Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, ngày 24 tháng 9 năm 2014

Thượng tôn luật pháp (Rule of Law)

Nguyễn Trung - Bàn về hoàn thiện kinh tế thị trường

                           (Bài viết về đại hội XII sắp tới của ĐCSVN)  
                 
 
I.           Đánh giá khái quát con đường 40 năm
Góp phần tổng kết kinh tế mà đại hội XII nhất thiết phải làm, tôi xin nêu lên một số nhận xét chính dưới đây, trước khi bàn đến chủ đề hoàn thiện kinh tế thị trường ở nước ta.
 Trong bài 2 (Hiểm họa đen)và bài 3 (Chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc?), tôi cho rằng 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên là một thời kỳ phát triển thất bại, hoặc dễ nghe hơn: cơ bản là thất bại (song “dễ nghe hơn” như thế chẳng ích lợi gì thêm cho đất nước).
Nói là thất bại, bởi lẽ: Không đạt được các mục tiêu chiến lược, thành tựu hay kết quả thu được không xứng với thời gian, công sức, của cải đã bỏ ra và những cơ hội có được. Bao trùm lên tất cả là đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội thất bại, đến 1986 phải xoá bỏ nền kinh tế bao cấp để tiến hành đổi mới, đề ra cái gọi là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, song thực chất vẫn là để kiên trì chủ nghĩa xã hội mà chính tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có lần thừa nhận chưa rõ nó sẽ là cái gì. Đường lối sai, sửa lại rồi mà cũng không rõ được, như thế làm sao có thể thành công được? Cho nên thất bại là tất yếu. Dưới đây xin điểm lại cho rõ.
 Trong 40 năm này, nước ta mất trên dưới mười năm vào hai cuộc chiến tranh tiếp theo kháng chiến chống Mỹ (chiến tranh Campuchia, chiến tranh Trung quốc xâm lược biên giới), lại thêm những thất bại trong đường lối kinh tế bao cấp kéo dài cho đến khi tiến hành đổi mới 1986. Thời kỳ 10 năm này (1975 - 1986, về những mặt nào đó phải tính đến 1989) đảng đã vấp phải những sai lầm rất nghiêm trọng cả về đối nội (bao gồm cả kinh tế) và đối ngoại, với nhiều hậu quả lâu dài. Nguyên nhân chủ yếu là chủ quan, duy ý chí, không hiểu thế giới và không hiểu chính bản thân nước ta: Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội! Từ nay không có kẻ thù nào dám động đến ta!Đương nhiên, những nguyên nhân khách quan cũng rất quan trọng, có những mặt bất khả kháng, song dù sao vẫn phải nói những nguyên nhân chủ quan của lãnh đạo là những tác nhân trực tiếp của những sai lầm thời hậu chiến.
Trong những nguyên nhân chủ quan, cái nguyên nhân không hiểu thế giới, không hiểu chính bản thân nước ta cho đến hôm nay vẫn đang là một cái u-bướu chết người trong não bộ tư duy của ĐCSVN.
Kinh tế nước ta thực sự phát triển kể từ khi tiến hành đổi mới 1986, ngày nay đạt mức “nước đang phát triển có thu nhập trung bình (thấp)”[1]. Nếu so sánh nước ta hôm nay với nước ta 1986, kinh tế nước ta đã đi được một chặng đường dài: từ nước chậm phát triển lên nước đang phát triển, giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng được thế giới ghi nhận. Đã có lúc kinh tế nước ta giành được sự phát triển ngoạn mục (nhất là thời kỳ 1986 – 1995…), trên thế giới người ta đã bắt đầu nói tới “con hổ Việt Nam”, nhưng con hổ này chưa kịp cất lên tiếng gầm nào thì đã biến mất tăm. 
Song nếu so nước ta với các nước chung quanh, khoảng cách tụt hậu của ta ngày càng rộng thêm. Ví dụ: năm 1986 GDP p.c. (GDP tính theo đầu người) của Trung Quốc gấp đôi của nước ta, năm nay cao gấp trên 3 lần; khoảng cách lúc ấy (1986) GDP p.c.Trung Quốc cao hơn nước ta ước chừng <+200 USD, nhưng khoảng cách này hiện nay là <+4000 USD; so với các nước đi trước ta trong ASEAN cũng cho thấy mối tương quan như vậy. Nghĩa là 3 thập kỷ vừa qua, càng chạy đua ta càng tụt hậu.  
Điều đặc biệt đáng lo ngại là sau 3 thập kỷ phát triển (kể từ 1986), kinh tế nước ta đã tận dụng hết (đến mức cạn kiệt) mọi yếu tố nội/ngoại có được cho phát triển theo chiều rộng, song vẫn chưa tạo ra được nền tảng kinh tế vững chắc để đi vào thời kỳ phát triển theo chiều sâu. Cho đến ngày hôm nay, nước ta mới chỉ tạo ra được một nền kinh tế gia công. Nói nôm na, đấy là một nền kinh tế chỉ bán đi được những thứ ta tự có: lao động rẻ, tài nguyên, đất đai, môi trường, vị trí địa lý… Cho đến hôm nay chưa đi vào được phát triển một nền kinh tế bán các sản phẩm ta tự làm ra – với nghĩa có hàm lượng cao về trí tuệ và công nghệ; bởi vì còn thiếu nghiêm trọng những điều kiện tiên quyết cho thời kỳ phát triển mới này trên những phương diện: chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục, thể chế chính trị quốc gia, thể chế kinh tế thị trường thực thụ, lực lượng doanh nghiệp, kết cấu hạ tầng vất chất kỹ thuật… Kinh tế đã đi hết đoạn đường phát triển theo chiều rộng, nhưng hôm nay đang lâm vào khủng hoảng cơ cấu trầm trọng, nên vừa bế tắc (cái bẫy “nước có thu nhập trung bình – thấp”), và vừa chưa chuẩn bị được những điều kiện phải có cho việc chuyển nền kinh tế vào thời kỳ phát triển theo chiều sâu.  
Còn 6 năm nữa, năm 2020, nước ta phải trở thành nước công nghiệp, hoặc là “cơ bản là nước công nghiệp theo hướng hiện đại” (một khái niệm rất “cao-su” và rất thiếu trách nhiệm với đất nước) – như đã ghi trong nhiều nghị quyết của đảng, song mục tiêu này không thể hoàn thành được, vì trình độ phát triển nền kinh tế còn ở mức quá thấp nhìn theo bất kỳ tiêu chí nào (tỷ trọng các khu vực kinh tế - economic sectors, tỷ trọng phân bổ các loại lao động, tỷ trọng kinh tế nông thôn và kinh tế thành thị…, các chỉ số phát triển tính theo đầu người về kết cấu hạ tầng vật chất & kỹ thuật, vân vân..; riêng chỉ số bằng thạc sỹ, tiến sỹ tính theo đầu người và trong bộ máy quyền lực, nước ta vượt xa Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều nước phát triển khác). Đặc biệt nghiêm trọng là nước ta không có một thể chế chính trị quốc gia phù hợp cho một nước công nghiệp hoá, chính điều này trước sau vẫn chặn đứng khả năng nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp. Điều cần lưu ý ở đây, sau 3 thập kỷ tiến hành công nghiệp hoá (chỉ tính từ 1986), nước ta huy động được một nguồn lực nội và ngoại nhiều gấp hơn 2 lần của Hàn quốc cho 3 thập kỷ công nghiệp hoá của họ. Song sau 3 thập kỷ này, Hàn Quốc hoàn thành được nhiệm vụ công nghiệp hoá; nhưng nước ta không hoàn thành được nhiệm vụ này, lại rơi quá sớm vào quá trình giải công nghiệp hoá, và hôm nay vẫn là một nền kinh tế gia công đang bế tắc vì khủng hoảng cơ cấu trầm trọng. 
Nói khái quát, nước ta đang có một nền kinh tế “đắt”, “rất đắt” nhìn theo hiệu quả kinh tế trên mọi phương diện: chỉ số ICOR cao nhất trong ku vực, tỷ suất lợi nhuận rất thấp, mức độ tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu trên một sản phẩm thuộc loại cao nhất ĐNÁ và năng suất lao động thuộc loại thấp nhất... Ngoại trừ một số ít ngành đặc thù trong lắp ráp và gia công, nhìn chung công nghệ trong công nghiệp nước ta chủ yếu thuộc thế hệ 3 hoặc 4 (phần lớn là mới xây lắp dưới dạng EPC từ Trung Quốc). Tham nhũng rất trầm trọng, song lãng phí – nhất là lãng phí do những quyết định kinh tế sai lầm, những dự án treo, những quy hoạch phá sản ở khắp cả nước… – còn trầm trọng hơn nhiều.  
Tựu trung là do đã theo đuổi một chiến lược phát triển sai lầm[2] trong một thể chế chính trị bất cập. Nổi cộm là các vấn đề:
 (1) Công nghiệp rất chắp vá và chưa định hình được nước ta sẽ là một nước công nghiệp gì nếu thu hẹp dần công nghiệp gia công (đang rất thiếu công nghiệp phụ trợ); có lẽ phải nói công nghiệp nước ta dựa vào lợi ích của doanh nghiệp nhà nước (chứ không phải của quốc gia) và dựa vào tranh thủ được FDI như thế nào thì phát triển thế nấy – nghĩa là rất tự phát, duy ý chí và do bên ngoài chi phối là chính, rất bị động, khó mà nói phát triển theo một chiến lược rõ nét hay nhất quán nào của ta, lại thay đổi theo từng khoá đại hội đảng (tư duy nhiệm kỳ). Cần coi đây là một xu thế phát triển nguy hiểm, hiện tại đã bế tắc, hứa hẹn sẽ đổ vỡ trầm trọng trong tương lai không xa nếu không uốn nắn kịp thời, và nếu không tìm ra được một chiến lược công nghiệp hoá đúng đắn được thực hiện trong một thể chế chính trị phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá.
 (2) Nông nghiệp là vấn đề rất nhậy cảm ở nước ta trên nhiều phương diện, nhưng đang bế tắc nghiêm trọng về mọi phương diện, chủ yếu do sai lầm về chính sách đất đai, thất bại trong quá trình công nghiệp hoá / đô thị hoá, thất bại trong phát triển hay trong nhiệm vụ công nghiệp hoá nông nghiệp giữa lúc kinh tế cả nước đã hội nhập vào quá trình toàn cầu hoá như ngày nay…  Mặc dù có vị thế nhất định trong một số sản phẩm trên thị trường nông phẩm thế giới, nông nghiệp nước ta còn đứng rất xa yêu cầu là một nền nông nghiệp tiến dần lên hiện đại của một quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hoá. Thậm chí còn phải nói, một nền nông nghiệp như hiện tại tự nó cũng sẽ chặn đứng khả năng nước ta trở thành nước công nghiệp (trong khi đó Hàn Quốc, Đài Loan trong vòng 2 thập kỷ đầu tiên của công nghiệp hoá đã giải quyết được vấn đề phát triển nông nghiệp đồng hành với quá trình công nghiệp hoá, hiện nay ta đang “học” tam nông của Trung Quốc, nhưng?..);
(3) Khu vực dịch vụ phát triển khả quan hơn (trong đó nổi bật là du lịch, viễn thông, hàng không…), song cũng đã hết đà phát triển theo chiều rộng; đất nước chưa có được nguồn nhân lực có chất lượng, thể chế nhà nước thích hợp và kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật tương ứng để đi vào thời kỳ phát triển theo chiều sâu. Khu vực dịch vụ chủ yếu mới chỉ phát triển trong một số ngành, trong khi đó hầu như chưa đi vào được rất nhiều ngành nghề quan trọng khác của dịch vụ mà điều kiện địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế/chính trị của nước ta cho phép (ví dụ, có thể phân tích khu vực dịch vụ của nền kinh tế Singapore để thấy rõ những ngành kinh tế nào của dịch vụ nước ta chưa đụng chạm tới). [Nhân đây xin nói ngay: Cần loại bỏ mong muốn bệnh hoạn của một số người nào đó muốn phát triền casinos ở nước ta, bởi lẽ tình trạng tha hoá hiện tại trong xã hội nước ta đã vượt quá xa mức có thể kiểm soát được.]
(4) Nền tài chính quốc gia và hệ thống ngân hàng của đất nước rất mong manh, nợ nần nhiều – trong đó tỷ lệ nợ xấu rất cao, tính công khai minh bạch và năng lực quản trị rất thấp. Sự can thiệp của chính trị (bao gồm cả nhóm lợi ích) ở mức nguy hiểm, có nhiều đối phó cục bộ (như lãi suất, thuế suất, giá vàng, trái phiếu, đáo nợ…) tuy có lúc đem lại kết quả tạm thời, song chung cuộc đang tích tụ những nguy cơ đổ vỡ nguy hiểm. Vấn đề đặc biệt nghiêm trọng là nền tài chính quốc gia và hệ thống ngân hàng của đất nước tự nó đã góp phần quan trọng vào những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn của đất nước, không hoàn thành được nhiệm vụ chính trị số một của nó là: Huy động và phân bổ tối ưu mọi nguồn lực cho sự phát triển năng động và bền vững của đất nước.
(5) Thất bại lớn nhất của 40 năm qua là đã không xây dựng nên được một thể chế chính trị của nhà nước pháp quyền dân chủ mang lại độc lập tự do và hạnh phúc cho nhân dân như đã ghi trong tiêu chí quốc gia[3] và giải phóng tiềm năng phát triển của đất nước, nhiều quyền cơ bản của công dân và quyền con người bị ngăn cấm hoặc xâm phạm nghiêm trọng. Trong thất bại này cần đặc biệt nêu lên thảm bại nghiêm trọng của nền giáo dục nước nhà đang để lại những hậu quả rất lâu dài cho đất nước. Sau 40 năm phát triển, đất nước lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện (kinh tế - chính trị - văn hoá – xã hội), bị lệ thuộc nguy hiểm vào Trung Quốc, độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bi uy hiếp hơn bao giờ hết kể từ sau 30-04-1975. Nghiêm trọng hơn nữa: Sau 4 thập kỷ độc lập thống nhất, phải chăng đất nước chúng ta hiện đang lâm vào tình trạng mất phương hướng phát triển giữa lúc tình hình khu vực và thế giới đang có nhiều thách thức nặng nề, và thậm chí trở nên nguy hiểm hơn trước?
II.  Những khuyết tật lớn trong kinh tế thị trường nước ta
Trước hết về quan niệm, quan sát sự phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới, tôi xin rút ra những điều dưới đây về kinh tế thị trường.
 Tinh thần cốt lõi của kinh tế thị trường là hình thành một quá trình phát triển kinh tế theo sự dẫn dắt của những lực đẩy được tạo ra từ mối quan hệ qua lại giữa cầu và cung trên thị trường.
 Cầu và cung ở đây cần được hiểu là những đòi hỏi trong đời sống hướng tới một sự phát triển mới, cần đặt vấn đề như vậy để luôn luôn chủ động tránh những khuynh hướng phát triển hoang dã hoặc thiên lệch nguy hiểm.
Đối với cả cầu và cung, thị trường luôn luôn có thể làm được chức năng điều tiết ở mức độ nhất định, được đặt cho cái tên là  “bàn tay vô hình” (Adam Smith), bởi vì nó làm những việc khó thấy được liên quan đến điều tiết nền kinh tế (yếu tố 1).
 Song vì khả năng của “bàn tay vô hình” là hữu hạn, mà cuộc sống là vô hạn, do đó kinh tế thị trường còn phải cần đến “bàn tay bà đỡ” – thường là và trước hết là thuộc về chức năng của nhà nước. Xã hội càng phát triển, ngày càng có thêm nhiều yếu tố khác tham gia tích cực vào chức năng của “bàn tay bà đỡ” (yếu tố 2).
Điều thiết yếu là bàn tay vô hình và bàn tay bà đỡ đều phải làm đúng việc của mình với hiệu quả cao nhất. Vì lẽ này cả hai đều phải được một bộ não mẫn tiệp điều hành, có thể xem đây là điều kiện quyết định nhất. Bộ não ấy chính là một thể chế chính trị đáp ứng được đòi hỏi phát triển của quốc gia, phát huy được vai trò tích cực của giới doanh nhân (bao gồm các doanh nghiệp), phát triển được một xã hội dân sự năng động, luôn luôn cổ vũ và dẫn dắt được quốc gia giành lấy những bước phát triển mới (yếu tố 3).
Nêu lên những điều vừa trình bầy trên, nhằm mục đích nhấn mạnh ngay từ đầu: Nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh nhất thiết phải bao gồm đầy đủ cả 3 yếu tố (1) bàn tay vô hình, (2) bàn tay bà đỡ, (3) thể chế chính trị; tất cả phải hoạt động ở trạng thái tối ưu cho phép – trong đó thể chế chính trị là điều kiện tiên quyết số một. Đây cũng là 3 tiêu chí có thể dựa vào để đánh giá thực trạng kinh tế thị trường nước ta hiện nay. Bàn về hoàn thiện kinh tế thị trường ở nước ta cũng có nghĩa phải bàn về phát triển đồng bộ cả 3 yếu tố cấu thành này của kinh tế thị trường.
Dưới đây xin nêu lên một số vấn đề nóng nhất.
 II.1. Sự lũng đoạn của quyền lực và nhóm lợi ich
 Bài 4A “Bàn về cải cách thể chế chính trị đã cố gắng trình bầy sự lũng đoạn của quyền lực đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc nói chung, trong đó vấn đề nghiêm trọng số 1 là tình trạng “đảng hoá”  toàn bộ đời sống đất nước. Tại đây xin nêu thêm một số khía cạnh liên quan đến kinh tế thị trường.
 Thể chế chính trị ở nước ta với đặc trưng đảng giữ vai trò lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối như đang diễn ra, về bản chất mâu thuẫn như nước với lửa đối với kinh tế thị trường. Chính đây là nguyên nhân gốc khiến cho kinh tế thị trường ở nước ta biến dạng nghiêm trọng, bị điều hành và lũng đoạn bởi (a) quyền lực đảng, (b) chủ nghĩa tư bản thân quen và chủ nghĩa tư bản hoang dã, (c) sự chi phối của lobby từ bên ngoài – đặc biệt là quyền lực mềm Trung Quốc.
 Thực hiện kinh tế thị trường là đòi hỏi bất khả kháng đối với nước ta kể từ bắt đầu đổi mới 1986, đến nay là 3 thập kỷ. Nước ta đã tham gia đầy đủ các thể chế kinh tế quốc tế và khu vực (WTO, WB, IMF, ADB, các FTAs song phương và đa phương, vân vân…), nhờ đó kinh tế thị trường ở nước ta đã đạt được những bước phát triển rất quan trọng, GDP p.c. từ 200 USD nay đạt 1350 USD... Tuy nhiên, nguyên nhân thể chế chính trị (nguyên nhân gốc) nêu trên đã một mặt làm cho không ít những tiến bộ đạt được này đều ở trong tình trạng dang dở, mặt khác chỉ làm biến tướng để tăng thêm độ nguy hiểm chứ không khắc phục được sự lũng đoạn nêu trên ( của 3 nhóm a, b, c). Có lẽ chính thực tế này giải thích hiện tượng: Tại sao kinh tế nước ta càng phát triển, càng bị xé lẻ thành các “tiểu vương quốc” theo lợi ích (các nền kinh tế GDP tỉnh, các nền kinh tế tập đoàn nhà nước, kinh tế đảng, kinh tế quân đội, kinh tế công an…) càng phát sinh nhiều ách tắc trong kinh tế và nhiều bất công trong xã hội, môi trường càng bị huỷ hoại nghiêm trọng, hầu hết các chiến lược kinh tế đều thất bại, tội ác kinh tế ngày càng nguy hiểm về quy mô và tinh vi về thủ đoạn thực hiện, phát triển hầu như cướp mất cơ hội của tương lai (nghĩa là để quá nhiều gánh nặng cho tương lai), và hiện nay kinh tế đất nước đang ở trạng thái nguy hiểm chưa có lối ra.
 Thật khó mà nói được là nước ta có một nền kinh tế hài hoà thống nhất với đúng nghĩa, vì bên trong chứa đựng quá nhiều nét cát cứ, “tiểu vương quốc” và sự chùng lặp… Có thể viết nhiều quyển sách mổ xẻ thực trạng này của đất nước, song hiện nay việc này bị kiêng cấm, nhưng trước sau sẽ phải làm để chữa bệnh. Nói khái quát: Đảng hoá, nền kinh tế GDP tỉnh, tập đoàn kinh tế nhà nước và tư tưởng nhiệm kỳ là những yếu tố trực tiếp làm nát bét nền kinh tế đất nước, tạo ra môi trường màu mỡ cho sự can thiệp của quyền lực mềm Trung Quốc.  
Chức năng khách quan của thị trường là phản ánh mối quan hệ cung - cầu tạo điều kiện góp phần quan trọng cho sự phát triển hài hoà. Nhưng vi phạm điều mang tính quy luật này của thị trường, sẽ tạo ra đầu cơ, thị trường của đầu cơ, và chung cuộc sẽ chỉ có được nền kinh tế của những hành vi đầu cơ, với sự phá hoại không thể hình dung nổi.
Ví dụ, thời bao cấp trước 1986, vì phá quy luật kinh tế thị trường, nên đã xảy ra hiện tượng một cái xe đạp Peugeot có thể đổi lấy một căn nhà, một điều phi lý không thể phi lý hơn trên thế gian này.
 Còn hiện tại: Xâm phạm quy luật của kinh tế thị trường đã dẫn đến hệ quả cả một đất nước năng động rừng vàng biển bạc… nhưng hôm nay rơi tỏm vào nền kinh tế của những người đi làm thuê và đất nước trở thành đất nước cho thuê.
 Dưới đây là một số nét minh hoạ.
 -      Sáp nhập Hà Tây vào thủ đô Hà Nội là một ví dụ điển hình của kinh tế đầu cơ, là một trong những nguyên nhân trực tiếp tạo ra bong bóng kinh hoàng của thị trường bất động sản, mặc dù quyết định này bị cả nước bác bỏ quyết liệt (trong đó có Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt…), nhưng lợi ích của 3 nhóm “a, b ,c” đã thắng. Cả nước có nhiều cái bong bóng như thế và đã dẫn tới giá nhà đất của Việt Nam cao nhất thế giới, cản trở sự phát triển của đất nước. Song cũng chính loại những quyết định theo “lợi ích 3 nhóm a, b, c” như thế đã trực tiếp làm nổ các bong bóng của thị trường địa ốc, khiến kinh tế cả nước rơi sâu thêm nữa vào khủng hoảng cơ cấu với những thiệt hại không thể lường hết được.
-      Kinh tế bauxite Tây Nguyên, kinh tế KCN Vũng Áng, nạn cho thuê rừng… là những ví dụ điển hình của kinh tế lobby, của kinh tế bán rẻ lợi ích quốc gia, của kinh tế đất nước cho thuê, đẩy đất nước đi sâu vào cơ cấu kinh tế lạc hậu và nguy cơ trở thành bãi thải công nghiệp cho những nước khác, xâm phạm nghiêm trọng lợi ích và an ninh quốc gia.
-      Phớt lờ những tín hiệu của thị trường, kinh tế tập đoàn nhà nước TKV (than và khoáng sản Việt Nam) lẽ ra phải biết mình hết lý do tồn tại từ lâu rồi nhưng vẫn cố đấm ăn xôi; hậu quả là mỏ hết và đã phải nhập khẩu than ngược trở lại rồi, hầu như toàn bộ vốn thiết bị của tập đoàn và hàng vạn lao động của nó rơi vào thất nghiệp, tập đoàn lấy duy trì kinh doanh/liên doanh trái nghề để tồn tại. Nhưng tập đoàn chỉ có đặc quyền nà nước bao cấp (vốn, quyền kinh doanh, ảnh hưởng chính trị…) và không có nghề, do đó tất yếu gây hậu quả nghiêm trọng cho toàn xã hội: Chết mà không chôn được, nên kinh lắm! Cả nước có không ít tập đoàn nhà nước, nông trường quốc doanh, xí nghiệp quốc doanh… chết rồi mà không chôn được.
-      Quản lý nhà nước bất cập và chính sách đất đai hiện hành dẫn tới hệ quả giá thành xây dựng 1km đường cao tốc ở Việt Nam đắt khoảng 5 – 10 lần so với Thái Lan, so với các nước phát triển khác.., thời gian thi công cũng dài hơn nhiều lần như thế, chất lượng cũng thấp hơn nhiều lần như thế…
-      Nền kinh tế có quá nhều hành vi đầu cơ lũng đoạn, nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng FDI thu hút được. Vì thế khối lượng FDI thu hút được tuy không nhỏ, nhưng không đẩy nhanh được việc chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng hiện đại. Thu hút FDI như hiện nay có nguy cơ kéo dài sự tụt hậu của đất nước… Đúng là thị trường Việt Nam vẫn đang rất hấp dẫn đối với FDI, vì là quốc gia có nhiều tiềm năng lớn và giữ vị thế quan trọng trong khu  vực trên cả  hai phương diện kinh tế và chính trị. Tuy nhiên thể chế chính trị và thể chế kinh tế của đất nước hiện nay là rào cản lớn trong việc thu hút FDI có chất lượng. Đã đến lúc phải chấm dứt xu thế tranh thủ FDI với bất kỳ giá nào như đã diễn ra trong 3 thập kỷ vừa qua.
-      Vân vân…
II.2. Bàn tay bà đỡ còn nhiều yếu kém
Nhìn chung nhà nước làm không tốt vai trò “bà đỡ”; cụ thể là vừa không làm đúng chức năng của mình, vừa can thiệp quá sâu vào kinh tế,  khiến cho đòi hỏi cải thể chế kinh tế ngày càng nóng bỏng.
Những năm gần đây nhiều công trình nghiên cứu đã đi tới kết luận:
(a) Môi trường kinh doanh bị nạn quan liêu và tham nhũng lũng đoạn nghiêm trọng, trong đó nổi bật là: quyền kinh doanh và quyền sở hữu bị xâm phạm, luật thường bị lách hoặc thay thế bằng “làm luật” và lobby, hiện tượng “bộ chủ quản” và nhiều hình thức “chủ quản” khác đang hồi sinh khiến thị trường bị các hoạt động theo “lãnh địa” của các nhóm lợi ích chi phối;
(b) Thiếu vai trò trung gian hữu hiệu của các tổ chức phục vụ các doanh nghiệp trên các phương diện tài chính, luật pháp và kỹ thuật.., do đó tăng thêm giá thành và nguy cơ rủi ro trong sản xuất và kinh doanh – nhất là của các xí nghiệp nhỏ và vừa;
(c) Yếu kém của thể chế chính trị và thể chế kinh tế dẫn tới làm suy giảm nghiêm trọng khả năng hoạt động và tính hiệu quả của các công cụ hướng dẫn hay điều tiết thị trường, ví dụ như lãi suất, tỷ giá, các khuyến khích, các sắc thuế, các chính sách điều tiết khác, vân vân..;
(d) Cùng với những yếu kém của thị trường, hệ thống thống kê và thông tin kinh tế không chuẩn xác (hoặc cố ý che giấu hay tô hồng), làm cho những tín hiệu của thị trường giảm hoặc mất độ tin cậy, gây nguy hiểm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và hệ điều hành, gia tăng các yếu tố đầu cơ;
(e) Do những yếu kém nhiều mặt của kinh tế thị trường, ước lượng Việt Nam chỉ tận dụng được khoảng 30% các hiệp định khung song phương, đa phương và quốc tế đã ký kết, nên không cải thiện được bao nhiêu năng lực cạnh tranh, chưa tham gia sâu được vào các chuỗi sản phẩm mặc dù nền kinh tế nước ta có tỷ trọng xuất khẩu rất cao, thậm chí có nhiều thua thiệt ngay cả trên thị trường nội địa vì không tân dụng được những điều đã ký kết, vân vân… Mặt khác, hội nhập sâu rộng mà không nâng cao được năng lực cạnh tranh đã khiến nước ta rơi vào thế lệ thuộc ngày càng nặng nề vào bên ngoài về vốn (ODA, FDI, các khoản vay khác), nguồn cung đầu vào – đặc biệt từ Trung Quốc (tổng thầu các dự án, các sản phẩm trung gian), và một số lĩnh vực khác (FDI chi phối 65% xuất khẩu và gần 50% công nghiệp).
(f) Khu vực kinh tế quốc doanh, trước hết là các tập đoàn nhà nước, chiếm tới trên 60% vốn của toàn xã hội, hiệu quả kinh tế thấp, nợ nần lớn, sau nhiều năm cải cách đi cải cách lại khu vực kinh tế quốc doanh hiện nay chiếm vai trò chủ đạo trong nợ của quốc gia và là nơi có nhiều ung nhọt nguy hiểm cho cả nền kinh tế; đặc biệt nghiêm trọng là hiện tượng kinh doanh/liên doanh trái nghề và hiện tượng sở hữu chéo của các tập đoàn nhà nước một mặt vô hiệu hoá đáng kể khả năng quản lý của nhà nước và hệ thống luật pháp, mặt khác chèn ép nguy hiểm các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
(g) Chưa tạo ra được một thị trường phục vụ tốt nông nghiệp trên cả 2 phương diện đầu vào và đầu ra, khiến cho nông dân bị thiệt thòi nghiêm trọng và chịu đựng nhiều bất công, đồng thời hạn chế khả năng cải tiến hay hiện đại hoá nông nghiệp; sau gần hai thập kỷ tham gia WTO và nhiều hiệp định khung khác nước ta vẫn lạc hậu và phải chịu nhiều thua thiệt lớn trong xuất khẩu một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực như gạo, cà-phê, cao su, thuỷ sản, tiêu…
(i) Còn thiếu nhiều chính sách và biện pháp thiết thực tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng và vai trò của giới doanh nhân đối với sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, nhất là trên các phương diện: nâng cao năng lực kinh doanh, phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cải tiến các mô hình doanh nghiêp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đỡ đầu các sản phẩm mới, tham gia xây dựng các chính sách vỹ mô và vi mô, thể chế, chiến lược phát triển… (còn thiếu những quyết sách làm cho doanh nhân và các nhà công nghệ trở thành những người trực tiếp thúc đẩy và mở mang kinh tế; xin lưu ý: doanh nhân mới là người trực tiếp tạo ra công ăn việc làm và làm giầu cho đất nước);
(j) Trước sau không thể duy trì vai trò ngân hàng nhà nước với tính cách như là một công cụ của quyền lực như hiện nay (nguyên nhân gốc của lạm phát và của tình hình chi tiêu cũng như phân bổ nguồn lực không thể kiểm soát được). Dứt khoát phải sớm tính đến vai trò độc lập của ngân hàng nhà nước như một công cụ của nhà nước pháp quyền, phải hoạt động theo hiến pháp, chỉ chịu sự giám sát duy nhất của hiến pháp và quốc hội, qua đó trở thành công cụ tài chính quốc gia duy nhất, không thuộc bất kỳ đảng phái hay quyền lực chính trị nào, nhằm đạt hiệu quả tốt nhất đối với toàn bộ nền kinh tế - đây là một trong những điều kiện tiên quyết không thể thiếu của nhà nước pháp quyền cũng như nền kinh tế thị trường. Cùng với vai trò độc lập này của ngân hàng nhà nước là vai trò độc lập của hệ thống thống kê nhất thiết phải tôn trọng, cùng với cùng một lý do như ngân hàng nhà nước;
(…)
 Tựu trung có thể nhận xét, vai trò “bà đỡ” của nhà nước còn đứng khá xa đòi hỏi mang lại cho đất nước có một nền kinh tế thị trường được thúc đẩy bằng sự vận động của quy luật cung – cầu và sự dẫn dắt của một thể chế chính trị khuyến khích sự phát triển đất nước bằng những chính sách vỹ mô đúng đắn. Những điều trình bầy trong phần II này cho thấy đòi hỏi bức xúc phải tiến hành cải cách thể chế chính trị là trọng tâm số một, song rõ ràng phải luôn luôn gắn với cải cách thể chế kinh tế để duy trì được tình hình: Cải cách thể chế chính trị phải gắn liền với những phát triển đạt được trong kinh tế, lấy thành quả này thúc đẩy cải cách thể chế chính trị. Kinh nghiệm Myanmar khác hẳn với thực tiễn cải cách ở Liên Xô  cuối những năm 1980 ở chỗ từng bước tiến bộ trong cải cách chính trị ở Myanmar đều được hậu thuẫn bằng những tiến bộ cụ thể trong cải cách kinh tế, mặc dù nội tình Myamar khó khăn hơn Liên Xô hồi đó nhiều.
III.  Một số gợi ý
 Sự thật kinh tế đất nước đang ở trong một giai đoạn có nhiều khó khăn nghiêm trọng của khủng hoảng cơ cấu kinh tế còn kéo dài, mặc dù hai năm gần đây bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. Có 4 vấn đề lớn nóng bỏng trong những năm tới nhất thiết phải giải quyết xong một cách cơ bản vào khoảng năm 2020:
-      Cơ cấu lại nền kinh tế với mục tiêu giảm bớt lệ thuộc vào bên ngoài, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các khu vực kinh tế trong nước, và phát triển sản phẩm mới, chuyển đổi sang thời kỳ phát triển theo chiều sâu;
-      cơ cấu lại thị trường tài chính tiền tệ để nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và kiểm soát được vấn đề nợ;
-      cơ cấu lại khu vực kinh tế quốc doanh, trước hết là các tập đoàn nhà nước để trực tiếp góp phần vào đổi mới cơ cấu kinh tế;
-      từng bước xử lý vấn đề nợ xấu đang trở nên nguy hiểm.
Cả 4 vấn đề nêu trên đều mang tính cơ cấu nên khó, vừa đòi hỏi nhiều nguồn lực, vừa đòi hỏi nhiều thời gian, không thể đồng loạt giải quyết. Thiết kế các giải pháp từng bước cho từng vấn đề lớn này, và thực thi hài hoà với việc giải quyết từng bước cả 4 vấn đề lớn này như thế nào… là những bài toán khó. Càng không thể tạo ra tăng trưởng cao trong những năm tới này; tăng trưởng như hiện nay không có chất lượng mong muốn và không tạo ra phát triển mới sẽ chỉ có nghĩa làm cho khủng hoảng sâu sắc hơn. Chưa nói đến sắp tới nếu thiếu những  biện pháp thắt lưng buộc bụng gắt gao và có hiệu quả sẽ khó tránh đổ vỡ tiếp – trước hết vì nợ nần và vì những mất cân đối lớn. Chưa nói đến những diễn biến đột xuất từ các vấn đề an ninh quốc phòng (ví dụ: Biển Đông)[4], các vấn đề từ thiên tai, dịch bệnh nếu xảy ra... Đây là sự thật nghiêm khắc,  cần nói rõ cho cả nước biết, và cả nước – trước hết là ĐCSVN – phải thẳng thắn đối mặt.
Cái khó là cả 4 vấn đề nêu trên đều rất nóng, luôn luôn đẻ ra nhưng hệ quả khó trong quá trình xử lý. Ví dụ cơ cấu lại nền kinh tế, chắc chắn phải loại bỏ một số sản phẩm (cũng có nghĩa là phải đóng cửa một số loại doanh nghiệp nào đó, giữa lúc từ vài năm gần đây đã có tới trên 200.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đóng cửa); trong khi đó vô cùng thiếu mọi loại nguồn lực cho phát triển các sản phẩm công nghiệp phụ trợ mà nền công nghiệp hiện có đòi hỏi.  Việc cải cách các doanh nghiệp quốc doanh – trước hết là các tập đoàn kinh tế nhà nước – cũng đặt ra những khó khăn như vậy: thất nghiệp tăng, doanh số giảm, nhà nước mất thuế... Nông nghiệp đang đặt ra nhiều bài toán rất khó và nhạy cảm, với khoảng trên 50% lao động cả nước làm nông nghiệp, với bình quân ruộng đất canh tác 0,3 ha/1 lao động, luật đất đai và thể chế chính trị hiện tại hoàn toàn bất cập cho việc đi lên một nền nông nghiệp của một quốc gia công nghiệp... Cải cách thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng cũng luôn luôn đặt ra nhiều vấn đề rất nhạy cảm. Lấy tiền ở đâu tăng cường tiềm lực quốc phòng đang vô cùng bức thiết lúc này? Đời sống những người làm công ăn lương, của các bộ phận dân cư nghèo ở nông thôn và thành thị, ở các vùng sâu vùng xa… đang vô cùng nhức nhối… Công ăn việc làm của những người đến tuổi lao động? Hàng chục vạn lao động đang đi làm thuê ở nước ngoài, hàng vạn phụ nữ phải đi lấy chồng nước ngoài vì nghèo đói!.. Có thể nói, đất nước có gì có thể bán được hầu như đã bán hết rồi, từ tài nguyên, đến môi trường, đất đai, lao động rẻ, vị trí địa lý…  Song nghèo hèn và bế tắc vẫn hoàn nghèo hèn và bế tắc…  Hình như từ lâu đã bắt đầu bán cả linh hồn nữa, vì đang cam chịu số phận bị đè nén, èo uột, leo dây và lệ thuộc… 40 năm độc lập rồi vẫn chưa cai sữa được ODA và các thứ đi xin khác! Không biết niềm tự hào dân tộc còn lại là bao!?.. … Chưa nói đến thực tế đất nước đang có nhiều vấn đề nóng, rất nóng khác, trong hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống: giáo dục, y tế, giao thông vận tải, năng lượng, môi trường, tệ nạn tham nhũng, chênh lệch giầu nghèo và bất công lớn quá, sự tha hoá trong xã hội từ những nguyên nhân kinh tế… Một sản phẩm mới ra đời trong quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế cũng đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định mới định hình được… Một ngành kinh tế mới càng khó hơn, trong khi nguồn nhân  lực và thể chế chính trị gần như bất cập, rồi lại còn phải chuyển toàn bộ nền kinh tế đất nước đi vào một thời kỳ phát triển mới như thế nào đây?!.. Còn làm tiếp như hiện nay thì đi vào ngõ cụt!.. Và sự thật là bộ não lãnh đạo của đảng với cái “think tank” rất đồ sộ đang có trong tay lúc này vẫn không sao mách bảo được cho đất nước nên làm sản phẩm gì, làm như thế nào, rồi chuyển đổi cả nền kinh tế đất nước sang thời kỳ phát triển mới ra sao, cái định hướng xã hội chủ nghĩa không giúp được những việc cam go này… Vân vân… Thực tế của bức tranh kinh tế đầy thách thức này là sản phẩm kết tụ lại của cả một quá trình chế độ chính trị do ĐCSVN nắm quyền điều hành toàn diện và tuyệt đối dẫn dắt đất nước theo con đường “độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội” từ 40 năm nay. Thực tế của bức tranh kinh tế này không phải là một sản phẩm nhất thời hoặc của riêng một người hay một nhóm người nào, cũng không phải là sản phẩm của một vài khoá nhiệm kỳ đại hội nào, mà là sản phẩm của ĐCSVN nắm quyền cai trị đất nước trong 40 năm đầu tiên độc lập thống nhất. Xin nhắc lại ở đây để không bao giờ quên trong khi so sánh và đánh giá chính đất nước mình 40 năm qua: Chiến tranh Triều Tiên kết thúc 1953, Hàn Quốc bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hoá vào khoảng năm 1960, với GDP p. c. lúc ấy là 81 USD; năm 1990 trở thành NIC (nước mới công nghiệp hoá).
 Từ minh hoạ đôi điều nói trên để đi đến kết luận dứt khoát: Nguy cơ bất cập của hệ thống chính trị nói chung và của thể chế kinh tế hiện hành nói triêng trước những vấn đề kinh tế phải giải quyết trong những năm của khoá đại hội XII tới rất lớn. Mọi thứ kinh tế bánh vẽ để trấn an, hoặc sự kiên định duy ý chí định hướng xã hội chủ nghĩa  để bảo vệ hệ thống chính trị toàn trị như đang tồn tại sẽ chỉ đem thêm thảm hoạ mới cho nhân dân và giúp Trung Quốc bá quyền xiết chặt hơn nữa cái tròng lệ thuộc trên cổ đất nước ta mà thôi. Tất cả càng nói lên tính quyết liệt của một thời kỳ cải cách đang đặt ra phía trước cho đất nước, có lẽ quyết liệt hơn và phức tạp hơn rất nhiều và cũng nhạy cảm hơn rất nhiều so với lúc phải tiến hành đổi mới thời kỳ 1986, vì tình hình khu vực và quốc tế ngày nay hoàn toàn khác, sự lệ thuộc của đất nước lại quá nguy hiểm…
  Thấy và nghĩ gì nói vậy, còn phiến diện lắm, cho nên ngoài việc nêu lên những nhận xét trên của cá nhân, tôi xin phép không bàn về các giải pháp, xin để cho các chuyên gia kinh tế làm việc này tốt hơn. Trong bài này, tôi xin gửi gắm nỗi mong mỏi của mình là đảng – trước hết là Bộ Chính trị và Tổng bí thư – phải có ý chí tiến hành tổng kết trung thực tình hình kinh tế đất nước; tổng kết được rồi thì phải nói thực với toàn đảng và với cả nước, để chắt lọc mọi trí tuệ, mọi nỗ lực, đưa kinh tế nước ta ra khỏi thời kỳ khủng hoảng cơ cấu trầm trọng hiện nay. Thiết nghĩ đất nước cần có một chiến lược kinh tế, sao cho đến năm 2020 khắc phục xong khủng hoảng cơ cấu kinh tế hiện nay, phát triển được những điều kiện kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật cần thiết cho bước phát triển mới, xây dựng được nguồn nhân lực và thể chế kinh tế với chất lượng mới; trong những năm tới này đất nước cũng phải tích luỹ được lực mới, để từ năm 2020 có thể bắt tay vào xây dựng một nền kinh tế hiện đại hoá đúng với nghĩa phát triển là động lực bền vững của tăng trưởng kinh tế. Đặt vấn đề như vậy chất lượng, chứ không phải số  lượng, của tăng trưởng kinh tế mới là mục tiêu quyết định – phục vụ nhiệm vụ trung tâm là phát huy yếu tố con người làm nên sức mạnh quốc gia. Nếu thế cũng phải cất đi cái khẩu hiệu bánh vẽ “đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”, càng không thể trút hết mọi tội lỗi lên cái lá diêu bông: Nguyên nhân của mọi nguyên nhân của tình trạng kinh tế đất nước hiện nay là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không theo kịp công cuộc đổi mới… - mà lẽ ra phải quyết định vứt bỏ cái lá diêu bông!
Chỉ có một lối ra khỏi tình hình nguy hiểm hiện nay để phát triển là:  Trí tuệ, dân chủ và ý chí cứu nước phải là những động lực chính trị của sự nghiệp phát triển kinh tế trong những năm tới, bắt đầu từ việc đại hội XII quyết định tổ chức lại ĐCSVN để phấn đấu trở thành đảng của dân tộc, dấy lên sự tham gia của toàn dân tộc chuyển đất nước đi vào thời kỳ phát triển mới năng động và bền vững./.
 Hà Nội, tháng 9 - 2014

  Nguyễn Trung

[1] Các nước được xếp loại “nước đang phát triển có thu nhập trung binh” có GDP p.c. trong khung 7000 – 12000 USD, nước ta hiện nay mới đạt khoảng 1350 USD. Để lọt được vào khung này, nước ta cần khoảng 1 – 2 thập kỷ nữa.
[2] Thật ra rất khó nói nước ta có chiến lược phát triển kinh tế với đúng nghĩa, nó mang quá nhiều nét dang dở của tự phát; bởi vì chiến lược được hiểu theo những gì đã được viết ra trong nghị quyết thường không bao giờ được thực hiện nghiêm túc, hay thay đổi theo nhiệm kỳ đại hội, bị xé lẻ theo tỉnh hay theo ngành; mỗi tỉnh lại là một nền kinh tế riêng hoàn chỉnh, được quy hoạch, tính toán riêng cho tỉnh… (cái gọi là “nền kinh tế GDP tỉnh”). Chiến lược công nghiệp hoá là một chiến lược tổng thể, song cũng được thay đổi tuỳ tiện qua các khoá đại hội. Chiến lược kinh tế vùng hầu như chỉ nằm trên giấy, trong khi đó cuộc sống tự nó tạo ra các liên kết giữa các ngành và các địa phương theo nhu cầu của cuộc sống, không nằm trong nhị quyết nào cả. Hầu như đến nay chưa có một quy hoạch phát triển kinh tế nào đứng vững – nhất là quy hoạch phát triển sản phẩm nông nghiệp, khoáng sản… Vân vân…
[3] Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
[4] Riêng đối phó với sự kiện giàn khoan HD 981 kinh tế đất nước mất khoảng 1% GDP.
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 22-9-14
(Viet - studies) 

Lê Công Định - Thượng tôn luật pháp (Rule of Law)

Trong một nhà nước pháp trị, nơi mà nhà cầm quyền cai trị xã hội bằng luật pháp, tinh thần thượng tôn luật pháp là lẽ đương nhiên. Thượng tôn luật pháp được thể hiện ở chỗ cả bộ máy công quyền lẫn công dân cùng “quy ước” với nhau chỉ tuân thủ và áp dụng các đạo luật và văn kiện lập pháp tương đương khác do quốc hội hay nghị viện ban hành một cách minh bạch.

Tất nhiên, khi hành xử quyền hành pháp, chính phủ và các cơ quan trực thuộc có thể soạn thảo những văn kiện lập quy để những viên chức trong bộ máy công quyền dễ dàng thực hiện công việc thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Người dân lẽ ra không cần biết đến những văn kiện lập quy này, đặc biệt những loại có đóng dấu “mật”, vì họ chỉ phải tuân thủ những gì do chính cơ quan mà họ trực tiếp bầu nên soạn thảo và ban hành.

Nếu thực hiện nguyên tắc thượng tôn luật pháp thì khó có thể chấp nhận việc một văn kiện lập pháp, như Bộ Luật dân sự lại còn phải chờ sự hướng dẫn thi hành của nghị định và thông tư.

Nếu thực hiện nguyên tắc thượng tôn luật pháp thì khó có thể chấp nhận việc một văn kiện lập pháp, như Bộ Luật dân sự hay Luật đất đai chẳng hạn, tuy đã được ngành lập pháp ban hành nhưng còn phải chờ sự hướng dẫn thi hành của những văn kiện lập quy như nghị định và thông tư của ngành hành pháp. Đó là chưa kể đến một thực tế vẫn diễn ra thường xuyên là các cơ quan công quyền, đặc biệt Chính phủ và các Bộ, khi ban hành văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành một đạo luật đã tự ý áp đặt cách giải thích luật của mình hoặc đặt ra các thủ tục mà luật không minh định nhằm hạn chế hoặc tước bỏ quyền lợi của người dân vốn đã được đạo luật ấy công nhận.

Trong một nhà nước pháp trị, cơ quan lập pháp và các thành viên của nó phải chủ động soạn thảo dự án luật, chứ không chỉ thụ động ngồi chờ các Bộ trình sẵn để tranh luận và biểu quyết. Chính những đại biểu dân cử sẽ chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên môn từ các chuyên gia trong lĩnh vực đối tượng của đạo luật. Thực thi quyền soạn thảo luật như vậy cũng sẽ giúp giảm thiểu tình trạng “nghị gật” trên diễn đàn quốc hội.

Thượng tôn luật pháp còn đòi hỏi mọi văn kiện lập pháp và lập quy đều phải tuân thủ hiến pháp. Công dân được quyền thách thức tính hợp hiến của luật và các văn bản dưới luật bằng việc khởi kiện trước tòa bảo hiến. Tòa bảo hiến - dù được tổ chức như một định chế riêng biệt hay là một bộ phận của tòa án tối cao - sẽ đảm đương công việc bảo vệ hiến pháp và có thể đưa ra phán quyết hủy bỏ các đạo luật, nghị định, thông tư hoặc quyết định vi hiến.

Tình trạng thông tư và nghị định của ngành hành pháp mâu thuẫn với các đạo luật của cơ quan lập pháp như hiện nay chắc chắc cũng không thể tồn tại nếu có tòa bảo hiến. Quốc hội khi đó sẽ nghiêm túc hơn khi soạn thảo luật, cơ quan công quyền sẽ cẩn thận hơn khi điều hành quốc gia. Không ai có thể tiếp tục tại vị để đùa với dân khi mà hôm nay ban hành quyết định này, ngày mai lại sửa đổi, thậm chí hủy bỏ chính quyết định đó!đạo luật và văn kiện lập pháp tương đương khác do quốc hội hay nghị viện ban hành một cách minh bạch.

Tất nhiên, khi hành xử quyền hành pháp, chính phủ và các cơ quan trực thuộc có thể soạn thảo những văn kiện lập quy để những viên chức trong bộ máy công quyền dễ dàng thực hiện công việc thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Người dân lẽ ra không cần biết đến những văn kiện lập quy này, đặc biệt những loại có đóng dấu “mật”, vì họ chỉ phải tuân thủ những gì do chính cơ quan mà họ trực tiếp bầu nên soạn thảo và ban hành.

Nếu thực hiện nguyên tắc thượng tôn luật pháp thì khó có thể chấp nhận việc một văn kiện lập pháp, như Bộ Luật dân sự lại còn phải chờ sự hướng dẫn thi hành của nghị định và thông tư.

Nếu thực hiện nguyên tắc thượng tôn luật pháp thì khó có thể chấp nhận việc một văn kiện lập pháp, như Bộ Luật dân sự hay Luật đất đai chẳng hạn, tuy đã được ngành lập pháp ban hành nhưng còn phải chờ sự hướng dẫn thi hành của những văn kiện lập quy như nghị định và thông tư của ngành hành pháp. Đó là chưa kể đến một thực tế vẫn diễn ra thường xuyên là các cơ quan công quyền, đặc biệt Chính phủ và các Bộ, khi ban hành văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành một đạo luật đã tự ý áp đặt cách giải thích luật của mình hoặc đặt ra các thủ tục mà luật không minh định nhằm hạn chế hoặc tước bỏ quyền lợi của người dân vốn đã được đạo luật ấy công nhận.

Trong một nhà nước pháp trị, cơ quan lập pháp và các thành viên của nó phải chủ động soạn thảo dự án luật, chứ không chỉ thụ động ngồi chờ các Bộ trình sẵn để tranh luận và biểu quyết. Chính những đại biểu dân cử sẽ chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên môn từ các chuyên gia trong lĩnh vực đối tượng của đạo luật. Thực thi quyền soạn thảo luật như vậy cũng sẽ giúp giảm thiểu tình trạng “nghị gật” trên diễn đàn quốc hội.

Thượng tôn luật pháp còn đòi hỏi mọi văn kiện lập pháp và lập quy đều phải tuân thủ hiến pháp. Công dân được quyền thách thức tính hợp hiến của luật và các văn bản dưới luật bằng việc khởi kiện trước tòa bảo hiến. Tòa bảo hiến - dù được tổ chức như một định chế riêng biệt hay là một bộ phận của tòa án tối cao - sẽ đảm đương công việc bảo vệ hiến pháp và có thể đưa ra phán quyết hủy bỏ các đạo luật, nghị định, thông tư hoặc quyết định vi hiến.

Tình trạng thông tư và nghị định của ngành hành pháp mâu thuẫn với các đạo luật của cơ quan lập pháp như hiện nay chắc chắc cũng không thể tồn tại nếu có tòa bảo hiến. Quốc hội khi đó sẽ nghiêm túc hơn khi soạn thảo luật, cơ quan công quyền sẽ cẩn thận hơn khi điều hành quốc gia. Không ai có thể tiếp tục tại vị để đùa với dân khi mà hôm nay ban hành quyết định này, ngày mai lại sửa đổi, thậm chí hủy bỏ chính quyết định đó!
Lê Công Định
(FB Luật sư Lê Công Định)

-Định Thiên – “Sư Quốc doanh”

Định Thiên

Tác giả gửi tới Dân Luận
Xã hội Việt Nam ngày nay đang tồn tại nhiều chuyện ngược. Một trong những chuyện ngược đó là ngày càng có nhiều quan chức đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam đi chùa.
Nói “ngược” là vì: Chủ thuyết của Cộng Sản là “vật chất quyết định ý thức, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng”… còn Đạo Phật thì lấy “Tâm, Ý” làm chủ thể: “tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ tạo tác” (Kinh Pháp Cú). Vì thế, trong khi việc đi chùa của hàng vạn hàng triệu nhân dân phật tử là công đức thiện tâm, thì việc “các ông nhà nước” xuất hiện thường xuyên nơi cửa Phật hoặc nhiều thầy tu áo mão xiêm y kè kè bên cạnh những ông quan cộng sản to đùng lên TV, thậm chí ở nhiều nơi tượng, ảnh của Bác Hồ cũng được đưa lên ngồi chung với bàn thờ Phật, Tổ (1) thì cái chân lý “tự nhiên” “như nhiên” của Phật Thích Ca đã bị các thầy tu nhân danh là “con ruột” của ngài xâm hại nặng nề!

Trở về quá khứ những năm đầu thập niên 80, là giai kỳ mà việc xét lý lịch đã trở thành một rào cản đóng cánh cửa tương lai của hàng vạn thanh niên, theo lời một người làm trong ngành An ninh: hồi đó muốn vào ngành Công an hoặc muốn kết nạp Đảng thì điều kiện tiên quyết trong hồ sơ lý lịch phải là “không tôn giáo”. Cần nhớ, những năm đầu thập niên 80 cũng là thời kỳ mà Phật giáo Việt Nam phải bước một “bước chuyển mình đau đớn”! Đó là, từ tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), nơi có nhiều nhà sư ưu tú, uy tín lẫm liệt trong lòng trí thức và quần chúng Phật tử, chuyển sang một tổ chức gọi là “hợp nhất 9 Hệ Phái Phật Giáo” được triệu tập trong một đại hội năm 1981 tại Hà Nội, có danh xưng còn duy trì đến ngày nay là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) lấy phương châm là “Đạo Pháp – Dân Tộc – Xã Hội Chủ Nghĩa” theo một kịch bản mà có tài liệu cho là “do Công an Tuyên giáo soạn”. (2)
Tại sao nói là “bước chuyển mình đau đớn”? Có thể nói Đảng CSVN rất giỏi chiến thuật “lấy mỡ nó ráng nó”! Bằng việc cho ra đời tổ chức Giáo hội Phật giáo Nhà nước (tức GHPGVN), họ đã gây phân hóa các tu sĩ mà trước đó đứng chung hàng trong GHPGVNTN. Một số nhà sư cho rằng Phật Giáo cũng phải tùy thời mà hành hoạt nên tham gia vào. Có người vì cầu lợi danh mà vào nhưng số không nhiều cho đến sau này có vài vị cuốn vào nguồn máy mà bị tha hóa. Một số thề không bắt tay với chính quyền để duy trì GHPGVNTN thì bị đánh cho tàn rơi lá mồng tơi như các hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ. Có vị rút lui hậu trường tìm vui ngày tháng bằng lời kinh tiếng kệ như hòa thượng Thích Trí Quang, Thích Thanh Từ. Nhiều vị thì vì các lý do khác nhau mà tiếp tục con đường tu hành ở nước ngoài như các hòa thượng Thích Mãn Giác, Thích Tâm Châu, Thích Thiện Châu, Thích Nhất Hạnh. Cũng có những nhà sư tuổi Đảng nhiều hơn tuổi Đạo, đã dày kinh nghiệm hít thở bầu không khí XHCN thì đương nhiên được cơ cấu vào làm lực lượng tai mắt nòng cốt.
Đến hôm nay, các tu sĩ nổi tiếng có xuất thân từ GHPGVNTN chuyển qua tham gia giáo hội nhà nước như các hòa thượng Thích Đôn Hậu, Thích Trí Thủ, Thích Thiện Siêu, Thích Minh Châu, Thích Trí Tịnh… theo quy luật vô thường mà yên giấc nghìn thu, thay vào đó phần nhiều là các nhà sư ăn theo nói leo thì có thể nói tổ chức GHPGVN đã trở thành một con cừu ngoan ơi là ngoan của ông chủ CS. Cũng theo người làm trong ngành An ninh, thì gần chục năm nay lý lịch kết nạp Đảng và hồ sơ vào ngành Công an không nhất thiết phải là “không tôn giáo” như trước nữa mà đã có sự mở rộng ra, chấp nhận cả hồ sơ lý lịch “Phật giáo” (cánh cửa vẫn đóng kín với các tôn giáo khác). Như vậy là đã có sự chuyển “từ lượng thành chất” trong quan hệ của GHPGVN và chính
quyền CSVN. Quá trình chuyển hóa này tuy có lúc đậm nhạt khác nhau nhưng nhìn chung là tỉ lệ thuận với “độ ngoan” của “con cừu” Phật Giáo.
18.8.14bt3309-1.jpg
Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam thăm, chúc mừng Bộ Công an nhân Kỷ niệm 69 năm Ngày truyền thống
Để duy trì quan hệ “môi răng”, mỗi năm có hàng chục cuộc thăm viếng kiểu “bánh ít đi bánh quy lại” của lãnh đạo hai bên. Không khí mỗi cuộc viếng thăm “thêm tạ muối cũng chưa hết nhạt” là vì “giang hồ cũng trọng nghĩa khí còn thầy tu mà câu nệ lợi danh nên CS chỉ DỤNG chứ không TRỌNG” như tâm sự của một người trong cuộc. Tuy nhiên, nhờ các đợt viếng thăm như vậy mà nhiều đường hướng chính trị của Đảng và Nhà Nước “quá cảng” ở cửa chùa để rồi sau đó đi vào đời sống xã hội là đông đảo quần chúng Phật tử bằng cách lồng ghép qua những buổi sinh hoạt “Phật Pháp”.Những năm gần đây, bất chấp nền kinh tế VN suy trầm, đời sống đa phần người dân trở nên khốn đốn thì vẫn có hàng trăm ngôi chùa “treo biển” GHPGVN mọc lên khắp miền đất nước, nhiều tu sĩ không ngại phô sự se sua giàu có. Song song với đó là nhiều scandal trong giới thầy tu gây chấn động dư luận xã hội cũng tăng lên. Kỷ lục chùa to phật lớn không ngừng được lập và được cấp bằng. Có những “siêu chùa” mà độ hoành tráng xếp hạng 5 sao! (3).
Tương ứng với “siêu chùa” thì có “siêu sư”. Cầm cạt-vi-zít vài nhà sư trên tay, nhiều người hoa mắt với hàng loạt chức danh của người đời như Tiến sĩ, Chủ tịch, Trưởng ban, Giám đốc… Nhà nước thì hào phóng ban phát Huân-Huy chương, giấy khen cho các nhà sư. Có vị HT khi còn sống từ chối nhận đến khi thác thì nhà nước đem Huân chương HCM tới đặc lên quan tài (như trường hợp HT Thích Đôn Hậu) nhưng cũng có nhà sư đã có đủ bộ “sưu tập”.
Việc ngoan ngoãn theo ông chủ CS biến nhiều nhà sư có chức có quyền ngày càng trở nên nhu nhược, phản động. Trong chuyến về Việt Nam cách đây vài năm của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, khi đến thăm VPTW GHPGVN, 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q. 3, TP. Hồ Chí Minh, một cơ ngơi mà GHPGVN đang kế thừa từ trường Thanh niên Phụng sự xã hội do hòa thượng Thích Thiện Minh lập năm 1964 đã phát biểu rằng điều mà lòng ông cảm thấy buồn là trong khuôn viên không thấy có một tấm hình nào của hòa thượng Thiện Minh, một vị hòa thượng chân tu hết lòng với Đạo Pháp. Phải chăng để cho đẹp lòng “ông chủ” mà các “nhà sư lãnh đạo” bỏ quên cả vị ân sư của mình!? Nên nhớ, hòa thượng Thiện Minh chết trong nhà tù CS năm 1979 mà đến nay xác không biết ở đâu.
Cũng nhắc lại sự kiện Pháp nạn xảy ra với Tăng đoàn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã tỉnh Lâm Đồng năm 2008, khi Thiền Sư Nhất Hạnh nêu kiến nghị 10 điểm lên Nhà nước trong một buổi tiếp của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Nội dung của bản kiến nghị là kêu gọi giảm bớt sự can thiệp của nhà nước trong các sinh hoạt của Phật Giáo đồng thời kêu gọi giới thầy tu rút lui các hoạt động trong môi trường chính trị để dành thời gian chuyên tâm thực hành tâm linh… Đó là những kiến nghị hoàn toàn đúng đắn và đầy trách nhiệm, nhưng cũng vì thế mà tăng đoàn của ngài đã bị đánh cho tanh bành trong liên tục mấy tháng trời bởi một lực lượng mà sau đó thiền sư Nhất Hạnh trong tâm thư gởi Chủ Tịch Nước kêu gọi can thiệp đã viết: “côn đồ với công
an, tuy hai mà một”. (4)
Cùng thời gian đó, trong khi nhiều nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước mạnh mẽ lên tiếng bảo vệ 400 tu sĩ và hàng ngàn phật tử, (Đảng viên kỳ cựu, nhà nghiên cứu Văn hóa Nguyễn Đắc Xuân viết thư phản đối và có yêu sách đòi ly khai ra khỏi ĐCS (5) thì các nhà sư quyền cao chức trọng của GHPGVN hoàn toàn im lặng trước công luận. Không những thế, họ nhiệt tình lên tivi làm phông màn, tổ chức cầu an cầu siêu cho các anh hùng cách mạng ở hàng chục nghĩa trang liệt sĩ với nhiều lễ hội linh đình tốn kém mà hiệu quả như thế nào thì thực tế đời sống xã hội đã kiểm chứng! (http://giacngo.vn/vanhoa/2014/07/17/37F25A/).
Việc liên tiếp rầm rộ cầu an cầu siêu tại các Nghĩa trang Cách mạng mà chưa một lần cầu siêu cho các anh hùng chiến sĩ trận vong các mặt trận khác hoặc cho hàng vạn đồng bào tử nạn giữa muôn trùng biển khơi trên hành trình chạy trốn CS… thì dù có khách quan cũng không khỏi gợi ra một dấu hỏi: GHPGVN lấy việc “quảng cáo chính trị CS” hay lấy giáo lý “Tâm vô phân biệt” của Đức Phật làm lý tưởng hành đạo? Thậm chí, cùng là “Thích tử thiền môn”, cùng tu hạnh vô ngã từ bi, nhưng các nhà sư GHPGVN lên tivi, xuất hiện tại diễn đàn Quốc hội để “đấu tố” các đồng đạo của mình bên GHPGVNTN. Những nhát đâm rỉ máu cắt vào tim lịch sử Phật giáo VN!(6)
Một tổ chức giáo hội thiếu bản sắc, bị sai khiến và bị huy động cho các mục đích chính trị lại phảng phất hình bóng lợi ích nhóm khiến nhiều tu sĩ có đạo tâm đạo lực chọn cách đứng ngoài. Một thiểu số đã dính chân vào thì làm việc cầm chừng tư tưởng hai hàng. Chỉ có những tay “cò tôn giáo” là thỏa sức khua chiên khua trống.
Karl Marx, ông tổ của học thuyết CS còn chỉ ra: khi lượng và chất phát triển không đồng đều thì xảy ra mâu thuẫn xung đột. Vì vậy, đạo đức xã hội VN ngày càng tỉ lệ nghịch với mật độ gia tăng số lượng chùa chiền như nó đã và đang thể hiện nếu nhà nước CS không thôi biến báo Phật giáo để thỏa các mục đích chính trị, nếu các nhà sư có chức có quyền không thôi “chăm sóc bộ lông của mình” để tinh chuyên “Giới Định Huệ” như bản hoài của Đức Bản Sư Phật.
Sài Gòn, Mạnh Thu 2014
Định Thiên
_________________________
(1) http://www.tinparis.net/tinvietnam/0605_vn01.html
(2) http://anhduong.net/Tinvietnam/jan06/TaiLieuQuanTrong-DoTrungHieu.htm
(3) http://suckhoedoisong.vn/phong-su/ve-chua-bai-inh-chiem-nguong-nhieu-ky-luc-20120629083821465.htm
(4) http://195.188.87.10/vietnamese/vietnam/2009/10/091019_hrw_batnha.shtml
http://luongtamconggiao.wordpress.com/2012/03/18/chinh-quy%E1%BB%81n-c%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-hay-nha-c%E1%BA%A7m-quy%E1%BB%81n-con-d%E1%BB%93/
(5) http://sachhiem.net/NDX/NDX016.php
(6) http://www.ghpgvntn.net/chinh-quyen-va-chuc-sac-ton-giao-tp-da-nang-thong-qua-kenh-truyen-hinh-vtv-dau-to-dd-thich-thien-phuc/).

Tuấn Khanh - Người Việt đẳng cấp thế giới

Nếu chỉ nhìn trên mặt báo, người Việt dường như luôn đang ở tầm thế giới. Bất chấp mọi con số hay hình ảnh trần trụi xót xa nào mà chúng ta đang có, người Việt hôm nay lộng lẫy không khác gì công dân của các cường quốc được hâm mộ.
Trên các bản tin, hình ảnh người Việt chen chúc nhau xếp hàng cùng các công dân Nhật, Singapore… để chờ mua chiếc Iphone 6 vừa ra mắt. Gương mặt của những công dân Việt Nam mệt mỏi nhưng đầy sự thoả mãn của sự hưởng thụ cảm giác bằng vai phải lứa cùng cường quốc năm châu.
IMG_1090.JPG

Không biết từ lúc nào, khát vọng về một đẳng cấp thế giới đã ám ảnh người Việt từ sự khoe khoang sở hữu cho đến du lịch, bóng đá… Từng con người hoặc từng đám đông đang cố nhoài người tách ra khỏi thực tế của một quốc gia, chỉ để chứng minh rằng mình có một đẳng cấp thế giới.
Thật khó hiểu khi tiêu chuẩn để trở thành người được sáng danh trên các trang báo, là các nhân vật mua được sớm nhất các thiết bị điện tử có giá đắt đỏ vô lý. Người sở hữu chiếc Iphone có giá mua hơn cả một năm lương của người nghèo lại được tung nghênh hơn một người lao động làm ra của cải hay giúp đỡ cho người khác tương đương với số tiền ấy. Một ca sĩ không có giọng hát hay bài hát nào ra hồn lại được ca tụng như một hit pop-star chỉ vì có Iphone sớm nhất.
Vậy đó.
Thói đam mê ảo ảnh hơn người, như loại dục vọng không thể kềm nén nổi tầm quốc gia, căn bệnh “đẳng cấp thế giới” đang lồ lộ trên báo chí, truyền hình – mà ngay cả những bài viết ca ngợi những đẳng cấp đó, cũng không giấu nổi sự sôi sục thèm khát của chính người viết.
Giấc mơ đẳng cấp thế giới không chỉ xuất hiện ở chiếc Iphone hay mua được chiếc vé xem đá banh ở Nam Mỹ. Nó xuất hiện đôi khi trơ trẽn trong các bản tin về những người trẻ “gốc Việt” thành đạt trên thế giới.
Phải chăng sự khốn khó kéo dài dễ dẫn đến ảo giác về một huyền thoại chủng tộc Việt, khiến giới truyền thông hay chụp bắt các gương thành đạt của người Việt trong chính trị hay y khoa, thể thao, điện ảnh… ở nước ngoài như một điều tự hào dân tộc rất “chung và hiển nhiên” mà không cần biết điều kiện nào đưa những người Việt đó đến đích.
Tôi vẫn còn nhớ chuyện đạo diễn Kim Nguyễn ở Canada với phim War Witch được đề cử Oscar 2013. Báo chí Việt Nam trong căn bệnh thích có chân trong đẳng cấp thế giới đã tìm mọi cách để nhắc Kim Nguyễn về cội nguồn của anh. Kết cục là khi được hỏi anh có ý định nào làm phim với người Việt, xứ Việt hay không, Kim Nguyễn đã nói nhanh rằng “không” và giải thích rằng mình không thấy có mối liên hệ nào ràng buộc mình để phải làm vậy cả. Gần hơn, là chuyện cầu thủ trẻ Phạm Huy Tiến ở Romania. Sau khi tung hô rằng xứ sở của “người Việt mình” cũng có người “gốc Việt” đẳng cấp thế giới, báo chí cũng nhận được gáo nước lạnh từ chàng trai này là kiên quyết không quan tâm về nước thi đấu, dù được trãi thảm đỏ.
Trong những trận bóng của U19 vừa rồi, một bạn trẻ nhắn cho tôi rằng anh ta buồn chán vì thấy người Việt thật tệ trong việc ném chai nước, chiếu đèn vào cầu thủ Nhật khi họ thắng đội Việt Nam. Tôi đã phải nói rất nhiều để anh bạn đó phân biệt rõ: Yêu thể thao và khát vọng thượng đẳng là 2 điều khác nhau. Việc thù ghét kẻ vượt trội hơn mình trong thể thao hay văn hoá có thể bị coi là một cuộc đấu tranh giai cấp điên cuồng đáng khinh.
Tệ hơn nữa là sự thù ghét kẻ hơn mình lại khoác chiếc áo chủ nghĩa ái quốc cực đoan. Việc coi mình phải luôn hơn kẻ khác cũng là tiền đề dẫn đến sự bùng phát của chủ nghĩa Facist, từ chủng tộc thượng tôn Aryan. Đó là thảm hoạ. Tôi và anh bạn trẻ đó hẹn nhau ở những trận bóng tới, sẽ nhìn ngó xem bao nhiêu là người yêu thể thao và bao nhiêu là người chỉ là nhân danh.
Anh bạn trẻ nói với tôi rằng dẫu sao, người Việt cũng có một hành động đẹp là chia nhau lượm rác sau trận đấu. Tôi lại phải giải thích rằng hai trạng thái đó cũng khác nhau, và những nhóm người đó cũng khác nhau. Việc bắt chước hành động thượng đẳng của người Nhật trên sân vận động không hề chữa lành được việc làm nhơ nhuốc trước đó, khi thua trận bóng. Thậm chí nếu trong nhóm người nhặt rác đó có người đã ném chai, chiếu đèn… Vào đội Nhật, nó cũng trình bày một hiện trạng của người Việt: phong trào thích bắt chước những hành động cao quý nhưng lộ rõ sự giả tạo bề ngoài, che đậy những trái tim không thượng đẳng.
Có lần, một anh bạn người Pháp hỏi tôi rằng “nước của anh tuyên bố có rất nhiều tiến sĩ nhưng sao lại rất ít bằng phát minh?” Thật khó mà giải thích được một cách ngắn gọn rằng đó chỉ là những tuyên ngôn trình diễn giấc mơ thượng đẳng của những người không màng trách nhiệm với đất nước. Nó giống như việc Viện trưởng Viện Kinh tế chiến lược VN –châu Á, ông Nguyễn Xuân Kiên mới đây tuyên bố rằng 20 năm nữa Việt Nam là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Làm sao mà giải thích được tượng đài mơ đẳng cấp thế giới treo đèn kết hoa ấy, được dựng nên bằng cát đá của hàng ngàn công trình hạ tầng đang sụp đổ, của những món nợ công khổng lồ mà nhiều đời con cháu Việt phải gánh trả hay một quốc gia bị tham nhũng đục ruỗng từng ngày đến mức ông Nguyễn Minh Triết, nguyên chủ tịch nước đã phải kêu lên “tham nhũng đang đe doạ chế độ”.
Đẳng cấp thế giới của người Việt chắc chắn không là chuyện sở hữu các loại smartphone mới nhất, không phải là chen chân vào đoàn siêu xe với các triệu phú Việt kiều đi vòng quanh nước Mỹ mượn ý nghĩa Hoàng Sa -Trường Sa, không phải là đám đông thích giương cờ hò hét trong các trận bóng hay nguyện quan tâm đến sự sống chết của loài tê giác ở Châu Phi… Tôi tin là người Việt sẽ có một đẳng cấp thế giới khi thật sự biết đau xót từ chuyện già trẻ giành nhau những chiếc áo đi mưa, bốc hốt trong bữa tiệc buffet… cho đến biết tức giận và hành động trước nạn bạo hành con trẻ, biết quan tâm và chia sẻ việc đòi công lý những điều oan khuất vẫn hiện ra trên báo chí mỗi ngày.
Sự thượng đẳng nằm trong trái tim mình – nó đang bị giam cầm bởi sự chập choẻng bề ngoài như một thảm nạn của dân tộc. Sự chập choẻng ấy biến chúng ta thành một dân tộc thiếu sự trưởng thành. Đẳng cấp thượng đẳng của một dân tộc – nếu có – sẽ thật sự đánh thức từng người, rằng cuộc sống không chỉ cần riêng mình no đủ và nhởn nhơ vô tâm với cuộc sống thật chung quanh mình.
————————————————–
Về lời nhận định của ông Nguyễn Minh Triết
Tuấn Khanh
(Blog Tuấn Khanh)

-Biểu tình ngưng hoạt động nhà máy Titan – Ninh Thuận: Lắng nghe tiếng dân hay mù mờ nghe chính quyền?

Danluan

Phóng viên Dân Luận thực hiện

Dân Luận: Như Dân Luận đã đưa tin, ngày 27/3/2014 vừa qua người dân Sơn Hải đã biểu tình trước UBND tỉnh phản đối công an bắt người vô cớ trái pháp luật. Vụ việc Dân Luận đã đưa tin nhận thấy có nhiều khúc mắc của phía bà con thôn Sơn Hải khác hoàn toàn so với những gì chúng tôi đọc được trên báo chí chính thống. Vì vậy phóng viên Dân Luận đã đến thôn Sơn Hải trực tiếp gặp bà con để tìm hiểu rõ vụ việc.
untitled_1.jpg
Từ trái qua: Cô Trần Thị Thanh, ông Lê Quang Hạnh, ông Dương Văn Phước thôn Sơn Hải tường thuật lại vụ việc.

Sự việc xảy ra vào ngày 27/3/2014 vừa qua, khi người dân ở thôn Sơn Hải – xã Phước Dinh- huyện Ninh Phước- tỉnh Ninh Thuận kéo nhau ra UBND tỉnh để làm rõ việc chính quyền bắt người trái pháp luật.


Được biết trước đó ngày 26/3/2014 cơ quan công an tỉnh Ninh Thuận đã khởi tố vụ án chống người thi hành công vụ xảy ra tại khu vực tận thu quặng titan của Công ty TNHH MTV Quang Thuận (gọi tắt Công ty Quang Thuận). Điều đáng nói, những người bị bắt đều là những người phản đối việc hoạt động gây ô nhiễm của nhà máy khai thác Titan.
Tiếp xúc với người dân nơi đây, PV Dân Luận đã có dịp được nghe kể về những câu chuyện đằng sau nổi ẩn khuất, sự bất công của chính quyền đối với người dân, trong việc ngăn chặn nhà máy gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường nước sinh hoạt trong thôn.
Theo ông Dương Văn Phước cho biết: “kể từ khi UBND tỉnh Ninh Thuận cấp phép cho công ty TNHH Quang Thuận đi vào hoạt động khai thác Titan sát với khu vực dân ở, cuộc sống của người dân trong thôn bị đảo lộn hoàn toàn, dân ko có nước để sinh hoạt vì nguồn nước sạch bị ô nhiễm nặng , nhà cửa bị nứt nẻ vì cát lún, mồ mả tổ tiên thì bị chôn vùi dưới cát trắng, đau lòng lắm”.
hinh_1.jpg
hinh2.jpg
Nguồn nước ngầm người dân Sơn Hải sử dụng bị vẩn đục và ô nhiểm nghiêm trọngVùng đất Sơn Hải – Ninh Thuận là một vùng khô hạn, từ trước tới nay nguồn nước sạch ở đây vốn dĩ đã rất thiếu thốn, người dân sinh sống quanh đây đã phải chắt chiu và giữ gìn để bảo vệ nguồn nước ít ỏi này.
Từ khi công ty TNHH Quang Thuận được cấp phép đi vào khai thác Titan ở khu vực này thì nguồn nước ngầm ngày càng giảm sút nghiêm trọng, không những thế còn bị ô nhiễm rất nặng. Việc tắm rửa, giặt đồ người dân cũng ko dám lấy nguồn nước này ra sử dụng. Hiện nay, dân phải mua nước bình ở ngoài về sinh hoạt.
Ngoài ra việc khai thác Titan còn gây ra những hậu quả rất nặng nề, làm biến dạng khu vực bãi cát ven biển, làm nhiễm mặn và cạn kiệt nguồn nước ngọt, ảnh hưởng đến rừng phòng hộ ven biển, gây hậu quả rất nghiêm trọng cho môi trường.
hinh16.jpg
hinh17.jpg
hinh18.jpg
Từ khi nhà máy Titan đi vào hoạt động khiến cát lún, mồ mả tổ tiên của người dân bị chôn vùi dưới cát sâu. Để ngăn chặn mồ mả bị cát chôn vùi họ phải dùng bao tải ngăn cát lấpKhông qua ý kiến dân, vẫn tự ý cấp phép cho công ty đi vào hoạt động
Công trình khai thác Titan của công ty Quang Thuận được UBND tỉnh cấp phép đi vào hoạt động ngày 22/06/2012 với diện tích 87ha. Tuy nhiên, trước khi cấp phép cho công ty này, chính quyền UBND tỉnh đã ko họp lấy ý kiến của dân, tự ý cho công ty khai thác với lý do là theo “chủ trương của Chính phủ”.
Sau khi đi vào hoạt động, công ty Quang Thuận đã không thực hiện đầy đủ các giải pháp nhằm đảm bảo tới môi trường, làm cạn kiệt nguồn nước ngầm, mồ mã bị chôn vùi dưới cát, nhà dân bị nứt nẻ vì lún đất, gây sạt lỡ nghiêm trọng tại khu vực người dân đang sinh sống.
hinh8.jpg
hinh9.jpg
Nhà dân bị nứt, sạt lở do hậu quả của việc khai thác TitanQuá bức xúc với tình trạng trên, đã nhiều lần người dân trong thôn viết đơn kiến nghị lên UBND xã, huyện, tỉnh nhưng ko được chính quyền ở đây giải quyết mà vẫn dửng dưng trước ý kiến và nguyện vọng của dân, nên buộc lòng người dân trong thôn cùng nhau phải vào công ty để ngăn việc khai thác.
Dân không sai vẫn đấu tố cho dân có tội
Trước sự việc công ty khai thác Titan Quang Thuận làm ảnh hưởng đến môi trường và đảo lộn cuộc sống của người dân trong thôn Sơn Hải, ngày 26/03/2014 hơn 30 người dân trong thôn kéo nhau ra trụ sở UBND tỉnh để đòi giải quyết và bắt dừng ngay hoạt động của nhà máy khai thác Titan.
Kể về sự việc hôm đó, ông Dương Văn Phước người bị bắt cho biết thêm: “ trước đó dân chúng tôi cùng nhau ra UBND xã để đề nghị được giải trình không cho nhà máy đi vào hoạt động nữa, nhưng ông Chiêu Tổng bí thư xã và ông Trần Thành Lập là công an huyện trả lời: ở huyện, xã không có thẩm quyền đề nghị dân lên tỉnh đề nghị tỉnh giải quyết, nghe như vậy thì chúng tôi vẫn ăn mặc chỉnh tề lên đó với mục đích gặp UBND tỉnh theo lời của ông Trần Thành Lập, gặp một cách nghiêm chỉnh giữa lãnh đạo và người cựu chiến binh, như vậy lúc 12h trong khi ngồi đợi và uống chưa hết một nửa ly nước thì một lúc sau có vài chục công an ập tới bắt chúng tôi và liệng lên xe chở đi, tôi cũng ko biết rõ là sự việc như thế nào. Họ bắt đi 5 người”.
Tìm hiểu sâu hơn về việc này chúng tôi được biết, tất cả 5 người bị bắt là ông Dương Văn Phước, Đỗ Văn Đức, Lê Quang Hạnh, Nguyễn Văn Song, Lê Công Chỉ đều là những người được dân trong thôn cử đi để làm việc với UBND tỉnh.Nhưng chưa kịp làm việc thì bị bắt đi đâu ko rõ.
Ông Lê Quang Hạnh kể lại: “ lúc bị bắt và đẩy lên xe họ làm chân tôi bị chảy máu, tôi có nói với họ là mắt tôi kém ko thấy gì đâu mấy anh làm cận thận chứ tôi ko có tội gì, thì mấy anh mới bắt đầu nắm áo đẩy vô, khi bị bắt đi thì tôi ko biết ông Dương Văn Phước và ông Đỗ Văn Đức được bắt đi đâu. Riêng tôi, ông nguyễn Văn Song và ông Lê Công Chỉ thì được đưa về huyện Thuận Nam, lúc đó đã là hơn 12h”.
Ông Hạnh là một trong những người dân trong thôn đứng lên ngăn chặn việc nhà máy khai thác Titan Quang Thuận làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, và lấp hết mồ mã tổ tiên. ông Hạnh cho biết, ông cũng ko biết mình bị bắt vì nguyên nhân gì.
Trước đó khi ngày 18/03/2014 trong một lần cùng mọi người trong thôn ngăn chặn việc khai thách của công ty Quang Thuận, ông Hạnh bị công an dùng dùi cui đánh thẳng vào mặt khiến ông mất máu rất nhiều. Bên cạnh đó ông còn bị vu khống đánh trọng thương 2 công an khác phải nhập viện.
Được biết, ông Hạnh là một cựu chiến binh bị mờ 2 mắt không thể nào có đủ sức để đánh trọng thương công an. Không chỉ vu oan cho dân đánh công an, chưa dừng lại ở đó một số tờ báo lề phải còn cho rằng người dân đã ko giữ được bình tĩnh và đã dùng xăng đốt kho chứa thiết bị, đập phá tài sản của công ty (theo Thanh niên số ra ngày 27/03/2014).
Nên lắng nghe hơn là cáo buộc
Nhắc tới sự việc trên cô Trần Thị Thanh ko giấu được nỗi bức xúc kể lại: “ việc đốt cháy công ty là ko có thật đâu chú ah! Chỉ là có mấy thằng nhóc trẻ trẻ chừng 14-14 tuổi bức xúc quá nó đốt có 3 tấm nệm thôi, chứ ko có đốt cháy công ty hay phá hoại kho của công ty gì hết”.
Đồng thời việc UBND xã đã không giải quyết đúng theo công văn Tỉnh Ủy gửi xuống ngày 18/03/2014 nên buộc lòng người dân trong thôn Sơn Hải phải xuống tận công ty để cùng nhau tháo dỡ đường ống dẫn nước thải titan. Thêm vào đó việc dân đánh đuổi trọng thương công an như báo tuổi trẻ số ra ngày 27/3/2014 là không đúng sự thật, chính công an và an ninh là những người đã hành hung, xông vào đánh đập một số người dân, trong đó có ông Lê Văn Hạnh là người bị đánh nặng nhất, thấy vậy bà con mới xông vào giải vây. Sau đó công an và an ninh bỏ chạy và họ đổ lỗi cho người dân đuổi đánh.
10695229_1606020672958768_67405891_n.jpg
Nội dung công văn số 35 UBND huyện gởi xuống ngày 18/3/2014 yêu cầu giải quyết khiếu nại của bà con nhưng không được thực hiệnCô Thanh cho biết thêm: “từ khi vụ việc trên xảy ra, trong thôn mọi lối ra vào đều bị phong tỏa. Cho nên, ngày 28/3/2014 người dân buộc lòng phải đi bộ gần 30km từ thôn lên UBND tỉnh để đòi thả người”.
Theo nguồn tin người dân cho hay, giám đốc CA tỉnh đã ra điều kiện với người dân rằng nếu muốn thả người thì phải để công ty Titan Quang Thuận tiếp tục hoạt động và người dân phải dừng lại mọi hoạt động gây mất trật tự công cộng.
Đồng thời việc UBND tỉnh cam kết sẽ đầu tư hệ thống nước sạch cho nhân dân nhưng tất cả chỉ trên mặt giấy tờ.
Nhìn lại việc 6 người dân trong thôn bị bắt, hiện tại đã 5 người đã được thả, riêng ông Dương Văn Phước bị truy tố và đem ra xét xử vào ngày 01/08/2014 vào tội “chống người thi hành công vụ, và đánh trọng thương công an”.
Ông bị kết án “OAN” 22 tháng tù treo, nhưng trước đó luật sư bào chữa của ông Phước đã đề nghị bên phía công an đưa ra nhân chứng và vật chứng về việc ông Phước đánh trọng thương 2 công an, thì lúc này họ không đưa ra được bằng chứng mà luật sư yêu cầu, đồng thời vẫn kết tội cho ông Phước trước sự chứng kiến của hàng trăm người dân có mặt trong phiên tòa.
Trước khi diễn ra phiên tòa xét xử ông Phước người dân trong thôn Sơn Hải đã bị lực lượng công an, an ninh phong tỏa mọi lối ra vào, nói là phiên tòa CÔNG KHAI nhưng lực lượng an ninh ở đây ko cho người dân đi xe máy hay bất kỳ một phương tiện nào, buộc lòng người dân phải lội bộ hơn 30km lên tòa án huyện Thuận Nam để ủng hộ tinh thần ông Phước và phản đối phiên tòa bắt công, mờ ám.
Kết
Ngày 26/09/2014 sắp tới đây, phiên tòa phúc thẩm của ông Phước sẽ diễn ra tại tòa án tỉnh Ninh Thuận, gia đình ông Phước và mọi người dân trong thôn cũng đã đồng loạt ký tên vào đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho ông Phước, và tiếp tục đồng hành dõi theo phiên tòa này. Ngoài ra, hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm cũng đã viết thư tuyên bố phản đối việc nhà cầm quyền bắt giam người vô tội.

Qua sự việc này có thể thấy rõ được những ẩn khuất, nỗi lòng của dân trong lúc rối ren nhất, và khi lắng nghe tiếng lòng từ dân ta mới cảm nhận được sự bức xúc, lòng căm phẫn tới những bất công mà họ phải gánh chịu, từ việc làm trái lương tâm của chính quyền, đến việc làm không đạo đức của những người viết báo quy chụp tội lỗi cho họ… Tất cả chỉ vì để bảo vệ một đơn vị thi công khai thác tại đây mà bỏ qua tiếng dân, trốn tránh trách nhiệm, vậy không đáng để được goi là chính quyền do dân và vì dân.
Được biết, trước đây đã có rất nhiều nhà báo đến tìm hiểu sự việc này như báo Tuổi Trẻ, báo Pháp Luật, báo tỉnh Ninh Thuận.v.v.. Tuy nhiên báo chí chính thống lại không đưa tin đúng sự thật mà còn dùng ngòi bút xuyên tạc chỉ trích đổ lỗi cho người dân khiến họ rất bức xúc. Khi trao đổi với chúng tôi, người dân thôn Sơn Hải rất buồn vì điều này họ hi vọng chúng tôi mang sự thật phơi bày trước công chúng để mọi người có thể hiểu được sự việc chính xác và minh bạch hơn.
Là một phóng viên, chúng tôi nhận thấy cần phải đưa thông tin đúng sự thật để giải oan cho những người dân chất phác thôn Sơn Hải. Đồng thời tố cáo chính quyền không những không bảo vệ nhân dân mà còn lợi dụng quyền lực ức hiếp người dân vô tội khiến họ phải chịu nhiều oan ức.

Một số hình ảnh cận cảnh nhà máy khai thác Titan MTV Quang Thuận:

hinh28.jpg
hinh30.jpg
hinh26.jpg
hinh32.jpg
hinh34.jpg
hinh33.jpg
hinh38.jpg
hinh31.jpghinh36.jpg
hinh37.jpg
hinh35.jpg

Thành Công & Thuốc Lá thực hiện


Người Buôn Gió - Vài nét về Ngô Nhật Đăng.

Đáng ra mình tránh chuyện đang ầm ĩ giữa thành viên các HNBĐL. Thứ nhất là mình không có trong đó, thứ hai là mình không chứng kiến, thứ ba không được ai kể nghe nội tình việc thế nào.
Thứ tư là không muốn thêm ra bớt vào, không khéo thành đổ dầu vào lửa.


http://3.bp.blogspot.com/-d3eDLcAxi58/Uwnv1Re9wLI/AAAAAAAAAMw/sjNxCPHKvP0/s1600/bb.png

Hôm nay có ông anh nói có ý bảo mình quen Đăng, ông ấy mới biết Đăng. Nói thế cũng đúng, nhưng nói đi nói lại thì đi lại giang hồ ngần ấy năm, quen biết thì bao nhiêu người mà tính nổi. Nên chuyện mình quen với ai là một chuyện, chứ còn việc họ làm thì là họ làm, mình đâu liên quan được.

Nhưng thôi, dù sao cũng quen Ngô Nhật Đăng, nhân vật đang thu hút dư luận cùng với Phạm Chí Dũng. Cũng nên cần có vài câu bày tỏ cái nhìn của mình cho thiên hạ tham khảo. Không biết nội tình cũng  nhân tiện chém gió cho nó thành bài, chứ chả nhẽ viết cụt lủn.
Nói về anh Đăng chỉ ngắn gọn thế này, thích ba hoa. Ai gặp sẽ biết ngay, anh ta ba hoa đủ thứ trên trời, dưới biển. Có lúc còn kêu gặp thằng này, thằng kia....toàn thằng làm to...nói chuyện này nọ.

Cái thứ hai là sĩ diện. Tiền nhiều lúc không có, trong túi có một vài trăm nhưng sẵn sàng trả tiền cà phê, ăn sáng cho mấy người. Lúc nào cũng ra vẻ quan trọng, hiểu biết nhiều, quan hệ rộng. Thực ra thì lông bông, mỗi thứ làm một tí, cả thèm chóng chán. Mà cũng chả biết hiểu nhiều hay không, nhưng có câu chuyện nào cứ kể đi kể lại.

Con người như Ngô Nhật Đăng thật ra là vô hại thậm chí là vô tích sự luôn. Không có mưu kế thâm sâu gì, làm việc theo cảm hứng, được ai khen là lâng lâng lên mây, cứ thế mà diễn.

Vì cái tính ba hoa, hóng hớt được đâu tí tin tức gì là làm bộ như có quan hệ, thông tin quan trọng. Như vụ Lê Anh Hùng ở trại tâm thần, Ngô Nhật Đăng lăng xăng hóng được tin, chạy đôn đáo ra vẻ là người đứng ra lo thu xếp cho Hùng ra trại. Rút cục để Lê Anh Hùng nghi là an ninh. Thật ra trong vụ này, an ninh cũng muốn thả Lê Anh Hùng lắm rồi, đang tìm cách này nọ  tung thông tin để thả Lê Anh Hùng làm sao cho suôn sẻ. Ngô Nhật Đăng vớ được cái tin ấy, thế là lon ton cầm đèn chạy trước ô tô.

 Cuối cùng là bị Lê Anh Hùng nghi là an ninh, mà thằng Hùng ở hoàn cảnh nó trong trại, thấy tự nhiên ông Đăng vào gặp chém ào ào mà không hề bị khó khăn gì, Hùng nó nghi cũng phải.

Trước hôm Lê Anh Hùng ra trại mấy hôm, mình cả chị Bùi Hằng đến nhà Hùng. Gặp ngay môt tốp an ninh, công an ở nhà Hùng. Họ đang thuyết phục mẹ Hùng làm đơn xin Hùng về. Họ đưa cả đơn mẫu để mẹ Hùng làm. Thấy mình cả chị Hằng đến họ đứng dây đi ra, dặn sẽ quay lại sau. Mẹ Hùng định viết đơn theo mẫu thì mình ngăn, mình nói nếu bác quyết định viết thì để cháu viết hộ cho, chứ viết theo họ thì dở lắm, có gì sơ sảy về thằng Hùng nó trách bác. Thế là mình viết đơn, xong mang đi đánh máy ở nhà anh Kim Môn, sau đó photo đơn cho các anh em khác nữa duyệt . Khi anh em ok nội dung thì mình bảo Lã Dũng mang xe ô tô đến chở mẹ Lê Anh Hùng đi nộp đơn.

 Hôm mẹ Hùng báo nó được ra trại, mấy xe đi đón. Ngô Nhật Đăng đi đầu như người hùng đến tiếp thu chiến thắng. Hôm đó mình ở nhà, nhìn ảnh, đọc tin đã thấy mắc cười. Sau Lê Anh Hùng tố Ngô Nhật Đăng là an ninh, mới ra vào trại thăm nó dễ, đón nó về lại thao thao đủ thứ chuyện chính khách tầm quốc tế đã can thiệp thế nào cho Hùng ra.

Đáng ra Ngô Nhật Đăng cứ lẹt đẹt mãi thế trong phong trào đấu tranh, vì nhát gan, tài không, chí không. Nhưng lại xảy ra vụ điều trần tự do báo chí bên Hoa Kỳ. Lúc này nhiều người có kinh nghiệm và có bề dày đấu tranh lại bị vào vòng cấm xuất cảnh. Thế nên hết nạc vạc đến xương. Ngô Nhật Đăng có chân trong đoàn người lên đường đi Hoa Kỳ.

Nói gì thì nói,chuyện thiên hạ bảo đi thế được du lịch miễn phí này nọ là một khía cạnh. Chứ nói hết nhẽ thì  cũng phải công nhận những người đi đó cũng can đảm.

Đời nó hay ở chỗ, đến lúc ấy bỗng dưng nhờ mẽ ngoài bệ vệ, lại thêm khoản nổ chuyên nghiệp, phong thái tự tin , đĩnh đạc rất đường bệ. Ngô Nhật Đăng đã làm khá tốt phần việc của mình. Thế là nhờ chuyến đi của mấy người ấy, được thế tiến lên. Khi về HNBDL ra đời.

Tất nhiên HNBĐL ra đời sau chuyên đi kia, ắt phải có vài nhân vật trong chuyến đi đột phá ấy có chân trong ban điều hành. Nước cờ này là hợp lý, vì những thượng nghị sĩ, quốc hội Hoa Kỳ ít ra cũng đã gặp mặt , nói chuyện với một số thành viên trong ban điều hành.

Đời đưa đẩy làm Ngô Nhật Đăng lên như diều, vụt cái chói sáng, giữ chân trị sự hay là cái gì gì đó, đại khái quan trọng trong HNBĐL cho đến khi xảy ra chuyện vừa qua. Đến lúc này thì buộc phải can đảm khi bao ánh mắt nhìn vào, Ngô Nhật Đăng lại một lần nữa đóng trọn vai người hùng. Nhưng Ngô Nhật Đăng thì tài gì mà quản lý được một tờ báo.?

Không có tài, lại thích thể hiện, cho nên việc Ngô Nhật Đăng múa may , quay cuồng một hồi rồi gặp phải sự cố vừa qua là tất nhiên.

Nhưng nhìn lại thì nguyên nhân của sự cố ở HNBĐL vừa qua không phải vì Ngô Nhật Đăng bất tài, thích thể hiện, thích đi theo kiểu của mình. Đó là một nhẽ thôi. Còn có những nhẽ khác thì phải hỏi Liên Sơn, tác giả mở màn cuộc chấn chỉnh đấu tranh dân chủ và hỏi Phạm Chí Dũng đã được Liên Sơn tư vấn quản lý HNBDL thế nào.? 

Ngô Nhật Đăng chắc chắc không phải an ninh hay tay sai an ninh. Đó là những gì tôi quan sát anh ta từ trước đến nay. Anh ta có thể bất tài, có thể hay ba hoa. Nhưng anh ta không phải là an ninh. Lẽ ra để anh ta làm ở bộ phận giao tiếp, đối ngoại của HNBĐL để anh ta nhận vai trò nhậu nhẹt, làm huyên náo viên, phát biểu chém gió thì phát huy khả năng của anh ta hơn.

 Còn về nhà báo Phạm Chí Dũng. Anh Dũng chưa am hiểu gì về những người đấu tranh,  trước giờ anh giữ vai trò viết báo, phân tích, bình luận một cách độc lập. Nếu như sau này anh có hiểu về những thành phần đấu tranh, thì sự hiểu biết đó cũng không nhiều. Chưa kể sau mỗi cá nhân lại là một phe nhóm, một tổ chức nào đó nữa. Với hiểu biết về cá nhân những người đấu tranh không nhiều ( cái này nhiều bạn sẽ bảo tôi lên lớp chê bai, nhưng cứ hỏi thẳng anh Dũng xem có phải thế không ) mà anh Dũng giữ chức chủ tịch quản lý nhân sự thì cái chuyện vừa rồi đến, chả có gì ngạc nhiên.

 Tất nhiên thì câu chuyện về Phạm Chí Dũng là an ninh, đóng khổ nhục kế để cài vào phá hoại như một số người nói , tôi không tin. Bạn nào đưa ra dẫn chứng về Phạm Xuân Ẩn hay X30 hay Vũ Ngọc Nhạ để minh hoạ cho trường hợp Phạm Chí Dũng chỉ là so sánh thôi.

Chuyện vừa qua, đúng không phải là chuyện mâu thuẫn cá nhân. Nó xuất phát từ một ông không biết gì về báo chí lại làm trị sự tờ báo. Còn một ông không biết gì về nhân sự thì lại làm quản lý nhân sự. Và cái HNBĐL nó cũng chưa ra hẳn là một cái hội của xã hội dân sự, cũng chưa ra hẳn là một tờ báo. Nó đang tìm đường để định hình mình. Trong lúc định hình thì có chuyện xung đột là tất nhiên.

 Giờ anh Ngô Nhật Đăng quyết chí thể hiện mình, anh làm cái HNB trẻ thì phải. Hy vọng anh bớt chuyện đã qua, tập trung làm hiệu quả để thể hiện được mình. Đó là cách tốt nhất để thiên hạ thấy mình thế nào, chứ không cần đi đôi co nữa.

Còn anh Phạm Chí Dũng, có cố vấn Liên Sơn, một người chuyện nghiệp về làm báo cũng như có căn bản hiểu biết về đấu tranh bất bạo động, về xã hôi dân sự, về mùa xuân Ả Rập, các hội, nhóm đấu tranh...gì đó. Với những lợi thế đó, tương lai HNBĐL cũng sẽ là một tổ chức xã hội dân sự hàng đầu, góp phần trong công cuộc đấu đòi tự do, dân chủ cho đất nước. Anh Dũng cũng nên thôi chuyện thông cáo, thông báo số X, Y, Y về Ngô Nhật Đăng, tập trung xây dựng vào chuyên môn.

 Anh em đấu tranh có thiện cảm với ông Đăng, ông Dũng mà thấy bài này gây khó chịu. Xin cứ việc block. Cái nút chặn vĩnh viễn chỉ cần hai cái nhấp chuột. Chúc anh em đoàn kết, sớm thắng lợi mang dân chủ về cho đất nước.

Tái bút . Hôm nay cô giáo lại không ra bài tập về nhà.
  
Người Buôn Gió
(Blog Người Buôn Gió)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét