Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, ngày 02 tháng 7 năm 2014

Việt Nam không cần đồng minh? - Người Trung Quốc không chiếm thế giới: Họ mua thế giới!

Việt Nam không cần đồng minh?

Boxitvn
Tống Văn Công
Cuộc họp báo sau kỳ họp thứ 7 Quốc hội do ông Nguyễn Hạnh Phúc Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chủ trì. Có phóng viên đặt câu hỏi:
- “Trong cuộc điện đàm mới đây với ngoại trưởng Mỹ, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh có nói, Việt Nam sẵn sàng phối hợp với Mỹ triển khai các biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Mỹ theo tinh thần quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước. Quan điểm của ông thế nào?”.
Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trả lời:
- “Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là quan hệ với tất cả các nước trên thế giới. Vừa qua, với Mỹ hay Trung Quốc cũng thế. Sau 1975 thì quan hệ của chúng ta đã dần dần cải thiện và ngày càng tốt đẹp. Nhưng Việt Nam cũng là một nước độc lập, không liên minh, liên kết, đồng minh với nước nào, không dùng nước thứ ba, để chống lại nước khác. Quan điểm này đã được công khai nhiều lần”.


Đúng là quan điểm này đã được công khai nhiều lần, nhưng đó là ở thời đoạn mà Trung Quốc chưa đưa giàn khoan Hải Dương 981 cắm sâu vào trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, đưa hàng trăm tàu, có cả tàu chiến, máy bay có cả máy bay quân sự ngày đêm uy hiếp tàu cảnh sát biển và tàu cá ngư dân ta. Đó là thời đoạn chưa có chuyện Dương Khiết Trì sang Việt Nam mà theo Hoàn Cầu thời báo là nhằm răn dạy Việt Nam, “đứa con hoang đàng biết trở về”! Mới đây, Trung Quốc vừa công bố bản đồ mới “10 đoạn” bao gồm Hoàng Sa, toàn bộ Trường Sa và 80% Biển Đông. Vậy là họ chỉ còn chực chờ thời cơ để dùng vũ lực chiếm trọn những vùng biển đảo của Việt Nam. Đó là thủ đoạn ngàn đời của bọn bành trướng phương Bắc, từ Tàu Hoàng đế cho đến Tàu Tưởng, Tàu Mao. Hãy nhớ: Năm 1946 lợi dụng lúc chúng ta phải đối phó với Pháp, Tàu Tưởng chiếm đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, đảo Ba Bình thuộc Trường Sa. Năm 1950 Tưởng thua chạy rút bỏ cả hai nơi. Năm 1956, lợi dụng quân Pháp rút đi, Tàu Tưởng chiếm lại Ba Bình, Tàu Mao chiếm lại Phú Lâm. Tháng 1-1974, lợi dụng Việt Nam Cộng hòa suy yếu, Tàu Mao chiếm toàn bộ phần còn lại của Hoàng Sa. Năm 1988 lợi dụng chúng ta giúp bạn Campuchia, chúng tấn công Trường Sa giết 64 hải quân ta, chiếm 7 đảo và bãi đá thuộc Trường Sa.
Sau thỏa hiệp Thành Đô 1990, chúng ta cứ tưởng đã cầm chắc “16 chữ vàng” và “4 tốt” sẽ đảm bảo “Sau kiếp nạn anh em còn đó. Trông nhau cười thù oán sạch không” (Thơ Giang Vĩnh đời Thanh. Giang Trạch Dân đọc tặng Nguyễn Văn Linh tại Thành Đô). Quá vui mừng, Nguyễn Văn Linh đáp lại cả bốn câu thơ tiếng Tàu, câu thứ tư là: “Thiên tải tình nghị hựu trùng kiến”. (Tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại). Nào hay đã bị chúng cho một quả lừa! Năm 2007, Trung Quốc bắt đầu bắn giết, bắt ngư dân ta đòi tiền chuộc. Ngày 26-5-2011, một bước ngoặt mới, chúng cắt cáp tàu Bình Minh 2 của Việt Nam đang thăm dò trong vùng biển đặc quyền kinh tế của mình. Tân Hoa Xã còn lớn tiếng: “Việt Nam láo xược xâm phạm vùng biển của Trung Quốc”. Thời báo Hoàn Cầu dọa sẽ “lấy máu Việt Nam tế cờ cho cuộc Nam tiến”.
Phản ứng hành động láo xược của Bắc Kinh, ngày 10 tháng 7-2011, hàng ngàn người Việt Nam, gồm các lão thành cách mạng, trí thức, đảng viên và nhân dân trong, ngoài nước ký “Bản kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay.” Đề mục thứ nhất của Bản kiến nghị là “I- Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ đang bị đe dọa nghiêm trọng”. Câu kết của Đề mục là: “Việt Nam càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới!”.
Bản kiến nghị, đã mô tả rất rõ bộ mặt của kẻ thù. Tiếc thay, đám mây mù ý thức hệ vẫn che mắt nhiều người. Từ đó đến nay có thể kể không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp của nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam ca tụng mối quan hệ Việt – Trung. Đáng lo nhất là từ năm 2009, mỗi năm Bộ Quốc phòng đều cử một đoàn sĩ quan cao cấp sang học tập ở Học viện chính trị Tây An của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Bởi đặt hết lòng tin vào “16 chữ vàng” và “4 tốt”, cho nên ngày 1-5-2014, khi Trung Quốc đưa giàn khoan khổng lồ đặt xuống vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam thì chúng ta hoàn toàn bất ngờ! Phải mất đến 5 ngày sau, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh mới có cuộc điện đàm với Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Mất 6 ngày sau, chiều ngày 7-5, mới có cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao. Từ đó đến nay, báo chí và các phương tiện truyền thông đã có những lời vạch rõ mưu đồ xâm lược của Trung Quốc, mà chỉ mấy tháng trước đây thôi, nếu nói như vậy đã bị coi là có tội. Tuy vậy, lòng dân vẫn chưa yên, bởi còn quá nhiều âu lo chưa được giải tỏa:
Phát ngôn của những người có trọng trách rất so le nhau. Trong khi Thủ tướng nói rõ ràng, mạnh mẽ về chủ quyền bị xâm phạm thì Bộ trưởng Quốc phòng cho rằng “trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng huống chi là các nước láng giềng […] Việt Nam và nước bạn Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển đảo, nên đôi khi cũng có va chạm […]”. Người dân không khỏi đoán già đoán non: Liệu lãnh đạo nước ta có thống nhất với nhau, thực tâm kiện Trung Quốc, hay chỉ chống đỡ trước sự phẫn uất của nhân dân và bảo vệ tính chính danh của Đảng? Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, Chủ tịch Hội Khoa học, Kỹ thuật và Kinh tế biển TP HCM, đặt câu hỏi với Chủ tịch nước: “Nhân dân, đặc biệt là trí thức, đặt vấn đề Đảng, Nhà nước ta nhìn nhận quan hệ thực chất với Trung Quốc như thế nào? Có còn là đồng chí tốt, bạn bè tốt, láng giềng tốt, đối tác tốt nữa không? Hay đây là chiêu bài được nêu lên nhưng thực tế họ, Trung Quốc không có cái gì tốt đối với chúng ta cả?”. Chủ tịch nước có nhiều ý kiến tích cực khẳng định chủ quyền đất nước, nhưng cử tri chờ đợi và bị hẫng hụt bởi ông không trả lời câu hỏi rất quan trọng đó. Chủ tịch nước nhận định rất đúng rằng “tình hình sẽ còn gay gắt, phức tạp hơn chỉ trừ khi nào họ nói họ từ bỏ đường chín đoạn hoặc chúng ta từ bỏ chủ quyền – mà điều này chắc chắn không người dân Việt Nam nào chấp nhận”. Nhưng sau đó ông lại cho rằng: “Phải kiên trì đấu tranh, năm nay không xong thì năm tới, 10 năm này không xong thì 10 năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu”. Thưa Chủ tịch, nói như vậy chỉ chứng tỏ được sự kiên trì, chứ không thực tế, do đó không đem lại hi vọng và niềm tin. Ông bà chúng ta có câu “Để lâu cứt trâu hóa bùn”. Và luật pháp quốc tế cũng thế, chúng ta chỉ còn 10 năm nữa là hết thời hiệu để kiện Trung Quốc đòi chủ quyền Hoàng Sa. Mọi người Việt Nam đang sống phải nhận lấy trách nhiệm của thế hệ mình đúng như lời dạy của Đức Trần NhânTôn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, quyết không để lọt vào tay kẻ khác”! Chúng ta không được phép trao gánh nặng lại cho con cháu đời sau để chúng phải bó tay, không thể giải quyết! Mới đây giáo sư Thayer cảnh báo: “Việt Nam phải lên tiếng ngay bây giờ, nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi”.
Chúng ta quá chừng mực, thậm chí e dè khi lên án hành động gây hấn, xâm lược của Trung Quốc, trong khi đó lại muốn các nước ASEAN, Mỹ và phương Tây phải lớn tiếng lên án Trung Quốc bênh vực Việt Nam. Ngày 5-6, tạp chí Cộng sản đăng lại bài “Cần có sự can thiệp của Mỹ trong tranh chấp ở Biển Đông” (năm ngày sau rút xuống). Ngày 24-6 nguyên đại sứ Việt Nam tại EU Tôn Nữ Thị Ninh nói với hãng tin Đức DW: “EU phải hiện diện, cất tiếng nói rõ ràng hơn, to hơn và ít nhất cũng gọi đúng tên các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông”. Bị cướp vào nhà, lại bảo chúng như người trong gia đình cũng có lúc bất hòa, nhưng lại đòi hàng xóm phải gọi chúng đúng là kẻ cướp và đuổi chúng giùm! Không muốn làm đồng minh với bất cứ nước nào, nhưng lại muốn các nước phải bảo vệ mình như một đồng minh! Làm được điều đó còn khó hơn là hái sao trên trời!
Vì sao Trung Quốc chọn thời điểm 1-5-2014 đặt giàn khoan vào sâu trong vùng đặt quyền kinh tế của Việt Nam? Trước đó không lâu, Trung Quốc gây căng thẳng với Philippines, rồi với Nhật ở biển Hoa Đông, làm như chiến tranh sắp nổ ra ở đó. Dương Đông kích Tây và đánh vào chỗ bất ngờ, vốn là binh pháp Tôn Tử của Tàu. Từ lâu chúng đã xác định hướng bành trướng là phía Nam, mấu chốt là Việt Nam. Lúc này Việt Nam đang lâm vào khủng hoảng, nguy hiểm nhất là khủng hoảng niềm tin, và về đối ngoại cũng là lúc cô đơn nhất. Mỹ đang bận rộn chuyện Ucraina. Mặc dù từ năm 2013, đã có lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nhưng đến chuyến công du tháng 4-2014 tới bốn nước châu Á, Tổng thống Obama vẫn không đến Việt Nam và Mỹ vẫn chưa đồng ý bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Còn nước Nga mà Việt Nam coi như đồng minh cũ và đặt nhiều hi vọng được che chở thì đang khẩn trương chuẩn bị tập trận với Trung Quốc! Vậy thì Trung Quốc, đồng minh lớn nhất và duy nhất của Việt Nam, bất ngờ chĩa mũi giáo vào Việt Nam, đâu còn phải sợ ai!
Hai tháng qua, chúng ta trấn an mình bằng dư luận quốc tế, mà phần lớn người ta chỉ là yêu cầu hai bên giải quyết bằng biện pháp hòa bình và theo luật pháp quốc tế. Xưa nay bọn xâm lược không hề sợ dư luận, chúng chỉ sợ thua trận và thiệt hại kinh tế. Do đó, từ thượng cổ tới hiện đại, phương Đông cũng như phương Tây, trong tất cả các cuộc chiến tranh giành giật đất đai, người ta đều tìm kiếm đồng minh. Trung Quốc đã có những bậc thầy về tổ chức đồng minh với các chiêu “hợp tung”, “liên hoành”. Tôn Tử, tác giả bộ binh pháp lừng danh, là người giúp vua Ngô liên minh với hai nước nhỏ là Đường và Thái, nhờ đó chỉ với ba vạn quân, đã có thể đánh bại 25 vạn quân nước Sở. Ngày nay, dù xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, nhưng ở các vùng nóng đều có thể thấy sự tìm kiếm đồng minh. Nước ta, ngay khi đang “một cổ hai tròng”, Việt Minh đã “gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít” nhờ đó mà có toán “Con nai” của Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc huấn luyện cho quân giải phóng của Võ Nguyên Giáp. Rồi cả hai cuộc kháng chiến, Việt Nam đều dựa vào đồng minh để giành được chiến thắng. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều bài học bổ ích trong việc chọn đồng minh của các nước láng giềng Nhật, Hàn, Philippines. Cuối thế kỷ trước, cả ba nước này đã từng muốn nới lỏng, hoặc thoát dần khỏi quan hệ đồng minh với Mỹ: Nhật đặt thời hạn cho Mỹ rút quân khỏi Okinawa. Hàn yêu cầu Mỹ có kế hoạch giảm số quân đang có mặt ở nước này. Phi đòi lại cảng Subic và các căn cứ quân sự. Nhưng khi Trung Quốc trỗi dậy, đe dọa với láng giềng thì lập tức cả ba nước nói trên đều nhanh chóng thay đổi quyết sách chiến lược, ráo riết mời Mỹ gấp rút trở lại. Do đó, Mỹ tuyên bố quần đảo Senkaku được che chở bằng thỏa thuận quân sự giữa Washington với Tokyo. Mới đây, Tổng thống Obama nói bất cứ nơi nào trên thế giới khi các đồng minh của chúng ta bị đe dọa thì quân đội Mỹ buộc phải can thiệp. Tháng 4-2014 Mỹ viện trợ cho Philippines 50 triệu USD, riêng hải quân được cho thêm 40 triệu USD và 3 tàu tuần tra lớn lớp Hamilton… Ba nước nói trên đâu có vì chọn đồng minh chiến lược mà họ bị mất độc lập dân tộc? Phải chăng đã đến lúc chúng ta không nên khư khư “Việt Nam không liên minh với một nước để chống nước thứ ba”? Tình thế đang đòi hỏi: “Việt Nam cần phải tìm mọi cách để liên minh được với các nước để chống lại kẻ nhất quyết sẽ xâm lược đất nước mình”.
Tuy nhiên chớ tưởng chỉ cần chúng ta muốn liên minh với nước nào đó thì ắt được người ta đón nhận. Từ ngàn xưa, các nhà chiến lược đều có tiêu chuẩn để chọn đồng minh. Tôn Tử cho rằng “chưa biết ý đồ chiến lược của một nước thì không thể tính đến chuyện kết giao. ” Ông cho rằng một quốc gia hùng mạnh không phải vì có một đội quân lớn mà là trước hết, phải là quốc gia biết lấy chữ “đạo” làm đầu, tức là có “Một nền chính trị hợp lòng dân, nhờ đó mà vua tôi đồng tâm, nhất trí”. Trần Hưng Đạo của ta nói “Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rể, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước vậy”. Một người biết lắng nghe và coi trọng ý kiến của những nông dân đan giỏ, mò tôm, thuần hóa voi như với Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng thì chữ “sức dân” của ông phải được hiểu là gồm cả tâm, trí và lực. Ngày nay, Mỹ và các nước phương Tây đặt tiêu chuẩn cao nhất để chọn đồng minh là dân chủ và nhân quyền. Lắm khi vì lợi ích trên bàn cờ chính trị, các nhà cầm quyền đã châm chước khi xét tiêu chuẩn đối với các quốc gia mà họ cần lôi kéo, nhằm cô lập đối thủ nặng ký và hung bạo. Tuy nhiên điều ấy có thể bị nghị viện và nhân dân nước họ phát hiện, phản đối. Quan hệ hợp tác Việt – Mỹ đã phát triển nhiều mặt, nhưng cho đến nay, Mỹ vẫn chưa đồng ý bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, chưa công nhận Việt Nam thực sự có nền kinh tế thị trường. Vậy mà, Foreign Policy (Chính sách Ngoại giao), một tạp chí có tiếng của Mỹ, số ra ngày 1-2-2011 có bài: “Các đồng minh đáng xấu hổ của Hoa Kỳ”, chỉ trích chính phủ Mỹ quá dễ dãi đối với nhiều hành động vi phạm nhân quyền của Việt Nam! Tại sao vậy?
Bởi vì thật trớ trêu là chính sách đối nội và đối ngoại của nước ta giống hệt Trung Quốc, bệnh trạng tham nhũng của hai bên cũng hết sức giống nhau. Hai nước có chung một lập luận về “các thế lực thù địch từ Mỹ và phương Tây lợi dụng dân chủ và nhân quyền âm mưu lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa”. Thật ra, không hề có cái gọi là dân chủ và nhân quyền của phương Đông, hoặc của riêng Trung Quốc và Việt Nam! Nước ta là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Nhà nước ta đã cam kết thực hiện Tuyên ngôn Nhân quyền và các Công ước của Liên Hiệp Quốc. Vấn đề là Việt Nam và Trung Quốc có cách hiểu các điều khoản của Tuyên ngôn và các Công ước của Liên Hiệp Quốc không giống cách hiểu của hơn 100 quốc gia khác trên thế giới. Rất dễ dàng để dẫn ra vô vàn ví dụ về các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội, biểu tình, bầu cử và ứng cử… Nhưng chỉ xin nêu một ví dụ về quyền tự do ngôn luận mà theo Voltaire “[…] là nền tảng của tất cả các quyền tự do khác. Không có tự do ngôn luận sẽ không có các quốc gia tự do”. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Nhà nước Việt Nam đã ký kết gia nhập ngày 24-9-1982. Nhà xuất bản TP HCM xuất bản năm 1997) ở Điều 19 với nội dung như sau:
1- Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.
2- Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ.
3- Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để:
a/ Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác;
b/ Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”.
Hơn 100 quốc gia đều hiểu nội dung của Điều 19 là: Mọi công dân đều có quyền phát biểu quan điểm của mình đối với mọi học thuyết, mọi vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục mà không bị quy chụp, đàn áp, buộc tội. Tức là mọi người có quyền không đồng ý đối với một hệ tư tưởng, nghị quyêt của đảng cầm quyền, chính sách của chính phủ, khi nhận thấy nó có hại cho nhân dân, đất nước. Trong ngày nhận chức nhiệm kỳ đầu, Tổng thống Obama nói: “Một chính quyền không phải đối mặt với một giới truyền thông cương trực và mạnh mẽ, đó không phải lựa chọn của nước Mỹ!”. Mọi công dân đều có quyền tìm kiếm, nhận tin tức bao gồm những luận điểm mới, học thuyết mới và phổ biến cho mọi người bằng mọi hình thức. Mọi công dân đều có quyền xuất bản báo chí và báo chí chỉ trung thành với công chúng, với dân tộc, tôn trọng sự thật, không bị kiểm duyệt, không bị buộc phải viết theo định hướng, nghị quyết, không bị bưng bít thông tin vì lợi ích nhóm, vì lợi ích của đảng phái, kể cả Đảng cầm quyền. (Chỉ trừ hai điểm a và b nói trên).
Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc có cách hiểu Điều 19 giống nhau: Mọi công dân phát biểu ý kiến không được trái với quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng lãnh đạo. Báo chí là công cụ của Đảng phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng lên trên hết, phải lấy nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ và tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng làm thước đo hiệu quả của báo chí. Phó Trưởng ban Tuyên Giáo Trung ương Nguyễn Thế Kỷ nói trong cuộc hội thảo quốc gia về Đạo đức nghề báo: “Cần tăng cường giáo dục đạo đức cho sinh viên báo chí, cho phóng viên trẻ; nâng chất lượng đầu vào đối với sinh viên báo chí, thậm chí “phải xét cả yếu tố nhân thân tương tự như với sinh viên vào các trướng công an, quân đội””. (báo Tuổi Trẻ ngày 12-10-2012). Trong dịp kỷ niệm ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21-6 vừa qua, suốt một tuần, đài truyền hình HTV9 của TP HCM mở đầu bằng bài hát với điệp khúc: “Nhà báo, nhà báo Việt Nam, một lòng trung thành với Đảng!”. Tư nhân không được phép ra báo, vì e rằng sẽ làm rối dư luận xã hội. Ban Tuyên giáo của Đảng có trách nhiệm chỉ đạo báo chí thực hiện định hướng tuyên truyền từng thời kỳ, việc nào cần phải nói mạnh, nói kỹ, việc nào không nên nói, không được phép nói. Không chấp nhận có báo tư nhân.
Tình hình phát triển đất nước hiện nay, theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Động lực mà những cải cách trước đây đã không còn đủ mạnh để thúc đẩy phát triển” và “Nguồn động lực mới phải đến từ Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân”. Đúng vậy, vấn đề là phải dám quyết tâm thực hiện, bởi không còn thì giờ để chần chừ nữa! Nhà nghiên cứu người Pháp Valérie Niquet cho rằng Trung Quốc đang bị suy yếu từ bên trong, cho nên cố thực hiện bành trướng để kích thích chủ nghĩa dân tộc, hòng tìm lại tính chính đáng của Đảng Cộng sản đã bị hao mòn. Trong khi đó, tạp chí tình báo nổi tiếng của Anh (Jane’s Intelligence Weekly ngày 27-6-2014) lại có nhận định: “Tranh chấp Biển Đông sẽ thách thức sự ổn định của chính phủ Việt Nam”; bởi vì: “Tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam là dựa vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc”. Ngày nay, Đảng đang bị đứng trước một câu hỏi: “Phải chăng Đảng Cộng sản Việt Nam không có đủ khả năng đối phó với sự xâm lược của Trung Quốc?” Trong dân gian Việt Nam đang lan truyền hai câu có hàm ý như thế: “Đi với Tàu thì mất nước, nhưng còn Đảng. Đi với Mỹ thì còn nước, nhưng e sẽ mất Đảng”. Phải giải quyết dứt khoát vướng mắc tư tưởng này thì mới có thể yên lòng đổi mới thể chế, tìm được đồng minh vì sự nghiệp chống bành trướng Bắc Kinh, bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân bao giờ cũng rất tinh tường và công bằng, nếu một đảng dám đặt sự tồn vong của Tổ quốc lên trên vận mệnh của mình thì nhất định sẽ được nhân dân bảo vệ, tin yêu. Nhân đây xin nhắc lại, một chuyện rất đáng nhớ: Năm 2010, với cương vị Chủ tịch ASEAN, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tới Myanmar, chuyển thông điệp ASEAN cho các tướng lĩnh quân phiệt cầm quyền: “Mong muốn các nhà lãnh đạo Myanmar triển khai có hiệu quả lộ trình dân chủ, vì hòa bình, hòa hợp dân tộc, tổ chức bầu cử công bằng, dân chủ với sự tham gia của tất cả các đảng phái, qua đó sớm ổn định để phát triển đất nước”. Các tướng lĩnh cầm quyền Myamar đã nhanh chóng nhận thức, đó là con đường duy nhất để đưa đất nước thoát khỏi sự o ép của Trung Quốc. Họ không ngần ngại từ bỏ chế độ độc tài quân phiệt, đưa những tù nhân chính trị suốt hàng chục năm đối lập như bà Aung San Suu Ky lên địa vị đối tác, cùng ngồi với nhau bình đẳng bàn việc nước; quyết định xóa bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí, rồi cho xuất bản báo chí tư nhân; đặc biệt là quyết định hủy bỏ dự án đập thủy điện của Trung Quốc 3,6 tỉ USD. Sau cải cách vĩ đại nói trên, Myanmar được Tổng thống Obama và nhiều nguyên thủ quốc gia tới thăm, ký kết viện trợ.
Chẳng lẽ, một Đảng vốn “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” mà ngày nay trước vận nước hiểm nguy lại không thể chọn một hành động cao cả ngang tầm với các tướng lĩnh độc tài quân phiệt Myanmar?
Ngày 30-6-2014
T. V. C.
Tác giả gửi BVN.

Giàn khoan HD 981 của Trung quốc chỉ là bước khởi đầu

Một tàu Trung Quốc ngăn chặn một tàu tuần tra của Cảnh sát biển  Việt Nam gần một giàn khoan HD 981 của Trung Quốc nằm trong vùng đặc khu kinh tế của VN hôm 28 tháng 5 năm 2014.
Giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc được hạ đặt và hoạt động trong vùng biển và thềm lục địa Việt Nam tròn hai tháng nay. Hành xử của Bắc Kinh tiếp tục ra sao? Phản ứng của Hà Nội thế nào? Và ước nguyện chính của người dân Việt Nam trước tình thế là gì?

Thêm giàn khoan- gấp rút xây căn cứ

Đến chiều ngày 30 tháng 6, tại thực địa khu vực giàn khoan Hải Dương 981, Trung Quốc tiếp tục cho tàu của họ bảo vệ ở cự ly từ 10 đến 11 hải lý. Tin cho biết khi các tàu chấp pháp của phía Việt Nam cố tiếp cận tuyên truyền kêu gọi phải rút giàn khoan và các tàu đi, thì tàu Trung Quốc tăng tốc và áp sát không để tàu của Việt Nam tiến thêm.

Ngoài giàn khoan Hải Dương 981, Cục Hải Sự Trung Quốc hồi trung tuần tháng 6 loan báo giàn khoan Nam Hải số 9 được đưa vào hoạt động tại khu vực Cửa Vịnh Bắc Bộ trong gần hai tháng từ ngày 24 tháng 6 cho đến 20 tháng 8.

Về mặt ngoại giao, ngày 9 tháng 6 Trung Quốc đệ trình tuyên cáo lên Liên hiệp quốc nêu ra những chứng cứ mà Bắc Kinh nói chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa trước đây thừa nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là của Trung Quốc. Đồng thời Trung Quốc tố cáo ngược là tàu Việt Nam quấy nhiễu và đâm va 1400 lần vào tàu Trung Quốc. Số lần này sau đó còn tăng lên đến 1500 lần.

Một cán bộ Viện Nghiên cứu Quốc tế của Việt Nam trong một bài viết được đưa ra ngày 30 tháng 6 cho biết Trưởng ban Đối ngoại Trung Quốc đã gặp Trưởng ban Đối Ngoại Trung ương Việt Nam là ông Hoàng Bình Quân, sau khi giàn khoan Hải Dương 981 hoàn tất 2 mũi cắm vào lòng biển Việt Nam. Lần gặp đó được cho biết phía Trung Quốc đe dọa, yêu cầu Việt Nam chấm dứt quấy rối và chỉ trích phản ứng của Việt Nam là phá vỡ quan hệ hữu nghị giữa hai nước.
Trong khi hoạt động giàn khoan tiếp diễn bất chấp mọi yêu cầu từ phía Hà Nội, Bắc Kinh lại cho tiến hành hoạt động cải tạo và triển khai xây dựng căn cứ quân sự có đường băng máy bay tại đảo đá Gạc Ma mà họ chiếm của Việt Nam hồi năm 1988
Thế rồi ủy viên quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì đến Việt Nam vào trung tuần tháng 6. Chuyến đi của ông này theo báo chí quốc tế loan đi là nhằm kêu gọi ‘đứa con hoang trở về nhà’. Trong dịp này Tân hoa xã cũng công bố ‘4 không’ mà Bắc Kinh đưa ra với Hà Nội là không được quấy rối Trung Quốc, Hoàng Sa là của Trung Quốc không bàn cải, xung đột Biển Đông do lãnh đạo 2 nước bàn với nhau; Việt Nam không được kiện ra tòa án quốc tế; không được lôi kéo các nước vào câu chuyện này, không để Mỹ và Phương Tây lợi dụng diễn biến hòa bình phá hoại 2 nước. Trung Quốc đe dọa, nếu Việt Nam vi phạm nguyên tắc đó sẽ phải chịu hậu quả.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mạnh mẽ tố cáo Trung Quốc bất chấp đạo lý, pháp lý tại phiên họp thường kỳ tháng Sáu năm 2014 (Video clip-nguyentandung.org)
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mạnh mẽ tố cáo Trung Quốc bất chấp đạo lý, pháp lý tại phiên họp thường kỳ tháng Sáu năm 2014 (Video clip-nguyentandung.org)
Trong khi hoạt động giàn khoan tiếp diễn bất chấp mọi yêu cầu từ phía Hà Nội, Bắc Kinh lại cho tiến hành hoạt động cải tạo và triển khai xây dựng căn cứ quân sự có đường băng máy bay tại đảo đá Gạc Ma mà họ chiếm của Việt Nam hồi năm 1988. Đây là thông tin mà truyền thông Philippines loan tải. Phía Philipines gần đây cũng lên tiếng yêu cầu Trung Quốc chấm dứt hoạt động xây dựng trái phép như thế.

Theo nhiều người thì đây là mưu đồ chính của Trung Quốc, còn việc đưa giàn khoan Hải Dương 981 chỉ là động thái ‘giương đông, kích tây’ mà thôi.

Ông Nguyễn Khắc Mai, giám đốc Trung Tâm Minh Triết Việt, hồi ngày 14 tháng 6 nói về tầm quan trọng của căn cứ quân sự xây dựng tại Gạc Ma:

Tình hình nguy hiểm khi Trung Quốc làm một chốt quân sự ở đó. Một sân bay quân sự, một căn cứ quân sự ở đó nguy hiểm đối với Việt Nam về mặt an ninh hàng hải. Vì vậy đây vấn đề Gạc Ma rất lớn.

Tướng anh hùng quân đội của Việt Nam Lê Mã Lương nói về tham vọng của Trung Quốc đối với Biển Đông:

Trung Quốc vẫn nhất quán với chiến lược độc chiếm Biển Đông và sẽ tìm mọi cách đánh chiếm và làm chủ toàn bộ Hoàng Sa và tiến tới chiếm các đảo tại Trường sa của Việt Nam, của Việt Nam hay của nước nào mà Trung Quốc lấy được đều lấy bằng hằng động quân sự; bất chấp luật pháp, bất chấp dư luận quốc tế.
Tình hình nguy hiểm khi Trung Quốc làm một chốt quân sự ở đó. Một sân bay quân sự, một căn cứ quân sự ở đó nguy hiểm đối với Việt Nam về mặt an ninh hàng hải. Vì vậy đây vấn đề Gạc Ma rất lớn. - Ông Nguyễn Khắc Mai
Hà Nội chỉ lên tiếng

Trước những diễn biến suốt thời gian qua cho thấy rõ ý đồ muốn chiếm trọn Biển Đông của Trung Quốc như thế, một số lãnh đạo của Việt Nam đã lên tiếng.

Mới nhất trong phiên họp chính phủ thường kỳ tháng 6 vào hai ngày 30 tháng 6 và 1 tháng 7, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lặp lại là Trung Quốc đã bất chấp đạo lý, pháp lý và quan hệ giữa hai nước khi đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Trước đó khi trả lời báo chí nước ngoài tại Philippines nhân chuyến thăm nước này và tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới từ 21 đến 22 tháng 5, ông Nguyễn Tấn Dũng nói rằng Việt Nam không sử dụng biện pháp quân sự để giải quyết căng thẳng tại Biển Đông, song Việt Nam không chấp nhận đánh đổi chủ quyền lãnh thổ, biển đảo thiêng liêng để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viễn vông, lệ thuộc nào đó.

Chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 7, quốc hội khóa 13 rằng độc lập, chủ quyền quốc gia, hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông bị đe dọa nghiêm trọng khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, khi được cử tri thành phố Hồ Chí Minh chất vấn hồi ngày 27 tháng 6 cũng cho rằng trước sau như một vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải giữ gìn.

Ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại cuộc tiếp ủy viên quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì ở Hà Nội cũng nói rằng lập trường chủ quyền biển đảo của Việt Nam là nhất quán, không thay đổi và không thể thay đổi.
Mới nhất trong phiên họp chính phủ thường kỳ tháng 6 vào hai ngày 30 tháng 6 và 1 tháng 7, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lặp lại là Trung Quốc đã bất chấp đạo lý, pháp lý và quan hệ giữa hai nước khi đưa giàn khoan HD 981 vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN
Còn Bộ trưởng Thông tin- Truyền Thông Nguyễn Bắc Son khi trả lời cử tri tại Hà Nội thì nói rằng vấn đề Biển Đông phải giải quyết trường kỳ, lâu dài, Việt Nam nhẫn nại, nhẫn nhịn nhưng không nhẫn nhục để giải quyết bằng giải pháp hòa bình.

Lòng dân muốn kiện

Nhiều người dân quan tâm đến tình hình đất nước lên tiếng yêu cầu chính phủ phải kiên quyết, mạnh mẽ hơn trong công cuộc đấu tranh với Trung Quốc hiện nay. Theo họ thì biện pháp trước mắt là phải khởi kiện về việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, cũng như đưa ra đường đứt khúc 9 và 10 đoạn bao trọn đến gần 90% Biển Đông.

Luật sư Trần Quốc Thuận từ Sài Gòn nói về việc nên liên kết với Philippines kiện Trung Quốc về đường lưỡi bò đó:

Thôi cứ kiện cái đã để cho thế giới thấy. Trung Quốc nói rằng họ có 1000- 2000 năm thì cứ đưa ra để thế giới xem thấy có được không. Tại hội nghị Shangri-la ở Singapore nhiều học giả yêu cầu Trung Quốc giải thích thì đại diện Trung Quốc ăn nói lờ mờ rồi. Câu chuyện bây giờ phải để lên bàn nói cho thế giới và yêu cầu Trung Quốc là một trong 5 nước thành viên của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc và nước ký vào công ước quốc tế phải giải thích lý do lịch sử…, xác định tọa độ. Theo tôi đó là cơ bản lớn và chính điều đó là có lợi, cả thế giới sẽ hậu thuẫn. Còn việc tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc như ở Hoàng Sa …, thì đó là những bước tiếp theo. Nhưng trước hết phải làm đường chín đoạn trước để tạo thế mạnh tốt hơn.

Tại cuộc họp báo gần nhất hồi chiều ngày 26 tháng 6 vừa qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết chính quyền Hà Nội đang cân nhắc thời gian khởi kiện Trung Quốc với thừa nhận đó là biện pháp hòa bình, văn  minh được luật pháp quốc tế và thế giới ủng hộ.
  Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok 
2014-07-01  
 

Hình ảnh Tây Tạng dưới ách thống trị của Trung Quốc – trông người mà ngẫm đến ta

***Dân Việt nam có ngày như thế này nếu thành một tỉnh của Trung cộng.

 Boxitvn

Bauxite Việt Nam tuyển chọn ảnh
clip_image001

clip_image002
Lửa và khói trên một con đường trong cuộc nổi dậy ở Lhasa, Tây Tạng, chụp lại từ màn hình phát chương trình Truyền hình CCTV của Nhà nước Trung Quốc ngày 14/3/2008. Nguồn: REUTERS
clip_image004
Quân đội Trung Quốc tuần tra trên đường phố Lhasa ngày 15/3/2008, một ngày sau khi cuộc phản kháng ở thủ đô Tây Tạng chuyển sang bạo lực. Nguồn: Financial Times
CHINA-TIBET-RELIGION-PROTEST-RIGHTS
Ngày 14/3/ 2008: Cảnh sát Trung Quốc trên xe chống bạo loạn ở một con đường thủ đô Tây Tạng sau khi nổ ra những cuộc phản kháng bạo lực. Nguồn: The Guardian
clip_image006
Cảnh sát bán quân sự đi tuần trên một con đường gần đền Jokhang ở Lhasa, thủ đô Tây Tạng, China Photo: AP. Nguồn: The Telegraph, ngày 13/3/2009
clip_image007
Lực lượng an ninh Trung Quốc ở Lhasa, Tây Tạng, ẩn nấp trong ngày phản kháng thứ năm. Biểu ngữ phía trên ghi: “Tăng cường quản lý an ninh công cộng, bảo vệ ổn định chính trị”. Bắc Kinh đang đối mặt với những cuộc biểu tình nghiêm trọng nhất ở Tây Tạng kể từ những năm 1980. Nguồn: The New York Times, ngày 15/3/2008 March
clip_image008
Hơn 20 người Tây Tạng đã tự thiêu trong năm qua để phản đối những nỗ lực của Trung Quốc mà họ cho là nhắm đàn áp tôn giáo và văn hóa của người Tây Tạng. Nguồn: VOA, ngày 5/11/2012
clip_image009
Ảnh một người Tây Tạng tự thiêu. Thông báo treo giải thưởng của Trung Quốc chỉ trích tự thiêu rằng ‘một hành vi cực đoan chống lại loài người, chống lại xã hội’. Nguồn: VOA, ngày 25/10/2012
clip_image010
Nhiều người Tây Tạng chọn hình thức tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp của Bắc Kinh – REUTERS /Jacky Chen. Nguồn: RFI, ngày 14/04/2014
clip_image011
Nguồn: ABC Radio Australia, ngày 21/11/2012
clip_image013
Cảnh sát ở Katmandu ngày 20/3/2008 bắt giữ các nhà sư Tây Tạng khi họ cố đi tới văn phòng Liên Hiệp Quốc để đệ đạt Thỉnh nguyện thư chống lại việc Trung Quốc đàn áp ở Tây Tạng. Nguồn: Financial Times
clip_image014
Xung đột đổ máu: Các nhà sư Tây Tạng bị thương trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Nguồn: Daily Mail, ngày 21/4/2008

Người Trung Quốc không chiếm thế giới: Họ mua thế giới!

TTCT - Tiếp theo câu chuyện “Làm ăn với Trung Quốc” (TTCT số 22, ngày 15-6-2014) với phân tích của các chuyên gia về cách thay đổi chất lượng mối quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, cái nhìn rộng hơn ở khu vực châu Á cũng cho thấy nỗ lực tìm hướng thay đổi của các tập đoàn trong mối quan hệ làm ăn với Trung Quốc.


Không phải tự nhiên mà lời cảnh báo từ năm 2012 này được tờ báo uy tín Nga Luận Chứng Và Sự Kiện (AIF) dùng làm tiêu đề bài báo đánh giá hợp đồng khí đốt Nga vừa ký với Trung Quốc.

Sau chuyến đi của ông V. Putin tới Trung Quốc vào tháng 5-2014, với hơn 40 văn kiện được ký kết, trong đó có hợp đồng khí đốt trị giá 400 tỉ USD, Argumentiru.com tổ chức thăm dò độc giả với câu hỏi: “Ai có lợi hơn trong hợp đồng khí đốt Nga - Trung Quốc?”. Với 728 câu trả lời thu được đến ngày 29-5, hết 74% cho rằng Trung Quốc có lợi, trong khi chỉ 26% đáp là Nga.

Còn Hãng tin Vzglyad.ru hỏi độc giả: “Trung Quốc với Nga là 1) mối đe dọa; là 2) một khả năng hợp tác, hay là 3) cả hai - vừa đe dọa vừa là khả năng hợp tác?” thì nhận được câu trả lời như sau (đến ngày 29-5): trong 18.739 người trả lời thì 7,4% chọn phương án 1; 33,2% chọn phương án 2; nhưng tới 59,4% chọn phương án cả hai, vừa là đe dọa vừa là khả năng hợp tác!

Vì sao có tâm trạng mâu thuẫn này? Là bởi, như chuyên gia Hong Kong James Evergreen được bài báo trên dẫn lời (*), một Trung Quốc giàu có đang nguy hiểm hơn: “Họ đang nắm giữ các cổ phiếu của Chính phủ Mỹ. Các doanh nhân của họ đã mua những nhà máy châu Âu, các công ty thuốc lá và khai khoáng. Đồng nhân dân tệ 12 năm liên tục không bị mất giá so với đồng đôla, mà chỉ tăng giá.

Đến năm 2020, trong khuôn khổ chương trình vũ trụ của mình, Trung Quốc chuẩn bị xây cả cơ sở trên Mặt trăng”. James Evergreen cảnh báo: “Nếu chỉ nghĩ người Trung Quốc có khả năng may áo cho thế giới văn minh châu Âu mặc, chúng ta đã bỏ lỡ sự ra đời của một cường quốc có khả năng nuốt trọn thế giới”.

Từ Syria tới Cuba, Iraq đều có công nhân Trung Quốc xây cầu đường. Xe buýt, ôtô ở các nước này cũng từ Trung Quốc, khiến James Evergreen đưa ra hình ảnh Trung Quốc “đang trói thế giới quanh mình như mạng nhện”. Theo ông, khi phải kiếm từng chén cơm, người Trung Quốc chẳng nghĩ gì về sự vĩ đại. Nhưng khi đã giàu lên, họ bắt đầu nghĩ tới vai trò đất nước.

Đề tài khi nào Trung Quốc trở thành siêu cường không phải là hiếm. Người ta nghe thấy nó không chỉ ở trong bếp, mà cả trên xe buýt. “Chúng tôi không chiếm thế giới. Chúng tôi mua nó”, đó là ý tưởng chính của người Trung Quốc, James Evergreen kết luận trong bài báo.

Về thống kê dân số chính thức, đến năm 2010 có 28.943 người nhận mình gốc Trung Quốc (tuy nhiên các con số thực được cho là lớn hơn nhiều), và dự báo đến năm 2050 người Trung Quốc sẽ trở thành nhóm dân số lớn thứ hai sau người Nga. Hằng năm Trung Quốc đầu tư vào kinh tế Nga 12 tỉ USD.

Đường biên giới chung Nga - Trung Quốc dài 4.209km, khiến vùng Viễn Đông hẻo lánh của Nga trở thành nơi tiện lợi để di cư đến làm ăn, thay vì lặn lội đến một thị trường cũng hấp dẫn là Ấn Độ nhưng bị ngăn cách bởi núi non trập trùng, hay Nhật bị biển cản trở. Các nước Đông Nam Á khác cũng đã quá đông dân.

Hiện nay, về chính thức hằng năm có hơn 1 triệu người Trung Quốc tới Nga với tư cách du khách (dù các con số nói tới 2 triệu người). Với mức độ “đầu tư làm ăn” này, theo phó giám đốc Viện các phân tích quân sự và chính trị Alexandr Khramchikhin, nếu Nga không có các biện pháp thích ứng, chỉ 10 năm nữa, khi đến vùng Viễn Đông người Nga sẽ chủ yếu nói tiếng Hoa (**)!

Trong một bài báo khác trên aif.ru cũng thuộc chủ đề “hậu hợp đồng khí đốt”, Artem Lukin - giảng viên khoa quan hệ đối ngoại của Viện các nghiên cứu quốc tế và khu vực của Đại học liên bang Viễn Đông - thừa nhận một mặt Nga vẫn phải hướng đông bởi đây là thị trường tương lai.

Trung Quốc cũng cần hợp tác với Nga. Bởi theo ông, có cơ sở để tin rằng Trung Quốc đang muốn biến Đông Á thành khu vực ảnh hưởng của mình, đẩy dần Nhật và Mỹ ra khỏi đây. Do Trung Quốc đang tiến hành các chính sách rất hung hăng ở biển Hoa Đông và biển Đông, nên trong trường hợp quan hệ Trung - Mỹ căng thẳng, việc cung cấp năng lượng và nhiên liệu từ Nga sẽ vẫn đảm bảo nhu cầu của Trung Quốc.

Nhưng mặt khác, “Trung Quốc là một văn hóa khác và một logic khác, hiểu họ không đơn giản. Hiện nay các nhóm người Trung Quốc khác nhau đang cùng chung ý tưởng rằng sau một thời gian nghèo đói, yếu ớt và bị coi thường, Trung Quốc sẽ phải chiếm vị trí hàng đầu trên vũ đài thế giới.

Thử hỏi, chủ nghĩa dân tộc của họ sẽ hung hăng tới đâu sau 20 năm nữa?” - Artem Lukin đặt câu hỏi. Ông cảnh báo: Một khi đã yên ổn ở phía nam, biết đâu Trung Quốc nhớ ra rằng trước giữa thế kỷ 19, một không gian rộng lớn phía bắc sông Amur từng thuộc đế chế Trung Hoa, chứ không phải Nga?

Và cần nhớ là các công ty Trung Quốc được phép vào Nga làm ăn đang đưa nhân công của họ vào theo!
DUY VĂN
(Tuổi trẻ)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét