảo quyệt và đã từng che giấu lịch sử vào hạng tột bậc(1).
Nhưng chúng ta sẽ không để bị mắc lừa. Những gì tác giả kể lại chỉ là phần nổi của băng sơn. Chúng ta không quên rằng tác giả được đào tạo từ lò Staline và vẫn là một tín đồ tuyệt đối trung thành và kiên trì của chủ nghĩa Staline trong địa hạt lí thuyết cũng như trong hành động. Nhưng đây là một quyển sách đáng đọc, chỉ cần ta cảnh giác và giữ vẹn óc phê bình.
Trong quyển hồi kí, HVH dùng danh từ nhân xưng ngôi thứ nhất chứ không như Hồ Chí Minh khi nói về mình nhưng lại sử dụng ngôi thứ ba.(2) HVH ôn lại những kỉ niệm của chính mình và trái hẳn với Hồ Chí Minh, ông viết như một nhà văn thật sự có tài. Những bài thơ của ông có một giá trị khác hẳn “thơ Bác”(3). Nhưng ông không bao giờ bỏ lỡ dịp trích dẫn Hồ Chí Minh mà ông coi là bậc thiên tài về văn chương cũng như chính trị.
Chúng tôi xin tóm tắt các chi tiết bằng những đoạn trích dẫn khá dài, để phản ánh trung thực ý kiến của tác giả, dù các trích dẫn có thể làm bài thêm phần nặng nề.
(Phần trích dẫn sẽ in chữ nghiêng, trong ngoặc kép và kèm theo số trang trong nguyên bản)
HÀNH TRÌNH CỦA MỘT NGƯỜI TRÍ THỨC TRẺ TUỔI
HVH sinh năm 1905, tại làng Quỳnh Đôi, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình cựu Nho nghèo. Quanh năm cha ông đi đến những tỉnh phía Bắc hành nghề ông đồ dạy chữ Hán, Tết mới về đôi tuần, mẹ ông vay nợ mua tơ lụa gánh đi bán các chợ xa nên vắng nhà cả ngày. Tuổi thơ ông trôi nổi giữa ông ngoại và hai người bác, dượng là những người lãnh phần nuôi dạy ông. Ông học chữ Hán đến năm 14 tuổi và thú nhận rằng “tôi học không lấy gì làm thông minh, chỉ đươc chút ưu điểm là viết chữ tốt và đọc sách rành mạch” (tr.4). Năm 1919, vì các khoa thi cũ bị bãi bỏ, cha ông cho ông vào học trường Pháp - Việt. ăm 1923, ông ra trường với bằng Sơ học Pháp Việt nhưng không nộp đơn thi vào trường Quốc học. Cha ông buộc ông nộp đơn xin thi vào Quốc tử Giám(4) (trường đào tạo các quan lại tương lai cho Pháp và triều đình Huế) nhưng đơn không được nhận vì thiếu lo lót (tr.14). Sau đó ông thi vào trường Sư phạm Nam Định, nhưng bị hỏng, rốt cục chỉ còn một cách để sống là dạy chữ quốc ngữ cho trẻ em trường tư. Đường tương lai này rồi ra cũng bị bít lối. Từ 1929, các tư thục phải xin phép mới được mở cửa dạy. Trường làng nơi ông dạy bị giấy quan huyện gửi về bắt đóng cửa, thế là, như đa số người trẻ thời bấy giờ, HVH rơi vào tình trạng bế tắc. Về sau, ông xin thi tuyển vào sở Hoả Xa và sau khi thi đỗ, được bổ về ga Phủ Diễn “tập sự ký ga làm thu vé, bán vé và đánh điện báo” (tr. 24). Một việc làm vừa không vừa ý lại chẳng có tương lai gì. Cuối cùng HVH xin thôi việc.
Trong chương thứ nhất, tác giả kể rõ các chi tiết thời tuổi trẻ của mình, gặp trăm nghìn khó khăn của buổi giao thời. Chính sách mới thay cho một thời phong kiến vừa tàn. Thay đổi và lựa chọn không phải là chuyện dễ. Khác với Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp đã chọn theo học nền văn hoá Pháp, HVH cũng như Hồ Chí Minh là người thuộc thế hệ xưa, lúc bấy giờ là những nhà Nho nửa vời. Hành trình “dẫn tới con đường cách mạng” của ông cũng giống như đường đi của một số người có học vào thời ấy. Với vài khác biệt nhỏ, đường đi của ông giống như đường đi của Hồ Chí Minh, người mà ông tôn thờ, nêu làm gương mẫu và không ngừng trích dẫn trong suốt quyển hồi kí này.
Theo tác giả, điểm khởi đầu đưa ông vào con đường cách mạng là khi ông biết có một nhóm người Việt ái quốc hoạt động cách mạng ở Trung Quốc. Rồi từ việc thực dân bắt giữ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đến những tác phẩm văn chương của hai sĩ phu yêu nước này, lời kêu gọi đấu tranh, các ý tưởng cách mạng từ hải ngoại chuyển về nước, tất cả đã thúc đẩy HVH vùng dậy, quyết chí đấu tranh cho đất nước được độc lập. Đến lúc ấy, ông chỉ có một ý nghĩ là xuất dương tìm đến những người cách mạng. “Không có gì quí hơn độc lập, tự do” khẩu hiệu của Hồ Chí Minh đưa ra về sau này có thể coi như của chính ông vào lúc ấy. Độc lập là mục tiêu tối thượng. Tự do sẽ từ độc lập mà ra, tự do nghĩa là tự do sống trong một nước không còn bị ngoại bang chiếm đóng(5).
Năm 1926, HVH bắt liên lạc được với “anh giáo Lập” là cán bộ cách mạng bí mật trong đảng Thanh Niên(6) đang chuẩn bị đưa người sang TQ. Mùa thu năm đó, ông từ giã quê hương và cha mẹ(7) lấy cớ lên đường đi tìm việc làm (tr.27). Thế là ông dấn thân vào cuộc phiêu lưu lớn bên cạnh những đồng bào mà ông chưa rõ tính danh cũng như dự định thật sự của họ.
Tại Quảng Đông, HVH gặp anh Vương, tức Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này. Đây là cuộc khám phá lớn lao. Cho đến lúc bấy giờ, HVH không biết gì về chủ nghĩa cộng sản. Nhờ Hồ Chí Minh, ông biết rằng cuộc đấu tranh giành độc lập sẽ được xem như cuộc đấu tranh của phong trào cộng sản thế giới do Đệ Tam Quốc tế lãnh đạo. Lẽ ra phải chính thức vào trường võ bị Hoàng Phố, của chính phủ Quốc Đân Đảng Trung Quốc (QDĐTQ), ông được chỉ định theo học lớp huấn luyện chính trị do Vương, đại biểu Đông phương của Quốc tế Cộng sản (Đệ Tam Quốc tế) chủ trì . Một chi tiết quan trọng là các giảng viên, trừ Hồ Chí Minh, đều là người Trung Quốc, trong số này có Lưu Thiếu Kỳ, về sau trở thành Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ Trung Quốc. Các bài học được Hồ Tùng Mậu, Tản Anh và Lâm Đức Thụ dịch sang tiếng Việt, đôi khi Hồ Chí Minh dịch. Chương trình học gồm ba phần: Cách mạng Thế giới, Cách mạng Việt Nam và Phương pháp vận động và tuyên truyền cách mạng.
Về Cách mạng Thế giới, giảng viên chú ý phân tích sự khác nhau giữa Cách mạng vô sản Nga với Cách mạng tư sản Tây phương do tư sản và tiểu tư sản lãnh đạo. Về Cách mạng Việt Nam, giảng viên nhấn mạnh rằng công nông là lực lượng chủ yếu để đánh đổ thực dân và phong kiến. Đường lối chính trị của Phan Bội Châu, với chủ trương phò Cường Để và chính
sách bất bạo động của Gandhi cũng được phân tích và phê phán là không thích hợp và không tưởng. Về Phương pháp vận động và tuyên truyền, chính Peng Pai (Bình Bái), người lãnh đạo phong trào nông dân (nông hội) TQ và Lưu Thiếu Kỳ, lãnh đạo phong trào công đoàn (công hội) của đảng CSTQ, đảm nhận phần giảng dạy. Sau mỗi bài giảng là phần thảo luận, cho đến khi nào tất cả các học viên đều “thấm nhuần” phần chủ yếu (“nắm vững toàn bài” tr.30). Địa điểm lớp học là số 5 đường Nhân Hưng Cai ở Canton (Quảng Châu). Khoảng hai tháng sau, lớp học kết thúc, các học viên được dẫn đến trước mộ Phạm Hồng Thái(8) để làm lễ tuyên thệ và được kết nạp vào đảng Thanh Niên (tiếng gọi tắt của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội). Trở thành cán bộ, HVH liền được bố trí về nước hoạt động.
Mùa xuân 1928 đánh dấu sự mở đầu cho cuộc đời chính trị của ông.Theo lệnh của Kỳ Uỷ Trung Kỳ, ông mở cuộc vận động phong trào chống đối việc tàn sát người cộng sản ở Trung Quốc. Ông tổ chức rải truyền đơn kêu gọi người Hoa nổi dậy chống Tưởng Giới Thạch và chống sự đàn áp người cộng sản Việt Nam tại Quảng Châu. Vì trong cuộc đàn áp này, Tưởng đã bắt giam Hồ Tùng Mậu và một số cán bộ cách mạng VN.
HVH và hai đồng chí rải truyền đơn ở Vinh, một trong hai người này bị mật thám bắt. Thế là hoạt động bí mật của HVH bị lộ. (tr.34)
Bị lùng bắt, ông được gửi đi trốn tại Xiêm (Thái Lan) và ở lại bên ấy từ 1928 đến 1935.
HOẠT ĐỘNG CỦA PHONG TRÀO THANH NIÊN TẠI XIÊM
Chương thứ hai của quyển hồi ký nói về hoạt động của HVH ở Xiêm. Tại đây ông gặp lại một số đồng chí bạn học cũ với ông ở Quảng Châu ngày trước. Xiêm là đất nước đặc biệt thích ứng cho các hoạt động của người cách mạng Việt Nam và cũng là nơi ẩn náu của những cán bộ, đảng viên bị mật thám thuộc địa truy lùng. Sau khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bị thất bại, hàng trăm chiến sĩ chạy sang Xiêm trốn. Đây cũng là nơi đảng Thanh Niên đào tạo cán bộ và chiến sĩ. Tóm lại, Xiêm là một hậu cứ giống như hậu cứ thứ nhất ở TQ. Nhờ vậy mà sau cuộc khủng bố tàn khốc của nhà cầm quyền thuộc địa Pháp ngay trước Thế chiến thứ hai, Hồ Chí Minh đã cứu vãn được thành phần cốt cán chủ yếu, trong khi đó, những người Đệ Tứ trốt kít Việt Nam, sau cuộc khủng bố này đã hoàn toàn bị tiêu diệt. (Chú thích hkk)
Tại Xiêm, khi HVH đến, thì hội Thanh Niên, thành lập từ 1925, đã vững chắc. Trên một tổng số 30.000 người, hội lãnh đạo hai đoàn thể: Hội Hợp tác và Hội Việt kiều Thân ái. Hội Hợp tác, khoảng một trăm hội viên có sứ mạng trở thành chiến sĩ của Thanh Niên. Hội Việt kiều Thân ái, có tính chất mở rộng hơn, gồm tất cả người Việt của cộng đồng, không phân biệt tôn giáo và chính kiến. Tại các nơi đông đảo, hội này có thêm các bộ phận khác như Hội Phụ Nữ, Hội Thanh niên, Hội Thiếu niên.
Sinh hoạt của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội tại Xiêm rất đa dạng: xuất bản báo chí, mở lớp học cho thanh thiếu niên, tổ chức những buổi diễn thuyết và thảo luận chính trị, tổ chức các lễ kỷ niệm có tính cách yêu nước và diễn kịch. Ngoài hoạt động chính trị, Hội còn tổ chức đưa cán bộ từ trong nước qua Xiêm hoặc TQ tiếp tục hoạt động cách mạng hay học chính trị. Năm 1927, Phân bộ Thanh Niên ở Xiêm đã gửi người qua Lào thành lập Chi hội Thanh Niên tại Vạn Tượng (Vientiane) và đặt cơ sở giao thông liên lạc giữa các thị trấn Lào. Hội đã thiết lập được một đường dây liên hệ bí mật giữa Xiêm và Việt Nam. Sách báo đủ loại in ấn ở Xiêm được đưa về Việt Nam, gây được tiếng vang đáng kể, đến nỗi đảng quốc gia Viêt Nam Quốc Dân đảng (VNQDĐ) tìm cách liên lạc với Thanh Niên. Vẫn theo HVH, mùa xuân năm 1928, hai năm trước khi có cuộc khơi nghĩa Yên Bái, VNQDĐ gửi ba đại biểu sang Xiêm (Nguyễn Ngọc Sơn, Hồ Văn Mịch và Nguyễn Văn Tiềm) yêu cầu Thanh Niên giúp đưa khí giới về nước chuẩn bị cuộc nổi dậy. Phái đoàn đại biểu được Thanh Niên tiếp đón thân mật nhưng từ chối giúp khí giới. Khi về nước ba người đại biểu này đều bị bắt và khai thật với mật thám. Trong hai năm 1928 và 1929, Thanh Niên và các Hội trong phong trào
“trên đà phát triển tốt. Đó là nhờ sự đóng góp của nhiều người kể từ những bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Đặng Tư Kính cho đến những thanh niên mới từ trong nước ra và những em nhỏ (...) những người có công lao to lớn nhất về việc xây dựng cơ sở Việt kiều lâu dài ở Xiêm thì phải nói là Đặng Thúc Hứa, mà kiều bào đã quen gọi với một tên rất tôn kính và trìu mến là ‘Cố Đi’ hay ‘Thầy Đi’” (tr.47)
HVH đã dành tám trang nói về Đặng Thúc Hứa, một nhân vật đặc sắc và phi thường. Rời Việt Nam năm 1908, đến Xiêm 1909, năm 1910 Đặng Thúc Hứa gặp Phan Bội Châu và cùng Phan Bội Châu xây dựng cơ sở một tổ chức chính trị giữa cộng đồng người Việt ở Xiêm. Lúc đầu Đặng Thúc Hứa ủng hộ phong trào Cần Vương, sau chuyển sang phò Cường Để, tán thành dự định chính thể quân chủ lập hiến, rồi ông lại đồng ý với Việt Nam Quang Phục Hội, theo đường lối tư sản. Cuối cùng ông tham gia hội Thanh Niên, bỏ rơi cả quân chủ lẫn tư sản. Được gọi là Thầy Đi hay Cố Đi vì ông thường đi bộ từ nơi này sang nơi khác, bất kỳ chỗ nào dù hẻo lánh nhưng hễ có đông người Việt là ông đến hô hào thương yêu, tập hợp tổ chức, đoàn kết, không quên nguồn gốc, và luôn nhớ lấy nỗi nhục mất nước. Từ đó ông giúp họ xây dựng và đấu tranh. Cùng với bạn bè, ông đã gây dựng được một số cơ sở và đường dây liên lạc khắp nước Xiêm như Bản Đông, Vặt Pa, Noỏng Xẻng, Bản Mày, Bản Phừng, U Đon, Đồng Ỏn, và nhiều nơi khác dọc theo sông Mékong như U thên, Noỏng Khai... Chi hội Thanh Niên lúc đó đã thừa hưởng thành quả của nhóm Tâm Tâm xã do Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái thành lập tại Xiêm từ năm 1923. Co Đi qua đời vì bệnh, thọ 61 tuổi, vào năm 1931, một năm sau ngày thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam.
Với tên Vương, Hồ Chí Minh được Đông Phương cục của Đệ Tam Quốc Tế gửi qua Xiêm công tác hai lần. Lần đầu từ tháng 8 năm 1928 đến tháng 9 năm 1929, lần thứ nhì tháng 3 đến tháng 4 năm 1930, lúc đó ông 38 tuổi.
VIỆT NAM THANH NIÊN CÁCH MẠNG ĐỒNG CHÍ HỘI TẠI XIÊM ĐỔI THÀNH ĐẢNG CỘNG SẢN XIÊM
Trong lần công tác thứ nhất ở Xiêm, Hồ Chí Minh đề nghị hợp pháp hóa một số hoạt động của Thanh Niên như việc xin phép mở trường dạy học ở Noỏng Búa. Được phép của nhà cầm quyền Xiêm, các đoàn viên đã góp công góp của xây cất cơ sở trường này. Hồ Chí Minh với sự cộng tác của HVH, dịch quyển Duy vật sử quan (Le Matérialisme Historique(9)) và ABC của chủ nghĩa cộng sản(10) , ông Hồ đã đổi tựa đề của quyển thứ nhất thành Lịch sử tiến hoá của loài người. Các dịch giả chủ ý tóm tắt và giữ các ý chính chứ không dịch sát nghĩa. Điều đáng lưu ý là họ sử dụng bản dịch Trung Quốc chứ không dùng các bản dịch tiếng Pháp như về sau này. Óc thực tiễn và sự khôn khéo tài tình của Hồ Chí Minh thường được HVH ca ngợi và nhắc nhở. HVH kể lại một giai thoại khá tiêu biểu: Đến Xa Côn và U Đon, nhận thấy một số gia đình người Việt thờ phụng Đức Thánh Trần và hay cầu cúng, lên đồng xin tàn hương nước thải chữa bệnh, xua đuổi ma tà v.v... Bác Hồ bèn soạn bài ca nhắc nhở, kể rõ tính danh đức Thánh Trần, và ca ngợi lòng yêu nước của ngài. Đức Thánh Trần chính là anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo đã đánh đuổi quân Nguyên. Đọc bài thơ, người ta nhận thấy rằng sự mê tín dị đoan không bị bài trừ mà được sử dụng như công cụ tuyên truyền chính trị (tr. 59). Theo HVH, nhờ thế các đệ tử của đức Thánh Trần trở thành đệ tử của Hội Thân Hữu, do Thanh Niên lãnh đạo.
Ông còn kể lại một chuyện bên lề khác với sự khâm phục chẳng kém: được giao trách nhiệm thảo một bức thư gửi nhà cầm quyền TQ trước khi cùng các đồng chí (ở vùng dân tộc thiểu số VN mới sang TQ) trở về Việt Nam, HVH đưa bản nháp cho Hồ Chí Minh duyệt. “Bác Hồ” bôi xoá vài chữ và thêm vào vài chữ khác. HVH lấy làm lạ vì như vậy dù nội dung thư không thay đổi, nhưng văn pháp thì sai. “Bác Hồ” mới trả lời ông rằng:
“Chú chỉ biết viết thư là viết thư, chứ chưa biết chính trị. Người Việt Nam ở vùng dân tộc viết chữ Trung Quốc thế nào mà đúng văn pháp được. Viết sai như vậy họ mới tin là anh em viết.” (tr.140) HVH kết luận: “Việc tuy nhỏ nhưng đối với tôi là một bài học rất sâu sắc về công tác quần chúng và công tác thực tế.”
Cũng trong lúc ở Xiêm lần thứ nhất này, Hồ Chí Minh hay tin đảng Thanh Niên, trong Đại hội Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội nhóm họp ở Hương Cảng (tháng 5/ 1929) đã chia rẽ thành hai nhóm: nhóm Quốc Anh (tức Trần Văn Cung) và Kim Tôn bỏ đại hội về lập đảng Cộng Sản. Nhóm kia bèn biểu quyết khai trừ nhóm Quốc Anh không chờ ý kiến đồng chí Vương (tr.60). Hồ Chí Minh quyết định rời Xiêm đi hỏi ý kiến Đông Phương cục của Quốc tế Cộng sản. Tháng 9/1929 được uỷ quyền hành động của Quốc tế Cộng sản, ông Hồ tổ chức hội nghị thống nhất các khuynh hướng tại Hương Cảng. Nhờ vậy, đảng Cộng Sản Việt Nam, do hai đảng Cộng Sản An Nam và đảng Cộng Sản Đông Dương hợp lại, ra đời ngày 3/2/1930.
Hai nhiệm vụ của “đồng chí Vương” khi đến Xiêm lần thứ hai là:
1) Báo cáo về sự thống nhất thành công của các nhóm cộng sản (Thanh Niên) Việt Nam
2) Đổi Phân bộ Xiêm của đảng Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội ra đảng Cộng Sản Xiêm.
HVH kể lại rằng, vừa đến Xiêm, Hồ Chí Minh bắt liên lạc ngay với những người cộng sản Trung Quốc ở Bangkok và Tỉnh ủy đảng Thanh Niên Việt Nam tại U đon để thông báo tình hình về việc thống nhất các đảng cộng sản Việt Nam và truyền đạt tinh thần Quốc tế Cộng sản về việc thành lập đảng Cộng sản Xiêm (tr.60) Hồ Chí Minh giải thích:
“người cộng sản cư trú ở nước nào sẽ tham gia hoạt động vào sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản nước đó (...) Và những người Việt ở Xiêm cũng có trách nhiệm giúp đỡ nhân dân bị áp bức, bóc lột Xiêm làm cách mạng (...) Người cộng sản không chỉ lo sự nghiệp cách mạng của nước mình, mà phải góp phần vào công cuộc cách mạng của giai cấp vô sản trên toàn thế giới”. (tr.62)
Theo HVH, khi nghe từ nay nước Việt Nam có đảng CS, những người có mặt rất vui mừng phấn khởi nhưng thắc mắc đặt câu hỏi vì sao họ không được vào đảng này (tr.62). Vài điều lo ngại khác như: trở thành đảng viên đảng CS Xiêm như vậy họ sẽ không còn góp phần vào cách mạng Việt Nam, họ sẽ tách rời cộng đồng người Việt và sẽ chịu sự khủng bố của chính phủ Xiêm; hơn nữa không dễ dàng hoạt động chính trị vì họ không biết nói tiếng Xiêm. Thật vậy, Phân bộ Xiêm của đảng Thanh Niên đều là người Việt và người Hoa. Làm sao tranh đấu và tranh đấu thay cho người Thái trong đất nước của người Thái? Nhưng trước uy quyền và hào quang của Quốc tế Cộng sản và Hồ Chí Minh, những thắc mắc cùng lo ngại mau chóng lùi bước, mọi sự trở lại bình thường. Đề nghị chuyển đổi thành đảng CS Xiêm được tuyet đai đa so các đồng chí cốt cán phấn khởi chấp nhận(11) (tr.63). HVH cho biết ông hoàn toàn ủng hộ đường hướng mới này và thấy chiến thuật của bác Hồ thật tài tình. Hội nghị do HCM chủ trì họp ở Bangkok ngày 20/4/1930, tuyên bố thành lập đảng CS Xiêm. Vẫn theo HVH, đảng này, từ lúc mới thành lập cho đến sau này, không hề có cương lĩnh, điều lệ lẫn chương trình (tr.69).
Sau thành tích độc nhất vô nhị này của phong trào cộng sản, Hồ Chí Minh đi Mã Lai Á “giúp các đồng chí ở đó thành lập đảng Cộng Sản Mã Lai” (tr.64). Hai công tác được đảng CS Xiêm triển khai là:
1) Tuyên truyền vận động dân chúng Xiêm chống chính phủ.
2) Viện trợ cách mạng Đông Dương.
Chỉ công tác thứ hai mới có hiệu quả, còn mục tiêu thứ nhất quá “mơ hồ” vì khi đại biểu Quốc tế Cộng sản đi rồi, không có chỉ thị hành động (tr.90). Do đó từ 1930 đến 1934, đảng CS Xiêm trở thành một tổ chức với hoạt động độc nhất là viện trợ cho cách mạng Đông Dương. HVH, từ Tỉnh Uỷ U đon được cử sang Bangkok làm việc trong Xiêm Uỷ.
ĐẢNG CỘNG SẢN XIÊM TRƯỚC SỰ ĐÀN ÁP CỦA CHÍNH PHỦ XIÊM
Khi chuyển sang đảng CS Xiêm, các đảng viên Hoa -Việt thuộc Phân bộ Thanh Niên phải lấy tên Xiêm và học tiếng Xiêm. Đối với HVH, vốn có khiếu học ngoại ngữ, chuyện học này không thành vấn đề (ông nói thành thạo tiếng Xiêm và TQ) nhưng đối với các đảng viên còn lại thì khác. Thật vậy, cho đến lúc bấy giờ, chuyện ở Xiêm, đối với họ, chỉ có tính cách tạm thời, nên việc học tiếng Xiêm đã không được xem là quan trọng. Nhưng khó khăn nhất trước mắt lúc ấy chính là chuyên đối phó với sự khủng bố của nhà cầm quyền Xiêm. Đối với nhà cầm quyền Xiêm, “bọn cộng sản” chỉ có thể là người Hoa và người Việt. Cảnh sát Xiêm đem theo những truyền đơn cộng sản (nhiều khi do chính họ làm ra hay lượm được ở ngoài đường phố) ngang nhiên xông vào nhà bắt giam người Việt hoặc người Hoa, càng ngày càng nhiều. Cộng đồng người Việt tại vài thành phố(12) bị thiệt thòi hơn cộng đồng người Hoa vốn đông hơn (hơn một triệu người tại Bangkok) và khó kiểm soát hơn (nên người cộng sản có thể trà trộn vào dễ dàng).
Trước tình thế này, HVH đặt câu hỏi: “Nếu cứ làm thế này mãi, mỗi lần phát truyền đơn lại bị bắt bớ dần mòn, rồi sẽ đi tới đâu? (...) Nếu đương cục cứ thẳng tay khủng bố thì chắc chắn cơ sở dễ bị tan rã” (tr.76). Những câu hỏi này ám ảnh ông trong nhiều năm. Trong khi đó báo chí Ban chỉ huy đảng ở nước ngoài tại Hương Cảng lại “nêu cao tinh thần đấu tranh không khoan nhượng” (tr.76). HVH đọc trong báo Bolchevik ấn bản Hương Cảng gửi qua Xiêm năm 1934, một bài tố cáo “bọn hữu khuynh lùi bước trước tình hình”. Tháng 5/1934, gặp lúc đồng chí Tăng đầu bạc sửa soạn đi Hương Cảng họp hội nghị mở rộng của ban chỉ huy đảng CS Đông Dương, Hoan nói với Tăng điều thắc mắc này và đề nghị Tăng trình bày với lãnh đạo đảng. Nhưng khi trở lại Bangkok, Tăng cũng nói như báo Bolchevik và thêm “còn một người, còn đấu tranh” (tr.77, 91). Dĩ nhiên HVH thấy vấn đề nghiêm trọng nhưng không bao giờ ông có ý định đăt lại đường lối của Quốc tế Cộng sản và Hồ Chí Minh. HVH nghĩ rằng có lẽ lỗi do Tăng đã báo cáo quá “lạc quan”, nghĩa là “sai lạc” về tình hình Xiêm cho Quốc tế Cộng sản.
Và ông mong muốn gặp lãnh đạo tại TQ để hiểu rõ thêm về vấn đề này. Năm 1935, lấy lý do đi TQ “chữa bệnh đau đầu”, HVH gặp Hà Huy Tập tại Nam Kinh khi đó ông “mới trực tiếp trình bày được đầy đủ” (tr.77). Phần báo cáo này có thể tóm tắt như sau:
Đảng CS Xiêm thành lập năm 1930 chỉ gồm người Hoa với người Việt, riêng người Xiêm: “không có mấy”. “Các đồng chí người Hoa không có cơ sở cũng như ảnh hưởng trong dân chúng. Chỉ có người Việt, mới có chút ảnh hưởng” (...) Còn trong cộng đồng người Việt khoảng ba vạn người, chỉ có vài nghìn người ở trong tổ chức cộng sản hoặc là cảm tình viên cộng sản. Ngày trước, người cộng sản có thể tổ chức lễ hội, sinh nhật vào dịp Cách mạng tháng mười Nga hay ngày lao động quốc tế mùng 1 tháng 5. Họ có thể phát truyền đơn, cổ động phát triển đảng. Bây giờ, nếu làm như vậy, họ sẽ lập tức bị đàn áp hay bị bắt thật nhiều như trường hợp ở Phi Chịt (vùng trung Xiêm). Và nếu tiếp tục như thế, các cơ sở cán bộ cũng như cảm tình viên sẽ “không thể bảo toàn”, thì khi đó “sự cống hiến đối với cách mạng Xiêm sẽ giảm đi, mà công tác viện trợ cách mạng Đông Dương cũng sẽ bị ảnh hưởng không thể lường hết được”. (tr.93-94)
Hà Huy Tập chăm chú nghe rồi trả lời HVH rằng trong báo cáo, Tăng “không nêu vấn đề như anh vừa nói. Hôm nay nghe anh báo cáo rõ, tôi thấy có nhiều chỗ đáng phải suy nghĩ. Nhưng trước mắt, tôi chưa thể trả lời được, rồi đây chúng tôi sẽ thảo luận, có ý kiến gì sẽ nói với anh sau”. (tr.94)
Báo cáo xong, về sau HVH không nhắc đến chuyện này nữa nên độc giả không biết ông có được đảng trả lời hay không.
Khi HVH sửa soạn trở về Xiêm thì hay tin mọi liên lạc với xứ này đều bị gián đoạn. Quả thật, lúc đó cuộc khủng bố người cộng sản của nhà cầm quyền Xiêm đang lên đến cực điểm, các cơ sở cộng sản hay thân cộng sản đều bị giải tán, hàng trăm đảng viên và cảm tình viên bị bắt giam (tr.114 - 117). Trước tình thế này, HVH buộc lòng phải ở lại TQ cho đến năm 1942, nghĩa là 8 năm.
Tại TQ, ông sẽ gặp lại HCM, và vài lãnh tụ quan trọng khác như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng v.v... Ông cũng có dịp gặp gỡ các tổ chức quốc gia khác như Việt Quốc(13), Việt Cách(14), Phục Quốc(15) v.v... HVH đi từ tỉnh này qua tỉnh nọ, kiên nhẫn và quyết tâm tuyên truyền, củng cố uy danh và vai trò bá quyền của đảng mình. Thời kỳ này có rất nhiều biến cố và sự kiện lịch sử quan trọng: HVH kể lại trong chương thứ ba, một trong những chương quan trọng nhất của quyển hồi ký, liên quan đến khoảng thời gian trước khi Việt Minh lên nắm chính quyền ở Việt Nam năm 1945.
TÌNH HÌNH CÁC TỔ CHỨC NGƯỜI VIỆT NAM TẠI TRUNG QUỐC
Trong chương ba, HVH phân tích tỉ mỉ về tình trạng người Việt di cư tại TQ cũng như sự tranh giành ảnh hưởng giữa các tổ chức chính trị. Đất TQ thời ấy là nơi gặp gỡ của Viêt kiều(16) thuộc mọi khuynh hướng chính trị, từ quốc gia đến cộng sản, kể cả trốt kít Đệ Tứ. Từ năm này sang năm khác, mỗi lúc một đông những người Việt trốn khủng bố, đến đây tiếp tục cuộc tranh đấu. Ban đầu, với số đông và nhờ sự giúp đỡ của Quốc Dân đảng Trung Quốc, các đảng phái quốc gia như Việt Quốc, Việt Cách, Phục Quốc v.v... tạo nên lực lượng quan trọng nhất. Nhưng dần dần, người cộng sản lật ngược tình thế nhờ ở cách cài người tài tình và tổ chức vững chắc. Nhưng yếu tố quyết định sau cùng là việc họ có cán bộ trung kiên hoạt động từ lâu tại quốc nội, điều mà các đảng phái khác không có.
Các lực lượng đảng phái quốc gia chủ yếu là các cựu đảng viên VNQDĐ, Việt Cách và những người sang TQ yêu cầu sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc Dân đảng. Nói về Việt Quốc, HVH viết:
“Năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Vũ Hồng Khanh lại từ trong nước chạy ra, nhập bọn với Nguyễn Thế Nghiệp. Được sụ cho phép ngầm của đế quốc Pháp, và sự “giúp đỡ” của đương cục Trung Quốc, chúng đã tổ chức Việt Nam Quốc Dân đảng, dựa vào một số lưu manh làm cốt cán để uy hiếp và lừa dối quần chúng” (tr.124)
Nhân vật nổi tiếng nhất của Việt Quốc là Nguyễn Hải Thần, một người quốc gia đã cao tuổi ở đất TQ từ lâu. Ông rất ngờ vực người cộng sản và được lòng Trung Hoa Quốc Dân đảng. HVH mô tả ông như một người rất mờ nhạt, thiếu khả năng phân tích chính trị, dễ bị hoàn cảnh lôi cuốn, sao cũng được miễn là tên mình còn đứng đầu danh sách. Cho nên, người cộng sản thường dàn xếp, mỗi khi có dịp, cho ông ta làm “chủ tịch” những tổ chức do họ thành lập hay tham dự.
Năm 1941, khi Nguyễn Hải Thần được nhà cầm quyền Trung Hoa đẩy ra làm chủ tịch Việt Cách, theo HVH, nhằm tạo điều kiện chuẩn bị cho kế hoạch Hoa quân nhập Việt.
HVH còn nhắc đến một đảng phái quốc gia khác, đảng Phục Quốc và nhóm Trương Bội Công.
Đảng Phục Quốc tuyên bố kế thừa phong trào của Cường Để, là một tổ chức thân Nhật. Có khoảng năm trăm đảng viên, thành phần phức tạp và không có khuynh hướng chính trị gì cả. Khi bị Nhật bỏ rơi và Pháp truy nã, họ chạy trốn sang TQ và được Trung Hoa Quốc Dân đảng giúp đỡ.
Riêng nhóm Trương Bội Công thì khác hẳn, do chính quân đội Trung Hoa Quốc Dân đảng thành lập và Trương Bội Công (là người Việt) tự xưng là thiếu tướng chỉ huy quân đoàn này.
Lưc lượng quân sự người cộng sản VN lúc ấy khoảng sáu mươi người “anh em Việt Minh”, (tr.178). Nếu ở Xiêm, lực lượng cộng sản đông hơn và hoàn toàn thuộc về Thanh Niên (đảng Cộng Sản) thì ở TQ họ hành động dưới danh nghĩa Việt Minh. HVH và đồng chí mang khá nhiều nhãn hiệu: khi thì là Việt Minh, đoàn thể “ma” do chính họ thành lập, khi thì núp sau những tổ chức của các đảng phái quốc gia. Trong bí mật, họ hoạt động dưới quyền điều khiển của Ban hải ngoại thuộc Đông Phương cục của Đệ Tam Quốc Tế.
Bên cạnh các tổ chức quốc gia và cộng sản này, HVH nhắc đến một nhóm Đệ Tứ bằng những lời lẽ như sau:
“Ngoài Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ ra, còn có một nhóm tơ-rốt-kít độ ba bốn tên, cầm đầu là một anh có trình độ văn hóa, biết nặn tượng, chịu ảnh hưởng của Tạ Thu Thâu khá sâu, hay nói lý luận có vẻ cách mạng, có thể đánh lừa một số quần chúng. Hắn tuyên truyền vận động kiều bào xuống đường chống Pháp và đòi đương cục Trung Quốc giảm thuế. Hắn đi vận động đến đâu cũng bị ta đả thẳng cánh, âm mưu không thực hiện được và hoàn toàn bị cô lập”. (tr.128)
Xin lưu ý, khác với Hồ Chí Minh, HVH không dùng những từ ngữ vu khống “gián điệp”, “tay sai đế quốc” để chỉ người trotskistes(17).
ĐẢNG VIỆT MINH ĐẦU TIÊN THÀNH LẬP NĂM 1936
Từ Nam Kinh đến Côn Minh, rồi từ Côn Minh qua Long Châu, Liễu Châu, Tịnh Tây v.v... đến Pắc Bó. HVH giữ một vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo đảng CSVN. Bất cứ chỗ nào đã qua, ông đều để lại dấu ấn của một chiến lược gia và một người tổ chức có bản lĩnh. Năm 1936, ông là một trong ba người thành lập tổ chức Việt Minh đầu tiên: Việt Nam Độc Lập Đồng Minh hội, tiền thân của Việt Minh năm 1941. Năm 1939, HVH cùng với Phùng Chí Kiên, Vũ Anh (Trịnh Công Hải) tổ chức “Ban Hải ngoại của đảng, để lãnh đạo mọi mặt công tác của đảng tại Trung Quốc” (tr.128), HVH trở thành bí thư ban này ít lâu sau đó. Năm 1941, ông được chỉ định vào ban lãnh đạo Việt Minh.
Theo HVH, chính Hồ Học Lãm, đã có ý định đầu tiên thành lập một tổ chức cách mạng hợp pháp. HVH và Hải(18) , đồng chí cũ đã cùng học ở Quảng Châu với HVH, thực hiện việc này. Hải thảo điều lệ bằng tiếng Việt, nội dung như điều lệ của hội Phản đế đồng minh, Hoan dịch sang tiếng TQ. (tr.103) Cuộc hội nghị tuyên bố thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh hội, gọi tắt là Việt Minh được tổ chức tại phòng họp Đảng bộ khu phố của Quốc Dân đảng TQ (Trung Hoa QDĐ). Tham dự hội nghị về phía người Việt có Nguyễn Hải Thần, Hồ Học Lãm và anh em khác khoảng hai mươi người, phía người TQ có hai đại biểu trung ương Quốc Dân đảng TQ. Cách tổ chức đơn giản như vậy, mục đích là hợp pháp hóa hoạt động chính trị yêu nước của Việt kiều dưới mắt nhà cầm quyền TQ ngõ hầu được họ giúp đỡ và hỗ trợ. Đấy là ý kiến của Hồ Học Lãm.
Hồ Học Lãm là ai? Theo HVH, Hồ Học Lãm rất được mọi người quý mến và kính nể. Sống sót sau khi phong trào Đông Du thất bại, bỏ Nhật sang TQ, Hồ Học Lãm vào làm việc ở Bộ Tham Mưu quân đội Tưởng Giới Thạch tại Nam Kinh với cấp bậc Trung tá. Là người quốc gia yêu nước, không vào đảng cộng sản nhưng luôn luôn giúp đỡ, hỗ trợ đảng và các đảng viên cộng sản Việt Nam. Ông đảm bảo cho họ chuyện ăn ở. Trong nhà ông lúc nào cũng có nhiều người cộng sản đến trú ẩn. Ông còn giúp họ bí mật tổ chức cả lớp dạy chủ nghĩa mác xít và lý thuyết về các giai đoạn cách mạng Việt Nam. Về mặt lý tưởng, ông thiên về người quốc gia của Việt Cách và Việt Quốc, nhưng về mặt thực hành ông luôn luôn giúp người cộng sản, vì thế có khi gây hại cho người quốc gia. Là sĩ quan của quân đội Tưởng, ông hay đứng ra bảo lãnh cho người cộng sản mỗi khi họ gặp rắc rối trong mối quan hệ khó khăn giữa họ và nhà cầm quyền TQ. Năm 1936, chính nhờ ông đỡ đầu, việc đăng ký và thành lập đảng Việt Minh mới thực hiện được. Báo chí Quốc Dân đảng nói đến đảng Việt Minh này với nhiều thiện cảm. Nhờ có cơ sở hợp pháp, người cộng sản đã rút tiả được nhiều thành quả tốt. Và để
“biểu thị sự hoạt động tích cực của Việt Minh, Hồ Học Lãm tự bỏ tiền, ra một tờ tạp chí nhỏ bằng chữ TQ lấy tên là Việt Thanh, số lượng phát hành chỉ độ một trăm cuốn, cốt để gửi cho các cơ quan Quốc Dân Đảng TQ ở Nam Kinh, cũng có gửi cho Việt kiều ở Quảng Châu và Côn Minh độ vài chục cuốn” (tr.105).
Chính vào lúc HVH và các đồng chí đang vận động thành lập Việt Minh thì Tưởng Giới Thạch thi hành chính sách chống cộng ác liệt (tr.108). Việt Minh bị tố cáo, mọi hoạt động của phong trào cộng sản bị ngừng chỉ. Tờ báo Việt Thanh cũng đình bản. Bốn năm sau, vào cuối năm 1940, tình hình hoàn toàn thay đổi vì Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch hợp tác để đối phó với quân xâm lăng Nhật Bản: Việt Minh lại xuất hiện.
Sau khi Phạm Văn Đồng tiếp xúc với một vài nhà văn TQ, Trung Việt văn hóa công tác đồng chí hội được chính thức ra đời, để thắt chặt tình bạn giữa hai dân tộc. Trong ban Lý sự hội Trung Việt này có 2 ủy viên Việt là Hồ Học Lãm với tư cách chủ nhiệm Biện Sự xứ Việt Minh tại hải ngoại và Phạm Văn Đồng, (dưới bí danh Lâm Bá Kiệt) phó chủ nhiệm Biện Sự xứ.
Dĩ nhiên tình “thân hữu giữa hai dân tộc” chỉ là hình thức. Thật sự đôi bên đều rình rập, nghi ngờ nhau. Phía TQ sợ rằng nếu tổ chức này bị cộng sản lũng đoạn, thì việc biến nó thành một cơ quan chính trị thuận lợi cho kế hoạch Hoa quân nhập Việt của TQ sẽ bị cản trở . Phía cộng sản Việt Nam thì e ngại TQ sẽ nắm lấy một tổ chức hoạt động chính trị hợp pháp của Việt Minh. Phong trào Việt Minh từ 1936 đến 1940 (ngược lại với Việt Minh của năm 1941) tuyệt đối không thể trở thành cơ quan chính trị có quyền lực do sự có mặt của các lực lượng quốc gia trong ban lãnh đạo. Bởi người cộng sản Việt Nam theo nguyên tắc không bao giờ muốn chia sẻ quyền lực với người khác.
SÁCH LƯỢC “HOÁ GIẢI TỪ BÊN TRONG”
Giữa năm 1940, quân Đức xâm lăng Paris (ngày 20 tháng 6 năm 1940), Hồ Chí Minh triêu tập các đồng chí và quyết định sửa soạn chuyển hướng hoạt động về trong nước. Trong khi chờ đợi, tất cả sẽ di chuyển dần về các tỉnh biên giới thuộc vùng Quảng Tây. Sở dĩ Quảng Tây được chọn là vì nơi đây quân đội cộng sản Trung Quốc khá đông đảo và vững mạnh trong khi vùng Vân Nam điều kiện không tốt bằng. “Quyết định xong, bác đi Trùng Khánh gặp Trung Ương đảng Cộng sản TQ để trao đổi ý kiến” (tr.130)
Trên đường về Pắc Bó, HVH dừng chân ở Tịnh Tây, thành phố biên giới TQ đối diện với Cao Bằng Việt Nam. Ông được thư Hồ Học Lãm báo tin rằng tại Tịnh Tây, Trương Bội Công với sự giúp đỡ của quân Tưởng, đang chuẩn bị tập hợp người Việt để dọn đường cho quân TQ kéo vào Việt Nam. Trương Bội Công có đề nghị Hồ Học Lãm cộng tác, nhưng Lãm từ chối và báo cáo cho các lãnh tụ Việt Minh. Hay tin này, Hồ Chí Minh lập tức phái Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh và Cao Hồng Lãnh đi Tịnh Tây, nơi có Phạm Văn Đồng đang chờ. Mục đích nhằm đón bốn mươi người Việt vừa mới sang và để “triệt tiêu/hoá giải lực lượng” Trương Bội Công bằng cách buộc Công phải đàm phán với Biện Sự xứ Việt Minh tại hải ngoại. HVH viết:
“Nhưng chúng ta về Tịnh Tây không phải để bàn bạc công việc với Trương Bội Công, mà để tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng ở ngoài nước, tổ chức cách mạng ở trong nước” (tr.151)
Phía cộng sản đề nghị Trương Bội Công đổi tên tổ chức Công đang thành lập Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Ủy Viên Hội thành Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Đồng Minh Hội, viết tắt là Hội Giải Phóng, lấy lý do là phải có quần chúng Việt Nam ở trong nước tham gia mới gọi là giải phóng Việt Nam. (Biện Sự xứ Việt Minh tại hải ngoại là đại biểu của quần chúng!) Đề nghị này được Quốc Dân Đảng TQ đồng ý, Trương Bội Công đành phải “cúi đầu làm”. (tr.152)
Đúng ngày Đại hội thành lập Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Đồng Minh hội, các đại biểu Việt Minh, hầu hết là cộng sản, từ khắp nơi kéo về, trong nước cũng như ngoài nước (Tịnh Tây, Long Châu).
“đều được theo nhu cầu lúc đó mà ‘phân vai’... Đặc biệt có một người lấy tên Hà Đức Phương đại biểu cho lãnh tụ Việt Minh là Hoàng Quốc Tuấn vì sức khỏe và đường sá khó khăn quá không thể đến được. Hoàng Quốc Tuấn là cái tên chúng ta bịa ra.”
Hoàng Quốc Tuấn, cũng như Việt Minh trong nước, lúc đó không hề có thật.
Đại hội diễn ra với sự có mặt :
- phía cộng sản Việt Nam: khoảng hai mươi đại biểu Việt Minh.
- phía Trung Quốc: năm sáu người của Trương Bội Công, vài đại biểu Việt Quốc, đại biểu nhà cầm quyền vùng Tịnh Tây cùng các đại biểu của Trương Phát Khuê, Dương Kế Vinh và Lý Tế Thâm(19).
Hội nghị chỉ định một Ban chấp hành Trung ương, Nguyễn Hải Thần được bầu làm chủ tịch. Đa số các chức vụ quan trọng đều ở trong tay người cộng sản(20). Không có một người Hoa nào trong ban Chấp hành. Thế là Việt Minh đã thành công vì “Bác đã nói dứt khoát đã là cách mạng Việt Nam thì không thể do Hoa kiều lãnh đạo” (tr.154)
Kết quả hội nghị này, dĩ nhiên không theo đúng ý nguyện nhà cầm quyền TQ, dù đại biểu Lý Tế Thâm của họ đã gửi bức trướng mừng có bốn câu thơ như sau:
Trung - Việt dân tộc --- hai dân tộc TQ – VN
Thuần xỉ quan thiết --- gần gũi như môi với răng
Tiền sỉ đồ tồn --- để rữa nhục cùng tự vệ
Duy thiết duy huyết --- chỉ có sắt với máu
Theo HVH, “Mục đích ta tham gia tổ chức Hội giải phóng này cốt để hợp pháp hóa những hoạt động của ta ở ngoài, và cũng để tranh thủ sự viện trợ ở ngoài về vật chất cũng như tinh thần” (tr.155). Thật vậy, trong lúc chuẩn bị Hội nghị, người TQ bằng lòng giúp huấn luyện một số cán bộ quân sự (sáu mươi người) và một số cán bộ khác về bộc phá (12 người) (tr.156). Dĩ nhiên sự giúp đỡ này không phải không có hậu ý. Phía Việt Nam yêu cầu TQ huấn luyện quân sự nghĩa là: “theo ý Bác là cốt để có người lấy súng chúng mang về.” (tr.156). Quân QDĐ Trung Hoa thì hẳn là muốn lũng đoạn hàng ngũ cộng sản. Chiến tranh mà, giữa đôi bên đều có ý đồ, nhưng HVH không chấp nhận điều đó, ông tố cáo quân Tưởng “có sự tính toán bẩn thỉu là sẽ nhồi sọ cán bộ ta, để từ nội bộ ta, chúng nặn ra một số tay sai đắc lực.”
Và dù người cộng sản Việt Minh “chiếm ưu thế tuyệt đối về chính trị cũng như thành phần cơ cấu lãnh đạo, nhưng Hội giải phóng đó có thể coi là một tổ chức lãnh đạo cách mạng được không?” (tr.155) HVH đặt câu hỏi và tự trả lời: “Không!” Bởi vì tổ chức này hoàn toàn do Quốc Dân Đảng Trung Hoa lập ra. Người cộng sản Việt không được tự do hành động. Mọi sự sẽ thay đổi hoàn toàn vào một tháng sau, khi ra đời tổ chức Việt Minh do chính người công sản Việt Nam thành lập vào tháng 5/1941 sau Hội nghị Trung Ương lần thứ 8 tại Pắc Bó.
Sau khi thành lập Hội Giải Phóng, một tờ báo lấy tên là “Giải Phóng” ra đời. Nhưng rồi báo bị đình bản theo lệnh Hồ Chí Minh, vì ông sợ rằng “quần chúng hiểu lầm”. Những số báo đã lỡ in được “chỉ để mấy tờ gửi cho một số cơ quan của TQ, còn nửa phải đốt hết, tuyệt đối không được phát cho quần chúng” (tr.155).
TRANH CHẤP GIỮA NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC VÀ VIỆT MINH
Sự tranh chấp giữa nhà cầm quyền Trung Quốc (QDĐTQ) và Việt Minh tuy ngấm ngầm nhưng có thật. Để dò xét thực lực của Việt Minh, nhà đương cục TQ yêu cầu bên Việt Minh cho phép một sĩ quan của họ vào Việt Nam quan sát tình hình. “Bác chỉ thị đồng ý cho vào”, viên Thượng tá họ Lục này, được hướng dẫn theo một kế hoạch tham quan và tiếp đãi do
“chính Bác trực tiếp vạch ra và chỉ đạo thực hiện tỉ mỉ. Được dẫn qua những núi cao, rừng rậm, những suối nhỏ, hố sâu, Lục Thượng Hiệu luôn luôn gặp bộ đội vũ trang của ta đi vòng quanh những trạm gác và đồn gác của địch (...) đi rất mệt, rất khổ và nhiều lúc rất nguy hiểm và đến đâu ông ta cũng được dân Thổ, Mán, Nùng, Kinh, già trẻ bé lớn tiếp đón nồng hậu.” (tr.157)
Quan sát xong, về Tịnh Tây, Lục Thượng Hiệu làm một bản báo cáo dài năm mươi trang cho Trương Phát Khuê, tướng của Tưởng Giới Thạch, với kết luận: “Hơn 80% dân các tỉnh ông ta thị sát đều theo Việt Minh cả” (mà sự thật Việt Minh chỉ dẫn họ Lục đi loanh quanh những khu vực họ đã xếp đặt, bố trí trước) “nếu TQ muốn làm gì ở Việt Nam có hiệu quả, nhất định phải liên hệ với Việt Minh mới được. (...) Cố nhiên báo cáo ông ta có nhiều chỗ thổi phồng để khoe công nhưng kết luận như thế lại là một thực tế.” (tr.158)
Hội Giải Phóng (“Việt Nam dân tộc giải phóng đồng minh hội”) thành lập trong điều kiện phức hợp như vậy tất khó đương đầu với những biến chuyển do tình hình đem lại. Trương Bội Công bị bắt vì một vụ buôn lậu. Thế là quân đoàn của Công tan vỡ. Hội chỉ còn lại cái tên.
Cùng lúc với sách lược hoá giải từ bên trong, người cộng sản còn dùng sách lược khác cũng rất có hiệu quả. Đó là sách lược chinh phục quần chúng từ bên trong. Việc thành lập chi bộ Vân Quí là một thí dụ. Vân Quí là tiếng gọi tắt mấy chữ Vân Nam và Quí Châu, hai tỉnh lớn Trung Quốc. Chi bộ Vân Quí thuộc cánh tả Quốc Dân Đảng. Việt Minh đã cài người vào và đã thành công trong việc lôi kéo tất cả trở thành đảng viên cộng sản. Chi bộ Vân Quí trở thành đội quân tiên phong của đảng CSVN sau này.
Sau khi Trương Bội Công bị bắt, nhà cầm quyền TQ đặt hết hy vọng vào Nguyễn Hải Thần và Trần Báo. Trần Báo là kẻ phản đảng (CSVN), Báo biết rõ mọi bí mật của tổ chức đảng và không ngừng tố giác cộng sản với nhà cầm quyền TQ. Tuy không có bằng cớ, HVH nghi ngờ Báo và Nguyễn Hải Thần đã âm mưu khiến ông bị nhà cầm quyền TQ bắt tại Bình Mãnh về sau này.
Việc chuẩn bị cho “Hoa quân nhập Việt đã tiến triển khá tích cực” (tr. 183), chỉ còn thiếu một tổ chức chính trị. Bộ Tư lệnh quân khu bốn TQ đề nghị một cương lĩnh và một “Ban trù bị” hội nghị thành lập “Việt Nam phản xâm lược đồng minh hội”. Nhưng bên trong họ bí mật liên lạc với Nguyễn Hải Thần và Trần Báo để lập một “chính phủ lâm thời” gồm có:
Nguyễn Hải Thần: Chủ tịch
Hoàng Lương: Bộ trưởng bộ Quốc phòng
Mai Công Nghị: Bộ trưởng bộ Ngoại giao
Dương Thanh Dân: Bộ trưởng bộ Tài chính
Trần Báo: Bộ trưởng bộ Tuyên truyền
Nông Kính Du: Cố vấn v.v...
Biết được danh sách chính phủ lâm thời này, HVH lập tức hội kiến với Nguyễn Hải Thần và giải thích rằng hai bộ quan trọng là Ngoại giao và Tài chính giao cho người TQ (Mai Công Nghị, Dương Thanh Dân ) và Hoàng Lương là một người nổi tiếng thân Nhật, như vậy Nguyễn Hải Thần còn lại quyền hành gì? Thế là trong buổi họp có mặt Trương Phát Khuê, Nguyễn Hải Thần đột nhiên đứng ra tuyên bố phủ nhận Ban trù bị, viện cớ người Việt không được tham khảo trong việc lập danh sách Ban này. HVH đề nghị thêm tên người Việt Minh (tên ông và một người đồng chí khác) vào bản danh sách. Dĩ nhiên, mọi việc đi vào bế tắc. Bởi vì
“Rõ ràng vấn đề cách mạng Việt Nam nên tổ chức như thế nào và nên làm gì không phải do ủy ban trù bị quyết định mà do Bộ Tư lệnh quân khu bốn, hay nói cho đúng hơn là do Trùng Khánh quyết định” (tr.193)
Thật vậy, cuối năm 1942, chính phủ Tưởng Giới Thạch “đưa Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ từ Trùng Khánh về, tha Trương Bội Công và (...) đưa Đặng Nguyên Hùng với Nguyễn Tường Tam về” (tr.193). Những người này, do chính phủ Trùng Khánh đỡ đầu đã thành lập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh hội (Việt Cách) và không cần Việt Minh hợp tác.
Nhưng mục tiêu của họ là nhằm loại hẳn Việt Minh, nghĩa là người cộng sản, để thành lập một tổ chức chỉ có những người quốc gia thân Trung Quốc, mục tiêu này có đạt được không? Câu trả lời nằm trong chương nói về hội nghị Việt Cách. Trong khi đó, lực lượng cộng sản tiến triển nhanh chóng. Tháng 5/1941 hội nghị Trung Ương đảng lần thứ 8, tổ chức tại Pắc Bó, quyết định đổi Mặt trận Phản đế Đông Dương thành Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh tức Việt Minh. HVH có mặt trong hội nghị nhưng chỉ tham dự vài buổi, thời gian còn lại ông phải qua lại giữa Pắc Bó và bên kia biên giới lo bảo đảm an toàn cho hội nghị. So sánh chương trình điều lệ giữa hai mặt trận thì Việt Minh có phần nhân nhượng so với Mặt trận phản đế và cũng nhượng bộ so với chương trình Việt Minh hồi năm 1936.
“Đấy là một Mặt trận rất rộng rãi nhằm liên minh tất cả lực lượng các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, để chống Pháp Nhật” (tr.160). HVH được bầu vào Tổng bộ. Phong trào Việt Minh lớn mạnh nhanh chóng và trở thành công cụ cho việc giành chính quyền năm 1945.
TRÊN ĐƯỜNG VỀ NƯỚC
Cuối 1941, HVH từ Tịnh Tây về Pắc Bó báo cáo tình hình cho Hồ Chí Minh. Khi trở lại, giữa đường HVH bị (quân Tưởng) bắt, tại Bình Mãnh (tr.164). Theo lời ông thì trong chuyện bị bắt này có nhiều điều rắc rối kì quặc và bí ẩn. Ban đầu, người ta cùm tay chân ông, ngay sau đó lại mở cùm mời ông dùng cơm có rượu thịt tử tế với những viên chức địa phương. Qua hai mươi ngày mơ hồ hoang mang như thế, HVH được đưa về Tịnh Tây và được trả tự do. Không những thế ông còn được cấp tiền đi đường về Liễu Châu tiếp tục hoạt động cách mạng. Tại Liễu Châu ông tiếp tục cuộc vận động chống lại chương trình Hoa quân nhập Việt của quân Tưởng. Sau đó ông trở lại Tịnh Tây sửa soạn về Việt Nam.
Vào một buổi sáng đẹp trời, tháng tám năm 1942, lợi dụng lúc “Chỉ huy sở (nơi HVH làm việc cho quân đội QDĐ) mở đại hội thể thao cho các đơn vị và bộ đội (...) ăn sáng xong, tôi thủng thỉnh ra ngoài (...) nhắm hướng về biên giới một mạch đi luôn” (tr.201). Đoạn đường gần sáu mươi cây số, ông đi bộ, chỉ ngủ một đêm ngoài trời, hôm sau thì tới Pắc Bó “và gặp bác Hồ.”
Trong chương 4, HVH nói về những hoạt động của mình tại Việt Nam từ 1942 đến 1948. Ông có trách nhiệm xây dựng Khu giải phóng Việt Bắc, giáo dục cán bộ Đảng và tổ chức, huấn luyện quần chúng. Ông có điều kiện thuận lợi nhờ đã tới lui vùng biên giới nhiều lần lại biết nói tiếng Thái Lan (Xiêm) và tiếng TQ vì các thứ tiếng này cơ bản giống tiếng nói các dân tộc Nùng, Tày tại đây.
HVH nhắc đến những bất đồng ý kiến về chiến lược giữa ông với Võ Nguyên Giáp (và Phạm văn Đồng) vào tháng 5 năm 1944 (tr.226-227): “Tôi lí luận mãi mà hai anh vẫn không nghe” (tr.226). Đó là chuyện nên hay không nên phát động ngay cuộc chiến tranh du kích tại vùng biên giới là Cao Bằng, Bắc Giang và Lạng Sơn. Theo HVH, tình thế chưa chín muồi, thêm vào đó “đường dây liên lạc quốc tế”(21) do Hồ Chí Minh phụ trách đã bị cắt đứt vì ông Hồ bị Quốc Dân Đảng bắt, phát động ngay chiến tranh du kích là không thực tế.
HVH kể tỉ mỉ chuyện Hồ Chí Minh bị bắt tại TQ vào cuối năm 1942 và chiến dịch của đảng nhằm đòi lại tự do cho ông Hồ. Khi Hồ Chí Minh ra tù, theo HVH, ông Hồ cho rằng HVH đã có lí về việc không đồng ý này (tr.227). Theo HVH, dường như một số lãnh tụ đảng đã không hiểu được ý nghĩa sâu xa của một số hoạt động của Hồ Chí Minh. Tuy không nói thẳng ra nhưng HVH ngụ ý rằng ông là một trong số bạn đường rất hiếm của Hồ Chí Minh đã nắm vững, hiểu rõ được ý tưởng và chiến lược thật sự của Hồ Chí Minh. HVH viết:
“Đến như những hoạt động của Người như thế nào để đạt được kết quả chính trị có lợi cho mình, cho cách mạng thì rất ít ngưới biết. Có người lúc đó biết được đôi chút về Người, khi viết hồi ký lại huênh hoang thêu dệt ra một số tình tiết để tỏ vẻ mình là người biết rõ sự việc, là người được Hồ chủ tịch tin cậy, dặn dò, giao phó việc này, việc nọ.Thực ra thời gian ở Liễu Châu khi chưa tham gia Cách mạng Đồng minh hội, Người chỉ chăm chú rèn luyện thân thể, cặm cụi đọc sách báo và dịch quyển Tam Dân chủ nghĩa(22) , không nói chuyện chính trị và tiếp xúc với một ‘nhà chính trị Việt Nam’ nào, vì Người cảnh giác đối với các ‘nhà chính trị’ đó.” (tr.234)
Vẫn theo HVH, Hồ Chí Minh đã giữ yên lặng sau khi bị bắt và chỉ bắt đầu hoạt động lại sau khi vận động được bầu vào Ban chấp hành Việt Cách. Những sự việc cụ thể này do HVH đã tham khảo “các tài liệu gốc của QDĐTQ mà gần đây mới sưu tầm được.” (tr.234) Những sự việc đó cho đến nay chưa ai được biết.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG BÍ MẬT CỦA HỒ CHÍ MINH TẠI TRUNG QUỐC
Việc Hồ Chí Minh tham gia thành lập Việt Cách (tr.238-240). Vì Bộ tư lệnh Quân khu Bốn TQ tại Liễu Châu bế tắc sau khi thất bại trong việc thành lập hội “Việt Nam phản xâm lược đồng minh”, chính phủ Trùng Khánh mới cho vời đến đấy hai người Việt được họ bảo trợ là Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ(23) nhằm mục đích thành lập đảng Việt Cách (Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh hội).
Ngày 1 tháng 10 1942, đại hội thành lập chính thức khai mạc ở Liễu Châu, Ban Chấp hành Trung ương rất thiên về TQ gồm 7 người: Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Thế Tổ, Trần Báo, Nông Kinh Du, Trương Trung Phụng. Nhưng dần dần xảy ra chia rẽ và bất hoà giữa những người này, mọi việc không diễn ra như ý muốn của người TQ. Trương Phát Khuê muốn tổ chức một Đại hội khác nhằm chỉnh đốn nội bộ, mở rộng và thay đổi Ban Chấp hành. Hồ Chí Minh và sau đó một số người trong Việt Minh lập tức xin tham gia.
Đại hội “chỉnh đốn” họp tại Liễu Châu từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 3 năm 1944, gồm 15 đại biểu các đoàn thể trong đó có 3 đại biểu của Việt Minh (Lê Tùng Sơn, Nguyễn Thanh Đồng và Hồ Đức Thành), Hồ Chí Minh là đại biểu của Việt Nam phản xâm lược đồng minh(24), và Nguyễn Tường Tam là đại biểu của đảng Đại Việt.(25)
Trong Ban Chấp hành mới này, thay thế cho Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh và Nông Kinh Du bị đẩy vào Ban Giám sát, là Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật (Việt Minh) và Trần Đình Xuyên. Hồ Chí Minh (và Nguyễn Tường Tam) được bầu làm ủy viên Trung Ương dự khuyết. Khi Trần Đình Xuyên bị gạt ra, Hồ Chí Minh nghiễm nhiên trở thành ủy viên Trung ương chính thức. “Thế là Hồ chủ tịch có một địa vị vững chắc trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh hội” (tr.240). Sau Liễu Châu đến lượt Phân hội Việt Cách tại Vân Nam “chỉnh đốn” nội bộ. Ba người Việt Minh (Phạm Việt Tử, Lý Đào và Phạm Minh Sinh) vào Ban Chấp hành, (Phạm Việt Tử, Lý Đào còn kiêm thêm chức ủy viên Ban Thường vụ) Dương Bảo Sơn, một người Việt Minh khác vào Ban Giám sát. Trước kết quả này, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ phản đối dữ dội. Tiêu Văn, Chủ nhiệm văn phòng “đại biểu chỉ đạo”, không những không nghe mà còn hạ lệnh bắt cả hai (Vũ Hồng Khanh nhờ Trùng Khánh can thiệp vào giờ chót nên không bị bắt).
+ Hồ Chí Minh đi Côn Minh gặp Tư lệnh Không quân Mỹ.
Về việc này, “một việc rất ít người biết, có người biết ít nhiều cũng tránh đi không nói” (tr.243). Theo HVH, không nói tới là một sai lầm, trái lại cần phải kể lại đầy đủ rõ ràng vì nó nằm trong một chủ trương chiến lược rất quan trọng. HVH kể rất tỉ mỉ Hồ Chí Minh đã được đưa đón tiếp đãi dọc đường như thế nào, “bác” tiếp chuyện với ai và kể cả tâm trạng của “bác” trong những buổi chuyện trò khác nhau với người Mĩ.
“Bác đến Côn Minh với danh nghiã là Ủy viên Trung Ương của hội Việt Cách(26), tất nhiên có trách nhiệm xem xét tình hình Phân hội Việt Cách ở Vân Nam, và giúp đỡ cán bộ về tư tưởng và cách thức làm việc, khiến cho Phân hội trở thành một tổ chức cách mạng được quần chúng tin cậy. Nhưng mục đích chính của Hồ chủ tịch trong dịp đến Côn Minh là liên hệ với quân Đồng Minh Mĩ để cách mạng Việt Nam có một địa vị quốc tế rõ ràng trong phe Đồng Minh chống phát xít”. (tr.244- 245)
Tại Côn Minh, Hồ Chí Minh đã gặp và nói chuyện khá lâu với tướng Mĩ Chen-nét-tơ.(27) Hồ Chí Minh kể chuyện Việt Minh (tại Cao Bằng) đã cứu hộ và giúp đỡ một sĩ quan nhảy dù Đồng Minh (người Mĩ) và tuyên bố Việt Minh sẵn sàng phối hợp với Đồng Minh để đánh Nhật. Nhưng khi tướng Mĩ đề nghị Việt Minh làm tình báo cho Đồng Minh thì ông Hồ từ chối và thêm rằng: “chúng tôi có thể thông báo tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam, cũng như tình hình hoạt động của Nhật ở Việt Nam”. (tr.245)
Hồ Chí Minh đối đáp như một lãnh tụ thay mặt Việt Minh trong khi ông thực hiện chuyến du hành này với tính cách đại biểu Trung Ương của Việt Cách.
+ Hồ Chí Minh đi Trùng Khánh gặp Tưởng Giới Thạch.
HVH giải thích rằng chuyến đi này của Hồ Chí Minh cũng cùng một tinh thần với chuyến đi Côn Minh gặp người Mĩ và chuyến gặp gỡ hụt với Sainteny (người Pháp) tại Trung Quốc. HVH viết nhiều trang chứng minh lời giải thích này. Xin trích ra đây vài đoạn chính:
“Việc Bác đi Trùng Khánh gặp Tưởng Giới Thạch (không gặp được vì bị bắt ở dọc đường) việc đi Côn Minh để gặp Tư lệnh Mĩ, và việc liên hệ với tướng Pháp Xanh tơ ni trước Cách Mạng tháng Tám(28) thật ít người biết, có người biết ít nhiều cũng tránh đi không nói, vì họ nghĩ rằng như thế là hữu khuynh, là thoả hiệp. Cách nghĩ như vậy là không phù hợp với thực tế, không hiểu hết ý nghĩa chiến lược và sách lược của sự việc.
Chúng ta đều biết, từ Hội Nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5-1941) quyết định lấy Mặt trân Việt Minh thay cho Mặt Trận Phản đế thì chúng ta đã tuyên truyền là chúng ta đứng về phía phe Đồng Minh chống Phát xít (...)
Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã phân định thành hai phe rõ rệt, phe phát xít là Đức, Ý, Nhật; phe Đồng Minh là Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp, Trung Quốc. Trong đại hội lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản họp ở Mạc Tư Khoa năm 1935 đã quyết định các Đảng cộng sản trên toàn thế giới cần lập Mặt trận chống phát xít, mà đã chống phát xít thì khi có phe Đồng Minh chống phát xít, ta phải ủng hộ Đồng Minh. Việc ủng hộ phe Đồng Minh và đứng về phe Đồng minh chúng ta đã tuyên truyền nhiều, nhưng trên thực tế ta chưa trực tiếp liên hệ được với phe Đồng Minh. Ta đã biết chắc phát xít nhất định sẽ thất bại, Đồng minh nhất định sẽ thắng (...) ta cần phải có một hình thức liên hệ thực tế với Đồng Minh (...). Đến như việc muốn liên hệ với Pháp để trao đổi ý kiến, là vì Bác đã biết chắc khi quân Nhật thua, Đồng Minh sẽ đồng ý cho Pháp trở lại Việt Nam, nếu không có sự chuẩn bị trước thì lúc đó sẽ bị động. Vì vậy việc Bác định gặp Tưởng (...) gặp Mĩ (...) và (...) với Xanh-tơ-ni là một chủ trương chiến lược rất sáng suốt. Về mặt sách lược(29) thì Bác biết rất rõ là cách mạng thì phải dựa vào quần chúng (...) không có vũ trang là không thể chiến đấu, vũ trang đó ta có thể lấy ở địch, nhưng ta phải có một cái vốn (...) Bác cũng biết rất rõ là Mĩ (...) vẫn muốn hất cẳng Pháp. Tưởng [Giới Thạch] tuy phải thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam nhưng cũng vẫn muốn (...) gây khó dễ cho Pháp. Bác vẫn biết Mĩ và Tưởng sẽ không giúp cho chúng ta (...) nhưng gặp để tranh thủ ảnh hưởng, tranh thủ được sự giúp đỡ dù rất ít cũng vẫn tốt, gặp để phân hoá họ, để hạn chế họ. (tr.250-251)
(...) Về vấn đề đàm phán với Pháp là một vấn đề Bác đã nói rõ trong Quốc dân Đại hội ở Tân Trào, và sau Cách mạng tháng Tám (13/8/1945) Bác đã đàm phán với Xanh-tờ-ni đi đến Hiệp Định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946. Nhưng về sau trong tài liệu nói về Quốc dân Đại hội Tân Trào ta tránh đi không nói đến(30). Tôi thấy việc này cần nói rõ, đây là một chủ trương rất sáng suốt...” (tr.257)
Tác giả đã nhiều lần phân biệt cẩn thận chiến lược với sách lược. Chiến lược là vận động cuộc cách mạng trong khuôn khổ “khối Đồng Minh chống Phát xít” quy định bởi Đại hội lần thứ 7 của Quốc Tế Cộng sản năm 1935 và được Hội nghị Trung Ương đảng (CSVN) lần thứ 8 chấp nhận. Sách lược là tổ chức cuộc chiến tranh võ trang và vận động quần chúng nổi dậy giành chính quyền từ tay người Nhật. Như vậy Việt Minh đủ lực lượng làm áp lực với Đồng Minh ngõ hầu buộc họ ngồi vào bàn thương thuyết, với hi vọng, như “bác Hồ đã giải thích trong đại hội Tân Trào (...) sau năm năm thì nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”. (tr.256)
CHIẾN LƯỢC VÀ SÁCH LƯỢC CÓ THỂ HOÁN CHUYỂN CHO NHAU!
HVH không giải thích vì sao sách lược - chiến tranh vũ trang- được đổi thành chiến lược, nghĩa là trở thành phương hướng chính của Cách mạng Việt Nam, sau khi hội nghị tại Fontainebleau thất bại. Hồ Chí Minh đã nói gì ở đại hội Tân Trào?(31) HVH kể lại lí luận phân tích tình hình của Hồ Chí Minh như sau:
“Lúc này tuy Nhật chưa đầu hàng, nhưng phát xít Đức đã đầu hàng khi quân Liên Xô đánh thẳng vào Béc-lanh; sáu mươi vạn quân của Nhật ở “Mãn Châu quốc” đã bị quân Liên Xô đánh tan, thì phát xít Nhật nhất định sẽ phải đầu hàng, đó là việc có thể biết chắc chắn. Phát xít Nhật đầu hàng thì quân Đồng Minh sẽ vào tiếp quản Đông Dương. Quân Đồng Minh đây có thể là quân Anh, quân Pháp, cũng có thể là quân Quốc dân đảng Trung Quốc, vì việc Hoa quân nhập Việt đã được chuẩn bị từ 1940, 1941. Bất kể là quân nào vào, đứng về mặt quốc tế mà nói là ta không thể cự tuyệt mà nói cho đúng là ta cự tuyệt họ cũng cứ vào. Như vậy là ta phải tiếp xúc, phải nói chuyện với họ, và nói chuyện với họ là ta phải có thế mạnh, thế mạnh đó là nước Việt Nam đã giành được độc lập từ tay Nhật.” (tr.254)
Chính chủ trương “chiến lược” này đã giải thích vì sao Hồ Chí Minh kí Hiệp định sơ bộ ngày mồng 6 tháng 3 năm 1946 với Sainteny cho phép 15.000 quân Pháp kéo vào Việt Nam(32).
(Thật ra ở trang 274, tác giả lại giải thích cách khác khi nhắc đến lí do chính thức của việc kí kết Hiệp định sơ bộ: “15.000 quân Pháp vào thì hai mươi vạn quân Tưởng phải rút (...) và để có hoàn cảnh chuẩn bị lực lượng kháng chiến chống Pháp một khi chúng không thi hành đúng hiệp định đã ký kết”.)
Trở lại đoạn nói về việc “tham gia Việt Cách của Hồ Chí Minh”, khi Hồ Chí Minh được bầu vào Ban Chấp hành đảng Việt Cách, HVH khâm phục thành tích này của ông Hồ lắm. Làm sao ông Hồ đã thành công được trong khi các chủ nhân ông thực sự điều khiển việc thành lập Việt Cách đều là những tay sừng sỏ cả? Từ Trương Phát Khuê đến Tiêu Văn, Hầu Chí Minh(33), những người này đều biết rõ ràng lí lịch Hồ Chí Minh do sự phản bội của Trần Báo(34) :
“đương cục (...) mới biết rõ Hồ Chí Minh là Lý Thụy, là Nguyễn Ái Quốc, là Hoàng Quốc Tuấn, là lãnh tụ cộng sản, là lãnh tụ Việt Minh. (tr.237) Nhưng sau khi biết rõ thân phận của Bác, Trương Phát Khuê lại càng kính nể và ưu đãi hơn trước (tr.238)
Làm sao giải thích thái độ của nhà cầm quyền Trung Quốc? HVH đưa ra hai lí do:
1. Tài “thuyết phục” của bác Hồ: Sau khi ”trao đổi ý kiến” với Bác, Tiêu Văn đồng ý “chỉnh đốn” nội bộ Việt Cách và cho Bác tham gia vào Ban Chấp hành (tr.239-240).
2. Người TQ tìm cách “cảm hoá” (chiêu hồi) Hồ Chí Minh: từ 1941, trong bản báo cáo cho Trung Ương QDĐTQ, Trương Phát Khuê viết: “Hồ Chí Minh(35) từ lúc dời đến Bộ Chính trị quân khu vẫn được ưu đãi và được cảm hoá với một thái độ kính nể” (tr.238). HVH cho biết Trương Phát Khuê đã giao việc “cảm hoá Bác” cho Hầu Chí Minh.
HVH dùng hai lần chữ “cảm hoá” nhưng có vẻ như chọn lối giải thích thứ nhất: nhờ “tài thuyết phục của Bác.”
Sau khi đã giải thích kĩ lưỡng “chiến lược và sách lược” của Hồ Chí Minh, trong phần cuối chương, HVH nói về tình hình trước và sau khi Việt Minh cướp chính quyền vào ngày 19 tháng 8, “ngày toàn dân vùng dậy”.
Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh về đến Hà Nội. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trước 500.000 người(36), ông đọc bản Tuyên ngôn độc lập và thành phần chính phủ lâm thời, gồm có: (tr.258-259)
Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao: Hồ Chí Minh
Bộ trưởng bộ Nội vụ: Võ Nguyên Giáp
Bộ trưởng bộ Quốc phòng: Chu Văn Tấn
Bộ trưởng bộ Tài Chính: Phạm Văn Đồng
Bộ trưởng bộ Kinh tế: Nguyễn Mạnh Hà
Bộ trưởng bộ Lao động: Lê Văn Hiến
Bộ trưởng bộ Thanh niên: Dương Đức Hiền
Bộ trưởng bộ Giáo dục: Đặng Thái Mai
Bộ trưởng bộ Tư pháp: Vũ Trọng Khánh
Bộ trưởng bộ Giao thông Công chính: Đào Trọng Kim
Bộ trưởng bộ Y tế Vệ sinh: Phạm Ngọc Thạch
Bộ trưởng bộ Xã hội: Nguyễn Văn Tố
Bộ trưởng bộ Tuyên truyền: Trần Huy Liệu
Bộ trưởng không Bộ: Cù Huy Cận và Nguyễn Văn Xuân
Người ta nhận thấy các bộ quan trọng đều nằm trong tay người cộng sản. Các bộ khác giao cho các người có cảm tình cộng sản hoặc không đảng phái. Trần Huy Liệu (Bộ Tuyên truyền) và Nguyễn Văn Xuân (không Bộ) là cựu đảng viên VNQDĐ.
Chú thích :
(1) Trong số tháng giêng & tháng 2 năm 1986, tờ báo Bulledingue (xb tại Paris) cho một dẫn chứng hùng hồn: dưới tựa đề “Người ta viết lại lịch sử như thế nào” tờ báo này trích dẫn hai bản khác nhau của cùng một nghị quyết của ban chính trị Đảng CSVN. Một bản đăng trong Tạp chí Cộng Sản và một bản trong Tạp chí Nghiên Cứu Lịch sử. Mỗi bản giải thích một kiểu về vấn đề có hay không chuyện nổi dậy chống chính quyền ông Thiệu của nhân dân thành thị miền Nam vào năm 1975, khi quân đội Hồ Chí Minh sắp tiến vào Sài Gòn.
(2) Xem Truyện và ký - tr.334, nxb Văn Học, Hà Nội - Hồ Chí Minh nói thực với người đồng hành: “Bác không phải là người hay thơ mà thơ bác cũng không hay”. Đấy là sự thật không hơn không kém, chỉ có những kẻ xu nịnh trong đảng Cộng Sản Việt Nam mới tâng bốc và đặt Hồ Chí Minh lên địa vị một “đại thi hào”.
(3) Xem Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch - nxb Sự Thật, 1975, Hà Nội - Hồ Chí Minh, dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, kể lại đời chính trị của mình. Nhờ viết tiểu sử cách ấy, Hồ Chí Minh có thể khen mình qua... tác giả.
(4) Trường này cũng như trường Thuộc địa ở Paris, đào tạo công chức hành chánh thuộc địa cho thực dân Pháp. Năm 1911, Hồ Chí Minh cũng xin vào trường này mà không được. Theo chúng tôi, việc xin này là cốt ý ông muốn học hay để có một nghề hơn là nhằm vào việc tiến thân.
(5) Phương Tây thường hiểu sai chữ Tự do trong khẩu hiệu này của Hồ Chí Minh, nó không hề mang cái ý nghĩa của Tự do ghi trong bản Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế.
(6) Tiền thân đảng CSVN do Hồ Chí Minh thành lập.
(7) Chỗ này ông không nhắc đến vợ ông, nhưng khi đó ông đã lập gia đình vì qua trang sau (tr. 31) ông kể chuyện ghé thăm người em vợ, và sau đó (tr. 35) ông “bồi hồi nghĩ đến vợ con”.
(8) Phạm Hồng Thái, chiến sĩ quốc gia, ném lựu đạn ám sát toàn quyền Đông dương tại Quảng Châu.
(9) Tác giả là Staline (chú thích của người viết bài).
(10) Tác giả là Boukharine, vài năm sau Staline ra lệnh cấm lưu hành quyển này (chú thích của người viết bài).
(11) HVH không viết “hoàn toàn nhất trí”.
(12) Như U đon, Xà Côn, Na Khon, Pha Nôm v.v...
(13) Việt Nam Quốc Dân đảng
(14) Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh đảng
(15) Đảng thân Nhật
(16) Viêt kiều: Người VN ở nước ngoài
(17) Đọc Chroniques vietnamiennes số 1, hồ sơ “Hồ Chí Minh et les trotskistes”
(18) HVH cho biết Trịnh Công Hải lúc đó đã trở thành “kẻ ăn chơi” “không ăn khớp với tư cách một người cách mạng” (tr.95)
(19) Ba tên sau này là người TQ, chúng tôi giữ phiên âm theo tiếng Việt vì không biết âm TQ.
(20) Trong ban chấp hành có ba người mang tên giả: Phạm Văn Đồng = Lâm Bá Kiệt, Võ Nguyên Giáp = Dương Hoài Nam, Hoàng Văn Hoan = Lý Quang Hoa (tr.134)
(21) Theo HVH tức là đường dây liên lạc với đảng CSTQ.
(22) Quyển sách của Tôn Dật Tiên
(23) Hai người này là lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân đảng (Việt Quốc).
(24) Đảng này vẫn hiện hữu dù không được chính thức thành lập!
(25) Theo HVH chính Hồ Chí Minh đề nghị tên Nguyễn Tường Tam với Trương Phát Khuê.
(26) Sau cách mạng tháng Tám 1945, Việt Cách (Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh hội ) bị Việt Minh cấm hoạt động.
(27) Tên của viên tướng Mĩ được phiên âm viết bằng tiếng Việt.
(28) Sau Cách Mạng tháng Tám, cuộc gặp gỡ với tướng Sainteny xảy ra tại Hà Nội
(29) Tác giả nhấn mạnh chiến lược (stratégie) và sách lược (tactique).
(30) Tác giả lập đi lập lại nhiều lần nhóm từ “tránh đi không nói đến”, chúng tôi ghi lại để tôn trọng ý kiến của ông.
(31) Thật ra có đến 2 Đại hội Tân Trào, một diễn ra vào ngày 13/8/1945 là Hội nghị toàn quốc của Đảng và một diễn ra ngày 16/8/1945 là Hội nghị toàn dân, ở cả hai kỳ hội nghị, bác Hồ phân tích tình hình như nhau. (tr.254-255) Lịch sử Đảng CSVN không hề nói đến phát biểu của Hồ Chí Minh trong hai kỳ đại hội này như HVH đã kể.
(32) Tài liệu đảng CSVN lại cho chúng ta một cách giải thích hoàn toàn khác hẳn.
(33) Tên một thủ lĩnh người Tàu, xin đừng nhầm với Hồ Chí Minh.
(34) Trần Báo là đảng viên cộng sản Việt Nam.
(35) Alain Ruscio, sử gia của đảng CS Pháp, tác giả quyển “Les communistes français et la guerre d’Indochine” (Những người cộng sản Pháp và cuộc chiến tranh Đông Dương) cho rằng người cộng sản Tàu không biết Hồ Chí Minh là ai kể cả Chou En Lai, nhưng giả thuyết cuả Alain Ruscio mâu thuẫn với lời báo cáo này trích từ văn kiện lưu trữ của QDĐTQ.
(36) Vài văn kiện khác của đảng CSVN đưa ra con số một triệu người.
ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM SAU KHI NẮM CHÍNH QUYỀN
Sau Cách mạng tháng Tám, tình hình trở nên căng thẳng. Chính phủ Hồ Chí Minh phải đối phó với nhiều khó khăn. HVH kể ra một số khó khăn chính:
+ Việc đối phó với quân Nhật.
Chủ trương của đảng là ”thuyết phục” quân Nhật trao trả khí giới cho Việt Minh. Đa số lính Nhật muốn giữ thái độ trung lập, một số chỉ muốn giao vũ khí cho Đồng Minh. Một số ít kín đáo trao tặng hoặc lén bán lại cho Việt Minh. Vài người (sĩ quan và binh sĩ) xin gia nhập hàng ngũ Việt Minh. Thí dụ như đại tá Lam Sơn và trung uý Thanh Tùng đã giúp huấn luyện quân sự hay vài chuyên viên khác phục vụ làm tài xế, thợ sửa máy móc (tr 263)
+ Việc đối phó với quân Anh.
Một tháng sau ngày Nhật đầu hàng (15 tháng 8 năm 1945), ngày 12 tháng 9 năm 1945 quân Anh (khoảng 1.400 người), phần đông là người Ấn Độ, do thiếu tướng Gracey chỉ huy, đổ bộ vào miền Nam (Sài gòn). Trên nguyên tắc, họ có nhiệm vụ giải giới quân Nhật. Nhưng vừa đến nơi, họ ra thiết quân luật cho dân chúng Việt Nam: giới nghiêm, cấm báo chí, hội họp, cấm mang khí giới v.v...
Ngày 22 tháng 9, quân Anh chiếm Khám Lớn, thả 5.000 tù binh Pháp do Nhật giam trước đó, lấy khí giới Nhật giao cho Pháp và giúp họ chiếm giữ mọi vị trí hiểm yếu tại Sài Gòn (bến tàu, kho hàng, xưởng đóng tàu...)
Ngày 23 tháng 9, với sự giúp sức của quân Anh, quân Pháp chiếm Sở cảnh sát Trung Ương, Kho bạc, toà Thị Chánh Sài Gòn, trụ sở Ủy ban Nhân dân Nam bộ(37). Chỉ trong vài ngày, quân Pháp kiểm soát cả Sài Gòn.
Trước tình thế đó, Uỷ ban Nhân dân Nam bộ với chủ tịch là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (thành lập vào ngày 4 tháng 9, thay thế Ủy ban Hành chính “ra mắt nhân dân ngày 25 tháng 8” (tr 259) với chủ tịch là Trần Văn Giàu) phải rút về Bến Tre, ra lệnh cho dân quân phá hoại, cắt đứt mọi cầu phà, đường xá... Cuộc kháng chiến miền Nam bắt đầu. Chính phủ Hồ Chí Minh phái vào Nam các đội quân do các tướng chỉ huy Hoàng Đình Ròng, Đàm Minh Viễn và sau đó Nguyễn Bình. Tất cả các tướng này đều hy sinh tại miền Nam.
+ Việc đối phó với quân Tưởng
Tại miền Bắc, 200.000 quân Tưởng từ Vân Nam kéo đến, do tướng Lư Hán điều khiển và một đơn vị khác từ Quảng tây kéo vào, do tướng Tiêu Văn chỉ huy. Theo lệnh Tưởng, nhiệm vụ của họ là hợp sức “diệt Cộng cầm Hồ”: tiêu diệt cộng sản và bắt giữ Hồ Chí Minh, đồng thời lập một chính phủ lâm thời làm bù nhìn cho Trung Hoa Quốc Dân đảng. Nhưng giữa Lư Hán và Tiêu Văn có sự tranh chấp ngấm ngầm. Tiêu Văn là người của Trương Phát khuê, từ những năm 1940, 1941 cả hai đã tranh đấu thực hiện mục tiêu Hoa quân (từ Quảng Tây) nhập Việt cũng như lập một chính phủ Việt gồm những người quốc gia đồng nhất. Nhưng họ không được Tưởng Giới Thạch tin cậy, Tưởng gửi thêm đoàn quân Vân Nam với Lư Hán. Mặt khác, Lư Hán lại nghi ngờ Tưởng tống mình đi ra xa vùng Vân Nam để giành lấy quyền kiểm soát vùng này thay chân Lư Hán và đồng chí của Lư Hán là Long Vân (tr.269). Tóm lại, trong hàng ngũ lãnh đạo TQ có đầy dẫy mâu thuẫn. Việt Quốc và Việt Cách cũng như thế. Một bên thì được Lư Hán và Tưởng ở Trùng Khánh bảo trợ. Một bên thì nhờ vả Trương Phát Khuê với Tiêu Văn. Chính vì lí do này mà những người Việt Nam thuộc các đảng phái quốc gia đã hành động phân tán và chậm trễ so với tình thế. Họ đã để cho Việt Minh tự do chiếm đa số các tỉnh, trừ vài nơi như Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa lộ, Việt Trì, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Hải Ninh v.v... (tr.266) tại các nơi này nhờ quân Tưởng làm hậu thuẫn, họ lập được những cơ quan tuyên truyền (chống cộng sản).
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CÔNG KHAI GIẢI TÁN VÀ BÍ MẬT TIẾP TỤC HOẠT ĐỘNG
Dù chia rẽ, các lãnh tụ TQ và những người quốc gia Việt Nam không ngừng làm áp lực đối với chính phủ Hồ Chí Minh. Họ đòi phải có những đại diện của Việt Quốc và Việt Cách trong chính phủ và trong Quốc hội. Họ đòi Việt Minh phải thay đổi một cách cơ bản thái độ đối với quân đội Trung Hoa và đối với các đảng quốc gia. Tình hình cực kỳ căng sthẳng, đã có vài nơi xảy ra đụng độ giữa người quốc gia và người cộng sản.
Để đối phó với tình trạng nguy nan này, Hồ Chí Minh áp dụng chính sách dàn hoà, thí dụ ông ra lệnh cho quân Việt Minh tại Chèm phải trả lại số khí giới mà họ vừa tước được của một trung đội quân Lư Hán (tr.270). Việc thứ hai là ông nhân danh “đoàn kết quốc gia” tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm trấn an Trung Quốc. Nhưng trong bí mật, “đảng vẫn tồn tại, vẫn bí mật hoạt động” (tr.267). HVH được giao nhiệm vụ vào khu Bốn (IV) giải thích điều này cho các đảng bộ biết.
Ngày 19 tháng 11 năm 1945, nhân danh Trương Phát Khuê, đại biểu Tiêu Văn mở hội nghị “hoà giải” với sự tham gia của đại biểu tất cả các đảng phái: Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc. Ba đảng này đồng ý thành lập một chính phủ Liên hiêp quốc gia. Các quyết định khác cũng được thi hành như không dùng vũ khí để giải quyết các vấn đề bất đồng, không công kích nhau trên báo chí. Và cuối cùng là quyết định thành lập một đội quân vào Nam kháng chiến. HVH mỉa mai “Cố nhiên cả đội quân ấy đều là người (của) Việt Minh”. (tr.267)
Còn một vấn đề khác chưa giải quyết đó là ngày bầu cử Quốc hội. Việt Minh đề nghị giữ nguyên ngày đã định trước là 23 tháng 12 năm 45. Việt Cách, Việt Quốc đòi hoãn lấy lí do chuẩn bị không kịp. Việt Minh định vào ngày 6 tháng 1 năm 1946, Việt Cách, Việt Quốc vẫn lấy cớ chuẩn bị không kịp, đòi phải dành cho các đảng họ 20 và 50 ghế. Việt Minh đồng ý và cuộc bầu Quốc hội diễn ra đúng ngày 6 tháng 1 năm 46.
Sau bầu cử Quốc hội, Tiêu Văn lại đề nghị thành lập một chính phủ mới với chủ tịch là Hồ Chí Minh, phó chủ tịch là Nguyễn Hải Thần. Việt Minh sẽ nắm 4 bộ, Việt Cách, Việt Quốc cũng giữ 4 bộ. Hai bộ quan trọng là Ngoại giao và Nội vụ sẽ giao cho các nhân sĩ độc lập và không đảng phái.
Ngày 2 tháng 3 năm 1946 Quốc hội họp kì thứ nhất, với các đại biểu Việt Minh cũng như 70 đại biểu của Việt Cách và Việt Quốc, chỉ định chính phủ mới gọi là Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.
+ Thành phần chính phủ.
Chủ tịch: Hồ Chí Minh
Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần
Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam
Kinh tế: Chu Bá Phượng
Y tế: Trương Đình Trí
Giáo dục: Đặng Thái Mai
Tài Chính: Lê Văn Hiến
Tư Pháp: Vũ Đình Hoè
Giao thông Công chánh: Trần Đăng Khoa
Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng
Quốc phòng: Phan Anh
Bộ trưởng không bộ: Bồ Xuân Luật
+ Ban Cố vấn.
Chủ tịch: Vĩnh Thuỵ ( cựu hoàng Bảo Đại)
+ Uỷ ban kháng chiến: 9 uỷ viên.
Chủ tịch: Võ Nguyên Giáp
Phó Chủ tịch: Vũ Hồng Khanh
+ Ban thường trực Quốc hội:
Nguyễn Văn Tố
Vì sao kế hoạch “diệt Cộng cầm Hồ” của Tưởng Giới Thạch thất bại? HVH giải thích nguyên nhân thứ nhất là do chuyện chia rẽ giữa các phe quốc gia người Việt và giữa các tướng lãnh Trung Quốc, thêm vào đó các người cầm đầu TQ như Tiêu Văn, Trương Phát Khuê lại có cảm tình với Hồ Chí Minh. Nguyên nhân thứ hai và cũng là nguyên nhân chính: Việt Minh “được toàn thể nhân dân ủng hộ”. Quân Tưởng biết rằng nếu họ tìm cách tiêu diệt Việt Minh họ sẽ gặp khó khăn vì Việt Minh sẽ vận động “vườn không nhà trống” Còn nếu bắt Hồ Chí Minh họ cũng sẽ gây hận thù, bất mãn, dân sẽ nổi dậy, hậu quả khó lường. Những thủ lĩnh TQ này sợ bị “Tưởng Giới Thạch đổ tội vào đầu, cho là bất lực và trừng trị” (tr.270)
+ Đối phó với người Pháp:
Theo HVH, đường hướng chính trong việc đối phó với người Pháp đã được Hồ Chí Minh qui định từ hội nghị Tân Trào. Những biến cố xảy ra sau đó chứng minh những dự kiến của Hồ Chí Minh là “hoàn toàn đúng” (tr.272). Người Pháp trong khối Đồng Minh nên khi Đồng Minh thắng trận, họ trở lại Việt Nam. Người Việt Nam phải thương lượng với họ.
Nhờ người Mĩ dàn xếp với Tưởng, Tưởng và người Pháp kí Hiệp định ngày 28/2/1946, Tưởng nhìn nhận quyền bảo hộ Đông Dương của người Pháp. Bù lại, Pháp bán lại đường sắt Vân Nam, trả về cho TQ vùng Quảng Châu Loan, các tô giới ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Châu, v.v... Và quân Tưởng cũng rút khỏi Việt Nam trước ngày 31/3/1946(38). Trong vụ dàn xếp này, người Mĩ muốn Tưởng tập trung lực lượng vào việc đánh cộng sản Trung Quốc tại Trung Quốc.
NGƯỜI PHÁP PHẢN BỘI HIỆP ĐỊNH CÔNG NHẬN NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Một tuần lễ sau hiệp định Hoa-Pháp, Hồ Chí Minh hội kiến tướng Sainteny, đại diện nước Pháp, tại Hà Nội và đôi bên kí Hiệp ước ngày 6 tháng 3 năm 1946: nước Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tự do trong Liên Hiệp Pháp, Việt Nam sẽ có
“Chính phủ, Nghị viện, Quân đội và Tài chính riêng. Quân Pháp sẽ thế quân Tưởng vào Việt Nam giải giới quân Nhật ở miền Bắc. Hai bên Việt Pháp ngưng súng ở miền Nam tạo không khí thuận lợi để mở tiếp cuộc đàm phán giải quyết vấn đề ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và vấn đề quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam. Việc thống nhất Nam Bắc sẽ do toàn dân quyết định. Bản phụ lục Hiệp định còn nói rõ số quân Pháp đưa vào thay thế quân Tưởng là một vạn năm nghìn người (lúc này quân Pháp không có người Việt mà chỉ có người Âu-Phi) và chỉ được đóng ở một số nơi do ta chỉ định (...) mười tháng sau khi kí kết, quân Pháp phải dần dần rút hết khỏi Việt Nam nội trong năm năm”.(tr.173 - 174)(39)
Kí xong Hiệp định sơ bộ, Hồ Chí Minh gặp Đô đốc d’Argenlieu, Cao Uỷ Pháp tại vịnh Hạ Long và cùng thoả thuận: hai bên sẽ cử đại biểu bàn bạc và chuẩn bị cho việc kí kết chính thức tại Paris.
Ngày 16 tháng 4 năm 1946, một phái đoàn đại biểu Quốc Hội do Phạm Văn Đồng dẫn đầu rời Việt Nam sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau.
Ngày 30 tháng 5, Hồ Chí Minh cũng sang Pháp nhưng với tư cách thượng khách của chính phủ Pháp.
Hội nghị Fontainebleau khai mạc ngày 6 tháng 7 năm 1946 nhưng hoàn toàn bế tắc sau đó. Để cứu vãn chút hi vọng thoả thuận, ngày 14 tháng 9 năm 1946(40), Hồ Chí Minh kí với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp một Tạm ước (modus vivendi) qui định rằng đôi bên sẽ mở lại Hội nghị
Fontainebleau vào tháng giêng năm 1947. (tr.277)
Trong lúc Hội nghị Fontainebleau đang diễn ra ở Pháp thì tại Việt Nam, Cao uỷ d’Argenlieu đơn phương tuyên bố thành lập một nước Cộng hoà Nam kì độc lập với một chính phủ riêng.
Người Pháp ngang nhiên xé hiệp định ngày 6 tháng 3 năm 1946: vào ngày 20 tháng 11, quân Pháp tấn công các tỉnh miền Bắc (Móng Cái, Tiên Yên, Lạng Sơn). Ngày 21 tháng 11 họ gây hấn ở Hải Phòng. Ngày 18 tháng 12 họ chiếm Bộ Tài chính và Bộ Giao thông. Cùng một lúc, tướng Morlière, chỉ huy quân đội Pháp đưa tối hậu thư đòi công an Việt Minh và tự vệ quân phải hạ vũ khí. HVH kết luận: “Tình thế đã đến lúc ta phải kháng chiến thật sự”.
Việt Minh để lại một trung đoàn bảo vệ thủ đô Hà Nội. Các cán bộ trung và cao cấp cùng Hồ Chí Minh rút về Việt Bắc. HVH được phái về khu IV với tư cách Bí thư Khu đảng uỷ, kiêm Chủ nhiệm Việt Minh và Đại diện chính phủ trung ương khu IV.
Trong chương này, HVH thêm một lời bàn cuối cùng khá lạ lùng và mâu thuẫn với những điều ông đã nói ở trên:
“Ta vẫn biết Pháp kí với ta như vậy, mục đích là cốt để đưa quân vào, rồi sau sẽ từng bước dùng vũ lực mở rộng ảnh hưởng tiến tới lật đồ chính quyền của ta, trở lại thống trị toàn cõi Đông Dương. Nhưng ta vẫn kí như vậy để cho hai mươi vạn quân Tưởng rút khỏi miền Bắc, đồng thời cũng để có hoàn cảnh chuẩn bị lực lượng kháng chiến chống Pháp môt khi chúng không thi hành đúng hiệp định đã kí kết.” (tr274)
Chỗ này HVH đưa ra lối giải thích chính thức của Đảng. Đáng tiếc là ông không so sánh lực lượng Việt Minh và Pháp trước và sau khi kí kết hiệp định để biện minh cho lí do “để có hoàn cảnh chuẩn bị lực lượng”. Cũng như trong việc rút lui của quân Tưởng, ai cũng biết rằng sự rút lui này là do hiệp ước Trung Pháp kí kết ngày 28 tháng 2 năm 1946 nghĩa là một tuần lễ trước hiệp định mồng 6 tháng 3 năm 1946 giữa Hồ Chí Minh và Sainteny.
Ý đồ của người Pháp rất rõ ràng, kể từ lời tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của De Gaulle với ý muốn trở lại Đông Dương (tr.272) đến những thủ đoạn họ dùng trong Hội nghị Fontainebleau, từ thất bại của Hội nghị Đà Lạt đến việc Cao uỷ Pháp d’Argenlieu thành lập nước và chính phủ Nam kì tự trị, họ vẫn luôn luôn theo đuổi cùng một chính sách: tranh thủ thời gian, củng cố lực lượng quân sự để tái chiếm Đông Dương. HVH ý thức được điều đó và nói ra. Ông còn đi xa hơn nữa khi viết rằng:
“Như vậy, việc quân Tưởng vào tiếp quản miền Bắc Việt Nam chỉ là việc nhất thời mà ta cần phải chịu đựng và khôn khéo đối phó nhất thời, chứ đối tượng phải đối phó lâu dài ở Việt Nam cũng như ở Đông Dương là quân Pháp”.(41) (tr.272)
Những người lính Tưởng cuối cùng rút khỏi Việt Nam vào tháng 5 năm 1946. Một số thủ lĩnh Việt Quốc và Việt Cách trốn theo họ. Một số đầu hàng Việt Minh, “ta vẫn để yên, sau hiệp định Giơ-ne vơ (...) một số trong bọn này đã đi theo quân Pháp vào miền Nam” (tr.269).
Nhận lãnh trách nhiệm khu IV, HVH đã dùng hết sức mình tổ chức kháng chiến. Vào tháng 3 năm 1948, các đồng chí ở Thái Lan đề nghị ông sang bên ấy công tác. Đảng cử HVH trở lại Thái Lan nhưng lần này ông chỉ ở một năm (từ 1948 đến 1949) và giữ những chức vụ thật quan trọng. Về mặt
Đảng ông vừa là “Đại diện Trung ương đảng, có trách nhiêm chỉ đạo công tác vận động Việt kiều ở Thái Lan cũng như công tác của cán bộ đang hoạt động về mặt đối ngoại ở Thái Lan ở Ấn Độ, Miến Điện, Tiệp Khắc và ở Pháp.” Về mặt chính quyền ông là “Đặc phái viên chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở hải ngoại” (tr.282)
Thay vì thế chỗ Phái viên Chính phủ tại Thái trước đó là Nguyễn Đức Quì, HVH giữ nguyên vai trò chính thức của Quì và chỉ đạo mọi hoạt động trong bóng tối: ông đề nghị - với Đặc uỷ Thái và trong nước - lập ra Ban cán sự Trung Ương “lãnh đạo toàn diện các mặt công tác phải tiền hành trên địa bàn Thái Lan”. HVH là Bí thư và Quì là Phó Bí thư. (tr.296)
“Tình hình mới, công tác mới” Tình hình mới đòi hỏi HVH phải giải quyết những vấn đề mới như: chỉnh đốn các tổ chức Việt Kiều tại Thái Lan, tổ chức lại hoạt động của Cơ quan Phái đoàn chính phủ ở Bangkok(42) và Rangoon, tổ chức giúp đỡ cách mạng Việt Nam đang chiến đấu ở mặt trận Cao Miên và Lào.
TRÊN ĐẤT THÁI MỘT LẦN NỮA
Chương 5 của hồi kí nói về những công tác mới này. Thái Lan năm 1948 không còn là xứ Xiêm của năm 1930. Đảng cộng sản Thái đã lột xác và bắt đầu thi hành khúc ngoặc từ năm 1938: “Cách mạng Thái sẽ là công trình của chính nhân dân Thái” (tr.283). Không còn ngoại kiều hoạt động trong tổ chức của người Thái, không còn mơ hồ, lẫn lộn trong các vai trò nữa. Người Việt chỉ có thể hoạt động trong những tổ chức của người Việt. Đó là điều tự nhiên, bởi vì từ khi Việt Minh ra đời, năm 1941, Việt kiều tại Thái đã chuyển hướng hoạt động cách mạng về Việt Nam.
Năm 1948, khi HVH trở lại Thái, số dân Việt kiều đã tăng lên gần gấp đôi. Từ gần 50.000 lên khoảng 100.000, đa số từ Lào tản cư sang. Trong hai năm 1946 và 1947, chính phủ (Thái) Pri Di khá tự do và thật sự có thiện cảm với cách mạng Việt Nam. Không những họ chấp nhận sự có mặt của người di cư và người chiến sĩ Việt Nam trên đất Thái, mà họ còn cung cấp lương thực và giúp cả vũ khí nữa. Nhờ vậy, người Việt đã gửi “chi đội Trần Phú” về tham gia kháng chiến Nam bộ năm 1946 và hai đoàn Cửu Long 1 và Cửu Long 2 năm 1947 mang vũ khí về nước. Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, “hàng ngàn thanh niên Việt kiều đã xung phong tòng quân, sang Lào và Cam-pu-chia giúp nhân dân hai dân tộc bạn đánh Pháp.” (tr.287) Địa bàn Thái Lan đã trở thành hậu phương của “mặt trận miền Tây”. Ở nhiều tỉnh giáp biên giới Lào và Campu- chia “có cơ sở huấn luyện quân đội, sản xuất và sửa chữa vũ khí cho mặt trận” (tr.287). Chính phủ Thái còn giúp người di cư Việt công ăn việc làm và giao đất để họ cày cấy sinh sống. Cả một khu đất thật lớn được người Việt dùng cất nhà và làm vườn rau trái. Dân chúng đặt tên là “Nông trường Việt Nam”.
Trong những năm này, các điều kiên vô cùng thuận lợi đến nỗi nhiều người Việt quên hẳn mình đang sống trên xứ người. Trong sinh hoạt cũng như cách cư xử, người Việt không tôn trọng phong tục tập quán người bản xứ, không giữ gìn lề lối mà mọi ngoại kiều phải nên có. Thí dụ như người ta thấy bộ đội Việt Minh mang vũ khí, đi lại tự nhiên ngoài phố, cờ đỏ sao vàng bay phất phới trước những ngôi nhà của người Việt. Khi Trần Văn Giàu sang Thái Lan, có cả bộ đội Việt kiều dàn súng đứng chào. Một cuộc lễ hội có rước đuốc rầm rộ được dự định tổ chức nhân kỉ niệm ngày Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8. Tóm lại “người ta hãnh diện và phô trương lộ liễu rằng mình là những người làm cách mạng (...) Những phô trương lộ liễu này không thích hợp, thoả đáng với vị thế của người ngoại kiều. (...) phải dẹp ngay các hành động phô trương lộ liễu!” (tr.291)
Khi mới tới, HVH nhận thấy rằng chính phủ Phi Bun (lên nắm chính quyền sau cuộc đảo chánh) rất hữu khuynh. Báo chí Thái Lan vừa khởi đầu một chiến dịch chống đối Việt Kiều, như vu khống người Việt vi phạm an ninh trật tự, đốt nhà cướp của v.v... rõ ràng họ đang chuẩn bị dư luận cho cuộc đàn áp Việt kiều. (tr.286) Đã đến lúc phải áp dụng một chiến lược mới.
HVH triệu tập một hội nghị nhóm họp trong 3 ngày 15, 16, 17 tháng 8 năm 1948. Hội nghị mở rộng cho tất cả cán bộ Đảng và các đại biểu Chi hội Việt kiều yêu nước địa phương. Quyết định thay đổi được đánh dấu bằng những biện pháp: bỏ “Nông trường Việt Nam”, huỷ bỏ cuộc rước đuốc, cấm ra phố với đồng phục và vũ khí, không treo cờ Việt ở ngoài cửa, tránh mọi biểu lộ có tính cách phô trương khiêu khích đối với dân bản xứ, chuẩn bị điều kiện để chuyển hướng sang hoạt động bất hợp pháp khi cần thiết. Mục đích duy nhất phải đạt là “tranh thủ cho được cảm tình sâu sắc của nhân dân Thái Lan (...) cho nhân dân bạn hiểu rõ chính nghĩa của cuộc kháng chiến (chống Pháp) tại Việt Nam.” (tr.290-291)
LÀO VÀ CAMPUCHIA ĐANG Ở MỨC TIẾN HÓA THẤP HƠN VIỆT NAM...
Lãnh công tác giúp đỡ cách mạng Lào và Campuchia, HVH phải chú ý đến vấn đề lí thuyết. Và đây là phần duy nhất của quyển hồi kí nói về lí thuyết. HVH viết:
“Nhìn bao quát, ta thấy rằng Lào Miên đang ở mức tiến hoá thấp hơn Việt Nam. Bởi vậy, cách mạng Lào Miên không thể là cách mạng xã hội hay cách mạng tân dân chủ, mà chỉ là cách mạng dân tộc giải phóng. Cách mạng Việt Nam cũng là cách mạng dân tộc giải phóng, nhưng vì tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của Việt Nam đã cao hơn, nên khẩu hiệu cách mạng Việt Nam là độc lập và dân chủ đi đôi. Còn khẩu hiệu Lào Miên thì chỉ độc lập là độc lập. Để thực hiện mục đích độc lập, Lào Miên phải đoàn kết toàn dân, không phân biệt phong kiến hay tư bản, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt người có tư tưởng cấp tiến hay chưa có tư tưởng cấp tiến, miễn là thật lòng đánh Pháp giành độc lập là phải gắn bó nhau lại thành một khối thống nhất, cùng nhau kháng chiến.
(...) Chúng ta phải biết rằng, mặc dù cách mạng Lào Miên còn thấp kém, còn non, nhưng đã là cách mạng, thì dù muốn hay không muốn, thực sự cũng là đứng về mặt trận dân chủ thế giới. Trong giai đoạn hiện thời, miễn cưỡng đưa khẩu hiêu dân chủ ra là có hại cho sự đoàn kết dân tộc của Lào Miên, có lợi cho địch.” (tr.311-312)
HVH cho biết lí luận phân tích này của ông trong bản “Đề cương công tác Lào, Miên” được đưa ra thảo luận trong hội nghị mở rộng, và được anh em nhất trí tán thành. Đề cương này được coi như tài liệu về đường lối tranh đấu của hai đảng cộng sản Lào và Miên.
Khái niệm của HVH về một cuộc cách mạng “qua các giai đoạn” là khái niệm tiêu biểu cho lập trường của Staline.
Khác với Lê Duẩn hoặc Trường Chinh thường sửa đổi lí thuyết làm sao cho thích ứng với tiến trình của thực tế, HVH vẫn là đê tử sắt đá và hết mực trung thành của môn phái Staline vào những năm 1930. Nhưng ít ra ông có can đảm giữ vững và chấp nhận hậu quả ý kiến của mình.
Về công tác chỉnh đốn lại các hoạt động ngoại giao của Cơ quan Phái đoàn chính phủ tại hải ngoại, HVH phải giải quyết một số vấn đề tế nhị:
+ Khiếu nại về những người trách nhiệm trong Cơ quan Phái đoàn Việt Nam tại Bangkok.
Để trả lời các đồng chí than phiền về “sự phóng túng trong sinh hoạt và hành động của Phái đoàn” HVH giải thích:
“Trước kia, cách mạng chưa nắm chính quyền, tất cả các anh em cán bộ đều ăn ở kham khổ như nhau. Ngày nay chúng ta giành được chính quyền Nhà nước, những người đóng vai đại diện Nhà nước phải có cái bề thế trang trọng. Chúng ta ủng hộ các đồng chí đại diện Nhà nước không phải là vì cá nhân các đồng chí đó, mà là vì lợi ích dân tộc, vì lợi ích cách mạng.” (tr.295)
Đối với ông, cuộc sống “phóng túng” của các vị đại diện Nhà nước mà các đại biểu hội nghị than phiền là vấn đề ứng xử cá nhân chứ không phải vấn đề chính trị. Nếu có đồng chí phạm sai lầm “thì ta phải nghiêm khắc phê bình xây dựng. Nhưng không nên lẫn lộn việc phê bình cá nhân với việc ủng hộ hoạt động của một cơ quan đại diện Nhà nước.” ( tr.295)
+ Trường hợp Lê Hy và Trần Ngọc Danh.
Trần Ngọc Danh là em ruột Trần Phú (cựu tổng bí thư đầu tiên của đảng CSVN) từ tuổi thanh niên, Danh đã vào đảng và đã từng du học tại trường đại học Đông Phương, Mạc-tư-khoa. Năm 1946, Danh được chính phủ Hồ Chí Minh bổ nhiệm làm trưởng phái đoàn Đại diện nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà tại Pháp. Lê Hy lúc trước hoạt động ở Nam bộ, khi kháng chiến bùng nổ, Hy được phái sang Thái Lan phụ trách Thông tấn xã Việt Nam ở Cơ quan Phái đoàn chính phủ. Theo Hoan, hai người “tả khuynh” này có tội âm mưu chống Hồ Chí Minh và chính phủ
“một người ở Pháp, một người ở Thái Lan, bí mật trao đổi với nhau những tư tưởng hoài nghi, chống Đảng. Trong khi Lê Hy ở Băng cốc chuẩn bị đi thì Trần Ngọc Danh ở Pa ri tự ý tuyên bố giải tán cơ quan Đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Pháp và dời sang Tiệp”(tr.299)
Tại Prague, Trần Ngọc Danh “được Trung ương đảng CS Pháp giới thiệu qua Tiệp hình như để lập một cơ quan đại diện Chính phủ ở đây. Đương cục Tiệp đã cho một cái nhà đàng hoàng và có đủ tiện nghi. Vợ anh Danh là Thái Thị Liên hiện đang học trường âm nhạc Tiệp.” (tr.319)
Trần Ngọc Danh và Lê Hy gặp nhau ở Tiệp, họ tìm cách tuyên truyền lung lạc các cán bộ công tác tại Tiệp cũng như học sinh Thanh niên miền Nam; ông Danh còn viết thư cho một số cán bộ chỉ trích Hồ Chí Minh và Đảng. Những chỉ trích của “hai kẻ chống đối” này là gì?
“Sau Cách mạng tháng Tám, Đảng không thủ tiêu giai cấp tư sản và địa chủ, không tuyên bố làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà lại gần gũi với các nước như Ấn Độ, Miến Điện, Pa-ki-xtan và In-đô-nê-xia là những nước tư bản, thì anh ta cho là Đảng hữu khuynh. Anh ta đã viết thư cho một số đảng viên nói đường lối của Hồ chủ tịch và Trung ương Đảng là không đúng” (tr.319).
LIÊN XÔ VĨ ĐẠI! VĨ ĐẠI!
Đối với HVH, nguyên nhân sự sai lạc nghiêm trọng của Trần Ngọc Danh và Lê Hy là do họ “học lí luận nhiều, nhưng tiêu hoá không tốt vì không có thực tế”.
Cuối năm 1949, được chỉ định sang Bắc Kinh họp Hội nghị Công Đoàn Á - Úc với tư cách đại biểu Công đoàn Việt Nam, HVH ghé Tiệp Khắc và gặp gỡ nói chuyện với TNDanh và Lê Hy.
Ông khiển trách họ vô kỉ luật và khuyên họ trở về Việt Nam. Hy im lặng nhưng Danh thì trả lời phải ở lại Prague chữa bệnh. HVH “hiểu ý là Danh vì có sự giới thiệu của Trung Ương Đảng Pháp, được Đảng Tiệp đối đãi đặc biệt, nên muốn ở lại Tiệp chứ không muốn về nước” (tr.321)
Đọc đến đoạn này, những Việt kiều tại Pháp đã từng biết ông Trần Ngọc Danh là Trưởng phái đoàn đại diện Việt Nam ở Paris thời ấy, đều rất ngạc nhiên. Bởi vì vào giai đoạn đó, ai lại không biết rằng ông Danh, ít nhất về mặt chính thức, là người ủng hộ vô điều kiện đường lối chính trị của Hồ Chí Minh? Còn ai khác hơn Trần Ngọc Danh, đã cho in tập sách tuyên truyền về Hồ Chí Minh vào tháng 5 năm 1947(43) ? Trong đó, ông Danh đặc biệt nhấn mạnh hai lời tuyên bố của Hồ Chí Minh: lời thứ nhất đăng trên tờ Journal de Genève (Tin Giơ neo): ”Những bạn bè của chúng tôi không cần phải lo ngại là chủ nghĩa mác xít sẽ du nhập vào đất nước chúng tôi”; lời tuyên bố thứ hai đăng trong báo “Le Pays”, chủ tịch Hồ Chí Minh trấn an mọi người như sau: “những lí thuyết mác xít không thể áp dụng được ở nước chúng tôi”. Trong những năm 1946-1947, vì những người Đệ Tứ điều hành ban Đại diện Trung Ương công binh Việt Nam tại Pháp không đồng ý với chính sách Hồ Chí Minh, Trần Ngọc Danh, nhân danh đại biểu chính phu, đã chống đối họ một cách dữ dội, ông đã vu cáo họ là “ngoan cố”, “chia rẽ” v.v... Như vậy làm sao có thể tin được vào thời kì ấy, Trần Ngọc Danh không đồng ý với Hồ Chí Minh và Đảng?
Từ Prague, HVH đi Bắc Kinh dự Hội nghị công đoàn (nhưng hội nghị đã họp xong vì ông đến quá trễ) ở đây ông gặp Hồ Chí Minh, nhưng Hồ Chí Minh phải sang TQ gặp Mao Trạch Đông.
Hồ Chí Minh đề nghị HVH ở lại Trung Quốc với tư cách đại diện cho Đảng và Chính phủ. Bác Hồ giải thích cho ông rằng “sau chiến thắng của Cách mạng Trung Quốc, trọng tâm hoạt động đối ngoại của chúng ta bây giờ không ở Thái Lan nữa, mà phải chuyển qua Trung Quốc” (tr.327)
Tại đây, HVH tham dự (với tư cách là một Hoa kiều) lớp huấn luyện đặc biệt đào tạo cán bộ ngoại giao để làm Đại sứ (TQ) tại các nước. Được Bộ ngoại giao TQ giúp đỡ, ông chọn một toà nhà lớn làm sứ quán, trước kia vốn là một trường học của người Mĩ. Từ đại biểu Chính phủ, ông trở thành “Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà tại TQ và kiêm luôn Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Mông cổ và Triều Tiên”. (tr.332)
Ông lãnh nhiệm vụ liên hệ mật thiết với các nước Liên Xô, các nước dân chủ cộng hoà anh em khác, Ấn Độ, Miến Điện, Pakistan v.v... Tháng 5 năm 1950, ông được chính phủ phái đi dự lễ kỉ niệm Lao Động Quốc tế tại Liên Xô. HVH xem diễn binh Liên Xô qua Công trường đỏ và ghi lại cảm tưởng của mình như sau:
“Trước kia thường nghe nói Liên Xô là Tổ quốc của giai cấp vô sản thế giới, là ngọn đèn pha soi đường cho các dân tộc bị áp bức tiến lên, thì chuyến này được thật sự chứng kiến rõ ràng, càng làm cho lòng tin tưởng đối với tiền đồ cách mạng thêm vững chắc. Những cái được trông thấy và được hiểu biết về Liên Xô, có thể hình dung bằng hai tiếng ‘Vĩ đại! Vĩ đại!” (tr.333-334)
Những cảm tình của ông đối với Trung Quốc cũng nồng nhiệt phấn khởi như thế. Với chức vụ Đại sứ trong vòng gần 8 năm (từ 1950 đến 1957), ông có dịp nhìn thấy, phê phán, hiểu biết và yêu mến TQ.
SỰ GIÚP ĐỠ CỰC KÌ TO LỚN CỦA TRUNG QUỐC
Trong chương 6, HVH phân tích những liên hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Điều ông thoả mãn nhất là “Sự giúp đỡ cực kì to lớn của Trung Quốc” đối với Việt Nam
+ Giúp đỡ chính trị và ngoại giao.
Trung Quốc là quốc gia đầu tiên, trước cả Liên Xô, công nhận chính phủ Hồ Chí Minh. Tại hội nghị Genève năm 1954, “TQ đã hoàn toàn ủng hộ lập trường của Phái đoàn Việt Nam(44). Hiệp định Giơ neo là một thắng lợi to lớn của cánh mạng Việt Nam, vì có miền Bắc vững mạnh làm cơ sở, thì mới đẩy mạnh được cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.
(...) Sau khi đế quốc Mĩ ném bom ở miền Bắc từ tháng 8 năm 1964,TQ đã dấy nên một cao trào mới giúp VN chống Mĩ. Chúng ta còn nhớ rõ cảnh tượng hàng trăm triệu nhân dân các tỉnh của TQ đã đổ ra đường phố biểu tình ủng hộ VN. Mao Chủ tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai đích thân tham dự cuộc mít tinh của hơn một triệu người ở Bắc Kinh, và nghiêm trang tuyên bố: Sự xâm phạm của Mĩ đối với nước VNDCCH tức là sự xâm phạm đối với TQ. Nhân dân TQ sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết, thậm chí không tiếc chịu đựng một sự hi sinh dân tộc lớn nhất, dốc toàn lực ủng hộ nhân dân VN tiến hành đến cùng cuộc chiến tranh chống Mĩ”. (tr.340)
+ Những viện trợ quân sự và kinh tế.
Trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến 1978, TQ đã viện trợ cho VN 20 tỉ Mĩ kim, chiếm 41% tổng số viện trợ TQ dành cho các nước ngoại quốc.
“Trong thời kì kháng chiến chống Pháp từ năm 1950 đến năm 1954, TQ là nước duy nhất viện trợ (quân sự) cho VN. Toàn bộ vũ khí, đạn dược và quân trang, quân dụng của quân đội VN là do TQ trực tiếp cung cấp theo dự trù hàng năm và nhu cầu cho các chiến dịch ở Việt Nam.”
Và trong cuộc chiến tranh chống Mĩ:
“phần lớn vũ khí đạn dược và quân trang, quân dụng cũng do TQ cung cấp, gồm quần áo, thuốc men, y cụ và nhiều đại bác, xe tăng, thiết giáp, cao xạ, tên lửa, máy bay, tàu chiến, cùng các phụ tùng thay thế và dầu mỡ v.v...” (tr.341)
Viện trợ này nhằm đáp ứng nhu cầu của hai triệu bộ đội Việt Nam. Ngoài ra, nếu “một khi nhân dân miền Nam cần đến” TQ sẽ sẵn sàng gửi quân sang “kề vai sát cánh cùng chiến đấu với nhân dân miền Nam” (tr.339). Viện trợ kinh tế cũng cực kì lớn lao. Ngay từ khi hoà bình 1954: “... theo lời yêu cầu của bác Hồ, TQ giúp khôi phục lại đường sắt từ Hà Nội đến Đồng Đăng dài khoảng 200 km. Chính Mao Chủ tịch đã ra lệnh tháo gỡ đường sắt ở Đồng Bồ” (tỉnh Sơn Tây của TQ) đem sang lắp ráp cho VN. Và giúp VN xây dựng lại nền kinh tế đã bị tàn phá vì chiến tranh.
“Từ năm 1950, TQ giúp xây dựng 450 nhà máy: nhà máy xay lúa, nhà máy đường, nhà máy giấy, nhà máy phát điện, nhà máy hoá chất, nhà máy xà phòng, nhà máy thuốc lá, nhà máy diêm, nhà máy bóng đèn phích nước, nhà máy làm đồ sứ, nhà máy phân hoá học, nhà máy thuốc trừ sâu, xưởng đóng tầu, nhà máy gang thép Thái Nguyên, thiết bị mỏ quặng, hệ thống vô tuyến điện, nông trường quốc doanh (...) và tiếp tục làm lại đường sắt từ Hà Nội đến Lào Cai, đến Thái Nguyên, xây lại cầu Hàm Rồng...” (tr.342)
Từ năm 1965, lúc Mĩ bỏ bom miền Bắc, TQ cũng gửi hàng đoàn chuyên gia kĩ thuật sang tháo gỡ thiết bị, máy móc các cơ sở công nghiệp đem đến những nơi an toàn.
Từ năm 1965 đến năm 1975 TQ gửi sang VN hơn 5 triệu tấn lương thực, 300 triệu mét vải, 30.000 ô tô, 600 tàu thuỷ đủ loại, hơn 100 đầu máy và hơn 4.000 toa xe lửa, gần 2 triệu tấn xăng cùng các thứ hàng trị giá bảy trăm triệu nhân dân tệ (yuan).
Đặc biệt từ 1955 đến 1976, TQ giúp hơn 600 triệu Mĩ kim tiền mặt giúp cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. (tr.342)
+ Giúp đỡ bằng cố vấn, chuyên gia, nhân viên kĩ thuật.
Từ 1950 trở đi, theo yêu cầu của Hồ Chí Minh và từ đảng CS VN, TQ cử đoàn cố vấn quân sự và đoàn cố vấn chính trị sang giúp VN. Vị Quốc Thanh dẫn đầu đoàn cố vấn quân sự
“giúp VN xây dựng quân đội và phổ biến kinh nghiệm tác chiến Ngoài việc giúp Tổng Quân uỷ, còn có các tổ cố vấn về tham mưu, chính trị, hậu cần giúp các sư đoàn chủ lực 308, 312, 316, 304 và các binh chủng khác”
Chính nhờ viện trợ này, quân đội Việt Nam được tăng cường và thắng trận Điện Biên Phủ, giải phóng được phân nửa đất nước.
Nhiệm vụ đoàn cố vấn chính trị do La Quý Ba dẫn đầu là “thường đóng góp ý kiến”, cố vấn “về chính sách và công tác cụ thể của các ngành (...)” (tr.343) trong tất cả mọi vấn đề từ tài chính, thuế, ngân hàng, giao thông vận tải, công an, tình báo v.v... Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, từ 1955, “Đoàn cố vấn chính trị mới toàn bộ rời Việt Nam về nước” (tr.344).
Từ năm 1954 đến 1978, khi hoà bình được lập lại ở Việt Nam sau hội nghị Giơ neo, “nhiệm vụ khẩn cấp ở miền Bắc là khôi phục nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá.” Đoàn chuyên gia kĩ thuật TQ của tất cả các ngành do Phương Nghị dẫn đầu, được lần lượt gửi sang Việt Nam. Họ trở về TQ vào năm 1978 khi đôi bên TQ - VN xảy ra chuyện bất hoà.
Những chuyên gia này đều do TQ trả lương, VN cung cấp lương thực và chỗ ở. Từ 1950 đến 1978, tổng số chuyên gia TQ sang VN là 20.000 người. “30.000 bộ đội Trung Quốc xây dựng 1.231 km đường ô tô”.
Từ năm 1965 đến 1970, khi Mĩ dội bom miền Bắc, theo lời yêu cầu Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, TQ gửi hơn 30.000 bộ đội chuyên về “phòng không, công trình , đường sắt và hậu cần”. Những người lính này “mang theo toàn bộ vũ khí, trang bị, phương tiện, máy móc và vật liệu...” Họ đắp được 1.231 km đường ô tô, 476 km đường sắt, xây sân bay Yên Bái... Ngoài việc xây dựng, họ còn bắn rơi máy bay Mĩ và giúp dân quân bảo vệ đường giao thông từ Bắc đến Nam, sơ tán người già, trẻ con, đào hầm hố phòng không, cứu chữa người bị bệnh, bị thương v.v... (tr.346)
+ TQ là hậu phương vững chắc của Việt Nam.
Ngoài những giúp đỡ kể trên, TQ thật sự là một hậu phương vững chắc của Việt Nam. Sự có mặt của quân lính TQ đã ngăn chặn được việc quân Mĩ đổ bộ. TQ đã giúp miền Bắc đặt đường ống dẫn dầu dài 4.000 km. Và từ 1967, đã mở một đường bí mật ven biển cho tàu chở hàng viện trợ đến các đảo ngoài khơi miền Trung để từ các đảo này hàng sẽ chuyển vào Nam. Ngoài ra TQ còn dành hai hải cảng ở Hải Nam cho Việt Nam làm trạm chuyển tiếp vật tư vào Nam. Họ cũng bỏ ra nhiều ngoại tệ mở đường qua Cam pu chia đến tận miền Nam để chở hàng viện trợ TQ như vũ khí, đạn dược, lương thực và thuốc men đến Mặt trận giải phóng miền Nam.
Họ đã giúp vận chuyển miễn phí hàng hoá Liên Xô và các nước khác về Việt Nam qua biên giới TQ. Họ đã giúp huấn luyện phi công, cán bộ dân sự, quân sự. Một giúp đỡ thật quan trọng khác nữa là họ đã cho VN sử dụng đất TQ làm địa bàn hoạt động: Trong thời kì chống Pháp, một trường huấn luyện quân sự đã mở ra ở Vân Nam với sự giúp đỡ của một số huấn luyện viên TQ. Sư đoàn tiên phong 308 đã trực tiếp kéo sang TQ để nhận toàn bộ vũ khí trang bị trước khi về nước tác chiến tại biên giới.
Trong thời kì chống Mĩ, các phi đoàn VN sang ẩn náu tại Vân Nam và được huấn luyện trước khi về VN hoạt động. Năm 1972 khi Đài phát thanh Tiếng nói VN tại Hà Nội bị máy bay Mĩ ném bom, lập tức một đài khác thay thế, tiếp tục phát thanh từ Vân Nam.
Tại Quảng Tây, thuộc vùng Quế Lâm, bệnh viện Nam Khê Sơn có 600 giường dành riêng cho bệnh nhân Việt Nam. Trong vòng 7 năm có hơn 5000 cán bộ Việt Nam đã được điều trị tại đây. Sau đó toàn bộ thiết bị của bệnh viện đã được giao lại cho VN. Cũng tại vùng Quế Lâm này, có trường dạy con em liệt sĩ và và học sinh miền Nam tập kết. Tóm lại, tinh thần giúp đỡ VN của TQ là
“Bớt ăn, bớt mặc, bớt dùng, ưu tiên cung cấp cho VN. (...) Sự thật lịch sử 28 năm (từ 1950 đến 1978) đã chứng tỏ rằng sự giúp đỡ của TQ đối với VN là nhân tố quốc tế không thể thiếu được để nhân dân VN giành lấy thắng lợi trong cuộc cách mạng cũng như trong việc kiến thiết; (...) sự thực lịch sử trong mấy năm qua (1978-1986) cũng chứng tỏ rằng không có sự giúp đỡ của TQ thì VN đã lâm vào tình trạng hết sức khó khăn bế tắc. (tr.348-349).
Sau khi dành một đoạn dài nói về viện trợ TQ, HVH cũng nhắc đến viện trợ của Liên Xô đặc biệt về mặt quân sự, viện trợ này đã giữ vai trò quan trọng trong việc VN bắn hạ máy bay B.52 của Mĩ. HVH khẳng định rằng đối với sự giúp đỡ này cũng như sự giúp đỡ của các nước khác “chúng ta vẫn phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn.” (tr.349)
Đầu năm 1950, sau khi Mao Trạch Đông nắm toàn quyền tại Trung Hoa lục địa, Hồ Chí Minh bí mật sang gặp Mao và ban chấp hành Trung ương Đảng CS TQ. Đôi bên đồng ý về các điều kiện cụ thể giúp đỡ cho cách mạng Việt Nam. Sự giúp đỡ đó là việc “khai thông biên giới” (“Chiến dịch Biên giới”) nhằm tiêu diệt các căn cứ Pháp tại vùng biên giới này. Mao phái La Quý Ba hướng dẫn một phái đoàn sang giúp Ban chấp hành trung ương đảng VN. Mao cũng cử Trần Canh, là một tướng giỏi của TQ đến giúp VN tổ chức Chiến dịch này. HVH kể lại chi tiết của cuộc thảo luận về chiến thuật và chiến lược giữa Trần Canh và Hồ Chí Minh (tr.350-351). Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới nối liền hai nước và cũng là hồi chuông báo tử cho quân đội Pháp.
ĐẢNG CSVN SẼ HỌC TẬP TƯ TƯỞNG MAO CHỦ TỊCH
Theo HVH, sự giúp đỡ của TQ đã góp phần rất lớn trong việc người Việt chiến thắng quân Pháp cho nên trong Đại hội lần thứ hai của Đảng Lao động VN (đảng CS Đông Dương) năm 1951, trong điều lệ mới của Đảng Lao động VN, có ghi rõ:
“Đảng Lao động Việt Nam(45) lấy học thuyết của Mác, Ăng ghen, Lê nin, Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tế của cách mạng Việt Nam làm nền tư tưởng của đảng và kim chỉ nam của tất cả mọi hành động.” (tr.357) ”Và trong bức điện Đại hội thành lập đảng Lao Động Việt Nam gửi đảng Cộng Sản Trung Quốc có đoạn nói” Đảng nguyện noi gương anh dũng Đảng CSTQ, học tập tư tưởng Mao trạch Đông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân TQ và các dân tộc Á đông trên con đường độc lập và tự chủ (báo Nhân Dân ngày 11/03/1951).
“(...) Trong bài viết giới thiệu quyển ‘Kháng chiến nhất định thắng lợi‘của Trường Chinh, lí thuyết gia của Đảng, báo Nhân Dân ngày 2 tháng 1-1956 có viết: ‘Đảng có đường lối chính trị và đường lối quân sự đứng đắn, lấy chủ nghĩa Mác - Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng’.
“Nhân kỉ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Tướng Võ Nguyên Giáp viết: ‘Từ năm 1950 trở đi, sau cách mạng TQ thắng lợi, quân đội và nhân dân ta càng có điều kiện học tập những kinh nghiệm quý báu của Quân giải phóng nhân dân TQ, học tập tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông. Đó là một yếu tố quan trọng giúp vào sự trưởng thành nhanh chóng của quân đội ta, góp phần vào những thắng lợi liên tiếp của quân ta, đặc biệt là trong chiến dịch Thu Đông năm 1953 - 1954 và trong chiến dịch Điện Biên Phủ vĩ đại’“ (trong báo Nhân Dân ngày 07/05/1964) (tr.358-359).”
HVH kết luận:
“Điểm qua một vài nét lớn như trên, chúng ta thấy những kẻ sau này chủ trương xâm lược Cam-pu-chia, khống chế Lào và chống TQ là đã phản bội đường lối của Hồ Chủ tịch, là vong ân bội nghĩa và truỵ lạc đến chừng nào?” (tr.359)
Trong chương này, HVH đề cập đến vấn đề sửa sai cải cách ruộng đất năm 1956. Theo ông, sai lầm không đến từ đường lối Đảng vốn vẫn chủ trương:
“Trưng mua ruộng đất, trâu bò, nông cụ những địa chủ kháng chiến, (...) không được đụng đến ruộng đất, trâu bò, nông cụ, nhà cưả của những phú nông, trung nông (...) và người có ít ruộng đất, phải phát canh vì tham gia công tác kháng chiến (...) Dựa vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp phú nông tiêu diệt chế độ phong kiến” (tr.360)
Sai lầm cũng không thể đến từ tư tưởng Mao hay các cố vấn TQ mà do chính Trường Chinh với
“tác phong gia trưởng và ý thức tả khuynh (...) đã đưa đến những sai lầm nghiêm trọng là đánh tràn lan vào trung nông, phú nông và những người có ít ruộng đất cho thuê, đánh tràn lan cả vào cơ sở Đảng.” (tr.361)
Khắp nơi người ta tổ chức những Toà án Nhân dân, đấu tố, kết án oan những người vô tội “sự phản ứng mãnh liệt của nhân dân vang dội đến Hà Nội” (tr.362). Sau thảm kịch này, Trường Chinh phải thôi chức Tổng Bí thư Trung Ương Đảng nhường chỗ cho Lê Duẩn. Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương cũng ra khỏi Bộ Chính Trị, Hoàng Văn Hoan và hai người khác vào thay. HVH viết
“Sai lầm trong cải cách ruộng đất, đối với Trường Chinh là một bi kịch, đối với Lê Duẩn lại là một dịp tốt để từng bước xây dựng bè cánh, dần dần xa lìa đường lối của Hồ Chủ tịch, đưa vận mệnh Tổ quốc đến chỗ tai nạn.” (tr.367)
Trong chương sau, chương 7, đỉnh cao của tập hồi kí, HVH nghiêm khắc lên án Lê Duẩn, Tổng bí thư Đảng. Ông bắt đầu bằng các biến cố xảy ra ở Liên Xô.
Sau khi Staline chết, Khrouchtchev lật đổ Malenkov, mở đầu chính sách “chia rẽ và cơ hội chủ nghĩa” đánh những đòn chí tử vào phong trào cộng sản thế giới. Khrouchtchev đề cao chủ trương “thi đua hoà bình với đế quốc” và tiến lên “xã hội chủ nghĩa bằng đường lối nghị viện” Khrouchtchev đã lộ nguyên hình một tên “cơ hội chủ nghĩa và xét lại”. Nhưng tội ác lớn nhất của Khrouchtchev chính là “bản báo cáo mật về Staline”. Theo HVH, Khrouchtchev không những bội nhọ Staline mà còn bôi nhọ cả Liên Xô nữa. Đúng vào lúc “bọn đế quốc đứng đầu là Mĩ” đang tìm cách phá hoại Liên Xô, thì bản báo cáo này quả là đến đúng lúc, tiếp tay cho Mĩ nhằm gây hại cho chủ nghĩa cộng sản.
Thật ra, HVH không chú ý xem xét coi những gì Khrouchtchev đề cập trong bản báo cáo là có thật hay xuyên tạc. Ông chỉ quan tâm đến việc người Mĩ và giới tư bản đã sử dụng những gì Khrouchtchev phát giác nhằm tấn công “Tổ quốc của Xã hội chủ nghĩa”.
Theo HVH, bản báo cáo này đã gây rạn nứt trong các nước xã hội chủ nghĩa anh em và tạo nên bất hoà giữa Liên Xô và TQ. Tại Bucarest, thủ đô Roumanie, vào tháng 6 năm 1960 trong cuộc họp Đảng các nước Xã hội chủ nghĩa, Khrouchtchev công khai chỉ trích Đảng CSTQ. Một tháng sau, Khrouchtchev đơn phương xoá bỏ 600 hiệp định và hợp đồng kí với TQ, rút về nước toàn bộ các chuyên gia Liên Xô công tác tại TQ(46)
Trước tình trạng nghiêm trọng này, một Đoàn đại biểu do Hồ Chí Minh cầm đầu (trong đó có HVH) lập tức sang Liên Xô gặp Khrouchtchev tại Mạc-tư-khoa. Nhưng Hồ Chí Minh không thuyết phục được Khrouchtchev. Để cứu vãn “khối đoàn kết CS”, Đảng CSVN vẫn tiếp tục xem Liên Xô như “người anh cả trong phong trào Cộng sản Quốc tế”.
Chủ trương này được thể hiên trong văn kiện chính thức của Đảng Lao động VN sau Đại hội 3 của Đảng vào tháng 9/1960. Đảng Lao động VN mong muốn giữ vững “đoàn kết phe xã hội chủ nghĩa” nhưng những nứt rạn đã trở nên vô phương cứu chữa. Có hai phe nhóm đã hình thành “trong các đảng anh em chưa nắm chính quyền”. Nhóm thứ nhất là nhóm “chính thống”. Nhóm thứ hai là nhóm “xét lại” nghĩa là theo chủ trương của Khrouchtchev chống TQ. Đảng CSVN, theo HVH, thuộc nhóm thứ nhất “chống chủ nghĩa xét lại.”
LIÊN XÔ ĐỀ NGHỊ HAI MIỀN NAM BẮC VN CHUNG SỐNG HÒA BÌNH
Cuối năm 1963, Đảng CSVN họp hội nghị Trung Ương lần thứ 9 dưới sự chủ toạ của Hồ Chí Minh về vấn đề chống chủ nghĩa xét lại. Đáng lẽ Lê Duẩn phải làm bài báo cáo, nhưng Duẩn né tránh, giao lại việc này cho Trường Chinh. Trong cuộc họp sôi nổi, Tố Hữu phê phán Liên Xô rất mạnh “bằng cách nêu ra mười tội trạng với giọng lên bổng xuống trầm của một nhà thơ. Riêng Lê Duẩn thì không phát biểu gì cả” (tr.380) Duẩn chỉ lên tiếng vào lúc Trung ương dự thảo bản nghị quyết, yêu cầu không nêu tên Khrouchtchev. Trung ương chấp nhận việc không nhắc đến Khrouchtchev, bản nghị quyết này không được công bố, chỉ dùng làm tài liệu học tập nội bộ Đảng. Nhưng một bản thông cáo nói lên tinh thần văn kiện này được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng Giêng năm 1964, sau đây là một đoạn trích dẫn:
”Đảng Lao Động VN ra sức tranh đấu bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh là nguy cơ chủ yếu của phong trào Cộng sản Quốc tế, đồng thời chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa biệt (bè) phái.” (tr.380)
Ngày 27 tháng 11 năm 1964, một đoàn Đại biểu đảng được Liên Xô mời sang Mạc-tư-khoa. Trước ngày khởi hành, Hồ Chí Minh đã dặn dò phái đoàn là không được kí tên vào bản thông cáo chung với Liên Xô. Cho nên khi Souslov, đại biểu Liên Xô trình bày một bản thông cáo chung vào cuối kì họp, Đoàn đại biểu Việt Nam từ chối kí tên. Nhưng lúc phái đoàn sắp lên đường về VN, Lê Duẩn bí mật đi gặp những người trách nhiệm Liên Xô và kí tên vào bản thông cáo chung. Khi HVH và các đại biểu khác phản đối thì Lê Duẩn nói sẽ nhận lãnh hết mọi trách nhiệm với “Bác và Bộ Chính trị”. Về sau, khi báo Nhân Dân đăng một bài xã luận đại ý theo tinh thần nghị quyết của hội nghị 8, Lê Duẩn đã gọi chủ nhiệm báo là Hoàng Tùng đến để khiển trách.
Theo HVH, Liên Xô giúp Việt Nam với điều kiện là các nhà lãnh đạo Việt Nam phải đứng vào phe Liên Xô chống lại TQ. Ngay từ sau hiêp định Genève, “Liên Xô đã vẫn chủ trương hai miền Nam Bắc sống chung hoà bình, thi đua kinh tế, miền Bắc hơn hẳn miền Nam về mặt kinh tế thì miền Nam sẽ thống nhất vào miền Bắc” (tr.389) nên đã không viện trợ quân sự cho miền Bắc trong cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. “Chẳng những không viện trợ mà còn nhồi nhét tư tưởng chung sống hoà bình với đế quốc và tư tưởng chống TQ cho đám học sinh Việt Nam qua học ở Liên Xô.” (tr.389)
Trong khi đó, các nhà lãnh đạo miền Bắc đồng ý với TQ áp dụng kinh nghiệm của TQ vào miền Nam là “trường kì mai phục, liên hệ quần chúng, tích trữ lực lượng, chờ đón thời cơ” (tr.368). Sau khi Khrouchtchev bị lật đổ, chủ trương sống chung hoà bình này vẫn được các nhà lãnh đạo Liên Xô tiếp tục “đẩy mạnh một cách không giấu giếm.”
Tuy về sau, trong cuộc chiến tranh chống Mĩ, Liên Xô đã sửa đổi chính sách, nhưng viện trợ quân sự khá giới hạn: “họ giúp cho Ấn Độ và Ai Cập máy bay Mig 23 mà không giúp cho Việt Nam (...) lấy cớ nếu giúp vũ khí tốt cho VN thì VN sẽ giúp TQ lấy được bí mật về kĩ thuật!”
Về vấn đề chuyên chở vũ khí hay hàng viện trợ cho Việt Nam, thay vì dùng đường biển thuận lợi hơn, Liên Xô lại dùng đường xe lửa, tức là phải đi qua đường sắt TQ. Người Việt Nam không có đủ thời gian và phương tiện chuyển hàng về VN, nên hàng ứ đọng tại ga Bằng Tường tại TQ. Lê Duẩn biết vậy nhưng lại đi rêu rao ngấm ngầm rằng TQ chơi xấu, không chịu chở hàng Liên Xô và Đông Âu cho Việt Nam. Báo chí phương Tây đã khai thác rùm beng tin này nên ngày 28 tháng 1 năm 1967, chính phủ Việt Nam (Bắc Việt) phải cho Thông tấn xã cải chính rằng “TQ vẫn chuyên chở hàng Liên Xô cho Việt Nam đúng kế hoạch” (tr.392).
Năm 1965, nhân dịp thăm Mạc-tư-khoa, Lê Duẩn triệu tập một cuộc họp tại sứ quán Việt Nam gồm các nhân viên sứ quán và đại biểu sinh viên Việt Nam học tại Liên Xô. Trong buổi nói chuyên này, Lê Duẩn “ca ngợi Liên Xô và phê phán Trung Quốc”. Một số sinh viên VN bất bình viết thư tố cáo lên ban chấp hành Trung Ương. Nhưng thư này bị Lê Duẩn chận lấy rồi thủ tiêu. Bộ chính trị chỉ được nghe kể lại qua ban văn thư. Cùng năm đó, trong một cuộc hội nghị cán bộ tuyên huấn do Tố Hữu tổ chức, Trần Quỳnh dám phê bình Trung Quốc với cùng một lí lẽ và luận điệu như Lê Duẩn tại sứ quán VN ở Nga. Theo luận điệu này, trong cuộc chiến tranh chống Tưởng Giới Thạch và chống Nhật, Mao đã chủ trương chính sách lấy thôn quê bao vây thành thị. Và trong thời kì xây dựng lại đất nước TQ, Mao cũng chủ trương ưu tiên cho phát triển nông nghiệp. Một chính sách như vậy là tiêu biểu cho “tư tưởng nông dân chứ không phải tư tưởng vô sản. Đến như chính sách (...) chủ trương dựa vào bần cố nông và trung nông lớp dưới cũng là sự mâu thuẫn giả tạo” vì lẽ sau khi cải cách ruộng đất không còn nông dân nghèo và cũng không còn trung nông lớp dưới vì “ai cũng như ai” (tr.393)
Ngày 13 tháng 3 năm 1967 với sự đồng ý của Lê Duẩn, Tố Hữu cho đăng bài thơ “Tâm sự” trong báo Nhân Dân có “nội dung chống Trung Quốc”. Vì sao Lê Duẩn chống TQ đến thế? HVH giải thích “vì trong đầu óc Lê Duẩn đã sẵn có một tư tưởng chống Trung Quốc do thực dân Pháp nhồi nhét và sau lại được chủ nghĩa xét lại Khơ-rút-sốp nhồi nhét thêm” (tr.395). Nghĩa là Lê Duẩn chống TQ không phải vì cái hiểm hoạ TQ sẽ xâm lấn VN một ngày nào đó mà bởi Lê Duẩn đi theo lập trường Khrouchtchev, chủ trương “chung sống hoà bình với đế quốc” và nhất là viễn ảnh “nhờ Liên Xô dàn xếp đàm phán hoà bình với Mĩ để giải quyết vấn đề miền Nam” (tr.397). Như vậy, Lê Duẩn đã xa rời, đã đi chệch ra ngoài đường lối do Hồ Chí Minh vạch ra.
CHIẾN THẮNG NĂM 1975 LÀ SỰ KIỆN NGƯỢC LẠI VỚI CHỦ TRƯƠNG CỦA LÊ DUẨN
Trong suốt thời kì Hội đàm Paris, Lê Duẩn luôn luôn tỏ ra sẵn sàng thoả hiệp với người Mĩ đến nỗi chấp nhận sự hiện diện của họ trong các thành phố miền Nam. (Nhưng) chính nhờ “những thắng lợi ở chiến trường” cán cân hoà đàm Paris mới nghiêng về phía Bắc Việt.
“Nói tóm lại, thắng lợi của Hội đàm Pa-ri là do thắng lợi ở chiến trường quyết định như Hồ Chủ tịch đã nói, chứ không phải do chủ trương thoả hiệp mà Lê Duẩn tự khoe khoang là mưu lược tài tình, càng không phải là do ba tấc lưỡi của Lê Đức Thọ ở Pa-ri quyết định“ (tr.404).
Sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Lê Duẩn dùng nhiều thủ đoạn nắm hết mọi quyền hành và loại trừ bằng những biện pháp hành chính những người bất đồng ý kiến. Bằng chứng là trong Đại hội Đảng lần thứ tư, chỉ toàn là (...) bồi bút (...) một bọn tay chân chỉ biết nịnh hót, tâng bốc cá nhân Lê Duẩn, coi như chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là công trình của sự chỉ đạo tài tình của Lê Duần (tr.405). Thật là không có gì sai lầm hơn, HVH kêu lên, chính thật ra là “công trình của Hồ Chủ tịch!”
Theo HVH, Lê Duẩn đã phạm nhiều lỗi lầm nghiêm trọng. Lỗi lầm đầu tiên là vụ Tổng tấn công dịp Tết Mậu Thân năm 1968. Vụ tấn công này đã đem đến tổn thất nặng nề về nhân mạng và vũ khí. Phải mất nhiều năm mới phục hồi binh lực. Lỗi lầm ở chỗ “ta đã coi thường (đánh giá sai) lực lượng địch”, đã đưa “bộ đội và chiến sĩ vào” những trận đánh (biết trước là) sẽ thua.
Lỗi lầm thứ nhì là chính sách áp dụng sau Hiệp định Paris. Lê Duẩn chủ trương không đấu tranh vũ trang, chỉ dùng hình thức đấu tranh chính trị và binh vận, để hoà giải dân tộc. Tóm lại là thi hành triệt để Hiệp định Paris (tr.406) trong khi đối phương (miền Nam) từ chối ngưng chiến. HVH đưa bằng chứng về lỗi lầm này bằng cách trích dẫn khá nhiều tướng Trần Văn Trà(47) mà ông vẫn xem như cùng phe với Lê Duẩn. Chính sách đấu tranh bằng phương pháp chính trị, binh vận và hoà hợp dân tộc này, theo HVH, có thể tóm tắt bằng năm điều cấm:
1) Cấm tấn công địch.
2) Cấm phản công quân địch càn quét lấn chiếm.
3) Cấm bao vây đồn địch.
4) Cấm pháo kích đồn địch.
5) Cấm xây dựng xã chiến đấu.
Mặc dầu có những nhượng bộ ấy, đối phương không ngừng “lấn chiếm, (bắn) phá, (tiêu) diệt cơ sở quần chúng và cơ sở Đảng”. Đứng trước kết quả hoàn toàn ngược với dự đoán của Tổng bí thư Lê Duẩn, Trung Ương cục miền Nam và Quân uỷ miền (Nam) thay vì rút lui đã “tự ý củng cố chấn chỉnh tại chỗ, giữ nguyên vị thế xen kẽ ba vùng” và “tự động đánh trả” (tr.408). HVH viết
“nếu như sau khi có Hiệp định Paris, quân và dân miền Nam cũng triệt để chấp hành chủ trương sai lầm của Lê Duẩn mà không có sự uốn nắn kịp thời của tập thể, của quân và dân trong cương vị chiến đấu thực tế, thì chúng ta khó có thể lường được cái nguy cơ sẽ xảy ra đối với miền Nam, và cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta sẽ đi đến kết quả như thế nào (tr.413) (...) Vinh quang này mãi mãi thuộc về Hồ Chủ tịch và Đảng Lao động Việt Nam, thuộc về quân và dân Việt Nam, đặc biệt là quân và dân miền Nam anh hùng (tr.414) (...) chứ không phải công lao của cá nhân Lê Duẩn”.
Đọc đến đây, ta có cảm tưởng như đang đọc “Bản báo cáo bí mật” của Khrouchtchev về Staline. Chỉ cần thay hai chữ Lê Duẩn bằng Staline!
HVH dành chương cuối cùng của cuốn hồi kí để chỉ trích chính sách của Lê Duẩn từ sau 1975. Ông kể ra một số sự kiện chứng tỏ rằng Lê Duẩn đã phản bội Bác và Đảng. Lê Duẩn đã ngông cuồng “âm mưu biến Việt Nam thành một nước bá chủ ngự trị cả Đông Dương và Đông Nam Á.” (tr.415) Và vì biết TQ sẽ phản ứng mạnh trước âm mưu đó nên Lê Duẩn đã làm áp lực ép Trung Ương Đảng CS VN ra nghị quyết chống TQ năm 1978.
“TQ là kẻ thù trực tiếp, kẻ thù nguy hiểm của nhân dân Việt Nam; phải đánh đổ nhóm cầm quyền thân Mao ở Bắc Kinh;(...) phải phê phán tư tưởng Mao Trạch Đông trên mọi lãnh vực; phải phái người di các nước Đông Nam Á vận động các nước này chống TQ.” (tr.426)
Sau nghị quyết này, cả một chiến dịch rộng lớn chống TQ được tung ra. Quyển sách của Vương Minh(48) được phổ biến hàng chục vạn cuốn nhằm đối kháng tư tưởng Mao. Phạm Văn Đồng đi khắp các nước Đông Nam Á (không cộng sản) “để nói xấu TQ và cam đoan sẽ không giúp đỡ Đảng CS của các nước này đặc biệt là Đảng CS Thái Lan” (tr.427).
Chủ trương chống TQ đã thúc đẩy Lê Duẩn và đồng bọn phạm những tội ác tày trời đối với cộng đồng Hoa kiều tại VN. Chính phủ đã tịch thu tài sản tất cả những người Hoa bị nghi ngờ là trung thành với TQ, đuổi họ ra khỏi các cơ quan Đảng, Nhà nước và quân đội bất kể họ đã từng là anh hùng chống hay diệt Mĩ, lao động tiên tiến hoặc có công trong hai cuộc kháng chiến. Chính phủ đã buộc những người Việt có chồng, vợ là người Hoa phải li dị, hoặc phải theo họ đi vùng kinh tế mới, thậm chí theo đi về TQ hay ra nước ngoài. Ngay đến người Hoa định cư tại VN từ nhiều thế hệ hay lâu đời cũng bị cưỡng bức rời VN.
Ngày 3 tháng 11 năm 1978, Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng kí xong Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô tại Moscou thì qua ngày 25 tháng 12 năm 1978, 200.000 bộ đội VN tấn công Campuchia. Dĩ nhiên, cuộc xâm lăng này không phải chủ ý diệt Pol Pot mà vì lí do khác “đó là thực hiện cái mộng Liên bang Đông Dương mà Việt Nam là bá chủ”. Nhân danh chống chính sách diệt chủng nhưng Lê Duẩn và đồng bọn đã “áp dụng chính sách diệt chủng ở Căm-pu-chia” (tr.430). Trong cuộc xâm lăng Campuchia, quân VN đã giết hại, đốt phá nhà cửa nhân dân Campuchia. Theo tin Campuchia, hiện nay (1987) có đến 60.000 người Việt di cư, chiếm đất đai và nhà cửa dân Campuchia. Đám cư dân mới này sẽ làm cơ sở cho chính sách “đồng hóa” (Việt hóa) dân tộc Khmer. Con gái Campuchia bị ép lấy chồng Việt. Trường học Campuchia phải dạy tiếng Việt. Lê Duẩn và đồng bọn muốn biến đất Miên thành đất Việt. HVH viết:
“Lê Duẩn (...) Trường Chinh ép Uỷ ban dự thảo Hiến pháp ghi rõ trong Hiến pháp rằng nhân dân Việt Nam phải đương đầu với bọn bành trướng và bá quyền TQ cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia” (tr.426)
THEO HVH, LÊ DUẨN ĐÃ ĐEM VÀO ĐẢNG NHỮNG CƠ CHẾ THEO KIỂU PHÁT XÍT
Đối với HVH, Trung Quốc đã giúp Việt Nam một cách hoàn toàn vô vị lợi. Nói rằng TQ muốn lấn chiếm VN, không những là vu khống mà còn tỏ ra vong ân bội nghĩa không thể tha thứ được. Nhân danh chống xâm lăng Trung Quốc người ta đã “biến Việt Nam thành căn cứ quân sự của Liên Xô. Đó là một hành động phản quốc, phản dân tộc.” (tr.434)
HVH cho rằng đảng CSVN không còn là đảng của Hồ Chí Minh thời sinh tiền nữa. Người ta đã đem vào đảng “hình thức đảng trị theo kiểu phát xít” (tr.434). Ở mọi cấp của đảng đều có công an, mật vụ mà chức năng là kiểm tra mọi hành động các đảng viên. Trong một bộ máy như thế bất kì ai lên tiếng phê bình đều bị coi là chống đảng, là kẻ thù của đảng, phải đem ra trừng trị:
“Trong Đảng không còn một chút tự do, dân chủ (...), không ai dám nói lên ý kiến thật của mình về (...) đất nước, về xã hội (...) hễ (...) phê bình những sai trái (...) là bị trù úm, bị hãm hại, ở cấp nào cũng vậy... (tr.431) Lê Duẩn và bè đảng đã tổ chức thành một nền thống trị độc tài phát xít, dựa trên cơ sở công an mật vụ dầy đặc cả trong Đảng cũng như ở ngoài xã hội.” (tr.431)
Nhờ hệ thống công an, mật vụ này, Lê Duẩn và đồng bọn đã dần dà loại trừ được những kẻ chống đối họ và đồng thời kết hợp bè đảng (tr.435). Và Đảng CS VN trở thành “một tổ chức do Lê Duẩn và bè đảng khống chế và đè đầu cưỡi cổ nhân dân”. Chế độ bây giờ là chế độ “đảng trị”. Sau đây là đoạn trích HVH nói về tính chất chế độ:
“Do chính sách xâm lược và hiếu chiến, tất cả sức người sức của đếu dồn cả vào việc chiến tranh và chuẩn bị chiến tranh, con em chúng ta còn phải đi làm bia đỡ đạn trên chiến trường. Vì vậy mà công, nông, thương nghiệp bị đình trệ, đời sống nhân dân đã tụt xuống đến mức bị xếp vào hàng thấp nhất trên thế giới. Tệ nạn xã hội như tham ô, móc ngoặc, buôn gian bán lậu, trộm cắp, cờ bạc, đĩ điếm, ăn mày, mê tín dị đoan ngày một lan tràn. Một xã hội được khoe khoang là xã hội chủ nghĩa mà ở nông thôn đã xuất hiện tầng lớp cường hào mới, ở nhà máy, xí nghiệp đã xuất hiện tầng lớp cai xếp mới, ở Nhà nước đã xuất hiện tầng lớp quan lại mới, ở bộ đội đã xuất hiện tầng lớp quân phiệt mới. Việc xoá bỏ chế độ tự trị của dân tộc thiểu số đã gây nên sự chống đối của các dân tộc và tạo cơ hội cho một số phần tử phản động có điều kiện hoạt động phá hoại.” (tr.432)
Trong phần kết luận HVH kêu gọi nhân dân Việt Nam “phải làm lại cuộc cách mạng (...) phải đoàn kết đấu tranh lật đổ ách thống trị tàn bạo và thối nát của bọn Lê Duẩn.” (tr.434) Nghĩa là ông kêu gọi làm cuộc cách mạng chính trị, nhưng ông không đề nghị một chương trình hành động hay một yêu sách nào cả.
Phần II: Bình luận
Cần phải viết lại lịch sử đảng cộng sản Việt Nam?
Đọc Giọt nước trong biển cả của Hoàng văn Hoan, chúng ta phải công nhận đây là một quyển hồi kí quan trọng vào bậc nhất. Không phải chỉ vì sách viết hay, rõ ràng là tác giả có văn tài. Văn phong giản dị, trong sáng, bút pháp bình dân thích hợp với chủ đề mà không thiếu phần thanh nhã. Hồi kí mà ta đọc như đọc tiểu thuyết. Độc giả không hề nhàm chán một phút giây ngay dù không hoàn toàn đồng ý với tác giả.
Điều đáng chú ý nhất chính là nội dung của sách. Đây là lần đầu tiên, một lãnh tụ cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN), trở thành kẻ li khai, tự do kể lại những biến cố mà mình đã tham dự. Nhờ những sự kiện mới này, tác giả giúp chúng ta phục hồi một số sự thật mà Đảng đã cố tình giấu diếm từ bấy lâu nay.
Độc giả nhận ra rằng khá nhiều sự kiện và biến cố không hề được ghi trong các văn kiện chính thức của Đảng, từ hoạt động của Hồ Chí Minh tại Xiêm và Trung Quốc, từ vai trò của ông Hồ trong Đệ Tam Quốc Tế, cho đến đường lối chính trị của ông và Đảng CSVN vào thời điểm nắm chính quyền năm 1945, từ những cuộc thương thuyết với Pháp năm 1946 cho đến thái độ của Đảng trước phong trào hạ bệ Staline sau đại hội Đảng Cộng Sản Liên Xô lần thứ 20 cũng như về những trận đánh cuối cùng ở miền Nam trước chiến thắng 1975, ông Hoan đã đem lại một cái nhìn mới cho những người như chúng tôi, vốn không tin bài bản chính thức của Đảng đã đưa ra.
Khác hẳn với Trường Chinh, Lê Duẩn hoặc với các nhà lãnh đạo đương thời của Đảng thường hay sửa đổi lịch sử cho ăn khớp với các biến cố mới hoặc vì tuân theo mệnh lệnh Đảng, ông Hoan là một người stalinít khá đặc biệt. Ông vẫn trung thành với Staline và chủ nghĩa Staline, điều này được độc giả cảm nhận trong từng trang hồi kí, ông coi như không có bài báo cáo mật của Khrouchtchev về Staline, coi như không biết những gì xảy ra trên thế giới từ ba mươi năm nay. Chính vì thế mà quyển hồi kí của ông là một tài liệu quí giá giúp chúng ta hiểu rõ hơn lịch sử Đảng CSVN.
CÁC BẬC THIÊN TÀI KHÔNG BAO GIỜ NHẦM LẪN
Quay lưng với thực tại, Hoàng Văn Hoan dường như chỉ sống với dĩ vãng. Trước kia ông tôn thờ Staline, bây giờ ông vẫn sùng bái Staline. Những bài học thời thanh niên, với ông bây giờ vẫn còn là chân lí. “Liên Xô vẫn mãi mãi là tổ quốc của chủ nghĩa xã hội” là “ngọn hải đăng soi đường dẫn lối cho các dân tộc bị áp bức” mặc dù có những “hóa thân dị dạng” sinh ra từ chủ nghĩa xét lại của Khrouchtchev. Đối với ông, Hồ Chí Minh cũng như Staline, vẫn là bậc thiên tài, mà thiên tài thì không bao giờ nhầm lẫn.
Hoàng Văn Hoan điềm nhiên kể lại mọi lời nói và hành động của Hồ Chí Minh mà không hay rằng mình đã nhầm thời điểm, vô tình ông đã hạ thấp thay vì đề cao vai trò ông Hồ. Hồ Chí Minh, được ông Hoan xem là người cộng sản, đã lợi dụng tôn giáo để làm vũ khí tuyên truyền ư? Hoàng Văn Hoan thấy điều này không những đương nhiên mà còn là tài tình nữa. Ông Hồ đã chẳng triệt để thi hành chỉ thị của Quốc tế Cộng Sản: quyết định đổi đảng Thanh niên (Việt Nam) tại Xiêm thành đảng Cộng Sản Xiêm, và chính vì thế ông đã ném hàng trăm chiến sĩ của Phân bộ đảng này vào cuộc mạo hiểm không ngày mai? Hoàng Văn Hoan xem đấy là chuyện tất nhiên. Là đại diện của Quốc tế Cộng Sản tại Xiêm, ông Hồ phải thi hành mệnh lệnh của Quốc tế Cộng Sản.
Ông Hoan không hề đặt lại vấn đề và xem xét cơ sở chính đáng của quyết định này. Thật ra trước hậu quả tai hại của quyết định đó, rốt cục, ông cũng có tự vấn. Nhưng tự vấn để rồi đổ lỗi cho “đồng chí Tăng” có lẽ đã báo cáo sai lạc cho Quốc tế Cộng Sản về tình hình thực tiễn tại nước Xiêm. Rõ ràng ông Hoan đã không hiểu rằng tai hại đó đến từ cái gọi là “thời kì thứ ba” trong chính sách của Đệ Tam Quốc tế mà Staline đã chọn áp dụng cho phong trào cộng sản thế giới vào thời điểm đó. Sau khi thất bại nặng nề tại Trung Quốc vì áp đặt chủ nghĩa cơ hội cực đoan đối với Tưởng Giới Thạch, Staline và ban lãnh đạo Quốc tế Cộng sản thay đổi chiến thuật, quyết định áp dụng đường lối chính trị tả khuynh cực đoan “giai cấp chống giai cấp” và “chiến đấu đến người lính cuối cùng” v.v...(49) Sự thành lập đảng Cộng Sản Xiêm cũng như cuộc khởi nghĩa phong trào “Xô Viết Nghệ Tĩnh” đều được tiến hành trong tinh thần đó. Nghĩa là nhằm bóp nghẹt tiếng nói của phe đối lập trong Quốc Tế Cộng Sản và để chứng tỏ cho thế giới thấy ràng sự thất bại ở Trung Quốc không hề làm suy giảm sinh lực cũng như sức mạnh của tổ chức Quốc tế Cộng sản. Bằng chứng trước mắt là sự thành lập đảng Cộng Sản Xiêm và sự khởi động phong trào “Xô Viết Nghệ Tĩnh” như nói trên. Mặc cho hậu quả đã xô đẩy cả một thế hệ chiến sĩ hi sinh cho chiến thuật mới này.
Trong một phần khá dài, ông Hoan kể lại chuyện hội nghị Việt Cách (một đảng quốc gia thân TQ) và nhấn mạnh sự kiện ông Hồ đã thành công trong việc đắc cử vào ban Chấp hành trung ương của đảng này. Chuyện nói trên dĩ nhiên không hề được ghi trong bất cứ một văn kiện chính thức nào của đảng CSVN. Vậy mà ông Hoan rất hãnh diện kể lại, coi như một thành tích đáng phục của ông Hồ và đinh ninh rằng độc giả chắc chắn sẽ đồng ý với mình. Chúng tôi rất muốn hỏi ông nếu là một người khác làm như thế chứ không phải ông Hồ thì ông nghĩ sao? Như chuyện những người Đệ Tứ Việt Nam chưa hề tham gia vào chính phủ Trần Trọng Kim bao giờ, thế mà trước nay đảng cứ nói ngược lại để bêu rếu Đệ Tứ.(50)
VỀ CHIẾN LƯỢC “CHÍNH SÁCH CÁC KHỐI”
Chiến lược này của Hồ Chí Minh, trong chính trị người ta gọi là “chính sách thâm nhập”. Do ông Hồ sử dụng nó thì ông Hoan xem như điều tự nhiên mà nếu do người khác, như người Trung Quốc hay người Việt quốc gia, áp dụng đối với Việt Minh thì ông phỉ báng nào là “âm mưu” nào là “việc làm đê tiện, bẩn thỉu”, ông rất thiên vị đối với “Bác” nhưng không công bằng đối với người khác. Mâu thuẫn này bàng bạc trong suốt quyển hồi kí. Hoạt động của ông Hoan và Hồ Chí Minh ở Xiêm, theo như ông kể lại, chủ yếu là những thủ đoạn, âm mưu, móc nối, gạt gẫm, lừa đảo địch thủ hay kẻ thù.
Nếu vì cuộc tranh đấu, bị một địch thủ mạnh hơn đặt ngoài vòng pháp luật, người chiến sĩ cách mạng có lúc cũng phải buộc lòng hành động như thế. Nhưng ở đây HVH lại nêu thành nguyên tắc hoạt động thường xuyên, ông có vẻ hãnh diện và muốn sử dụng nó bất kì trong trường hợp nào cho đời sống hằng ngày. Qua những hành động như thế HVH cho chúng ta thấy một Hồ Chí Minh hoàn toàn khác hẳn với Hồ Chí Minh do Đảng vẽ ra.
Trong một chương khá quan trọng (tr.272-278) HVH đã kể lại rõ ràng và tỉ mỉ nguyên nhân và ý nghĩa những điều khoản kí kết với Pháp trong Hiệp định sơ bộ ngày mồng 6 tháng ba năm 1946. Theo ông, Hồ Chí Minh đã dự thảo Hiệp định này từ 1941, giữa hai kì hội nghị tại Tân Trào. HVH tự hỏi tại sao Đảng lại “che giấu” một sự kiện quan trọng như thế. HVH còn giải thích thêm rằng phương hướng hành động chung được Hồ Chí Minh vạch ra ở Tân Trào không chỉ từ 1941 mà trước đó nữa, vào năm 1938 bởi ban chấp hành Quốc Tế Cộng Sản. Đó là theo chính sách “khối các nước đồng minh chống lại khối các nước phát-xít”. Việt Nam ở vào khối đồng minh, mà trong khối này lại có cả Pháp, nên phải làm hoà với Pháp, bằng một bản hiệp định. Tại Tân Trào, Hồ Chí Minh còn nói “Cho dù chúng ta có muốn đánh Pháp, chúng ta cũng không đủ sức”. Thì ra lí do đầu tiên và cũng là lí do chính của việc kí hiệp định là chính sách này.
Nhưng lí do thứ hai quả là vô lí. Làm sao “Bác” có thể nói về tương quan lực lượng giữa ta với Pháp khi mà ở thời điểm đó, chưa có phong trào kháng chiến nổi dậy (nó chỉ phát động từ 1945!)
Cơ bản vấn đề là Hồ Chí Minh và Đảng của ông bị lệ thuộc vào chính sách hai khối do Moscou định đoạt, Hồ Chí Minh và Đảng không thể nào tạo dựng một phương sách ở ngoài cái “khối đồng minh” đã định này.
HẬU QUẢ TAI HẠI CỦA HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ
Chính vì phải làm hoà với người Pháp mà đảng đã giới hạn, ít ra là trong giai đoạn đầu, sự phát triển tính năng động của Cách mạng tháng tám 1945. Phải hòa với Pháp, cho nên Đảng đã cấm nông dân không được lấy ruộng của phong kiến địa chủ và Đảng cũng đã đàn áp tất cả những lực lượng kháng Pháp trong nước. Chính vì thế mà Việt Minh ra lệnh tàn sát những người Đệ Tứ, dù họ chỉ có cái “tội duy nhất” là đòi lấy đất ruộng chia cho nông dân nghèo(51) và muốn tiếp tục cuộc đấu tranh không nhân nhượng với người Pháp. Cùng lúc đó Việt Minh cũng triệt hạ những người của các đảng phái quốc gia vì những người này cũng đòi quân đội Pháp phải rút khỏi Việt Nam.
Chính vào lúc ấy, cựu hoàng Bảo Đại, trở thành hoàng tử Vĩnh Thụy, được cử làm “cố vấn tối cao” cho chính phủ Hồ Chí Minh và triều đình Huế được trọng đãi. Phần tiếp theo thì ai cũng biết! Ông hoàng cố vấn tối cao đã “phản bội”, lợi dụng
một chuyến công du ngoại quốc, trốn khỏi Việt Nam! Ngài cố vấn tối cao hợp tác với người Pháp, thành lập một chính phủ và một quân đội chống lại Việt Minh. Người Pháp thì phản bội Hiệp Định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 46, gây chiến sau khi mở những cuộc tấn công giành đất. Việt Minh chỉ còn một lối thoát duy nhất là tổ chức cuộc chiến đấu vũ trang. Sự thực lịch sử là thế. Nhưng trong Lịch sử Đảng CSVN, chúng ta được đọc một lối diễn dịch lịch sử khác: Đảng đã tiên liệu được tất cả từ sự phản bội của người Pháp cho đến sự phản bội của quân Đồng minh người Anh và người Mĩ. Nhân nhượng của Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 chỉ là một kế hoãn binh để nghỉ ngơi và để chỉnh đốn lại tổ chức kháng chiến.
Ngược lại với văn bản chính thức, HVH đã nhìn nhận rằng hiệp ước được kí kết vì những lí do quốc tế chứ không phải vì những điều kiện quốc gia. Ông còn đi xa hơn nữa khi cho chúng ta biết rằng phong trào cách mạng tháng tám năm 1945 của hàng triệu người dân thuở ấy được tạo nên không phải để đánh đuổi thực dân Pháp mà chỉ để nhắm mục tiêu tạo điều kiện đi tới một cuộc thỏa hiệp với Pháp. Mục đích trước mắt và ngay sau đó chưa phải đấu tranh cho một nền độc lập hoàn toàn. Theo Hồ Chí Minh, độc lập hoàn toàn chỉ có thể giành được sau thời hạn 5 năm.
Trình bày tất cả những sự kiện lịch sử đã thật sự xảy ra như đã nói trên, HVH thật ra chỉ cho ta biết có một nửa sự thật, còn nửa kia ông ta dấu nhẹm, đó là hậu quả tai hại do đường lối chính trị thoả hiệp này mang đến cho đất nước Việt Nam. Khi tàn sát những người Đệ Tứ và người quốc gia bất khuất, khiến những người này không còn có thể cùng tiếp tục góp phần vào phong trào kháng chiến chống Pháp, Việt minh không những đã phá hoại một phần lớn những tiềm năng của đất nước mà họ còn tạo ra những điều kiện khách quan gây khó khăn cho sự tổ chức cuộc kháng chiến này.
Chỉ trong vòng vài tháng quân Pháp nắm vai trò chủ động. Họ đẩy lùi quân đội Việt Minh ra khỏi các thành phố khá dễ dàng và không mấy tổn thất. Còn về chuyện người Đệ Tứ đòi hỏi “cải cách ruộng đất” phải hơn năm năm sau, Đảng CSVN mới đề cập đến.(52) Và bởi vì chủ nghĩa cơ hội chỉ là mặt trái của chủ nghĩa bè phái (sectaire), cuộc cải cách ruộng đất này đã được thực hiện một cách cực kì tàn bạo và hoàn toàn ngược lại với những nguyên tắc sơ đẳng nhất của chủ nghĩa Lê nin về vấn đề này.
HVH đã tố cáo điều ấy trong hồi kí. Năm 1956, Đảng CSVN đã phải sửa sai, kiểm thảo. Nhưng hàng chục nghìn nạn nhân có sống lại để được phục hồi hay không?
VỀ VIỆN TRỢ TRUNG QUỐC VÀ LIÊN XÔ CHO VIỆT NAM
Bàn về chiến thắng Pháp và Mĩ của Việt Nam, một số sử gia và nhà văn kể cả những người cực tả, giải thích rằng khi Hồ Chí Minh và đảng ông lên cầm quyền, tất nhiên họ đã đoạn tuyệt với Staline và chủ nghĩa Staline. Nhưng sự thật, và quyển hồi kí của HVH cũng xác nhận, là khác với Mao và Tito, Hồ Chí Minh hướng dẫn cuộc Kháng chiến Việt Nam theo khuôn khổ, chính sách do Staline và Liên bang Xô Viết đã quy định. Hồ Chí Minh đã chẳng bênh vực khẩu hiệu “Liên Hiệp Pháp” như đảng CS Pháp hay sao? Thái độ cũng như chương trình hoạt động của đảng CSVN chẳng phương hại gì cho chính sách của các đảng CS Pháp và Liên Xô. Người ta thường hay quên điểm quan trọng này: chiến tranh VN mở đầu cùng lúc với cuộc chiến tranh lạnh thế giới. Liên bang Xô Viết, lúc ban đầu, không hề nhiệt tâm giúp đỡ kháng chiến VN, bây giờ với chiến tranh lạnh, họ cũng chẳng có lí do gì để phá hoại kháng chiến Việt Nam, như trong trường hợp cuộc kháng chiến Nam Tư hay Hy Lạp. Cuộc kháng chiến VN trở nên con bài khá tốt cho chính sách của giới lãnh đạo Liên Xô Viết trong cuộc chiến tranh lạnh này.
Không ưa Liên Xô, HVH ra mặt chọn phe Trung Quốc. Để bênh Trung Quốc, ông đã lập một danh sách thật dài những viện trợ TQ cho Việt Nam. Viện trợ này quả thật vô cùng quan trọng, nếu không có nó, sẽ không có chiến thắng Điện Biên Phủ. Nhưng HVH quên nói với chúng ta rằng sau Điện Biên Phủ, viện trợ TQ lại kém xa viện trợ Liên Xô. Và ai cũng biết cho đến trước ngày chiến thắng 1975, Trung Quốc chống lại việc thống nhất Việt Nam, y hệt như Liên Xô chống việc thống nhất Việt Nam trong những năm 1950. HVH có lí khi ông phê bình thái độ Liên Xô về chuyện này nhưng ông lại quên tư thế của Trung Quốc. Sự thật là viện trợ Liên Xô hay viện trợ Trung Quốc, cả hai đều nhằm phục vụ cho quyền lợi chính trị của giới quan liêu lãnh đạo hai nước này.
Về hiệp định Genève năm 1954, HVH đã nói dối khi ông bảo rằng Trung Quốc ủng hộ vô điều kiện mọi quyết định của Việt Nam, và nói dối lần nữa khi ông khẳng định rằng trong cuộc chiến tranh chống Mĩ, Trung Quốc không hề tìm cách gây khó khăn trong việc chuyên chở các viện trợ Liên Xô ngang qua lãnh thổ Trung Quốc để tiếp tế cho Việt Nam.
HVH có lí khi ông trách Liên Xô đã gọi về nước tất cả các chuyên viên Liên Xô đang làm việc ở Trung Quốc khi xảy ra vấn đề tranh chấp giữa hai nước. Nhưng Trung Quốc đã chẳng đối xử như thế với Việt Nam hay sao? Tệ hơn nữa, họ đã kéo quân sang xâm phạm lãnh thổ Việt Nam để cho “một bài học” và gây ra bao nhiêu tội ác không thể tha thứ được. “Bài học” ấy rất đắt giá cho cả hai bên nhân dân Hoa-Việt, là những người hoàn toàn không có lí do gì để huỷ diệt nhau bằng cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn.
Cũng như về việc quân đội Việt Nam chiếm đóng Campuchia, chúng ta cũng hoàn toàn đồng ý với những chỉ trích của tác giả. Ông nói, rất đúng, rằng mục đích của Hà Nội không phải “tiêu diệt Pol Pot” mà chính là nhằm thực hiện “Liên bang Đông Dương” bằng võ lực. Chủ nghĩa “đại quốc gia” là động lực chính chứ không hề là chủ nghĩa nhân đạo vô vị lợi mà người ta đã lầm lẫn trao tặng cho giới lãnh đạo Việt Nam.
Nhưng HVH lại không nói gì đến tội ác diệt chủng của Pol Pot cũng như việc Trung Quốc mưu toan đặt Việt Nam vào vòng lệ thuộc của họ. Chủ nghĩa “đại quốc gia” không phải bản sắc riêng của Việt Nam, nó cũng tượng trưng cho bản sắc Trung Quốc và Liên Xô, bởi nó thể hiện trên bình diện chính trị một trong những nguyên tắc của chủ nghĩa Staline mà chính tác giả cũng chưa gột bỏ được.
NÊN THAY ĐỔI GIỚI LÃNH ĐẠO HAY THAY ĐỔI CHẾ ĐỘ?
Trong chương cuối, HVH đả kích có bài bản kẻ thù số 1 của mình là Lê Duẩn. Đả kích về mặt chính trị lẫn cá nhân. Về mặt chính trị ông kê khai một số lỗi lầm của Lê Duẩn trong đó có ba lỗi lầm quan trọng: cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, chủ nghĩa xét lại kiểu Khrouchtchev và đường lối chính trị trước và sau Hiêp định Paris.
Đây là lần đầu tiên một nhân vật lãnh đạo quan trọng của đảng CSVN dám công khai chỉ trích như vậy. Thật là đáng cho chúng ta lưu ý khi biết rằng cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 này được xem như một cuộc “phiêu lưu mạo hiểm” bởi vì ban lãnh đạo đảng CSVN đã “đánh giá quá thấp” lực lượng quân thù. Rằng Lê Duẩn là tín đồ (không dám công khai ra mặt) của Khrouchtchev trong khi Hồ Chí Minh chống lại Khrouchtchev và chống lại việc hạ bệ Staline. Một điều đáng lưu ý khác nữa là Lê Duẩn và các lãnh tụ khác đều tỏ ý ngạc nhiên trước chiến thắng 1975, vì họ đã “đánh giá quá thấp” tính năng động của Cách mạng và “đánh giá quá cao” sức mạnh của chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Vì đã chuẩn y một tiến trình đấu tranh chính trị lâu dài, họ muốn tôn trọng nghiêm nhặt tất cả các điều khoản của Hiệp định Paris, nên họ không muốn quân giải phóng trả đũa những vi phạm Hiệp định của quân đội ông Thiệu.
Chỗ này HVH đã vô tình ghi lại tình trạng đất nước giống y hệt như sau ngày kí kết Hiệp Định sơ bộ mồng 6 tháng 3 năm 1946. Việt Minh nghĩ rằng có thể cứu vãn được những thoả ước đã kí, trong khi quân Pháp đã vi phạm trắng trợn Hiêp định bằng cách tấn công về chính trị cũng như quân sự. Như vậy Thỏa hiệp án (modus vivendi) mà Hồ Chí Minh đã kí với Marius Moutet ngày 14 tháng 9 năm 1946, trước ngày lên tàu về nước, có ý nghĩa gì?
HVH có lí khi chỉ trích Lê Duẩn. Nhưng những điều ông coi là xấu cho Lê Duẩn lại được trình bày là tốt cho Hồ Chí Minh. Cho nên càng bênh vực “Bác Hồ” chừng nào, ông lại ra công chỉ trích Lê Duẩn chừng ấy.
Về mặt cá nhân, HVH phê bình Lê Duẩn cũng giống y hệt như Khrouchtchev phê bình Staline. Tất cả mọi xấu xa đều tập trung vào một mình Lê Duẩn. Lê Duẩn nhiều tham vọng, thích sùng bái cá nhân, dùng nhiều thủ đoạn chiếm lấy tất cả quyền lực về tay mình v.v... Ông còn ngụ ý rằng tập đoàn Lê Duẩn - Lê Đức Thọ đã ám hại một nhân vật có trách nhiệm lớn trong đảng, tướng Nguyễn Chí Thanh. (tr.420)
Nhưng những chỉ trích của HVH đem đến một câu hỏi: nếu quả thật Lê Duẩn đã loại bỏ bằng phương pháp quan liêu mọi địch thủ của mình, nếu quả thật Lê Duẩn đã cài công an vào tất cả các cơ quan của bộ máy Đảng và Nhà nước, nếu quả đúng Lê Duẩn đã khiến chế độ trở thành một “chế độ phát xít”, thì phải hỏi vì sao ra nông nỗi này? Chắc chắn phải tìm câu trả lời ngay trong chính cái cấu trúc của chế độ.
Vấn đề không phải là thay thế tập đoàn Lê Duẩn bằng một tập đoàn khác như HVH đã đề nghị mà là xây dựng lại một thể chế hoàn toàn khác hẳn. HVH có sẵn sàng chấp nhận trong chế độ xã hội chủ nghĩa, một thể chế dân chủ từ dưới gốc, một nền kinh tế tự quản, một chế độ đa đảng và nhiều nghiệp đoàn? HVH có sẵn sàng chấp nhận từ bỏ hệ thống độc đảng và độc khối hay không? Ông có sẵn sàng chấp nhận tự do giao lưu tư tưởng, tự do báo chí, quyền tự do lập hội và hội họp, quyền đình công, quyền biểu tình, tất cả được bảo đảm bằng một bản hiến pháp thật sự xã hội chủ nghĩa?
Tất cả những đòi hỏi dân chủ này là nền tảng cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà chủ nghĩa Staline đã chà đạp trong nửa thế kỉ nay. Có thể nào nói tới đổi mới ở Việt Nam mà không lên án một cách rõ ràng chủ nghĩa Staline và mọi phó bản của nó?
Tháng 9 năm 1987
HOÀNG KHOA KHÔI
Phan thị Trọng Tuyến dịch từ bản tiếng Pháp của Hoàng Khoa Khôi (bút hiệu Hà Cương Nghị) trong tờ “Chroniques vietnamniennes”, Trimestriel, Hiver Printemps 1988, Numéro spécial Paris, France: “Việt Nam Thời Luận”, báo định kì tam cá nguyệt, số Đặc biệt Đông Xuân năm 1988, xuất bản tại Paris, Pháp.
* Bài này Hoàng Khoa Khôi viết vào tháng 9 năm 1987 (chú thích của người dịch - Phan thị Trọng Tuyến).
Chú thích :
(37) Thay thế Uỷ ban Hành chánh Nam bộ
(38) Trên thực tế, quân Tưởng chỉ hoàn toàn rút khỏi đất VN vào tháng 5/1946.
(39) Tại Đại hội Tân Trào Hồ Chí Minh cũng đã nhắc đến thời hạn “5 năm” này.
(40) Chỗ này HVH hoàn toàn tránh né không nói đến nội dung của Tạm ước, trong đó toàn những điều khoản đảm bảo quyền lợi văn hoá và kinh tế Pháp ở Việt Nam.
(41) Xin lưu ý: HVH đã không lí luận như vậy khi nói về hiệp định mồng 6 tháng 3 năm 1946 đã cho phép quân Pháp trở lại Việt Nam.
(42) Chính phủ Thái lúc đó chưa công nhận nước Viêt Nam Dân chủ cộng hoà của Hồ Chí Minh nhưng cho phép mở văn phòng đại diện.
(43) Xin xem tập “ Hồ Chủ Tịch” do Phái đoàn đại diện chính phủ VNDCCH ấn hành tại Paris, tháng 5 năm 1947
(44) Theo văn kiện chính thức của đảng CSVN,TQ đã phản bội vì thúc ép Phái đoàn VN chịu nhận những nhượng bộ không tương xứng với lực lượng quân sự các phe lâm chiến.
(45) Đảng Lao động VN trở thành Đảng CSVN.
(46) HVH quên nói tới năm 1979, Trung Quốc cũng đã làm như thế đối với Việt Nam.
(47) Xem Hồi kí Tướng Trần Văn Trà (tr.54), nxb Văn Nghệ,Tp Hồ Chí Minh.
(48) Wang Ming là người tin cậy cuả Staline, đối lập với Mao, đã từng cố gắng áp đặt đường lối Liên Xô cho đảng CSTQ.
(49) Câu này được tác giả trích dẫn trong phần nói về các hoạt động của ông ở Xiêm, nhưng tác giả Hoàng Văn Hoan không hiểu rõ ý nghĩa và xuất xứ của nó.
(50) Chúng tôi đã phỏng vấn bác sĩ Hồ Tá Khanh (hiện cư ngụ tại vùng ngoại ô Paris ) về vấn đề này Bác sĩ Khanh từng là bộ trưởng trong chính phủ Trần Trọng Kim thuở đó, ông cam đoan với chúng tôi rằng không có Tạ Thu Thâu hay bất kì một người Đệ Tứ nào trong chính phủ Trần Trọng Kim. Khi có dịp, chúng tôi sẽ công bố bài phỏng vấn này.
(51) Trong quyển Cách mạng tháng tám, tập II, nxb Sử học, 1960, Hà Nội, tr.319, người ta đọc được lời thú nhận đáng kinh ngạc sau đây: “Sau khi chúng ta giành được chính quyền, bọn trốt-kít ra một tờ báo tên là ‘Độc lập’ có vẽ ngôi sao đỏ sáng chói, nhằm chia rẽ phá hoại chính sách Đảng ta. Báo này đòi tịch thu ruộng đất chia cho nông dân. Chúng ta đã đóng cửa tờ báo này và tố cáo bọn chủ báo, biên tập với đồng bào. Đồng thời ta bắt giữ bọn thủ lãnh của chúng trốn tránh ở Dĩ An, Thủ Đức (như Nguyễn Văn Sô, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch v.v...” Các tác giả của những dòng này không nói rõ số phận những tù nhân, nhưng chúng ta biết rằng họ đều bị giết chết.
(52) Khi đề cập đến chuyên cải cách ruộng đất , Đảng Cộng Sản Việt Nam thú nhận sự chậm trễ trong viêc giải quyết vấn đề này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét