Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Vì sao tham nhũng? - Đằng sau câu chuyện cổ phần hóa

TIN LÃNH THỔ

TIN XÃ HỘI

TIN KINH TẾ

TIN DIỄN ĐÀN

TIN GIÁO DỤC

TIN ĐỜI SỐNG

TIN CÔNG NGHỆ

TIN VĂN HÓA GIẢI TRÍ

TIN THẾ GIỚI

Nguyễn Thị Từ Huy - Vì sao tham nhũng ?

Việt Nam ngày nay đứng trước rất nhiều vấn nạn gần như không giải quyết được. Ngoài dối trá (đã nói đến ở bài trước), tham nhũng cũng là một trong những vấn nạn đó. Dĩ nhiên, tham nhũng chính là một phương diện của sự dối trá. Có tham nhũng là bởi vì có dối trá. Nếu việc sử dụng tiền bạc được công khai, được minh bạch hóa, nếu pháp luật là pháp luật đúng nghĩa, trừng trị hết tất cả mọi trường hợp tham nhũng, thì hẳn nhiên, tham nhũng sẽ thôi không còn là vấn nạn. Nhưng vì sao không thể minh bạch, vì sao những gì cần công khai lại biến thành bí mật quốc gia? Vì sao pháp luật biến dạng đến mức có những nhà báo chống tham nhũng phải vào tù ?
Chính quyền thỉnh thoảng đưa ra xử một vài trường hợp tham nhũng. Và có trường hợp xử được, có trường hợp cho chìm xuồng. Trên thực tế, việc xử vài trường hợp như vậy không giải quyết được vấn đề. Những vụ xử đó chẳng làm cho những kẻ tham nhũng sợ hãi (vì sao?). Trái lại, tham nhũng càng ngày càng lan rộng ra toàn xã hội, ở mọi cấp, mọi lĩnh vực. Chỉ cần gõ hai chữ « tham nhũng » lên google thì sẽ có ngay tất cả những thông tin về hiện trạng tham nhũng. Dĩ nhiên, cần hiểu rằng, những thông tin có thể công khai hoàn toàn chưa phản ánh được một cách đầy đủ và thực chất tình trạng tham nhũng. Nhưng dù sao chúng cũng đủ để cho tất cả mọi người không thể phủ nhận được thực trạng trầm trọng và nguy hiểm của tham nhũng.
Liên quan đến vấn đề này, người Việt Nam đối diện với những câu hỏi căn bản sau đây :
-Vì sao nạn tham nhũng có thể bị đẩy đến mức trầm trọng như vậy ?
-Có thể giải quyết được nạn tham nhũng không ?
-Nếu không giải quyết được thì hậu quả sẽ như thế nào ?
Trong bài này, tôi chỉ đề cập đến câu hỏi thứ nhất, đúng hơn là một khía cạnh của nó : nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thảm trạng tham nhũng.
Tôi tìm thấy cái nguyên nhân gốc ấy trong cuốn sách « Giai cấp mới » của Djilas. Tôi muốn chia sẻ với mọi người những gì tôi đọc được, cứ coi như tôi đang làm công việc giới thiệu sách cho quý vị. Vì sao cuốn sách của Djilas khiến tôi phải chú ý như vậy, và hẳn còn phải trở lại với nó nhiều lần nữa ?
Thứ nhất, bởi vì Djilas là một người cộng sản, tham gia vào quá trình vận động và phát triển của chủ nghĩa cộng sản, nên hiểu rất rõ bản chất của nó. Thứ hai, người cộng sản ấy đứng ở gần như đỉnh cao của quyền lực mà dám từ bỏ tất cả quyền lực và đặc quyền đặc lợi kèm theo, chấp nhận từ bỏ vị trí phó tổng thống của toàn liên bang để vào tù. Điều này khiến ta có thể tin rằng tiếng nói của ông là tiếng nói của con người truy tìm sự thật, có đủ can đảm trả giá vì sự thật. Thứ ba, nếu so sánh những gì được Djilas miêu tả trong sách của ông, thực tế của một nước cộng sản châu Âu vào giữa thế kỷ trước, với thực tế của Việt Nam hiện nay, sẽ thấy những sự trùng hợp đáng kinh ngạc, sẽ thấy sự chính xác trong các nhận định của ông. Hơn nữa, Djilas nhận định về các chế độ cộng sản nói chung trên toàn thế giới, chứ không riêng gì đất nước ông, điều đó giúp ta hiểu rõ hơn bản chất của chế độ chúng ta. Để ta khỏi rơi vào cái bẫy đổ lỗi cho cha ông, đổ lỗi cho truyền thống về các vấn nạn của mình ngày hôm nay, để ta thấy rằng chính ta phải chịu trách nhiệm về những gì đang diễn ra.
Sau đây là một đoạn trong đó Djilas nói về sự tham nhũng trong chế độ cộng sản :
« Thói bon chen, xa hoa, hám quyền là không tránh được.[...] Đây là loại tham nhũng đặc biệt: khi quyền lực nằm dưới quyền kiểm soát của một đảng, mà đảng ấy lại là nguồn gốc của tất cả đặc quyền đặc lợi, thì việc “quan tâm đến các chiến hữu”, việc bổ nhiệm họ vào những chức vụ có lợi, việc phân phối phúc lợi các kiểu giữa các đảng viên với nhau phải trở thành việc đương nhiên. Việc đồng nhất chính quyền và đảng với nhà nước (thực ra là với sở hữu) đã làm cho nhà nước cộng sản trở thành, có thể nói, nhà nước tự-tham-nhũng, nhất định kèm theo đặc quyền đặc lợi và những kẻ ăn bám. » (Trích tr.55, bản pdf do dịch giả của cuốn sách cung cấp. Về sau trích dẫn chỉ ghi số trang)
Như vậy, theo Djilas, tham nhũng, cũng như dối trá, thuộc về bản chất của chế độ cộng sản. Nhà nước cộng sản là một nhà nước « tự tham nhũng », nói theo ngôn từ của Djilas. Điều này hoàn toàn đúng với thực tế Việt Nam hiện nay. Chừng nào còn nhà nước cộng sản, chừng đó còn tham nhũng. Và chế độ cộng sản càng tồn tại lâu dài bao nhiêu, tham nhũng càng trầm trọng bấy nhiêu. Đã đến lúc không chỉ bộ phận lãnh đạo, không chỉ giới cầm quyền, không chỉ bộ phận đảng viên, tham nhũng đã lan ra toàn xã hội. Phong bì kẹp vào bó hoa chúc mừng thầy cô ngày 20/11, phong bì kẹp vào luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ. Phong bì kẹp vào sổ khám sức khỏe, phong bì được gửi gắm cho bác sĩ cùng sinh mệnh của bệnh nhân, phong bì nhét vào túi áo của các cô y tá mỗi khi bệnh nhân phải tiêm, hay phải làm bất kỳ xét nghiệm nào... Phong bì rải khắp nơi nơi, người người tham nhũng, nhà nhà tham nhũng.
Theo Djilas thì tham nhũng phát sinh, một phần do thói hám xa hoa của giới lãnh đạo cộng sản, và thói tật này đi liền với cơn khát quyền lực. Ông viết :
« Các lãnh tụ cộng sản còn có xu hướng xa hoa, họ không cưỡng được chuyện này không chỉ vì đấy là điểm yếu của con người nói chung mà còn vì nhu cầu thể hiện sức mạnh và hơn nữa ma lực của quyền sinh quyền sát đối với đồng loại, » (tr.55)
Nếu đặt cái hội trường lộng lẫy xa hoa của Quốc hội bên cạnh hình ảnh trẻ em phải đu dây hay chui vào túi ni lông để qua sông đi học, sẽ thấm thía những gì Djilas nói từ gần một thế kỷ trước.
Còn đây là định nghĩa của Djilas về "người cộng sản chân chính":
« Người cộng sản chân chính phải là hai trong một: cuồng tín và hám quyền vô bờ bến. »(tr.55)
Djilas viết điều này vào những năm 50 của thế kỷ trước. Bây giờ, nếu ông còn sống, và chứng kiến thực tế Trung Quốc, Bắc Triều Tiên hay Việt Nam, có lẽ ông sẽ phải sửa câu đó thành : « người cộng sản chân chính phải là hai trong một : hám tiền và hám quyền vô bờ bến. »
Nếu nhìn vào thực tế Việt Nam hiện nay thì có thể thấy vào thời điểm hiện tại hoặc tương lai gần không thể nào xảy ra chuyện chế độ hiện hành có thể sụp đổ (còn tương lai xa hơn thì không ai dám chắc).
Bởi vì không chỉ có mấy triệu đảng viên ít ỏi cố hết sức bảo vệ nó, mà tất cả các thành phần ăn theo, có đặc quyền đặc lợi nhờ chế độ độc đảng, cũng đều bảo vệ nó, nhất là các thành phần kinh tế (giới kinh doanh, ngân hàng, thương mại... dù là nhà nước hay tư nhân), và các thành phần làm nhiệm vụ « xây dựng đường lối » cho đảng cộng sản (các « nhà khoa học xã hội » ở Viện Hàn lâm KHXH, ở Học viện quốc gia Hồ Chí Minh, cũng như ở các viện và các trường đại học nói chung). Ngoài ra, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi số lượng giáo sư trong các ngành, số lượng tướng tá công an, quân đội tăng đột biến những năm gần đây. Dĩ nhiên, kèm với các cấp bậc, chức vị đó là những đặc quyền đặc lợi khiến cho những người được hưởng sẽ kiên quyết bảo vệ chế độ. Vì thế mà cũng chẳng có gì khó hiểu khi càng nhiều tướng được phong thì phát ngôn của những người đứng đầu Quân đội Việt Nam càng bạc nhược. Và điều đó có nghĩa là chế độ này trường tồn thì dân tộc sẽ tiêu vong.
Mặt khác, phong trào dân chủ quá yếu ớt, phân tán và chia rẽ, quá chậm chạp và kém hiệu quả trong việc truyền bá tinh thần dân chủ trong nhân dân, cũng không làm thay đổi được nhận thức của các đảng viên nói chung, và của bộ phận lãnh đạo cao cấp nói riêng.
Sự thật mà người Việt Nam phải đối diện là, nếu thể chế chính trị này tiếp tục duy trì, nếu chế độ tham nhũng này tiếp tục duy trì, thì Việt Nam sẽ mất hai thứ quan trọng nhất : mất CON NGƯỜI (hiểu theo nghĩa : nhân tính và phẩm giá), và mất độc lập vào tay Trung Quốc.
Và cũng cần phải hiểu rằng, nếu Việt Nam mất độc lập vào tay Trung Quốc, thì bởi vì trước hết Việt Nam đánh mất con người, bởi vì người Việt Nam đánh mất phẩm giá và lòng tự trọng, lòng tự trọng hiểu theo hai nghĩa : tự trọng cá nhân và tự trọng dân tộc.
Đó là sự thật bi thảm mà tôi nhìn thấy, và tôi chẳng hề muốn tỏ ra lạc quan vờ vĩnh, chẳng hề muốn tự lừa dối mình bằng bất kỳ một thứ ảo tưởng nào, dù là ảo tưởng về dân chủ, hay ảo tưởng về sức mạnh của một dân tộc đã từng chiến thắng nhiều đế quốc lớn trong lịch sử.
Phải chăng cần bắt đầu lại từ điểm này : mỗi người Việt Nam cần tìm lại lòng tự trọng của chính mình, từ đó mà chọn cho dân tộc những người lãnh đạo biết thế nào là tự tôn dân tộc ?
Paris, 30/11/2014
Nguyễn Thị Từ Huy
(Blog RFA)

Đằng sau câu chuyện cổ phần hóa

Đằng sau kế hoạch được cho là 'đầy tham vọng' của Chính phủ Việt Nam về thúc đẩy 'cổ phần hóa' doanh nghiệp nhà nước hàm chứa nhiều yếu tố bất hợp lý có thể tác động xấu tới tái cơ cấu khu vực kinh tế quốc doanh, cũng như ảnh hưởng tới nền kinh tế trong nước.
Hôm 29/11/2014, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), đưa ra đánh giá với BBC về tình hình triển khai kế hoạch cố phần hóa này của chính phủ.
Ông nói: "Chính phủ Việt Nam đã có quyết định đẩy nhanh tốc độ của cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

"Và đưa ra một kế hoạch đầy tham vọng tức là sẽ cổ phần hóa trong hai năm (2014 và 2015), 432 doanh nghiệp nhà nước, như vậy bình quân cứ hai ngày lại có một doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.

"Cho đến nay, đến cuối tháng 10, đã có 76 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa và đưa ra chào bán lần đầu tiên.

"Tuy vậy trong số 76 doanh nghiệp nhà nước được đem ra cổ phần hóa này, có rất ít doanh nghiệp thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư chiến lược và một số doanh nghiệp đã không bán được số cổ phiếu như là mong đợi."
'Khó chấp nhận'
Họ mua cổ phiếu của Vietnam Airlines dưới điều kiện hiện nay, thì họ chỉ đưa tiền để cho bộ máy cũ của Hàng không Việt Nam dùng tiền của họ để mà kinh doanh. Và có lẽ điều đó, rất ít nhà đầu tư chiến lược nước ngoài nào có thể chấp nhận được - TS. Lê Đăng Doanh
Về lý do của việc này, Tiến sỹ Doanh nêu quan điểm: "Thứ nhất, số doanh nghiệp nhà nước được đưa ra cho đến nay, thì chỉ trừ có Hàng không Việt Nam, hay Tập đoàn Dệt May, là các doanh nghiệp nhà nước có sức hấp dẫn tương đối lớn hơn, còn những các doanh nghiệp khác thì vẫn là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoặc thuộc loại nhỏ so với quy mô quốc tế và chưa thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế.

"Thứ hai, các doanh nghiệp nhà nước đó được chào bán với một tỷ lệ cổ phần hóa bán ra cho các nhà đầu tư quá thấp, thí dụ như trường hợp của Hàng không Việt Nam, Vietnam Airlines, thì chỉ bán có 12,5% cổ phiếu, và trong đó bán cho công, nhân, viên chức, cho nên tỷ lệ bán cho các nhà đầu tư ở bên ngoài là thấp.

"Như vậy thì không có nhà đầu tư chiến lược nào có quan tâm đến việc mua cổ phần của Hàng không Việt Nam, vì các nhà đầu tư chiến lược ấy họ muốn có một tỷ lệ cổ phần khoảng 15%, để họ ngồi trong Hội đồng Quản trị, họ thay đổi được nhân sự, và họ tác động được đến quản trị.

"Nếu không có, họ mua cổ phiếu của Vietnam Airlines dưới điều kiện hiện nay, thì họ chỉ đưa tiền để cho bộ máy cũ của Hàng không Việt Nam dùng tiền của họ để mà kinh doanh. Và có lẽ điều đó, rất ít nhà đầu tư chiến lược nước ngoài nào có thể chấp nhận được.

"Điều thứ ba, cũng thấy rằng quá trình này rõ ràng chậm hơn nhiều so với tiến độ mà Thủ tướng Chính phủ đã có đề ra, là bởi vì còn có không ít những vấn đề còn tồn tại, thí dụ như các số nợ của các tập đoàn và các tổng công ty đinh cổ phần hóa đó còn nợ, thì sẽ được giải quyết như thế nào?
(BBC)

'VN sẽ sửa luật hình sự vì nhân quyền?'

Tòa án Việt Nam
VN sắp sửa đổi tổng thể hệ thống luật pháp và các quy định có liên quan nhân quyền, theo chuyên gia.
Để phù hợp hơn với Hiến pháp sửa đổi và các công ước quốc tế mà nhà nước đã và mới ký kết trong thời gian gần đây, Việt Nam đang cân nhắc sửa đổi các quy định luật pháp liên quan nhân quyền, trong đó không chỉ cân nhắc các điều như 88, 79 và 258 trong Bộ luật Hình sự, theo một nhà nghiên cứu luật học và nhân quyền ở trong nước.
Bộ luật Hình sự hiện hành của Việt Nam có ít nhất ba điều luật lâu nay bị dư luận cho là có dấu hiệu 'hạn chế, vi phạm' nhân quyền trong nước, trong đó điều 258 phạt tội 'lợi dụng các quyền tự do dân chủ' xâm phạm 'lợi ích của nhà nước', điều 88 phạt tội 'tuyên truyền chống nhà nước XHCN' và điều 79 phạt tội 'hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân'.
Trước hết, trao đổi với BBC Việt ngữ hôm 30/11/2014 từ Hà Nội, Giáo sư Nguyễn Đăng Dung, chuyên gia luật hiến pháp và nhân quyền từ Đại học Quốc gia Hà Nội nói về điều mà ông cho là có 'nhiều điểm tốt' trong Hiến pháp sửa đổi phiên bản 2013.
Ông nói: "Nói chung Hiến pháp 2013 của Việt Nam, dưới góc độ một nhà nghiên cứu và giảng dạy về Hiến pháp, tôi thấy nó có nhiều điểm tốt. Một trong những điểm tốt đó là quy định rõ hơn về quyền con người.
"Trong Hiến pháp, một chương rất lớn, với số lượng các điều rất lớn, ngoài chương này ra, tinh thần của cả Hiến pháp cũng là bảo vệ nhân quyền. Đấy là kiểm soát quyền lực nhà nước, đấy là phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa ba quyền.
Hiện nay Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự đang trên bàn để sửa đổi, đương nhiên theo quan điểm của tôi thì nó phải tính toán lại tất cả các điều khoản, không riêng gì ba điều khoản đó
Giáo sư Nguyễn Đăng Dung
"Lập pháp do Quốc hội, hành pháp do Chính phủ và nhất là quyền tư pháp ngày nay xác định rõ là Tòa án, và Tòa án có nhiệm vụ trước tiên là bảo vệ công lý và bảo vệ quyền con người trước những thứ bảo vệ khác như trước đây."
'Đang cân nhắc trên bàn'
Về khả năng có sửa đổi hay không các điều luật liên quan, ảnh hưởng tới nhân quyền trong đó các điều 88, 79 và 258 của Bộ luật Hình sự, Giáo sư Dung nói:
"Trên tinh thần đó, còn có nhiều quy định khác như suy đoán vô tội, hay tranh tụng quyền có luật sư của bị can, bị cáo.
"Tất cả những điều đó và nhất là Việt Nam kỳ vừa rồi lại phê chuẩn Công ước chống tra tấn, cho nên có thể nói rằng việc triển khai Hiến pháp này cũng như các điều khoản của Công ước vừa được phê chuẩn, nó rất gắn liền với việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự và Bộ luật Hình sự. Và Bộ luật Hình sự và Tố tụng Hình sự hiện nay đang trên đà cân nhắc những điều khoản nói trên...
"Hiện nay Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự đang trên bàn để sửa đổi, đương nhiên theo quan điểm của tôi thì nó phải tính toán lại tất cả các điều khoản, không riêng gì ba điều khoản đó và những điều khoản khác để đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực bắt giam, tha...
Xâm hại tới quyền lợi của quốc gia - đúng là điều này nhiều người có quan niệm như vậy, chứ không riêng gì ai cả. Nhiều người, trong đó có cả tôi, nghĩ rằng đối tượng, cũng như hậu quả nhãn tiền của nó là không rõ, thế thành thử là phải tính toán lại
GS. Nguyễn Đăng Dung
"Những người trong tù bản thân họ vẫn có quyền con người mặc dù họ bị giam giữ, bị tước tự do nhưng mà vẫn còn, thành ra phải tính toán đến. Tôi nghĩ là phải tính toán một cách đại cục chứ không riêng gì ba điều ấy đâu."
Trước câu hỏi liệu các điều 88, 79 và 258 của Bộ luật Hình sự của Việt Nam có mâu thuẫn hay không với các Công ước và pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết như một thành viên, Giáo sư Dung đáp:
"Nói chung so với Công ước Quốc tế, tất cả, không riêng gì ba điều đâu, mà tất cả cũng có những cái mâu thuẫn, có những cái thì phù hợp. Vì vậy đang ở trên bàn để tính toán một cách thận trọng, toàn thể."
Khi được hỏi liệu riêng điều 258 của Bộ luật Hình sự (về Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân), có 'bất hợp lý' như một số ý kiến trong dư luận đặt ra, hay không, nhà nghiên cứu nói:
"Xâm hại tới quyền lợi của quốc gia - đúng là điều này nhiều người có quan niệm như vậy, chứ không riêng gì ai cả. Nhiều người, trong đó có cả tôi, nghĩ rằng đối tượng, cũng như hậu quả nhãn tiền của nó là không rõ, thế thành thử là phải tính toán lại."
'Quốc hội ra quyết định'
Trước mắt, chỉ có duy nhất một cánh cửa, đó là Đảng Cộng sản VN có thể đưa ra một chỉ thị nào đấy, mang tính chất nội bộ với các thẩm phán, các nhân viên ngành tư pháp ở VN, là tạm ngừng áp dụng ba điều luật này (88, 79 và 258) trên thực tế, trong khi chờ Quốc hội sửa đổi
Luật sư Trịnh Hữu Long
Trước câu hỏi liệu ba điều luật nói trên của Bộ luật Hình sự Việt Nam có ảnh hưởng gì tới tình trạng nhân quyền ở Việt Nam hiện nay hay không, Giáo sư Nguyễn Đăng Dung đáp:
"Đương nhiên nó cũng có ảnh hưởng, nhưng tôi nghĩ rằng là tất cả nằm trên bàn để sửa đổi. Việc sửa đổi này không nằm riêng về từng điều một, ba điều đó.
"Nó có tất cả nội dung của Bộ luật Tố tụng Hình sự, thì bây giờ việc tranh tụng bây giờ chúng ta (Việt Nam) phải tính lại, muốn tranh tụng phải có quyền của luật sư, của bị can, bị cáo, quyền của phía buộc tội phải cân bằng nhau, chứ không có nghiêng về bên nào cả.
"Trong trường hợp như thế, anh Thẩm phán làm sao phải đứng giữa các chứng cứ mà các bên đưa ra, cho nên mà nếu tính toán lại Bộ luật Tố tụng Hình sự và (Bộ luật) Hình sự, người ta đang tính toán lại một cách toàn cục."
Có ý kiến cho rằng trong vài năm trở lại đây, chính quyền Việt Nam có vẻ thiên sử dụng điều 258 hơn so với các điều 88 và 79, khi tiến hành bắt giữ các nhà hoạt động nhân quyền và dân chủ hóa ôn hòa ở trong nước.
Khi được hỏi, có cách nào về mặt nguyên tắc, có thể giúp hạn chế, kiểm soát, vô hiệu hóa tác động lên cộng đồng, xã hội, nếu một điều luật hiện hành được cho là 'bất hợp lý, không phù hợp', chuyên gia nói:
"Nó đang có hiệu lực, vẫn chưa có cơ chế nào để hạn chế ngay được, chưa có một cơ chế nào như thế. Trong trường hợp muốn như thế, thì chỉ có quyết định của Quốc hội thôi, không có ai quyết định được."
'Nhưng có hai cách làm?'
Nó đang có hiệu lực, vẫn chưa có cơ chế nào để hạn chế ngay được, chưa có một cơ chế nào như thế. Trong trường hợp muốn như thế, thì chỉ có quyết định của Quốc hội thôi, không có ai quyết định được
GS. Nguyễn Đăng Dung
Hôm Chủ Nhật, Luật sư Trịnh Hữu Long, một nhà hoạt động luật pháp trong lĩnh vực quyền con người, bình luận về ý kiến của Giáo sư Dung trong việc xử lý các điều luật được cho là 'không phù hợp' nhưng vẫn còn hiệu lực.
Dẫn kinh nghiệm ngay trong khu vực Đông Nam Á, từ Thái Lan, luật sư Long nói với BBC:
"Giả sử như ở Philippines chẳng hạn, họ vẫn còn duy trì án tử hình, có một số điều luật trong Bộ luật Hình sự của Philippines là vẫn còn duy trì án tử hình, thế nhưng những Thẩm phán ở Philippines họ duy trì một quan điểm là họ không áp dụng án tử hình nữa, họ sẽ không xét xử bất kỳ một vụ án nào mà tuyên án tử hình nữa.
"Vì thế cho nên Philippines tiếng là vẫn còn những điều luật có thể kết tội người ta vào án tử hình, thế nhưng trên thực tế, những điều luật ấy không còn giá trị nữa. Nhưng để áp dụng những điều ấy vào Việt Nam thì nó yêu cầu các Thẩm phán Việt Nam thứ nhất là phải tư duy rất độc lập, thứ hai là những lợi ích của họ cũng phải rất độc lập.
"Tuy nhiên ở Việt Nam, các Thẩm phán thường phải chịu sự ràng buộc rất lớn vào những hệ thống lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Nhà nước Việt Nam, và tiếng nói của họ cũng chưa bao giờ độc lập cả, cho nên tôi nghĩ những giải pháp rất khó ở Việt Nam.
"Và trong thời gian trước mắt, chỉ có duy nhất một cánh cửa, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam có thể đưa ra một chỉ thị nào đấy, mang tính chất nội bộ với các Thẩm phán, các nhân viên ngành tư pháp ở Việt Nam, là tạm ngừng áp dụng ba điều luật này (88, 79 và 258) trên thực tế, trong khi chờ Quốc hội sửa đổi.
Tôi nghĩ đây là một bước đàn áp tiếp theo của chính quyền Việt Nam đối với giới blogger. Giáo sư Hồng Lê Thọ (trong ảnh) là một người VN sống ở Nhật, về định cư tại VN, sau khi ông về hưu
Tiến sỹ Nguyễn Quang A
"Năm tới, Quốc hội (Việt Nam) sẽ tiến hành thảo luận và sửa đổi Bộ luật Hình sự, thì đấy cũng là một cánh cửa tiếp theo của chúng ta và nó sẽ mất thời gian hơn một chút. Tôi nghĩ rằng hiện tại chỉ có hai khả năng đấy là có thể giúp cho ba điều luật này tạm thời vô hiệu hóa mà thôi," Luật sư Long nói với BBC.
'Bước đàn áp tiếp theo?'
Hôm Chủ nhật, 30/11, an ninh Việt Nam vừa thông báo bắt giữ thêm một blogger trong nước từng là Việt kiều ở Nhật Bản, ông Hồng Lê Thọ, chủ blog 'Người lót gạch' với cáo buộc vi phạm điều 258 của Bộ luật Hình sự.
Bình luận về sự kiện này, Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói với BBC:
"Tôi nghĩ đây là một bước đàn áp tiếp theo của chính quyền Việt Nam đối với giới blogger. Giáo sư Hồng Lê Thọ là một người Việt Nam sống ở Nhật, về định cư tại Việt Nam, sau khi ông về hưu.
"Ông ấy làm một trang điểm tin cũng gần tương tự như trang "Anh Ba Sàm", chủ yếu lấy tin từ các báo này, rồi các trang kia, và thỉnh thoảng cũng viết một vài lời bình luận. Và việc viện dẫn vào điều 258, để vu cho ông ấy những tội như thế, thì tôi nghĩ đây là một sự vi phạm quyền con người trắng trợn tiếp theo của chính quyền Việt Nam."
Còn blogger Phạm Viết Đào, người vừa mới ra tù cách đây không lâu, sau khi bị bắt giam và bỏ tù cũng vì vi phạm điều 258, thì bình luận về diễn biến này với BBC:
Cái điều luật ấy nó rất lỏng, rất chung chung, nhưng cũng rất là chặt, có nghĩa là người ta có thể muốn bắt bất cứ người nào, người ta cũng có thể quy cho điều ấy
Nhà văn, blogger Phạm Viết Đào
"Về blog 'Người lót gạch' thì tôi ít khi vào trang ấy, tôi cũng không biết nội dung của trang ấy thế nào, thành ra không biết họ căn cứ đâu để bắt ông Hồng Lê Thọ, nhưng tôi biết ông Hồng Lê Thọ qua những trang mạng khác, những thông tin khác về ông ấy có nhiều quan hệ ở bên Nhật Bản với Việt Kiều bên ấy.
"Điều 258 người ta quy định rất chung chung, mà đối với việc xâm phạm lợi ích nhà nước, cá nhân, bây giờ họ có thể áp dụng rất rộng và có thể người nào, người ta cũng có thể quy vào được.
"Coi như xúc phạm danh dự của ai đấy, không phải như luật pháp phương Tây, xâm phạm lợi ích thì quy ra được bằng vật chất, thế nhưng điều này trong luật pháp Việt Nam nó rất là chung chung.
"Thành ra, đôi khi người ta dùng cái đấy để người ta quy chụp cho những người có những quan điểm chính trị, có những chính kiến mà họ cho rằng không phù hợp thì họ sẽ quy điều ấy. Tôi nghĩ ông Hồng Lê Thọ cũng chắc giống tôi như thế...
"Một vài nguồn tin người ta nói ông này cũng ít viết mà ông chỉ đưa (đăng) lại, thì có thể do đưa một bài nào đấy mà trái ý với chính quyền, mà về phía chính quyền và các cơ quan chính quyền người ta cho là xâm phạm lợi ích, thì người ta bắt.
"Cái điều luật ấy nó rất lỏng, rất chung chung, nhưng cũng rất là chặt, có nghĩa là người ta có thể muốn bắt bất cứ người nào, người ta cũng có thể quy cho điều ấy," nhà văn Phạm Viết Đào nói với BBC.
(BBC)

GS Hồng Lê Thọ bị bắt với cáo buộc "tuyên truyền chống chế độ"

Cổng thông tin điện tử Bộ công an đưa tin ngày Chủ nhật, 30/11/2014
Cổng thông tin điện tử Bộ công an đưa tin ngày Chủ nhật, 30/11/2014
Giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người Lót Gạch, một trí thức kiều bào về nước, vừa bị bắt giam vào khuya ngày 29 tháng 11 theo điều 258 Bộ Luật hình sự Việt Nam. Đây là trường hợp mới nhất tại Việt Nam bị bắt theo điều luật mà lâu nay bị lên án là mơ hồ nhằm trấn áp các tiếng nói phản biện trong nước.
Người ‘thoát Trung’ mạnh mẽ
Tin tức về việc ‘bắt quả tang’, rồi ‘khám xét nhà khẩn cấp’ và ‘bắt giam’ giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người Lót Gạch được blog nguyentandung loan đi sớm nhất.
Cổng thông tin của Bộ Công An có thông tin tương tự như trên trang blog nguyentandung. Theo đó cơ quan an ninh điều tra Thành phố Hồ Chí Minh theo tin tố cáo của quần chúng đã tiến hành biện pháp nghiệp vụ của họ đối với ông Hồng Lê Thọ, sinh năm 1949, hiện ngụ tại số 32 Cửu Long, phường 15, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ quan điều tra cho rằng ông Hồng Lê Thọ cho đăng trên mạng các bài viết với nội dung mà cơ quan này cho là ‘có nội dung xấu, thông tin sai lệch, làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân với cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân theo điều 258 Bộ luật hình sự’.
Theo tôi tựu trung lại anh là người có quan điểm rất ôn hòa về chính trị. Không bao giờ có chuyện nói anh vi phạm điều 258, chuyện lợi dụng cái này, lợi dụng cái kia hay vấn đề dân chủ để lật đổ chế độ hay tuyên truyền chống phá chế độ. Thậm chí khi nói chuyện với tôi anh phê phán thẳng một số quan điểm cực đoan - Nhà báo Phạm Chí Dũng
Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, một người biết rõ về giáo sư Hồng Lê Thọ, cho biết những nhận xét của bản thân đối với người vừa bị bắt như sau:
Tôi đã quen biết anh Thọ nhiều năm nay và tôi rất có tình cảm với anh Thọ. Tôi cho đó là một người trí thức có tinh thần dân tộc cao, một trong những người đưa ra đường lối ‘thoát Trung’ mạnh mẽ nhất, tách bạch và có chiều sâu nhất. Anh Thọ là một Việt Kiều Nhật, anh rành cả tiếng Pháp và tiếng Anh, trang Người Lót Gạch của anh có thể nói gần như là trang duy nhất ở Việt Nam điểm tin bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, cung cấp lượng thông tin bổ ích cho độc giả. Anh cũng là người có kiến thức sâu trong khá nhiều lĩnh vực và có quan hệ với nhóm Việt Studies ở Hoa Kỳ và một số nước Phương Tây.

Theo tôi tựu trung lại anh là người có quan điểm rất ôn hòa về chính trị. Không bao giờ có chuyện nói anh vi phạm điều 258, chuyện lợi dụng cái này, lợi dụng cái kia hay vấn đề dân chủ để lật đổ chế độ hay tuyên truyền chống phá chế độ. Thậm chí khi nói chuyện với tôi anh phê phán thẳng một số quan điểm cực đoan; nhưng tôi không biết Nhà nước này bắt anh để làm gì?Nếu không vì một lý do gì đặc biệt và ẩn giấu, người ta phải công khai tất cả mọi chuyện, minh bạch hóa, không thể bắt giữ công dân một cách tùy tiện, mà đặc biệt vẫn sử dụng điều luật 258 mà quốc tế lên án.
Nhà báo Phạm Chí Dũng cũng có ý kiến về việc bắt giữ giáo sư Hồng Lê Thọ mà được nói là do những bài viết đăng trên Internet có nội dung xấu, thông tin sai lệch như cơ quan an ninh điều tra nêu ra:
Uy tín xã hội và năng lực cá nhân của anh Hồng Lê Thọ là vấn đề mà tôi cho rằng khi muốn bắt giữ anh, Nhà nước phải cân nhắc, phải thận trọng nếu không sẽ gặp phản ứng rắc rối và lớn chuyện từ phía Hoa Kỳ và Phương Tây - Nhà báo Phạm Chí Dũng
Theo tôi khó có thể đánh giá qua những bài viết, những bài đăng lại trên trang Người Lót Gạch để qui ra tội chống phá chính quyền. Thực sự tôi không đọc khá thường xuyên trang Người Lót Gạch vì bận quá nhiều việc; nhưng chúng tôi gặp nhau thường xuyên nói chuyện. Trước khi anh Thọ bị bắt khoảng hai tuần, chúng tôi có gặp nhau uống cà phê, và tôi thấy anh Thọ vẫn ổn, ôn hòa và anh nói về những bài viết, bài đăng lại trên trang Người Lót Gạch thì không có vấn đề gì cả. Đó là theo anh ta nhận định, và tôi cũng nghĩ rằng nếu Nhà nước muốn bắt những người bị coi là bất đồng chính kiến vào thời điểm này thì Nhà nước Việt Nam phải rất cân nhắc về chuyện làm sao họ có đủ lý do, đủ cơ sở, không thể đưa ra những lý do tùy tiện như trước đây, đặc biệt đối với những người như anh Hồng Lê Thọ. Tôi biết trong nhóm trí thức Việt Kiều, nhất là nhóm luôn có mong ngóng, mong đợi đóng góp những ý kiến phản biện để xây dựng kinh tế, xã hội, kể cả góp ý về một số vấn đề chính trị đối với Nhà nước Việt Nam, anh Thọ là người có uy tín và anh luôn đưa ra những gợi ý, những đóng góp mà tôi cho có giá trị. Anh cũng là người mà ở trong nước không phải ít người biết đâu, khá nhiều người biết anh, đặc biệt trong giới dân chủ- nhân quyền. Thành thử uy tín xã hội và năng lực cá nhân của anh Hồng Lê Thọ là vấn đề mà tôi cho rằng khi muốn bắt giữ anh, Nhà nước phải cân nhắc, phải thận trọng nếu không sẽ gặp phản ứng rắc rối và lớn chuyện từ phía Hoa Kỳ và Phương Tây.
Bắt theo tố giác
Việc tiến hành khám xét và bắt giữ giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người Lót Gạch, còn được nói là theo tin tố giác của quần chúng. Nhà báo Phạm Chí Dũng có ý kiến về điều này:
Tuy nhiên so với những nhân vật bất đồng chính kiến khác trước đây, lần này cơ quan an ninh điều tra lại dựa vào tố giác của quần chúng, đó là một hiện tượng khá bất thường, một cụm từ khá lạ được ứng vào trường hợp này - Nhà báo Phạm Chí Dũng
Về mặt tố giác của quần chúng, đó là một cụm từ chung trong pháp luật và điều tra xét hỏi bên ngành công an, điều đó không có gì sai vì tố giác của quần chúng là một cơ sở để có thể dẫn đến bắt giữ, bắt giam một nhân vật, một đối tượng hình sự nào đó. Tuy nhiên so với những nhân vật bất đồng chính kiến khác trước đây, lần này cơ quan an ninh điều tra lại dựa vào tố giác của quần chúng, đó là một hiện tượng khá bất thường, một cụm từ khá lạ được ứng vào trường hợp này. Tôi biết trong thực tế điều tra, xét hỏi ở Việt Nam, thường người ta áp dụng cơ sở tố giác của quần chúng đối với tội phạm là những trường hợp đối tượng hình sự; chứ không phải những đối tượng hoạt động chính trị, những nhân vật bất đồng chính kiến, hoặc dân chủ, đấu tranh cho nhân quyền. Trường hợp này áp dụng với anh Hồng Lê Thọ, tôi cho là khá lạ. Điều đó cho tôi một chút hy vọng là anh Thọ có thể sẽ không bị bắt lâu. Có thể qua một quá trình điều tra nào đó ngắn hạn, cơ quan Nhà nước: các cơ quan công an, chính quyền cũng sẽ phải thả anh ra.
Vào chiều ngày 27 tháng 11 vừa qua, một nhóm sinh viên tại Hà Nội cũng bị lực lượng chức năng ập vào nhà khám xét, bắt đưa về đồn Công an cũng như tịch thu một số tài liệu về dân chủ, nhân quyền của những sinh viên này. Việc làm đó cũng được nói là do có tố cáo của người dân những sinh viên này tàng trữ chất cháy, chất nổ. Facebooker Lý Quang Sơn phản bác về cơ sở có tố cáo để đột nhập vào phòng trọ của các bạn như sau:
Họ viện cớ dùng đơn tố cáo để xâm nhập vào nhà chúng tôi. Tôi nói tôi hoàn toàn có thể dùng đơn tố cáo bất kỳ một quan tham nhũng nào, và ngay ngày mai tôi yêu cầu họ phải xông vào nhà quan tham nhũng đó để điều tra. Tôi thách đố họ làm điều đó, nhưng họ không thể làm được, họ không nói gì.
Điều 258 vô lý
Việc khám nhà và bắt giữ giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người Lót gạch, là trường hợp mới nhất bị bắt giữ theo điều 258 Bộ Luật Hình sự Việt Nam. Điều luật này lâu nay bị nhiều người quan tâm cho rằng mơ hồ và Nhà nước lập ra để dễ bề trấn áp những tiếng nói đối lập, phản biện.
Hiện nay có hai trường hợp cũng đang bị truy tố và giam giữ với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân’ theo điều 258 là blogger Anh Basam Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn thị Minh Thúy.
Gia Minh
(RFA)

Những nước bình thường, Phương Đông 25 năm hậu Cộng sản

Hai mươi lăm năm sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, một cảm thức nuối tiếc về cơ hội đã bỏ lỡ đang trùm lên các nước một thời nằm ở phía Đông đường ranh này. Trở lại thời điểm đó, hi vọng của dân chúng tại đây đã dâng cao trong không khí hồ hởi đón mừng sự sụp đổ đột ngột của chủ nghĩa cộng sản. Từ Bratislava đến Ulaanbaatar, cơ hồ thể chế dân chủ và sự thịnh vượng kinh tế đã đến đợi ở góc đường.
Ngày nay, tâm trạng người dân tại những nước này trở nên u ám hơn. Với một vài trường hợp ngoại lệ, như Estonia và Ba Lan, những nước hậu cộng sản còn lại bị coi là những trường hợp thất bại – kinh tế bị oằn xuống dưới sức nặng của tầng lớp hưởng hưu bổng đang sống chật vật và giới đầu sỏ chính trị đang sống xa hoa, còn chính trị thì bị hoen ố bởi các trò gian lận ở thùng phiếu và sự xuất hiện những lãnh đạo độc tài. Từ Yugoslavia cũ đến Chechnya và bây giờ đến miền Đông Ukraine, các cuộc chiến đã làm gián đoạn sự liên tục của thời gian hơn 40 năm hòa bình lạnh [cold peace] trên lục địa châu Âu, để lại nhiều vùng lõm âm ỉ bạo động. Đối với nhiều quan sát viên thời sự, chế độ kìm kẹp độc tài và tham vọng địa chính trị hiếu chiến của Tổng thống Nga Vladimir Putin tiêu biểu cho một tình trạng suy thoái dân chủ tổng quát hơn lan ra từ phía Đông. “Điều tồi tệ nhất của chủ nghĩa cộng sản là những gì diễn ra sau nó,” Tổng Biên tập của một nhật báo Ba Lan và trước đây là một nhà bất đồng chính kiến chống cộng, ông Adam Michnik, mỉa mai.
Baku, thủ đô Azerbaijan ngày nay
Ngày kỷ niệm là một dịp tốt để chiêm nghiệm lịch sử và chẩn đoán tương lại. Nhiều thay đổi đã diễn ra từ khi các nước hậu cộng sản – gồm 15 quốc gia kế thừa Liên Xô, 14 nước cộng sản cũ của Đông Âu , và cựu chư hầu Xô-viết Mông Cổ – đã thoát khỏi các chế độ Mác-xít tàn bạo cách đây một thế hệ. Không phải mọi thay đổi đều phải trở thành một cái gì tốt đẹp hơn. Nhưng nếu coi những cải tổ hậu cộng sản là thất bại, thì đó lại là một sai lầm, và sai lầm này có nhiều ý nghĩa vượt ra ngoài khu vực. Một số nhà nghiên cứu, choáng ngợp trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và bị sốc do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, gần đây đã coi chủ nghĩa tư bản nhà nước độc tài là một phương án sinh động thay thế cho sự rối loạn chức năng của thể chế dân chủ tự do. Quan niệm sai lầm cho rằng nỗ lực cải tổ thị trường đã thất bại tại Đông Âu đã tăng cường cái ảo giác này.
Sự thật là lối tường thuật u ám đang thịnh hành về thế giới hậu cộng sản phần lớn là sai lầm. Gạt qua một bên các hình ảnh thời sự hiện nay, chúng ta sẽ thấy cuộc sống đã được cải thiện ngoạn mục khắp khối Đông cũ. Từ thời kỳ quá độ đến nay, các nước hậu cộng sản đã phát triển kinh tế nhanh chóng; ngày nay, người dân trở nên giàu có hơn, có tuổi thọ cao hơn, và sống hạnh phúc hơn. Gần như trên mọi phương diện, những quốc gia này hiện nay hoàn toàn giống như bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới có cùng một mức độ phát triển kinh tế. Chúng đã trở thành những nước bình thường – và, trong nhiều cung cách, tốt đẹp hơn cả bình thường.
Mặc dù tính trung bình, chúng giống như các quốc gia đồng đẳng kinh tế, nhưng trên thực tế các quốc gia chuyển đổi thể chế này đã trở nên đa dạng hơn nhiều. Sau khi thoát ra khỏi mô hình do Moscow áp đặt, chúng chịu sức thu hút của những quốc gia láng giềng phi cộng sản gần nhất: các nước ở Trung Âu nghiêng về châu Âu hơn; các nước ở Trung Á nghiêng về châu Á hơn. Trong những năm sắp tới, con đường phát triển của chúng có khả năng cùng phản ánh sự ganh đua giữa hai lực tác động chính: tính năng động toàn cầu của hiện đại hóa và sức níu kéo của địa lý [khu vực].
CÁC QUỐC GIA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Để hiểu rõ các nước hậu cộng sản nói trên đã thay đổi ra sao ta hãy nhớ lại chúng đã xuất phát như thế nào. Về chính trị, chúng đều là những quốc gia độc tài được cai trị bởi một đảng cầm quyền. Mỗi nước đều có cán bộ tuyên giáo để dạy bảo người dân phải nghĩ gì, có mật vụ để phát hiện bất đồng chính kiến, và có trại tù để giam giữ những người chỉ trích chế độ. Tất cả đều bày ra các cuộc tuyển cử khôi hài trong đó đảng chiếm hơn 95 phần trăm phiếu bầu. Trừ Yugoslavia và Albania sau năm1960, các nước khác đều nhận lệnh từ Moscow, một trung tâm quyền lực đã đưa xe tăng vào Hungary năm 1956 và Tiệp Khắc năm 1968 để đàn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng.
Tất cả các nước trong khối cộng sản vào thời đó có nền kinh tế do trung ương kiểm soát. Hầu hết hoặc tất cả tài sản đều thuộc về nhà nước, và giá cả được các nhà làm kế hoạch kinh tế đặt ra, chứ không do thị trường định đoạt. Công nghiệp nặng chiếm ưu thế trong khi khu vực dịch vụ thì èo uột. Tại Liên Xô, chi phí quốc phòng đã ngốn tới 25 phần trăm GDP vào cuối những năm 1980, so với dưới 6 phần trăm tại Mỹ. Vào năm 1986, các nhà máy của Liên Xô đã sản xuất một kho vũ khí gồm 45.000 đầu đạn hạt nhân.
Làm thoả mãn người tiêu thụ không phải là một ưu tiên. Để mua được một căn hộ vào những năm 1980, người nạp đơn ở Bulgaria phải đợi đến 20 năm, và tại Ba Lan phải đợi đến 30 năm; một phần tư số người trong danh sách chờ tại Liên Xô là người đã nghỉ hưu. Người mua xe hơi tại Đông Đức phải đặt hàng trước 15 năm. Tại Romania, nhà độc tài Nicolae Ceausescu buộc mọi người phải theo một chế độ ăn uống thiếu calorie vào đầu những năm 1980 để dành tiền trả nợ nước ngoài. Ông qui định mỗi phòng chỉ được thắp sáng bằng một bóng đèn 40 watt, sưởi ấm các công sở chỉ đến 14 độ C là tối đa, và thời gian phát sóng truyền hình mỗi ngày là hai giờ với các chương trình tẻ nhạt.
Các nước cộng sản có thể rêu rao một số thành tích. Với chỉ 8 phần trăm dân số thế giới, Liên Xô và các nước Đông Âu đã giành được 48 phần trăm huy chương tại Thế vận hội Seoul năm 1988 và có đến 53 trong số 100 tay cờ tướng hàng đầu năm đó. Tỉ lệ người có học và biết chữ là cao.
Tuy nhiên, vào những năm suy tàn của chủ nghĩa cộng sản, ít ai chịu đứng ra bênh vực nó. Theo Vaclav Havel, nhà bất đồng chính kiến về sau trở thành Tổng thống Cộng hòa Séc, hệ thống đó là một “cỗ máy đồ sộ quái đản, inh ỏi và tanh hôi.” Nhiều năm sau khi rời bỏ quyền hành, Mikhail Gorbachev, chủ tịch cuối cùng của Liên Xô đã mô tả đặc tính của nền kinh tế mà có thời ông giám sát là “ngốn ngấu” và “phung phí tài nguyên.”
Cuối cùng, toàn bộ hệ thống Xô-viết thình lình sụp đổ. Các lãnh đạo mới được dân bầu ra khắp khối cộng sản cũ phải đối diện với nền kinh tế nước mình trong cơn khủng hoảng. Năm 1989, lạm phát tăng vọt 640 phần trăm tại Ba Lan và 2.700 phần trăm tại Nam Tư. Khoảng thời gian trước 1991, thời điểm Liên Xô tan rã, sản lượng của nước này giảm 15 phần trăm một năm.
Các chính phủ hậu cộng sản đồng loạt thực thi các chương trình cải tổ – được thiết kế để giảm bớt việc kiểm soát giá cả, thúc đẩy mậu dịch, quân bình ngân sách, tư hữu hóa các xí nghiệp nhà nước, và thiết lập các chương trình phúc lợi xã hội – mặc dù một số nước có thể theo đuổi các chương trình này nhanh hơn và mạnh hơn các nước khác. Những cải tổ này đã thay hình đổi dạng nền kinh tế của họ. Nói chung, nhờ từ bỏ đường lối hoạch định kinh tế trung ương, các nước hậu cộng sản có điều kiện phát triển kinh tế thị trường hơn phần còn lại của thế giới. Khoảng năm 2011, các nước này đạt một chỉ số tự do kinh tế trung bình là 7,0, một chỉ số do Viện Fraser, một nhóm nghiên cứu tại Canada đúc kết, so với chỉ số trung bình toàn cầu là 6,8. Nước được cải tổ nhiều nhất trong khối,Estonia, có chỉ số tự do kinh tế nằm giữa Đan Mạch và Hoa Kỳ.
Hầu như khắp mọi nơi, các con khủng long công nghiệp nhà nước phải nhường bước cho các công ty tư nhân là những công ty bắt đầu sản xuất phần lớn tổng sản phẩm nội địa (GDP). Sản lượng trung bình của khu vực tư tại các nước hậu cộng sản hiện nay chiếm khoảng 70 phần trăm. Công nghiệp nặng được giảm thiểu, và trung bình, khu vực dịch vụ tăng từ 36 phần trăm đến 58 phần trăm sản lượng quốc gia trong thời gian từ 1990 đến 2012. Không có một khu vực nào trên thế giới mà mậu dịch quốc tế phát triển nhanh như thế, với kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu cùng tăng vọt từ 75 phần trăm đến 114 phần trăm GDP. Sau nhiều thập niên chủ yếu trao đổi mậu dịch với nhau trong cùng một khối, các quốc gia hậu cộng sản đã nhanh chóng tái định hướng kinh tế để nhắm tới các thị trường nước ngoài tại châu Âu và những khu vực khác. Tính đến năm 2012, giá trị hàng xuất khẩu từ các nước Đông Âu cũ sang EU tăng trung bình 69 phần trăm và từ các nước cộng hòa Xô-viết cũ 47 phần trăm.
Tóm lại, những nước này đã chuyển đổi hệ thống kinh tế do nhà nước quản lý, được quân sự hóa và công nghiệp hóa cao độ thành một nền kinh tế thị trường hướng về dịch vụ, đặt cơ sở trên sở hữu tư nhân và hội nhập vào mạng lưới thương mại toàn cầu. Không còn bị bóp méo theo đường lối Mác-xít, các định chế kinh tế, chính sách mậu dịch, và các môi trường điều tiết tại những nước này ngày nay giống hệt các nước khác có cùng một mức lợi tức quốc gia.
Bất chấp những thay đổi này, các quan sát viên thường qui trách nhiệm cho các cải tổ thời hậu cộng sản về thành tích kinh tế tồi tệ tại các quốc gia đang trải qua thời kỳ quá độ. Hai cáo buộc thông thường cho rằng trên cơ bản các cải tổ này đã được quan niệm một cách sai lầm và rằng chúng đã được thi hành một cách quá triệt để [too radical]. Việc chỉ trích này nêu lên hai câu hỏi: một là, liệu thành tích kinh tế của các quốc gia này có thực sự tồi tệ hay không, và hai là, liệu các chiến lược triệt để hơn có mang lại kết quả tồi tệ hơn so với các đường lối cải tổ tuần tự hơn hay không. Câu trả lời vắn tắt cho cả hai câu hỏi là không.
HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐI LÊN
Một khởi điểm hợp lý trong việc đánh giá thành tích kinh tế của một nước là lợi tức quốc gia của nó, nhưng bất cứ một sự so sánh nào dùng số liệu của thời Xô-viết cũng cần phải được xét đến bằng một thái độ hoài nghi. Vì nhiều lý do khác nhau, phần lớn sản lượng mà các kế toán viên của thời cộng sản ghi lại trong sổ sách thường không có giá trị như con số mà họ rêu rao. Các nhà máy báo cáo láo sản lượng của mình để lãnh tiền thưởng, do đó thổi phồng các số liệu GDP lên đến 5 phần trăm. Nhiều hàng hóa do các nhà máy này sản xuất có phẩm chất tồi tệ đến nỗi người tiêu thụ không chịu mua. Chính phủ phát động nhiều dự án đồ sộ nhưng không bao giờ được hoàn thành (mà vẫn được tính vào chi phí đầu tư, làm gia tăng các giá trị GDP) và duy trì các chi phí quốc phòng to lớn với trị giá rất đáng hoài nghi. Rốt cuộc, chỉ một phần rất nhỏ trong lợi tức chính thức của quốc gia lọt vào túi của người dân mà thôi. Vào năm 1990, chẳng hạn, lượng tiền dùng để tiêu thụ trong các hộ gia đình tại hầu hết những nước phi cộng sản [noncommunist countries] chiếm đến 60 phần trăm GDP. Nhưng tại Nga, con số này chiếm chưa được một phần ba GDP, và tại Azerbaijan, con số này rơi xuống dưới một phần tư.
Phần lớn sự suy thoái kinh tế được ghi nhận trong những năm đầu của thời kỳ quá độ hậu cộng sản – theo một vài ước tính, có thể giảm đến một nửa – đã phản ánh việc cắt bỏ sản lượng hư cấu hay các đầu tư vô bổ của thời cộng sản. Nhưng thậm chí nếu những con số chính thức này được thừa nhận theo giá trị bề mặt của chúng, bức tranh mà chúng cho thấy vẫn sáng sủa hơn người ta thường lầm tưởng. Bất chấp nền kinh tế bị suy giảm lúc đầu, trong thời gian từ năm 1990 đến năm 2011, một nước hậu cộng sản có mức tăng trưởng trung bình (Uzbekistan) cũng tăng trưởng nhanh hơn một chút so với một nước có mức tăng trưởng trung bình ở một nơi khác trên thế giới (Norway). Trong khi GDP đầu người của Norway tăng lên 45 phần trăm trong thời gian nói trên, Uzbekistan tăng được 47 phần trăm. Bosnia, nơi lợi tức quốc gia tăng hơn 450 phần trăm, đã đạt tỉ lệ tăng trưởng ở vị trí thứ ba trên thế giới trong giai đoạn vừa nói. Albania đứng ở vị thứ 16, tăng trưởng 134 phần trăm, và Ba Lan vị thứ 20, tăng trưởng 119 phần trăm. Ba nước hậu cộng sản này còn qua mặt cả những cỗ máy có truyền thống tăng trưởng như Hồng Kông và Singapore.
Sự gia tăng về mức tiêu thụ cũng ngoạn mục không kém. Từ năm 1990 đến năm 2011, mức tiêu thụ trong các hộ gia đình tính theo đầu người tại các nước hậu cộng sản đã tăng trung bình 88 phần trăm, so với mức tăng trung bình 56 phần trăm tại các nơi khác trên thế giới. Tại Ba Lan, mức tiêu thụ hộ gia đình đã tăng 146 phần trăm, ngang với tỉ lệ của Hàn Quốc. Tại Nga, mức tiêu thụ đã tăng 100 phần trăm.
Người dân bình thường đã trông thấy mức sống của mình được cải thiện đáng kể. Số người sở hữu xe hơi, một thước đo đáng tin cậy về lợi tức có thể đem ra tiêu xài, đã gia tăng sau khi chế độ cộng sản sụp đổ mặc dù GDP có sa sút trong những năm đầu của thời kỳ quá độ. Trong thời gian từ 1993 đến 2011, con số trung bình của xe hơi chở người [passenger cars] đã tăng từ một chiếc cho 10 đầu người đến một chiếc cho 4 đầu người. Hiện nay số xe hơi tính theo đầu người tại Lithunia, Ba Lan, và Lithuania còn cao hơn cả Anh.
Trong công nghệ thông tin, Đông Âu cũng vươn lên phía trước, đi từ lạc hậu đến tiến bộ vượt bậc. Vào năm 2013, tỉ lệ số điện thoại di động được sử dụng cho mỗi đầu người là 1,24 [cứ 100 người thì có đến 124 chiếc điện thoại], một con số vượt cả phương Tây. Thế giới hậu cộng sản ngày nay có một tỉ lệ cư dân mạng là 54 phần trăm dân số trong một nước trung bình – cao hơn bất cứ khu vực nào trên thế giới ngoại trừ Bắc Mỹ và Tây Âu.
Công dân của các quốc gia hậu cộng sản cũng đi du lịch nhiều hơn bao giờ; họ thực hiện 170 triệu chuyến du lịch nước ngoài năm 2012. Và ở trong nước, họ sống trong những hộ chung cư rộng rãi hơn: từ năm 1991, không gian sống tính theo đầu người đã tăng lên 99 phần trăm tại Cộng hòa Séc, 85 phần trăm tại Armenia, và 39 phần trăm tại Nga. Nhờ các chương trình tư hữu hóa nhà ở cho đại chúng, tỉ lệ sở hữu nhà ở tại một vài nơi đã vượt đến mức cao nhất thế giới. Dân chúng cũng ăn ngon hơn trước. Tại bảy trong số chín cộng hòa Xô-viết cũ có công bố các số liệu thống kê liên quan, việc tiêu thụ trái cây và rau đã tăng vọt. Vào năm 2011, chẳng hạn, dân Ukraine ăn 58 phần trăm nhiều rau hơn và 47 phần trăm nhiều trái cây hơn so với 20 năm về trước. Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan, Slovakia, và Slovenia trải qua một hiện tượng mà các nhà nghiên cứu y khoa đã mô tả vào năm 2008 trong Tạp chí Dịch tễ học châu Âu [the European Journal of Epidemiology] “gần như chắc chắn là một đợt giảm thiểu bệnh tim mạch nhanh nhất chưa từng thấy” sau khi người tiêu thụ bắt đầu thay thế dầu thực vật cho các loại mỡ động vật.
Về sự thăng tiến trong xã hội, các số liệu thống kê phủ nhận thành kiến cho rằng xã hội hậu cộng sản đang bị phân hóa giữa giới đại gia đầu sỏ và tầng lớp ăn mày. Tỷ số sinh viên ghi danh đại học, vốn đã cao, sau năm 1989 thậm chí còn gia tăng hơn nữa, ở mức trung bình 33 phần trăm trước năm 2012. Cũng trước năm 2012, tại những nước hậu cộng sản, tỉ lệ trung bình học sinh vừa xong trung học quyết định tiếp tục học thêm là cao hơn tỉ lệ tương ứng tại Thụy Sĩ. Mặc dầu tỉ lệ nghèo khổ và bất bình đẳng lợi tức thường tăng lên vào lúc đầu của thời kỳ quá độ, nhưng những tỉ lệ này tại các quốc gia hậu cộng sản hiện nay là thấp hơn các nền kinh tế khác có cùng mức lợi tức tương đương.
Các chính phủ cũng đang có thêm nhiều nỗ lực để đảm bảo cho người dân có thể hít thở không khí trong lành hơn. Chế độ cộng sản đã để lại một rừng ống khói nhà máy, nhưng từ 1990, cả 11 nước hậu cộng sản thành viên của EU đã cắt giảm hơn một nửa các lượng khí thải carbon monoxide, ốc-xít ni-tơ, ốc-xít lưu huỳnh. Thậm chí trong khi kinh tế đang tăng trưởng, 12 hai nước cộng hòa Xô-viết cũ đã cắt giảm các khí thải ô nhiễm thoát ra từ các nguồn cố định vào không khí, ở tỉ lệ trung bình 66 phần trăm trong thời gian từ 1991 đến 2012.
Và mặc dù thường có những bài báo nêu lên tỉ suất tử vong tăng vọt [soaring mortality] do căng thẳng của thời kỳ quá độ, các xu thế phát triển liên quan đến dân số của khu vực này là không đen tối. Tính trung bình, tuổi thọ tại các quốc gia hậu cộng sản đã tăng từ 69 tuổi vào năm 1990 đến 73 tuổi vào năm 2012. Thậm chí tại Nga, từ lâu đã bị mô tả là một vùng thảm họa dân số [demographic disaster zone], tuổi thọ trung bình cũng đứng ở mức ngoài 70 một chút – nghĩa là cao hơn bao giờ hết trong lịch sử Nga. Tỉ suất tử vong ở trẻ sơ sinh, vốn đã thấp, lại giảm nhanh hơn tại các các nước hậu cộng sản tính theo tỉ lệ phần trăm so với bất cứ khu vực nào trên thế giới trong thời gian từ 1990 đến 2010. Lượng rượu cồn tiêu thụ [của mỗi người] tính trung bình cũng nhích xuống từ 2,1 gallon [hay 7,95 lít] cồn tinh chất vào năm 1990 xuống 2,0 gallon [hay 7,57 lít] vào năm 2010. Có vài ngoại lệ: lượng rượu tiêu thụ đã tăng lên tại Nga và các quốc gia Baltic. Nhưng thậm chí lượng rưọu trung bình cho mỗi đầu người tại Nga vào năm 2010 là 2,9 gallon [hay gần 11 lit] vẫn còn thấp hơn ở Áo, Pháp, Đức, hay Ái Nhĩ Lan.
Mặc dù những tiến bộ như về mức sống, chẳng hạn, là quan trọng; nhưng chuyển đổi cơ bản nhất đã diễn ra tại các nước trong khối Đông cũ là chính trị. Người dân của hầu hết các quốc gia chuyển đổi chế độ hiện sống dưới những chính phủ tự do và cởi mở hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử của họ. Thậm chí khi đối chiếu với bối cảnh trong đó thể chế dân chủ đã trỗi dậy trên toàn cầu vào những thập niên gần đây, mức độ chuyển đổi chính trị trong khối Đông cũ vẫn là rất ngoạn mục.
Một vài số liệu có thể chứng minh điều này. Sử dụng thước đo phổ biến nhất về các chế độ chính trị, gọi là Chỉ số Chính thể [Polity index], do Trung tâm Nghiên cứu Hoà bình của các Thể chế [the Center for Systemic Peace], chúng tôi đặt các nước trên một thang điểm từ số không (thuần túy độc tài) đến 100 (thể chế dân chủ vững mạnh nhất). Vào năm 1988, các quốc gia khối Đông được xếp từ vị thứ 5 (Albania) đến 40 (Hungary), tính trung bình các nước trong khối này có điểm số 20, gần với điểm số của Ai Cập và Iran. Dựa vào trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, các nước cộng sản nổi bật lên như là những chế độ độc tài khác thường trên thế giới. Sau các cuộc cách mạng 1989-91, Chỉ số Chính thể trung bình của chúng đã tăng vọt, vươn tới điểm số 76 vào năm 2013. Ngày nay, một nước hậu cộng sản trung bình được hưởng tự do của một nước bình thường như người ta kỳ vọng, dựa vào mức lợi tức quốc gia của nó. Có đến 6 nước hậu cộng sản có Chỉ số Chính thể cao nhất, ngang hàng với Đức và Mỹ.
VƯƠN CAO HƠN NỮA
Các nước hậu cộng sản ngày nay còn lâu mới trở nên hoàn hảo. Nhưng hầu hết các khuyết điểm của chúng cũng là thuộc tính tiêu biểu cho các quốc gia có cùng một trình độ phát triển kinh tế. Trên nhiều mặt, các nước này còn đạt được những thành tích tốt đẹp hơn, vượt ra ngoài các dự đoán dựa vào lợi tức quốc gia. Và trong một số ít trường hợp tụt hậu, các nước này gần như luôn luôn đi đúng hướng.
Xin lấy nạn tham nhũng làm ví dụ. Khu vực này thường xuyên bị đánh giá rất thấp trên các chỉ số đo lường nạn tham nhũng mà người ta tin là có thật [perceived corruption]. Thành tích yếu kém này là không đáng ngạc nhiên vì những chỉ số đo lường nạn tham nhũng phần nào đã dựa vào các cuộc thăm dò các nhà doanh nghiệp quốc tế, là những người có khả năng bị lung lạc do cái hình ảnh bẩn thỉu của khu vực này được nêu lên trên các phương tiện truyền thông toàn cầu. Nhưng các chỉ số của nạn hối lộ được chính người dân của những nước hậu cộng sản này tường thuật trong các cuộc thăm dò không tiết lộ danh tánh lại vẽ ra một bức tranh khác hẳn. Những chỉ số này, mặc dù cao, vẫn là tiêu biểu cho các nước có một mức lợi tức tương đương. Các cuộc thăm dò do tổ chức giám sát Minh bạch Quốc tế [Transparency Internatonal] tiến hành từ năm 2010 đến năm 2013 cho thấy rằng số người thú nhận đã hối lộ quan chức tại một quốc gia hậu cộng sản trung bình (23 phần trăm) là ít hơn con số trung bình tại những nước khác (28 phần trăm).
Về xung đột vũ trang cũng thế, khu vực này không khác với những vùng có cùng mức độ phát triển tương đương. Mặc dù chiến tranh đã xảy ra tại Nam Tư cũ, Chechnya, và hiện nay tại Ukraine, các nước hậu cộng sản không khác với các quốc gia có cùng một mức độ phát triển, trong khả năng trải qua xung đột vũ trang hay nội chiến trong 25 năm qua. Các quốc gia này cũng không cho thấy tỉ lệ tử vong cao hơn, cả trong chiến tranh hay bạo động lẫn qua số liệu tuyệt đối hoặc tính theo đầu người. Và mặc dù cuộc xung đột vũ trang tại Ukraine là quá mới để được tính vào những con số này, nhưng nó không có khả năng thay đổi kết quả thống kê, trừ phi chiến sự ở đó leo thang ra ngoài vòng kiểm soát.
Đằng sau những dữ liệu này, người ta còn chứng kiến tiến trình phi quân sự hóa nhanh chóng của toàn khu vực: so với chi phí quốc phòng của Liên Xô cũ có khi lên đến 25 phần trăm GDP, ngày nay không một quốc gia kế tục nào của nó, kể cả Nga, có ngân sách quốc phòng vượt quá 5 phần trăm GDP. Thậm chí khi liên minh của chúng tan rã, các quốc gia trong khốiWarsawcũ đã cho giải ngũ một triệu binh lính.
Nạn lạm phát và thất nghiệp cũng là hai vấn đề khác cần được bàn đến. Vào những năm 1990, hầu hết các nước hậu cộng sản đều kinh qua những gian khổ do vật giá leo thang và nạn thất nghiệp tăng vọt. Tuy nhiên, trước năm 2012, tình trạng lạm phát gần như đã được ổn định tại hầu hết những nước này; tỉ lệ lạm phát trung bình của các nền kinh tế hậu cộng sản trên thực tế đã rơi xuống dưới tỉ lệ lạm phát trung bình toàn cầu. Và mặc dù nạn thất nghiệp tại các nước chuyển đổi chế độ này vẫn còn cao hơn vài phần trăm so với các quốc gia có cùng trình độ kinh tế, nhưng tỉ lệ này vẫn tiếp tục đi xuống kể từ khi chạm đỉnh khoảng năm 2000.
Những năm gần đây còn chứng kiến những cải thiện trong một lãnh vực khác mà các nước hậu cộng sản đã từng tụt hậu so với phần còn lại của thế giới: đấy là hạnh phúc của người dân. Theo đợt thăm dò mới nhất của tổ chức Nghiên cứu các Giá trị Thế giới [the World Values Survey], được tiến hành trong những năm 2010-14, các nước trong khối Đông cũ cũng sắp bắt kịp thế giới về phương diện hạnh phúc. Tính trung bình, 81 phần trăm dân chúng được hỏi ý kiến tại các nước hậu cộng sản cho biết rằng họ hoặc là “rất” hoặc là “hoàn toàn” hạnh phúc, so với 84 phần trăm toàn thế giới. Với mức lợi tức hiện có, người dân tại những nước này không còn đặc biệt trầm cảm [particularly depressed] như trước – mặc dù họ vẫn bày tỏ nỗi bất bình khác thường [unusual dissatisfaction] với công việc, với chính phủ, cũng như với hệ thống giáo dục và y tế. Tỉ lệ tự sát, mặc dù vẫn còn tương đối cao, đã giảm bớt đáng kể từ khi chế độ cộng sản cáo chung.
CÁC QUI LUẬT VỀ SỰ THU HÚT GIỮA CÁC QUỐC GIA
Bài nghiên cứu các giá trị trung bình này làm lu mờ sự khác biệt to lớn diễn ra từ khi tính đồng phục [uniformity] do Moscow áp đặt lên chư hầu của mình cáo chung. Ngày nay, sự tương phản giữa các quốc gia hậu cộng sản đa dạng này là rất rõ nét. Ba Lan đã trở thành một nước dân chủ thị trường tự do có lợi tức quốc gia tăng lên hơn hai lần kể từ năm 1990; Tajikistan vẫn là một nước độc tài, trên mình còn mang thương tích chiến tranh và cực kỳ nghèo khổ, do một nhà lãnh đạo duy nhất đứng đầu suốt hơn 20 năm.
Một lý giải được lặp đi lặp lại nhiều lần về sự cách biệt giữa các thành quả kinh tế là, tại một số nước các quan chức chính phủ đã phá hoại hiệu quả bằng cách theo đuổi các cải tổ quá táo bạo. Theo luận cứ này, một đường lối chậm rãi hơn, có bài bản hơn đã giúp một số nước khác thực hiện các cuộc chuyển đổi thành công hơn. “Các chính sách theo đường lối tuần tự [gradualist policies] sẽ ít gây thiệt hại trong ngắn hạn, nhưng sẽ dẫn đến ổn định kinh tế và xã hội rộng lớn hơn, và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh hơn trong dài hạn,” nhà kinh tế Joseph Stiglitz đã lập luận trong cuốn sách ông xuất bản năm 2002, Globalization and Its Discontents [Toàn cầu hóa và những nỗi bất bình]. “Trong cuộc chạy đua giữa con rùa và con thỏ, hình như con rùa lại thắng cuộc một lần nữa.” Lý giải này đã thu hút những người trong khối Xô-viết cũ khi họ nhận thấy các đặc quyền của mình bị tiến trình tự do hoá đe dọa và những người ở phương Tây mất lòng tin vào các thế lực kinh tế thị trường. Nhưng lý luận như vậy là sai lầm: khoảng giữa thập niên 1990, các nước theo đuổi cải tổ một cách nhiệt tình đã thành công vượt bậc so với những nước trì hoãn cải tổ.
Chỉ nhìn sơ vào các dữ liệu cũng đủ cho ta hậu thuẫn kết luận này. Để đo lường tiến độ của sự cải tổ, chúng tôi dựa vào các chỉ số được Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu đưa ra, điều chỉnh chúng để định cho mỗi nước một số điểm hàng năm từ 0 đến 100, tùy theo mức độ mà nước đó tiến gần đến kinh tế thị trường tự do. Chúng tôi gọi những nước vượt lên trên 40 điểm trong ba năm đầu của thời kỳ quá độ là “những nước cải tổ triệt để [radical reformers].” Chín quốc gia hội đủ tiêu chuẩn này: Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Estonia, Ba Lan, Nga, và Slovakia. Chúng tôi gọi những nước có điểm từ 25 đến 40 là những nước “cải tổ tuần tự [gradual reformers],” và những nước chưa vươn tới 25 điểm là “những nước cải tổ chậm [slow reformers].”
Việc so sánh thành tích kinh tế của ba nhóm nước này cho thấy rằng những cải tổ nhanh chóng hơn và triệt để hơn sẽ giảm thiểu, chứ không tăng thêm khó khăn kinh tế. Công bằng mà nói, khi bắt đầu quá trình chuyển đổi, các nước thuộc nhóm cải tổ triệt để đã chứng kiến sự suy giảm sản lượng trầm trọng hơn một chút so với các nước thuộc nhóm cải tổ tuần tự. Nhưng sau ba năm, những nước cải tổ triệt để đã xốc tới phía trước, vượt xa các nước cải tổ tuần tự. Trong khi đó, những nước cải tổ chậm gặp nhiều khó khăn nhất và ngày nay tiếp tục tụt hậu so với hai nhóm kia.
Cuối cùng những nước cải tổ tuần tự đã bắt kịp những nước cải tổ triệt để, nhưng việc này chỉ xảy ra sau nhiều năm chịu thiệt thòi vì phải trả giá đắt cho hiệu quả thấp [underperformance]. So với những nước hăng hái đi theo thị trường tự do, những nước cải tổ tuần tự mất nhiều thời gian hơn để lấy lại mức tiêu thụ hộ gia đình đã có trước đó và để ổn định giá cả lạm phát. Và trong mức độ người ta có thể phán đoán, dựa vào các dữ liệu thống kê hiện có, nạn thất nghiệp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến những nước chậm cải tổ như Armenia và Madedonia, nghiêm trọng hơn các nước khác cùng kinh qua thời kỳ quá độ. Nhìn chung, không có bằng chứng nào cho thấy đường lối cải tổ tuần tự có thể giảm bớt sự nhức nhối của quá trình chuyển đổi. Tất cả mọi dấu hiệu đều chỉ theo chiều ngược lại: chính những con thỏ, chứ không phải những con rùa, đã thắng cuộc đua. Nhiều con rùa cuối cùng cũng theo kịp, nhưng chỉ sau khi lặn lội một hành trình gian khổ hơn.
Ngoài sự khác biệt vì cải tổ nhanh hay chậm, một mô hình nổi bật khác phát sinh từ vị trí địa lý của một quốc gia ở trong khu vực. Những tiên đoán trước đây, rằng tất cả các nước đang chuyển đổi rồi sẽ giống các quốc gia phương Tây, đã không trở thành hiện thực. Quá trình hội tụ quả thật đã diễn ra, nhưng ở hướng khác: giữa các nước hậu cộng sản và các lân bang phi cộng sản. Trên nhiều phương diện, các quốc gia hậu cộng sản đã trở nên tương tự với những nước phi cộng sản gần biên giới của chúng nhất.
Những quốc gia Baltic xích gần với Phần Lan hơn, những nước trong vùng Caucasus xích gần với Iran và Thổ Nhĩ Kỳ hơn. Những quốc gia Trung Á trở nên gần giống với Afghanistan và Iran hơn. Những nước Trung Âu thì xích gần với Áo và Đức hơn, nhưng thỉnh thoảng vẫn được các nước láng giềng ở phía Đông níu kéo. Có vài ngoại lệ đối với mô hình này – đáng lưu ý nhất là Belarus, một nước đã trở nên độc tài hơn so với những nước hậu cộng sản láng giềng. Nhưng trong hầu hết mọi trường hợp, sau khi thoát khỏi gọng kềm của Moscow, các chư hầu Xô-viết cũ đã nhanh chóng bung ra, hội nhập vào môi trường khu vực của mình.
Các đặc tính của những nước láng giềng không cộng sản gần gũi nhất của mỗi quốc gia vào thời điểm 1990 có thể gợi ý mạnh mẽ về đường hướng phát triển sau này của quốc gia đó. Nếu xét đến khởi điểm của từng nước, chúng ta sẽ thấy rằng hễ các nước láng giềng phi cộng sản càng giàu có, càng dân chủ và càng tự do về mặt kinh tế, thì cuối cùng nước hậu cộng sản đó sẽ trở nên giàu có, dân chủ và tự do về mặt kinh tế hơn trước. Sự hội tụ này còn biểu hiện trong nhiều cung cách tế nhị hơn nữa – chẳng hạn, trong tỉ lệ sinh viên đăng ký vào đại học, trong mức tiêu thụ rượu cồn, và thậm chí trong tuổi thọ trung bình. Đôi khi, các nước láng giềng còn ảnh hưởng trực tiếp lên viễn ảnh phát triển của những nước hậu cộng sản này, như trường hợp quân chiến đấu Hồi giáo từ bên kia biên giới Afghanistan tấn công vào Tajikistan hay khi các công ty Đức thành lập các nhà máy sản xuất tại Cộng hòa Séc. Nhưng một động lực quan trọng hơn thúc đẩy tính đồng qui này chắc hẳn là những đặc tính văn hóa cơ bản đã có trước chế độ cộng sản và các biên giới quốc gia hiện nay.
NHỮNG KỲ VỌNG TO LỚN
Mười năm về trước, chúng tôi đã lập luận trong tạp chí này rằng Nga đã trở thành “một quốc gia bình thường,” với các khuyết tật chính trị và kinh tế tương tự khuyết tật của những quốc gia cùng trình độ phát triển. Chúng tôi dự đoán rằng tăng trưởng kinh tế của Nga sẽ tiếp diễn, đồng thời hiện đại hóa xã hội theo bước phát triển đó. Tiên đoán này đã trở thành hiện thực: GDP tính theo đầu người của Nga đã tăng thêm 39 phần trăm kể từ năm 2004, và sự thâm nhập Internet tại Nga đã tăng lên 4 lần, qua mặt Hy Lạp.
Quay sang chính trị, chúng tôi phác họa hai kịch bản có thể xảy ra. Kịch bản thứ nhất nêu lên “sự cạnh tranh ngày một gia tăng giữa các đảng phái dân chủ và sự xuất hiện của một xã hội dân sự ngày một vững mạnh hơn.” Kịch bản thứ hai tiên đoán một “sự tuột dốc hướng tới một chế độ độc tài được quản lý bởi các cán bộ nhà nghề trong ngành công an dưới chiêu bài của các thủ tục dân chủ hình thức.” Tiên đoán của chúng tôi cho rằng Nga sẽ vạch ra một con đường nằm giữa hai thái cực này – một tiên đoán hóa ra là quá lạc quan, xa vời thực tế. Cuối cùng, Tổng thống Nga đã chọn phương án thứ hai.
Việc Putin chọn con đường độc tài rõ ràng làm cho Nga trở thành nguy hiểm hơn. Tuy nhiên, cho đến nay, việc này vẫn chưa làm cho Nga trở nên bất bình thường về mặt chính trị. Thật vậy, trên một biểu đồ đối chiếu chỉ số Chính thể [Polity scores] của nhiều quốc gia khác nhau với chính lợi tức của chúng, Nga vẫn chỉ chệch hướng một chút so với mô hình tổng quát. Đối với một nước có lợi tức quốc gia như Nga, chỉ số Chính thể dự kiến vào năm 2013 là 76 trên thang điểm 100. Chỉ số thực của Nga là 70, ngang hàng với Sri Lanka và Venezuela.
Nếu Nga thậm chí trở nên giàu có hơn nữa mà không chịu tự do hóa chính trị, nó mới thực sự trở thành bất bình thường. Chỉ có ba nhóm nước giàu hơn Nga hiện nay là các nước dân chủ phát triển, các nước độc tài dầu lửa (hầu hết nằm trong vùng Vịnh Ba Tư), và các quốc gia đô thị (city-states) như Singapore và Macao. Rõ ràng là Nga không thể trở thành một quốc gia đô thị, và nó không có đủ tài nguyên thiên nhiên để trở thành một nước độc tài kiểu Ả-rập. (Lợi tức từ dầu khí hàng năm của Nga là 3.000 USD mỗi đầu người, so với 34.000 USD đối với Kuwait.) Vì thế Nga hiển nhiên phải chọn giữa trải qua bế tắc kinh tế và theo đuổi phát triển kinh tế song song với dân chủ hóa mạnh mẽ hơn trước. Hiện nay, Điện Kremlin có vẻ quyết tâm đi theo lựa chọn thứ nhất, nhưng những lựa chọn của nó có thể thay đổi theo thời gian.
Tuy vậy, chủ nghĩa độc tài ngày càng gia tăng của Nga chắc chắn không làm cho thế giới sao lãng những tiến bộ ngoạn mục của khu vực hậu cộng sản này nói chung. Hai mươi lăm năm về trước, những nước thuộc về khối Đông tiêu biểu cho một trong hai nền văn minh loại trừ lẫn nhau trên thế giới [an alternative civilization]. Vào lúc đó mà tưởng tượng chúng nhanh chóng hòa nhập vào dòng chính toàn cầu [the global mainstream], phải cần đến một sự bạo gan nào đó. Thời kỳ quá độ đã gây ra không ít thất vọng. Nhưng nhìn chung, những thay đổi từ năm 1989 đến nay là một thành công nổi bật.
Đã đến lúc phải xét lại cái cảm thức sai lầm về giai đoạn này. Những cải tổ thị trường, những nỗ lực xây dựng dân chủ, những cuộc tranh đấu chống tham nhũng đã không thất bại, mặc dù chúng vẫn chưa hoàn tất. Luận điệu cho rằng một đường lối cải tổ kinh tế tuần tự sẽ có hiệu quả hơn và ít gây đau đớn hơn đã bị các bằng chứng dữ liệu bác bỏ. Thời kỳ quá độ hậu cộng sản không hề cho thấy sự bất cập của chủ nghĩa tư bản tự do hay sự rối loạn chức năng của thể chế dân chủ. Nói đúng hơn, nó chứng minh tính ưu việt và lời hứa hẹn trường tồn của cả hai.
Andrei Shleifer và Daniel Traisman
______
ANDREI SHLEIFER là Giáo sư Kinh tế tại Đại học Harvard. DANIEL TREISMAN là Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Calfornia, Los Angeles, và là tác giả cuốn The Return: Russia’s Journey From Gorbachev to Medvedev [Trở về thế giới bình thường: Hành trình của Nga từ Gorbachev đến Medvedev.]

Nguồn: Dịch từ bản tiếng Anh: “Normal Countries. The East 25 Years After Communism”. Foreign Affairs số tháng Mười Một/Mười Hai 2014.
Bản tiếng Việt @ 2014 Trần Ngọc Cư & pro&contra

Những ngày cuối cùng của Đảng Cộng sản? (Phần cuối)

(VNTB) - Những chính phủ độc tài chỉ có thể trụ được tới lúc họ không cầm cự được nữa. Và chính phủ độc tài luôn thất bại vào lúc cuối cùng.
Washington đã thúc ép Hà Nội thực thi những cải tiến cụ thể để có được thành quả nhất định chứ không phải chỉ lải nhải mãi vấn đề nhân quyền chung chung. Những lời chỉ trích chung chung sẽ dễ dàng bỏ qua nhưng để chấp nhận lời chỉ trích góp ý từ bạn bè không phải là chuyện dễ. Sự tiến bộ nhân quyền gần đây gần đây có phần tiến triển nhưng mà những cải tiến của thập kỷ 80 và 90 lại là một thảm kịch.
“ Gia đình tôi cố gắng đi vượt biên trong những năm 70 nhưng không lọt.”, Tuong Vi Lam kể tôi nghe. Cô lớn lên ở Sài gòn trong thời chiến và gia đình cô đã phải sống trong địa ngục sau khi cộng sản chiếm Sài Gòn. “ Cha tôi và ông nội tôi làm việc cho chính phủ Sài Gòn vì vậy chúng tôi không có được một chút cơ hội nào khi cộng sản vô. Cha tôi phải đi học tập cải tạo. Người ta ép buộc ông  đi làm ruộng. Người ta gọi đó là trại cải tạo nhưng kỳ thực đó là trại lao động. Cha tôi không bị ngược đãi nhưng rất nhiều người khác bị và nhiều người khác còn bị giết.”
Lý do duy nhất để họ bắt ông đi trại cải tạo là vì ông làm việc cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ông không hề phạm tội gì cả. Cộng sản có sẵn một danh sách dài những người như ông và ông nhận được thư yêu cầu ông phải ra trình diện.
“ Nhưng mà cộng sản đã không bắt cha cô?” Tôi hỏi.
“ Họ có bắt mấy người đi ra trình diên theo yêu cầu rồi không chịu đi về nhà. ”
“ Cuộc sống khi đó khó khăn ra sao?”
“ Khổ lắm. Trường học bị đóng cửa. Dì và cậu tôi phải bỏ ngang khi họ vẫn còn đang theo học đại học. Họ không được phép đi tới trường. Tài sản bị tịch thu và chuyển giao cho phía Bắc. Chủ nghĩa cộng sản còn thậm chí được tuyên truyền vô trong sách toán học. Chúng tôi có nhũng cái đề toán như vầy: ' Hôm qua một anh bộ đội giết đuọc ba thằng Mỹ và hôm nay giết được năm thằng. Hỏi anh bộ đội giết đuọc tổng cộng bao nhiêu thằng Mỹ?'.  Mấy quyển sách có loại câu hỏi này giờ không còn thấy nữa, nhưng mà lúc đó những bài tập vậy tồn tại trong khoảng năm tới mười năm.”
Cha cô đã trốn khỏi trại cải tạo và cả gia đình tìm cách vượt biên. Họ đi bằng thuyền nhỏ để ra tới thuyền lớn. Nhưng thuyền lớn quá đông và họ phải chen chúc nhau trong khoang tàu. Chuyến đi không lọt và họ bị bắt.
“ Mọi người muốn đi đâu?”
“ Philippines hay Thái lan. Ở đó có mấy trại tỵ nạn nhưng mà đích đến là Mỹ.”
Cô đã trốn thoát được và hiện sống ở Oregon.
“ Vậy thì tại sao chính quyền lại quan tâm tới chuyện người ta trốn đi?”
“ Bởi vì chúng tôi muốn vượt biên.”, cô nói.
“ Phải rồi. Nhưng tại sao họ phải quan tâm chứ? Lý do chính mà họ đưa ra là gi?”
“Họ chỉ nói chúng tôi phạm tội vượt biên thôi.”
Vậy thôi sao. Ở tù vì muốn vượt biên. Cả quốc gia trở thành một trại giam. Một trại giam nhỏ bên trong một trai giam lớn.
“ Họ không kết tội mọi người vì lý do khác hay sao? Tỷ như buôn lậu? Hay họ chỉ nói rằng cô phạm tội vượt biên?”
“ Nếu anh vượt biên thì anh bị vô tù, kể cả con nít. Một tháng một lần người nhà được phép thăm nuôi và mang tiếp tế thức ăn, thuốc men. Cha tôi bị đi trại cải tạo lần nữa và bị tuyên án chung thân nhưng rồi ông lại trốn trại.”
“ Sao mà trốn được?”
“ Ai cũng phải đi làm ruộng ban ngày và tối về trại lại. Một lần họ phải  đi làm gần một con sông và cha tôi thì bơi rất giỏi. Lựa khi lính gác không để ý, ông quăng một hòn đá lớn xuống sông rồi núp vô bụi cây. Họ nghĩ cha tôi đã nhảy xuống sông nên hò la và bắn theo. Cha tôi vẫn núp trong bụi cây. Chờ trời tối ông nhảy xuống sông và bơi hơn chục cây số tìm tới nhà bà con của má tôi. Họ đưa cho ông ít tiền rồi ông đón xe đò về Sài gòn. Cha tôi không thể quay về nhà nhưng mà trong thành phố mấy triệu dân thì trốn tránh cũng dễ. Cuối cùng thì gia đình chúng tôi cũng đi lọt tới Mỹ. Và cha tôi không quay về Việt Nam trong hai mươi năm qua. ”
*
Sự tôn trọng nhân quyền của chính quyền Việt nam chưa có gì hoàn thiện và sẽ không được thừa nhận ở Mỹ, nhưng mà họ đã có đạt được nhiều tiến bộ và đã ở mức tốt hơn trước hơn bao giờ hết. Đó cũng là một thành quả đúng không nào? Chắc chắn thì ít nhất cũng là điểm cần được đề cập đến.
Ở Việt Nam không có tự do báo chí nhưng mà anh có thể mua báo và tạp chí nước ngoài. Internet cũng cho phép truy cập đủ mợi thứ thông tin từ khắp nơi. Nhưng chỉ vậy thôi thì chưa đủ, báo chí và các trang mạng nước ngoài hiếm khi đề cập tới các vấn đề nội bộ Việt Nam nhưng điều này không phải không có ý nghĩa gì. Ít ra thì dân chúng Việt Nam cũng có được ý tưởng về những gì đang xảy ra bên ngoài chứ không phải như những người nô lệ tội nghiệp ở Bắc Triều tiên bị bịt kín hoàn toàn.
Biểu tình là phạm luật, nhưng mà vẫn có người xuống đường để phản kháng. Xét theo một mức độ nào đó thì chỉ có vậy thôi nhưng khi có nhiều người yêu cầu đổi mới thì sự sợ hãi đó sẽ tan biến là điều không thể tránh khỏi.
Không ai có thể biết chắc nhưng Việt nam có thể sẽ bị hủy hoại, có thể được cải tổ hay có các cuộc biểu tình lớn nổ ra khi họ quyết định mở rộng cửa. Thời khắc lịch sử không thể nào đoán trước được. Không ai có thể tiên đoán  Mohammad Bouazizi của Tunisia sẽ tự thiêu và khơi ngòi cho Mùa Xuân Ả Rập nhưng điều đó đã xảy ra và những điều tương tự như vậy cũng sắp xảy ra. Những chính phủ độc tài chỉ có thể trụ được tới lúc họ không cầm cự được nữa. Và chính phủ độc tài luôn thất bại vào lúc cuối cùng.
Đánh giá về nhân quyền ở mọi quốc gia đều theo một chuẩn mực như nhau. Và anh cũng phải cho một quốc gia ghi điểm khi họ có được bước tiến về cải tổ thì mới công bằng. Anh không thể nào trông mong một thể chế độc tài lại có thể được cải tổ và quay ngoắt sang chế độ dân chủ chỉ trong nháy mắt. Trong lịch sử chưa từng có một bước ngoặt nào như vậy.
Pete Peterson – cựu tù trong chiến tranh Việt Nam, Dân biểu của Đảng Dân chủ bang Florida và là đại sứ Mỹ đầu tiên ở Việt nam thời hậu chiến cũng đồng tình như vậy.
“ Khi tôi còn là đại sứ ở Việt Nam tôi muốn đánh giá tiến trình cải tổ ở đó hơn là so sánh Việt nam theo tỷ lệ lý tưởng. Việt Nam có nhiều tiến bộ và sẽ còn tiến bộ nhiều hơn nữa. Nếu anh có thể vẽ một biểu đồ thì anh chắc chắn sẽ thấy sự tiến bộ đó. ”
Người Việt không còn ồ ạt vượt biên nữa. Các trại cải tạo cũng đã không còn. Địa chủ không còn bị đấu tố. Facebook cũng không bị cấm. Người Việt cũng không bị cấm nói chuyện với người nước ngoài. Dân chúng có thể đọc báo chí và truy cập các trang mạng nước ngoài không qua bị kiểm duyệt.
“ Tuy nhiên vẫn có sự ngược đãi.” ông Peterson nói, “ Chính quyền không tha những nhà đối lập và những nhà bất đồng chính kiến bị đàn áp ngay từ trong trứng nước. Ở Việt nam có rất nhiều dạng kiểm điểm bao gồm cả tự kiểm. Không ai muốn đứng mũi chịu sào để chịu nạn.”
Chính phủ Mỹ cũng đã thiệt lập một quan hệ ngoại giao tử tế với Việt nam. Chiến tranh đã đi qua lâu rồi. Cả hai quốc gia Mỹ Việt cùng chia sẻ tầm nhìn chiến lược về Đông nam Á và như hai người  lúc nào cũng thích nhau dù cả hai cùng nhau trải qua nhiều thập kỷ đau thương trong lịch sử.
Tôi hỏi Peterson ông nghĩ sao về quan điểm sai lầm của người Mỹ về vấn đề Việt Nam và tôi hoàn toàn đồng ý với câu trả lời của ông.
“ Không chỉ người Mỹ không đâu. Cả thế giới đều không biết tầm vóc Việt nam như thế nào. Họ không phải là một cái ổ gà nhỏ trên đường mà chúng ta có thể tránh qua một cách dễ dàng. Họ là quốc gia lớn thứ 13 trên thế giới, và có quân đội hùng mạnh, khả năng lớn về kinh tế và chiến lược. Đáng lẽ chúng ta không nên bỏ sót họ dù là chúng ta đã từng không đoái hoài tới. Và nếu chúng ta không cẩn thận với điểm mù này thì có thể những thứ hay những người mà chúng ta không thích sẽ tràn vào đó.”
    Micheal J. Totten
 Người dịch: Phương Thảo
Xem lại:
(Việt Nam Thời Báo) 

Tập Cận Bình vẫy tay chào học viên Pháp Luân Công trong chuyến thăm New Zealand

Bên trái: Hai học viên Pháp Luân Công giương tấm biểu ngữ với nội dung: những người đàn áp Pháp Luân Công phải chịu trách nhiệm trước công lý. Bên phải là đoàn xe hộ tống ông Tập Cận Bình trên đường tới Tòa nhà Chính phủ ở Wellington, New Zealand, vào ngày 20/11/ 2014. (Ảnh: Minghui.org)
Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Tập Cận Bình vẫy tay chào các học viên Pháp Luân Công khi đoàn xe hộ tống ông Tập đi ngang qua các tấm biểu ngữ phản đối của họ tại Auckland, New Zealand.
Khi các học viên Pháp Luân Công địa phương biết rằng ông Tập sẽ tới thăm Nông trại Karaka ở Nam Auckland vào ngày 21/11, khoảng hơn chục học viên đã quyết định thể hiện thông điệp phản đối và kêu gọi chấm dứt cuộc đàn áp Pháp Luân Công ở Trung Quốc.
Theo báo cáo trên trang Minghui.org, một trong những học viên tham gia cuộc biểu tình là ông Jin Long cho biết, nhóm của ông đã liên hệ với cảnh sát tại khu vực và cho họ xem tấm biểu ngữ cùng các tờ rơi, qua đó bày tỏ nguyện vọng của nhóm được biểu tình một cách ôn hòa.
Pháp Luân Công là một môn tu luyện truyền thống của Trung Quốc, nhưng bị chính quyền đàn áp từ năm 1999 theo lệnh từ cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Giang Trạch Dân.
Với sự trợ giúp của cảnh sát, các học viên Pháp Luân Công đã giương biểu ngữ dọc tuyến phố, nơi đoàn xe hộ tống ông Tập sẽ đi qua. Trong khi chờ đợi, một số sinh viên người Hoa, theo sắp xếp của Lãnh sự quán Trung Quốc, đã đến và can nhiễu các học viên. Tuy nhiên, cảnh sát đã ngăn lại và yêu cầu nhóm sinh viên phải xếp hàng và ra khỏi khu vực của các học viên Pháp Luân Công.
“Khi đoàn xe đến, ông [Tập Cận Bình] vẫy tay với chúng tôi. Tôi cũng vẫy tay chào lại, và chúng tôi hô lớn: Pháp Luân Đại Pháp Hảo! Đưa Giang Trạch Dân ra công lý!”, ông Long kể lại.
“Biểu ngữ của chúng tôi là ‘Pháp Luân Đại Pháp Hảo’ và ‘Đưa Giang Trạch Dân, Tăng Khánh Hồng, Chu Vĩnh Khang, La Cán, Lưu Kinh, những người chịu trách nhiệm về cuộc đàn áp Pháp Luân Công ra công lý’. 
Tất cả những dòng chữ này đểu hiện lên rõ ràng trước mắt ông Tập”.
“Hai quan chức từ Lãnh sự quán Trung Quốc xuất hiện và rất kích động, nhưng họ không thể làm gì về việc này”.
Hai học viên Pháp Luân Công giương biểu ngữ yêu cầu mang những người chịu trách nhiệm đàn áp Pháp Luân Công ra công lý, khi đoàn xe hộ tống ông Tập Cận Bình đi tới Tòa nhà Chính phủ ở Wellington, New Zealand, vào ngày 20/11/ 2014. (Ảnh: Minghui.org)
Tòa nhà Chính phủ
Bà Tống là một học viên Pháp Luân Công tham gia sự kiện tương tự bên ngoài Tòa nhà Chính phủ ở Wellington vào một ngày trước đó. Bà kể lại, ông Tập và phu nhân là Bành Lệ Viên cũng vẫy tay chào bà và các học viên khác.
Ngày 20/11, hàng trăm người gồm các học viên Pháp Luân Công, các nhóm biểu tình và một “nhóm chào đón” do lãnh sự quán Trung Quốc tổ chức, cùng nhiều phương tiện truyền thông và cảnh sát duy trì an ninh trật tự đã đã tập trung ở lối vào Tòa nhà Chính phủ.
Bởi quá đông người và “nhóm chào đón” đang cố che khuất các tấm biểu ngữ Pháp Luân Công, nhiều học viên đã quyết định chuyển sang một ngã tư cách đó khoảng 300 yard (274 m). Tại đây, họ có thể giương biểu ngữ mà không gặp bất kỳ trở ngại nào, bà Tống cho biết.
Sau hơn một giờ trì hoãn, đoàn xe hộ tống của ông Tập xuất hiện, và các học viên giơ biểu ngữ trên cả hai bên đường.
“Tôi thấy ông ấy vẫy tay chào chúng tôi. Ông ấy ngồi bên trái ghế sau, trong khi phu nhân Bành Lệ Viên đang ngồi ở bên phải và nghiêng về phía trước. Bà ấy cũng vẫy tay chào chúng tôi”
NTD Television
(Đại Kỷ Nguyên)

Forbes: Việt Nam vào top 10 điểm đến hấp dẫn nhất năm 2015

TTO - Tạp chí Forbes (Mỹ) đã chọn và xếp VN nằm ở vị trí thứ 3 trong top 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới năm 2015.
Khám phá vịnh Hạ Long từ thủy phi cơ - Ảnh: absolutetravel.com
Mở đầu bài viết, tác giả Ann Abel - cộng tác viên của Forbes - nói thế giới thật rộng lớn với nhiều điểm đến hấp dẫn đang chờ khám phá. Và cô bâng khuâng làm sao ưu tiên chọn được nơi nào để đi?
Những điểm đến nào mới được phát hiện và an toàn cho du khách? Nơi đó có gì hấp dẫn? Hay những địa danh nào nên đi trong đời trước khi chúng có nguy cơ biến mất do biến đổi khí hậu?
Ann Abel đã liên hệ và nhận được tư vấn của chuyên gia du lịch nhiều kinh nghiệm Owen Gaddis làm việc tại một trong những công ty du lịch hàng đầu thế giới Absolute Travel có trụ sở tại New York, Mỹ.
Theo Forbes, khi nói về Việt Nam, Owen Gaddis tư vấn Ann Abel nên chọn tour 9 ngày khám phá Hà Nội, vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), vườn quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận) và TP.HCM.
Không có gì tuyệt vời hơn khi du khách bắt đầu cuộc hành trình khám phá thủ đô Hà Nội có lịch sử 2.000 năm, mở rộng tầm nhìn đất nước Việt Nam khi được trải nghiệm trên chiếc thủy phi cơ bay từ Hà Nội đến vịnh Hạ Long.
Thật tuyệt vời khi được chiêm ngưỡng vịnh Hạ Long với hàng ngàn núi đá vôi nhấp nhô in trên nền nước xanh màu ngọc lục bảo từ trên thủy phi cơ. Toàn cảnh vịnh Hạ Long như thu vào tầm mắt chỉ trong vài phút thay vì mất khoảng 2 ngày khi du ngoạn trên du thuyền.
​Khu resort Amanoi giữa vùng thiên nhiên hoang dã Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận - Ảnh: amanresorts.com
Sau đó là cuộc hành trình phiêu lưu đến khu resort Amanoi giữa vùng thiên nhiên hoang dã Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận để được tận hưởng cảm giác ngọt ngào, không gian bình yên và thoáng đãng lạ kỳ.
Và điểm dừng chân cuối cùng trong tour 9 ngày khi ở Việt Nam là TP.HCM, khám phá ẩm thực đường phố Sài Gòn bằng xe Vespa để thưởng thức các món bánh xèo, gỏi cuốn và cà phê “made in Vietnam”.

10 điểm đến hấp dẫn năm 2015 được Forbes giới thiệu:

1. Iceland

2. Morocco

3. Việt Nam

4. Khu bảo tồn American Prairie, Mỹ

5. Tasmania, Úc

6. Columbia

7. Nhật Bản

8. Patagonia, Argentina

9. Nepal

10. Sri Lanka

HUỲNH PHƯƠNG​
(Tuổi trẻ) 

Việt Nam học gì từ "giai đoạn đau đớn" của Trung Quốc?

(Thị trường) - Kinh nghiệm lớn nhất mà Việt Nam rút ra từ Trung Quốc là giảm số lượng doanh nghiệp, số lượng lĩnh vực mà nhà nước tham gia.
Kinh tế Trung Quốc bất ổn
Trong nghiên cứu của mình, TS Phạm Sỹ Thành, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) đã chỉ ra rằng, Trung Quốc đang gần như lấy lại được vị thế của mình vốn bị mất vào thời Chiến tranh nha phiến, khi GDP của nước này chiếm 32% tổng GDP thế giới.
Đặc biệt, trong vòng 14 năm trở lại đây, tăng trưởng của Trung Quốc gấp khoảng 10 lần Mỹ và 12 lần EU. Điều đó lý giải vì sao nếu tính theo phương pháp ngang giá sức mua, quy mô kinh tế Trung Quốc đã vượt Mỹ.
Kinh tế Trung Quốc đang mất cân bằng 
Kinh tế Trung Quốc đang mất cân bằng
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nền kinh tế Trung Quốc đang bị mất cân bằng cả về sản xuất và phân phối. TS Thành phân tích:
"Biểu hiện rõ nét nhất là kinh tế Trung Quốc phải dựa rất nhiều vào đầu tư. Trung Quốc đang đi ngược lại xu hướng thế giới khi tăng đầu tư lên mức 50% GDP, còn các nền kinh tế phát triển có xu hướng giảm đầu tư về mức 20-30% GDP.
Đặc biệt, trong giai đoạn ứng phó với khủng hoảng tài chính năm 2008-2010, Trung Quốc duy trì tăng trưởng được bằng cách sử dụng đầu tư là cách làm rất phổ biến. Một phần rất lớn đầu tư Trung Quốc đổ vào lĩnh vực bất động sản, ngoài ra, đầu tư vào đường sắt hay cơ sở hạ tầng cũng là giải pháp quen thuộc của kinh tế Trung Quốc".
Một biểu hiện mất cân bằng khác của kinh tế Trung Quốc được ông Thành chỉ ra đó là nền kinh tế đang dựa vào cầu bên ngoài thay vì vốn trong nước.
Quy mô thương mại Trung Quốc đến năm 2013 đã vượt Mỹ nhưng xét về nhập khẩu vẫn chênh với Mỹ khoản 1.000 tỷ USD, cho thấy xuất khẩu của Trung Quốc rất vượt trội.
Sự mất cân bằng trong tăng trưởng để lại cho nền kinh tế Trung Quốc rất nhiều hệ lụy. Theo TS Phạm Sỹ Thành, việc sử dụng quá nhiều đầu tư buộc Trung Quốc phải duy trì tỷ lệ tích lũy rất cao, làm gia tăng các khoản nợ của doanh nghiệp và địa phương.
Khi lượng vốn đầu tư ngày càng nhiều thì hiệu quả sử dụng vốn rất kém. Không dừng ở đó, các vấn đề tiêu hao năng lượng, môi trường ở Trung Quốc rất trầm trọng.
Theo thống kê năm 2012, tiêu hao năng lượng của Trung Quốc cao gấp đôi so với Ấn Độ, Brazil và cao hơn 15-20% so với các nền kinh tế phát triển. Lượng khí thải và mức độ ô nhiễm của Trung Quốc cũng cao gấp nhiều lần so với mức cho phép của WHO.
Đồng quan điểm với TS Phạm Sỹ Thành, ông Trần Hoàng Anh ở Khoa Quản lý, Đại học Trung Sơn (Trung Quốc) cũng chỉ ra những bất ổn của nền kinh tế Trung Quốc hiện nay. Theo đó, hiệu quả đầu tư giảm, sản lượng dư thừa nghiêm trọng, các ưu thế truyền thống của Trung Quốc cũng suy giảm như giá cả lao động tăng cao, giá cả các nguồn đầu vào tăng cao.
Trung Quốc cũng phải đối mặt với những thách thức trong vấn đề vượt dốc thu nhập và tránh bẫy thu nhập trung bình, ô nhiễm môi trường và tiêu hao nguồn năng lượng.
"Trung Quốc không thể tiếp tục theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao. Họ cần một chính sách mới giải quyết các vấn đề tồn đọng với mục tiêu phát triển về chất, tăng cao hiệu quả đầu tư, giảm sản lượng dư thừa; vững mạnh và nâng cao ưu thế những ngành mới để bù đắp cho do mất ưu thế các ngành truyền thống, tránh bẫy thu nhập trung bình, đưa Trung Quốc vào danh sách những nước có thu nhập cao, giảm ô nhiễm môi trường và tiêu hao năng lượng", ông Hoàng Anh nhấn mạnh.
Việt Nam học gì từ Trung Quốc?
Điểm quan trọng trong quá trình tái cân bằng kinh tế của Trung Quốc, theo hai giảng viên Nguyễn Duy Minh và Phan Đặng Bảo Anh (Đại học Tài chính-Marketing) chính là cải cách doanh nghiệp nhà nước.
Theo hai giảng viên này, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới với số lượng doanh nghiệp không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn trong hiệu quả kinh doanh của các khu vực kinh tế.
Kinh tế tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA) lần lượt là 6,1% và 8,6%. Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã lại tỏ ra hoạt động thiếu hiệu quả khi có ROA lần lượt là 1,4% và 0,8%.
Công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc đã trải qua 4 giai đoạn, trong đó từ 2003 đến nay, quốc gia này tập trung đổi mới thể chế giám sát tài chính nhà nước, giảm thiểu số doanh nghiệp nhà nước, bãi bỏ cơ chế chính quyền trực tiếp quản lý danh nghiệp; thành lập ủy ban quản lý tài sản quốc hữu các cấp giúp chính phủ quản lý doanh nghiệp nhà nước.
"Tương tự như Trung Quốc, doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bộc lộ rõ những khuyết điểm sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2010. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước mặc dù được Chính phủ tạo nhiều ưu đãi nhưng hiệu quả hoạt động vẫn chưa như kỳ vọng. Đóng góp của khu vực Nhà nước vào tăng trưởng GDP giảm dần theo thời gian.
Theo Tổng cục Thống kê, khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm gần 41% tổng vốn đầu tư toàn xã hội nhưng chỉ tạo ra 32% GDP trong khi khu vực ngoài nhà nước chỉ chiếm 37% nhưng lại tạo ra tới 48% GDP (năm 2013).
Doanh nghiệp nhà nước chưa đủ khả năng để nắm giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta hiện nay. Việc cải cách chưa đạt được thành công, chưa đóng góp vào phát triển quốc gia tương xứng với vị trí được giao và nguồn lực đang nắm giữ", ông Nguyễn Duy Minh chỉ rõ.
Cũng theo ông Minh, kinh nghiệm lớn nhất Việt Nam rút ra từ Trung Quốc là giảm số lượng doanh nghiệp, số lượng lĩnh vực mà nhà nước tham gia.
Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có tính độc quyền, quốc tế hóa các tiêu chuẩn về quản trị và hoạt động, đo lường hiệu quả hoạt động thông qua khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp nhà nước.
Ông Trần Hoàng Anh bổ sung: "Chính phủ cần thể hiện rõ nét vai trò của mình để những tuyên bố chính sách được thực thi một cách nhanh chóng và có hiệu quả.
Việt Nam phải thực hiện tái cơ cấu ngành và tái cơ cấu đầu tư, trong đó mấu chốt của tái cơ cấu ngành là chuyển đổi mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, đạt hiệu quả cao về chất lượng.
Lợi dụng công nghệ kỹ thuật trong việc ưu việt hóa kết cấu ngành phát triển cân đối ngành, nhanh chóng nâng cấp ngành công nghiệp truyền thống và ngành công nghiệp chế tạo. Còn mấu chốt của tái cơ cấu đầu tư là nâng cao hiệu quả đầu tư công".
(VNN)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét