Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

Tin thứ Ba, 22-07-2014

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
H1- Giàn khoan đã hoàn thành nhiệm vụ? (Foreign Policy/ TCPT). – Nhìn lại HD 981: Dự tính và trói buộc (VNTB). – Nóng, lạnh từ giàn khoan HD 981 (BVN). – Nước cờ sau giàn khoan của TQ: Việt Nam cần làm gì? (TVN). – GS Carl Thayer: “Việt Nam vẫn phải cảnh giác trước âm mưu của Trung Quốc”(BizLive). – Trung Quốc rút giàn khoan, căng thẳng có chấm dứt? (VOA). “Tôi nói chuyện với sinh viên, có hỏi cảm nhận của họ. Họ nói khi mua đồ thấy hàng của Trung Quốc, họ không muốn mua“.
- HD-981 đã dời đi nhưng hiểm họa xâm lăng vẫn còn đó! (ĐVD). – Đỗ Xuân Tê: Vài suy nghĩ khi dàn khoan nhổ cọc (Quê Choa). - Phải đấu tranh đến cùng với Trung Quốc (NLĐ).
- Phỏng vấn GS Ngô Vĩnh Long: HD-981 : Việt Nam không nên sập bẫy ‘song phương’ và ‘không kiện’ Trung Quốc (RFI). “Vấn đề kiện Trung Quốc không phải là vấn đề thắng hay là thua, mà là vấn đề vận động chính trị. Nếu Việt Nam không kiện Trung Quốc, tức là Việt Nam đã chứng minh cho thế giới là Việt Nam chịu thua Trung Quốc, và nếu như vậy thì những nước khác họ sẽ suy nghĩ lại và có chính sách riêng của họ…” – Quan hệ chiến lược Việt-Mỹ lớn hơn sẽ làm đảo lộn tham vọng Trung Quốc (GDVN).
- Bá Tân: Những cái được từ vụ dàn khoan (Hữu Nguyên). – Nhật ký mở lần thứ 102: ƠI HD 981! TAO ĐÃ BẮT ĐẦU THẤY…NHỚ MÀY! (Tô Hải). “Và không phải ngẫu nhiên mà ngay sau ngày mày bị ‘dịch chuyển’ về nhà mày có một hôm thì: ‘Tiếng nói nước Nga’ đưa tin ông Lê Hoài Trung trưởng phái đoàn CHXHCNVN tại Liên Hiệp Quốc ngày thứ tư 16/7/2014 vừa qua, lần đầu tiên đã tuyên bố ‘xanh rờn’ (chắc đã được ‘lệnh’)… rằng thì là: Việt Nam sẵn sàng xem xét những khả năng hợp tác với Trung Quốc trong hoạt động thăm dò dầu mỏ trên Biển Đông, nhưng với điều kiện những hoạt động này không vi phạm chủ quyền các quốc gia… trong khu vực! (chứ không phải của…Việt Nam)!!!
- Lại “hợp tác dầu khí”: Thâm ý nào của Bộ Ngoại giao VN? (VNTB). “Với ‘tiết lộ’ của giới quan chức ngoại giao nước nhà về ‘hợp tác dầu khí với Trung Quốc’, đã có thể hiểu ra nguồn cơn sâu xa vì sao Bộ Ngoại giao Việt Nam đã hầu như yếm thế hoặc nín tiếng trong các vụ việc hàng trăm tàu Trung Quốc bao vây lực lượng kiểm ngư Việt Nam, hay hàng chục ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ một cách cực kỳ vô lối. Và càng hiểu ra khi vẫn không nhận ra bóng dáng nào của “hồ sơ kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế” nơi cấp cơ quan ngoại giao cao nhất và cả ở chính phủ của Việt Nam…”
- Tổ quốc trên hết! (ND). “Chủ tịch nhấn mạnh: Chúng ta kiềm chế không phải vì nhu nhược, yếu hèn, mà thể hiện thái độ hòa hiếu, chính nghĩa với mục tiêu bảo vệ bằng được chủ quyền, quyền chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ… Không ai được nhân danh lòng yêu nước để kích động hận thù dân tộc, châm lửa binh đao. Cũng không để ai ỷ thế nước lớn ‘đến gieo khăn tang và nạng gỗ’ – như Chế Lan Viên đã cảnh báo thay chúng ta từ lâu!” – Yêu nước cần bản lĩnh và tỉnh táo (NLĐ).
- Lê Ngọc Thống: Trách nhiệm lớn lao trước dân tộc (ĐV). – HÈN NHƯỢC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH BÀN VỀ “TRÁCH NHIỆM LỚN LAO TRƯỚC DÂN TỘC” (FB Nguyễn Văn Hoàng). “Độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bị xâm phạm nghiêm trọng, tàu bè của lực lượng chấp pháp liên tục bị đuổi đâm, hàng chục CSB, KN bị thương, tàu ngư dân bị đâm hỏng, đâm chìm… Tất cả mọi chuyện xảy ra trong vùng chủ quyền của mình mà mình không dám có phản ứng gì ngoài bỏ chạy không là nhu nhược thì là gì trong khi lãnh đạo Việt Nam luôn khẳng định toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chủ quyền là thiêng liêng, là trên hết!?” – ĐÊM MỴ CHÂU (Baron Trịnh).

- Đằng sau động thái Trung Quốc rút giàn khoan (TCTC). – Hành động đơn phương đi ngược lại những cam kết (QĐND). – Báo Nhật: Giàn khoan TQ “đầu hàng sức ép quốc tế” (KP). – Nhật vạch trần kế hoãn binh của Trung Quốc khi rút giàn khoan (MTG). – Cường quốc nào cũng không thể coi thường dư luận quốc tế (ĐSPL). – Sau vụ giàn khoan HD 981: Trung Quốc ‘mất điểm’ trong mắt người dân (XH).
- Kiểu tuyên truyền rợn người của Thời báo Hoàn Cầu, Trung Quốc (GDVN). “Và bài viết ‘Mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam nên quay trở lại đúng hướng’ (China-Vietnam ties should get back on track): TQ, nước đã đã từng bán đứng và xâm lược rất nhiều lần lãnh thổ, lãnh hải của anh em, đồng chí lại giả nhân giả nghĩa kêu gọi người láng giềng quay lại gần, để Bắc Kinh dễ bề sai bảo?
- Cuộc Chiến tranh Lạnh kế tiếp: Thuyết Monroe của Trung Quốc (Phan Ba). – Bắc Kinh quên lời dạy của Tôn Tử khi gây hấn ở biển Đông (MTG). – Sau vụ giàn khoan: Trung Quốc trở nên tồi tệ trong mắt người dân nhiều nước (MTG).
- Loạt bài Hội thảo CSIS 4: Các lực lượng trên biển của Việt Nam (NCBĐ).
- Trung Quốc đưa Biển Đông vào bản đồ tác chiến quân sự mới (GDVN). – Con đường tơ lụa hay tư lợi trên biển Đông (VNN).
- Trung Quốc có thể sẽ kéo giàn khoan 981 xuống bãi Cỏ Rong, Trường Sa? (GDVN).
- Thư trả lời của Luật sư NGUYEN LE-HA (BVN). – Về bài trả lời của Luật sư Nguyen Le-Ha (Trương Nhân Tuấn). – Lập luận pháp lý về chủ quyền biển đảo luôn cần thiết (TN).
- Công thư Phạm Văn Đồng và Hiệp định Genève 1954 (RFA). Thời gian gần đây, truyền thông trong nước sử dụng từ “công thư” thay vì “công hàm Phạm Văn Đồng” để giảm nhẹ giá trị của công hàm đó, nhưng không thể thay đổi bản chất sự việc. Các nhà báo nước ngoài không cần phải thay đổi cách dùng từ ngữ cho giống như họ.
- Phạm Hoàng Quân: Một cuốn sách cần phải xem lại: “ MỘT SỐ TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ CÁC VÙNG BIỂN CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG ” (Diễn Đàn).
- Lộ trình lấy lại Hoàng Sa (Người Việt). “Ðồng minh sâu sắc với khối các quốc gia dân chủ văn minh và cùng với các quốc gia đó kiên quyết quyền thực thi luật biển, luật pháp quốc tế là rộng lộ trình hướng tới ngày lấy lại Hoàng Sa“.
- Biển Đông đã mất? (2) (Phạm Hồng Sơn). “Hãy để cho trí tưởng tượng được bay bổng. Bỗng một ngày tiềm lực Trung Cộng suy sụp tới mức không còn đủ sức để duy trì chiếm giữ Hoàng Sa, Trường Sa nữa, họ rút đi hết cả quân lẫn dân và vứt lại đó cả bản gốc Công hàm Hồ Chí Minh 1958. Nhưng tôi tin những dân oan mất đất ở Dương Nội (hay Tiên Lãng, Xuân Quang, Vụ Bản, Bình Dương, Đắc Lắc, Cà Mau,…) sẽ không đi lấy đảo, lấy công hàm về làm gì một khi chế độ chính trị Việt Nam vẫn là độc tài toàn trị. Không ai lại dại tới mức đi lấy của cải từ một kẻ cướp để đưa vào tay một kẻ cướp khác“. Mời xem lại: Biển Đông đã mất? (1)
- Hãy giữ lấy một chút lòng tự trọng, thưa ông thủ tướng (DLB). – Đồng chí “Ếch” (Sống News). “Tỉnh ngủ đi bà con, thủ tướng Ếch còn dưới cả bí thư tỉnh Quảng Đông đó! Đất nước dân tộc đến hồi mạt mà ra cớ sự, Tàu khựa cấp tỉnh cũng dạy được ông nhà nước xã nghĩa! Điểm này xin tự hiểu Ếch là người của ai, mà hãy vùng lên “diệt cộng”, chứ đừng ở đó mà mơ một ngày thủ tướng đóng vai Ếch-Ba-Chóp mần chuyện “giải cộng thoát Trung” cho đất nước, và cũng hổng có luôn cái vụ An Nam xã nghĩa trở thành khu tự trị như mật nghị Thành Đô nói, mà chỉ được làm một quận của Quảng Đông mà thôi“.
- Thoát Trung: “Môi răng” cùng xúc phạm tôn giáo? (VNTB). “Nhưng về phần giới học giả được xem là ‘cách mạng’ nhất ở Việt Nam, lối hành xử hoang dã giữa ‘hai đảng anh em’ đối với tín đồ tôn giáo vẫn chưa trở thành một khía cạnh thực tiễn được mổ xẻ. Lẽ đương nhiên, không thể ‘thoát Trung’ một cách thực tế nếu quanh đi quẩn lại vẫn chỉ là những triết thuyết mù mờ cùng vài khẩu hiệu trừu tượng“.
H1<= Người dân miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp định Geneve. Ảnh: Wiki. – Đi cùng Thánh Giá sang phía Tự Do – Kỷ Niệm 60 Năm Di Cư (NV). “Ký giả Gertrude Samuels, theo sát cuộc di cư kéo dài gần một năm, cho biết, ở nhiều nơi, cả làng kéo nhau đi, và câu hỏi chung của ông với nhiều người ‘tại sao lại bỏ hết để đi vào Nam’, đã được đáp lại bằng những câu trả lời tương tự: ‘Vì chúng tôi muốn sống tự do’. ‘Vì chúng tôi sợ chủ nghĩa Cộng Sản!’ ‘Vì muốn con cái chúng tôi được tự do theo Ðạo’. ‘Vì chúng tôi bị bắt phải bỏ Ðạo’. Nhiều tài liệu, tuy đưa ra những con số khác nhau, đều cho rằng việc cấm Ðạo là nguyên nhân khiến phần lớn người Bắc di cư vào Nam là tín đồ Công Giáo“.
- Trần Đức Thảo bàn về kí kết hiệp định (FB Nguyen Tuan). “Tôi thường xuyên nhắc nhở Đảng không nên dối trá trong việc ký kết. Ký kết dối trá về lâu về dài dân sẽ hiểu ra rằng dối trá là chính sách cai trị của Đảng, thì rồi sẽ sinh ra loạn trong xã hội. Từ đó sinh ra tâm thức muốn sống thì phải thường xuyên gian trá. Thế là sẽ loạn, loạn từ nếp suy nghĩ trong đầu, từ thói quen gian trá trong hành động ở mỗi người rồi lan ra toàn xã hội. Những ký kết, những chính sách, những công trình có cái gốc dối trá như thế sẽ là mần mống gieo hậu họa“. – Trần Gia Phụng: VIỆC THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GENÈVE (Ba Sàm).
- Ls Lưu Tường Quang: Hiệp Định Genève 1954: bài học gì cho Bộ Chính Trị ĐCSVN ngày nay? (RFA). “Trái với luận điệu tuyên truyền ‘môi hở răng lạnh’ mà cả Bắc Kinh và Hà Nội đều đã sử dụng, Trung Quốc giúp đỡ phe cộng sản tại Việt Nam trước và sau năm 1954 là vì quyền lợi của Trung Quốc. Trung Quốc coi Hội Nghị Genève là bàn đạp để Trung Quốc xác định vai trò đại cường trên diễn đàn quốc tế“. – Trùng Dương – 60 năm sau cuộc di cư lịch sử 1954 (DĐTK).
- BÁC HỒ LÀ “VỊ ANH HÙNG LƯỠNG QUỐC” (Đặng Huy Văn). “Còn điều ngược lại thì cả dân tộc Việt Nam cho đến nay vẫn chưa thể nào hiểu nổi! Đó là tại sao chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời lại yêu mến nước Trung Hoa và kính trọng Mao Trạch Đông đến vậy? Hồ Chí Minh đã tận tụy làm bất cứ điều gì mà Mao Trạch Đông muốn, từ CCRĐ để giết hại hàng vạn người có công với cuộc kháng chiến chống Pháp đến mở đường Trường Sơn để đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng…”. – Vì sao nhà cầm quyền Việt Nam lại im lặng trước tin đồn Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương? (Lê Anh Hùng). – Mời xem lại: Nhận xét về cuốn Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo (BBC).
- Đảng CSVN phiên bản của tình báo TQ – 16/16: Mao đặt vấn đề người kế nhiệm họ Hồ (FLICKR). “Ngày 25 tháng 7 năm 1966 tại Bắc Kinh, Bộ chính trị Trung Quốc cùng Mao Trạch Đông chụp hình lưu niệm, nhân dịp bis Hồ Chí Minh tuyên bố: ‘Đảng Cộng Sản Trung Quốc phải hùng mạnh để bảo vệ đứa em Việt Nam’. Đặc biệt trong Bộ chính trị Trung Quốc gồm có Hồ Chí Minh và Hoàng Văn Hoan đang hoạt động ở hải ngoại“.
H3- Những người phụ nữ khốn khổ (NBG). - Bùi Bảo Trúc: Không bán nước (TGBT). =>
- Đinh Nhật Uy – Thư ngỏ gửi Phòng An ninh Điều tra Công an tỉnh Long An (Dân Luận).
- OAN THỊ KÍNH (Nguyễn Văn Thạnh). – CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG SỰ NGHIỆP DÂN CHỦ (FB Nguyễn Văn Thạnh). – Tìm đâu hy vọng? (DLB).
- Nguyễn Ngọc Lụa – Đi thăm cha và chuyện kể trong tù (Dân Luận). – Cùm xích, dao lam và bệnh truyền nhiễm trong tù (NBG).
- Biết người biết ta (Phần 3): “Các yếu tố trong cuộc đấu tranh – Kết luận” (DLB).
- Hồ sơ Dân oan Tuần 64 & 65 (DCCT). – Từ đó, dân oan chúng tôi đã biết! (DLB). “Rất đông người quay phim, chụp hình, phỏng vấn những người đi biểu tình; ghi chép cẩn thận các biểu ngữ, khẩu hiệu mới được giăng lên… nhưng họ đều là công an tỉnh, thành phố hoặc là của Bộ. Tuyệt nhiên không có một nhà báo nào đến đây để quay phim chụp hình và phỏng vấn, cũng như không hề có một bài báo nào đưa tin là đang có cuộc biểu tình của nông dân tại sài Gòn“.

- Vun trồng không gian nhỏ cho một tương lai lớn (Diễn Ngôn). “Câu hỏi được đặt ra là: cuộc sống hiện tại phải chăng đã xuống cấp đến mức mà mọi nỗ lực cá nhân đều trở nên vô nghĩa? Và mỗi cá thể có thể làm gì để thoát khỏi mặc cảm yếu đuối, bất lực vẫn đeo đuổi họ bấy lâu? Lời đáp cho những câu hỏi này có liên quan đến một vấn đề đã được cố tình nhắc đến ở đầu bài viết: lựa chọn không gian nào để phát triển những giá trị và năng lực cá nhân“.
- GS Nguyễn Văn Tuấn: Vài đặc điểm trong các phát biểu của lãnh đạo Việt Nam (BS). “Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh’. Đọc qua nhiều bài phát biểu của các lãnh đạo VN tôi nhận ra vài đặc điểm chính (có thể chưa đủ) như sau: Thứ nhất là tính chung chung, không có một cái gì cụ thể. Thứ hai là dùng nhiều sáo ngữ. Thứ ba là không có thông tin (lack of information). Thứ tư là ngôn ngữ khẩu hiệu. Thứ năm là loại ngôn ngữ hành chính hoá“.
- Ông Đinh Đức Lập cố trì hoãn bàn giao hồ sơ tài chính? (Hữu Nguyên). “Có lẽ ông Lập đã biết được thông tin ngay sau khi bàn giao xong hồ sơ tài chính của báo Đại đoàn kết cho người phụ trách mới thì lập tức kiểm toán, thanh tra tài chính sẽ vào cuộc. Cho nên ông Lập đang ra sức câu giờ, trì hoãn, kéo dài thêm chút ít thời gian để cùng các đệ tử cố gắng “làm càng nhiều những việc cần làm” trước khi bàn giao hồ sơ tài chính càng tốt thì phải?
- GS Nguyễn Văn Tuấn: Người Việt không thiếu sức sáng tạo? (BS). “Anh làm ăn như thế nào, tạo điều kiện ra sao, mà cả một dân tộc có chỉ số sáng tạo thấp nhất trong vùng… Khi người ta đánh giá một quốc gia, người ta nhìn vào tổng thể, chứ không quan tâm đến chi tiết. Một khi tất cả những cơ phận (chi tiết) hoạt động tốt thì điều đó cũng phản ảnh tính sáng tạo của một quốc gia“.
- Hiến pháp Việt Nam: Vì dân hay xa dân? (Bài 3) (VNTB).
- Chuyện cảnh sát giao thông và người dân (RFA). “Chỉ cần được đứng ở các trạm này, mỗi đêm, thu nhập của mỗi cảnh sát thấp nhất cũng được năm triệu đồng, nếu trúng thì con số lên mười triệu, thậm chí vài chục triệu nếu bắt trúng những xe chở hàng lậu hoặc động vật quí hiếm“. Rõ ràng cảnh sát giao thông là bọn “cướp ngày”, nhưng làm việc ban đêm.
- Để vỡ 9 lần ống cũ, vẫn được làm ống mới (TT). – Vì sao vẫn chưa thể “xử” vụ vỡ đường ống nước? (VnEconomy).
H2<- Bộ trưởng Thăng vi hành đâu thấy sai đó (ĐV). – Phó thủ tướng: ‘Không đâu bán hàng lậu công khai như VN’ (VNE). – VIỆT NAM XỨ SỞ CỦA NGHỊCH LÝ…VẪN CÒN DÀI DÀI (Huỳnh Ngọc Chênh).
- Hàng không cố tình né báo tin chậm chuyến bay (VNE). – Những nhà cai trị vô trách nhiệm (NV).
- 6 cầu thủ Đồng Nai bị bắt: Toàn gương mặt có tiền sự (MTG). – Bộ Công an công bố thông tin vụ bán độ ở đội Đồng Nai (NLĐ). – Bộ công an họp báo công bố chi tiết về vụ án cá độ bóng đá (MTG). – Công an chính thức thông báo 6 cầu thủ Đồng Nai bán độ 400 triệu đồng (NLĐ). – Vì đâu C45 “cất vó” bắt 6 cầu thủ Đồng Nai? (MTG).
- Vụ bắt giam thai phụ tại Phú Thọ, hé lộ thêm tình tiết nghiêm trọng (GDVN).
- Ăn nhậu cũng gọi là thi hành công vụ (DLB).
- Việt Nam bồi thường thiệt hại cho các công ty Đài Loan (VOA).
- Ai được làm tuyến đường cao tốc đắt nhất Việt Nam? (ĐV).
- Bổ nhiệm đại sứ Việt Nam mới ở Hoa Kỳ (BBC).
- Lại biểu tình chống VN ở Phnom Penh (BBC). – Người Campuchia lại biểu tình phản đối trước đại sứ quán Việt Nam (VOA).
- Lãnh đạo Lạng Sơn phủ nhận ngập lụt do Trung Quốc (GDVN). “Trước việc một số người dân của Lạng Sơn cho rằng, ngập lụt xảy ra là do phía Trung Quốc mở đập xả lũ, ông Nguyễn Văn Bình bác bỏ ngay thông tin trên“.
- Tàu TQ do thám tập trận hải quân Rimpac (BBC). – TQ phái tàu do thám cuộc tập trận RIMPAC (VNN). – Bắc Kinh gửi tàu do thám đến gần cuộc tập trận hải quân với Mỹ (VOA). – Bắc Kinh bảo vệ « quyền dọ thám » (RFI).
- New York Times Tố Cáo Hacker Trung Quốc Tấn Công Mỹ (+video) (ĐKN).
- Trung Quốc Ban Lệnh Cấm Phim và Phần Mềm Ứng Dụng Nước Ngoài (ĐKN).
- Venezuela và Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện (XL). – Chủ tịch Trung Quốc cam kết củng cố quan hệ với Venezuela (VOA).
- Trung Quốc mở chiến dịch chỉnh đốn tư tưởng (RFI).
- Báo Chí Hồng Kông Trải Qua Năm Đen Tối Nhất Trong Nhiều Thập Kỷ (ĐKN).
- Đêm Vọng Dưới Ánh Nến: Lễ Tưởng Niệm Trong Thinh Lặng Đánh Dấu 15 Năm Cuộc Bức Hại (ĐKN). – London: Vạch Trần Nạn Mổ Cướp Tạng tại Hội Nghị Cấy Ghép Gan Quốc Tế (+video) (ĐKN). – “Con Người Trong Tương Lai Sẽ Mãi Ghi Nhớ Về Các Bạn !”
- Trần Dương: Liêu Diệc Vũ, nhà văn gọi Trung Quốc là quỷ dữ (Đào Hiếu).
- Hàn Quốc, Trung Quốc xúc tiến thiết lập đường dây nóng (VOA).
- Triển lãm về Yuri Andropov : Nga vẫn tôn thờ những kẻ độc tài (RFI).

- Tàu gì hiệu quả nhất cho ngư dân? Kỳ 1:“Tàu nhựa” vươn khơi (TT). – Tàu gì hiệu quả nhất cho ngư dân? – Kỳ 2: Tàu sắt an toàn hơn (TT).
- “Trung Quốc dời giàn khoan để ngăn Việt Nam thoát khỏi quỹ đạo” (GDVN). “Lý do thứ 4 nổi lên như một nguyên nhân có thể giải thích cho hành động rút giàn khoan 981 của Trung Quốc theo giáo sư Carl Thayer là Bắc Kinh muốn ngăn chặn mối quan hệ với láng giềng tồi tệ đến mức Việt Nam không chỉ quyết định sử dụng hành động pháp lý chống lại (các hành động gây hấn, vi phạm luật pháp quốc tế của) Trung Quốc mà còn đẩy Việt Nam tới chỗ gắn kết chặt chẽ với Hoa Kỳ“.
- Phim tài liệu “Hành trình trên Biển Đông”: Trung Quốc tự “vạch áo cho người xem lưng” (ANTĐ). “Trong một diễn biến nguy hiểm hơn, tập 8 của “Hành trình trên Biển Đông” gửi một thông điệp rõ ràng rằng, Trung Quốc sẽ không ngần ngại hành động khi ‘lợi ích bị đe dọa’. Bộ phim này đã phát đi hình ảnh vụ đụng độ năm 2007, trong đó Trung Quốc đã ra lệnh cho một tàu chấp pháp của nước này đâm thẳng vào một tàu Việt Nam ở ngay giữa vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam”.
- Hãy yêu nước theo cách của bạn (FB Nguyễn Văn Thạnh). “Khi bạn quan tâm đến tình hình đất nước, bạn đã là người yêu nước. Có nhiều người không chỉ quan tâm mà họ có những hành động thầm lặng để góp công sức cho đất nước tiến lên nền dân chủ“.
- Có một quy trình “làm nghèo đất nước” (NNVN). “Điều không ai hiểu nổi là vì sao đã biết rất rõ rằng chất lượng dây chuyền, máy móc thiết bị của Trung Quốc ‘chỉ ở mức trung bình, thường xuyên xảy ra sự cố’, mà vẫn chấp nhận?
- Biết trước chậm hủy chuyến, hãng vẫn lừa dối khách (VNN). “Có hãng biết trước chậm 4h-5h đồng hồ, nhưng hãng lại cắt thành chậm 1 đến 2 tiếng, ngắt quãng nhiều lần để chống phản cảm. Điều nay là không trung thực với khách…”.
KINH TẾ
- Toàn cảnh kinh tế Việt Nam 21-7-2014(VietFin).
- Vào chợ mỗi ngày TTCK 21-7-2014 (VietFin). – Nhận định chứng khoán ngày 22/7: “Sẽ gia tăng áp lực bán” (VnEconomy). – Chứng khoán sáng 21/7: GAS, VNM đẩy VN-Index sát 600 điểm (VnEconomy).
- “Cuộc chiến” Bitcoin tại Việt Nam: Quả bóng lăn đi lăn lại? (VnEconomy).
- VN thất thu thương mại 37 tỉ USD vì thủ tục xuất nhập khẩu (TT).
H6- VAMC mua nợ hay mua thời gian? (BizLive). =>
- Có ngoại tệ, được sử dụng như thế nào? (CP).
- Đau lòng với giá xăng (TBNH).
- Nhập dầu thô để chế biến (NLĐ). Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã xuất khẩu hàng chục triệu tấn dầu thô mỗi năm và đã từng đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á về xuất khẩu dầu thô, bây giờ lại chuyển sang nhập dầu thô. Cứ xuất nguyên liệu thô, để rồi một lúc nào đó chẳng còn gì để xuất thì phải nhập khẩu lại nguyên liệu thô để chế biến hoặc nhập khẩu thành phẩm thôi. Mời xem lại: Xuất khẩu dầu thô đạt mốc 300 triệu tấn: PV OIL “nâng” thương hiệu dầu thô Việt Nam (PVN). – Liếc qua nước láng giềng: Xuất khẩu dầu diesel của Trung Quốc cao nhất 4 năm (Gafin).
- Bộ trưởng Thăng: ‘Mạnh dạn cam kết, không lỗ đâu’ (VNN).
- Phiên chợ hàng Việt ra đảo Lý Sơn (TT).
- Đừng bòn sức doanh nghiệp! (NLĐ).
- Hẩm hiu nghề kim hoàn! (NLĐ).
- Starburks mở cùng lúc 3 cửa hàng tại Hà Nội (VnEconomy).
- Lập lờ quảng cáo, 17 doanh nghiệp Hà Nội bị “bêu tên” (GDVN).
- Chuyên gia USAID: Người Việt lẽ ra phải có thu nhập 7.000 USD (VNE).
- Việt Nam đón làn sóng đầu tư từ Nhật Bản (VNE).
- Bộ trưởng Tài chính Đức cảnh báo nguy cơ bong bóng tài sản (TTXVN).
- Chứng khoán Nga lại rớt giá sau vụ bắn rơi máy bay Malaysia (VOA).
- Nghi án trốn thuế: Cái giá của PepsiCo và “án treo” cho Coca Cola (GDVN).
- Hai Chàng Tư Bản ‘Giẫy Sống’ (Alan Phan).
- Tạp chí Forbes về tay nhóm nhà đầu tư Hồng Kông (VnEconomy).
- McDonald’s, KFC lại gặp rắc rối với thực phẩm tại Trung Quốc (VnEconomy). – TQ: McDonald’s và KFC dùng thịt quá hạn (BBC). – McDonald’s, KFC Trung Quốc bị nghi dùng thịt hết hạn (VNE).

VĂN HÓA-THỂ THAO
- CHUYỆN XƯA – NAY MỚI NÓI – KỲ 30 – Đất nước khó khăn này… (Nhật Tuấn). – CHUYỆN XƯA – NAY MỚI NÓI – KỲ 31 – Hội nhà văn của nước ta – (kỳ 8) (Nhật Tuấn). – BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ – KỲ 119 (Nhật Tuấn). – CHIM HÓT TRONG LỒNG – Tiểu thuyết NHẬT TIẾN -KỲ 2 (Nhật Tuấn). – Nhân giố cố họa sĩ LƯU CÔNG NHÂN (21-7-2007 – 21-07-2014)
H3<- Đi tìm lời giải cho nghi án giới tính của ‘ông hoàng thơ tình’ Xuân Diệu (MTG).
- “QUY TẮC NGUYỄN ĐÌNH TOÁN” (NGUYEN DINH TOAN’S RULE) (Nguyễn Trọng Tạo).
- Lorca Nguyễn Văn Trỗi (pro&contra). – Ngụ ngôn gửi người mất ngủ
- MƯA ĐÊM 19.7.2014 thơ Hạu hiện đại của Bà Đầm Xòe (BĐX). – Dịch “MƯA ĐÊM 19.7.2014”- Thơ Hậu hiện đại của Bà Đầm xòe ra thơ lục bát truyền thống của dân tộc
- Phạm Xuân Ðài – Năm 1954, tại Hội An (DĐTK).
- Hồ Phú Bông – Níu kéo những giờ vui (DĐTK).
- UẤT CẤP ỌP LAI… (Văn Công Hùng).
- Đọc ‘LÁ DAFFODIL THẮT BÍM’ của Nguyễn Âu Hồng (Da Màu).
- THÚC TÔN THÔNG CHẾ ĐỊNH NGHI LỄ (Ông Giáo Làng).
- Video: Terence McKenna — Văn hóa không phải là bạn của bạn (Nguyen Hoang Huy).

- UẤT CẤP ỌP LAI (TIẾP THEO) (Văn Công Hùng).
- “Ngắt kết nối” (TBKTSG). “Yêu thương tử tế, việc đầu tiên chắc chắn không phải là miệng nói với một người, tay bấm màn hình gửi tin nhắn hay bình luận gửi cho một người khác, có phải không?
GIÁO DỤC-KHOA HỌC
- Gặp cô thủ khoa khối B – Đại học Quốc gia Hà Nội (Kênh 14).
- Thần đồng 4 tuổi biết làm Toán trở thành thủ khoa 30 điểm (Zing).
- Cậu bé 13 tuổi phát minh máy tính hóa học (VNE).
- Bảng điểm gây xôn xao cộng đồng mạng xã hội (NLĐ).
- Giáo viên trường không phép bạo hành trẻ tự kỷ (VNE). – Giải thể trường dạy trẻ tự kỷ bằng…roi sắt (VNN).
H4- “Chợ” giấy tờ, bằng cấp giả ở Biên Hòa – Bài 1: Giấy giả: Muốn loại nào cũng có (CL). =>
- HUYẾT THANH SỐNG TRẮNG DA LÀ TRÒ LỪA ĐẢO MỚI CỦA GIỚI THẪM MỸ VÀ SHOWBIZ VIỆT (Hồ Hải).
- 6 bài thuốc trị bệnh từ hoa thiên lý (GDVN).
- Những yếu tố nguy cơ của ung thư buồng trứng (RFA).
- Bỗng dưng đau tê dại vùng vai, gáy khi ngủ dậy (MTG).
- Chảo chống dính chứa hóa chất liên quan bệnh gan và ung thư (GĐVN).
- Vũ Trụ Trong Mắt Ai, Bất Định, Bất Toàn, Tin Cậy và Tình Yêu (BHC).

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG
- 3 bệnh viện được đề xuất thực hiện mang thai hộ (VNE).
- Truvada: “Thần dược” chống HIV? (Diễn Ngôn).
- Về dự thảo cấm bán rượu, bia sau 22 giờ: Cấm là tốt, nhưng… (NLĐ). – VN khó cấm bán rượu bia sau 10 giờ tối? (BBC).
- Tiết lộ bất ngờ của nghệ nhân dát vàng phục vụ đại gia Việt (KT).
- Chủ tịch xã cưới chú rể lớp 11 cho “tiểu thư” lớp 10 (PLVN).
- Chào thua đạo chích, cắm gương xe máy vào ôtô (VEF).
- Nguyên cán bộ ngân hàng giả danh công an cướp xe máy (TT).
H1<- Ảnh ‘đại ca hổ báo không bằng mẫu giáo kín lưng’ nhận bão like (MTG).
- Pháp giúp Hà Nội xây tuyến métro số 3 (VNN).
- Người Mỹ bảy năm mới khám bệnh (BBC).
- Bệnh viện đền 190 triệu USD vì bác sĩ lén quay phim bệnh nhân nữ (VOA).
- TT Mỹ ký sắc lệnh cấm phân biệt đối xử với nhân viên đồng tính (VOA).
- Campuchia đối mặt nhiều thách thức để ngăn ngừa HIV/AIDS (VOA).
- Phát hiện gấu ngựa ở Quảng Nam (VNE).
- Sơn La: Động đất và đại hoạ thuỷ điện (DLB). – Bé mới sinh chưa được đặt tên đã bị đất vùi (MTG).
- 11 người thiệt mạng vì bão Rammasun ở Việt Nam (VOA). – Hà Giang: tìm thấy 7 nạn nhân trong các vụ sạt lở đất (TT). – Thiệt hại từ cơn bão số 2: Số lượng người chết tiếp tục tăng lên (LĐ).
- ‘Mỗi giờ nước lũ dâng thêm 1m’ (VNN). – Lũ rút, rác bùn ngập ngụa TP Lạng Sơn (VNN). – Thành phố Lạng Sơn thành ‘biển’ rác sau trận lụt lịch sử (VNE). – Hoang tàn sau lũ ở Lạng Sơn (LĐ).
- Bảo Yên – Lào Cai: Nhiều gia đình “kêu trời” vì mưa lũ (LĐ). “Thôn chúng tôi đã nghèo, không có đất sản xuất, thiếu đồi nương, tất cả chỉ trông chờ vào đồng ruộng, thế mà ông trời vẫn không rủ lòng thương, đã cướp gần như toàn bộ diện tích ruộng của thôn“.
- Lý Quang Diệu viết về vấn đề năng lượng và biến đổi khí hậu (NCQT).

- Cuộc tháo chạy khỏi cơn lũ lịch sử ở Lạng Sơn (VNE). “Dưa bị ngâm nước, nếu 3-4 ngày nữa không bán được sẽ hỏng. Thương lái chợ Giếng Vuông hôm trước hứa mua, nay kho hoa quả trong chợ của họ bị thối nên chưa chịu lấy hàng. Bao nhiêu vốn liếng gia đình tôi đều dồn vào ruộng dưa ấy“.
- Lai Châu: 6 người thiệt mạng do bất cẩn bị lũ cuốn trôi (LĐ). Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phó thường trực Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Lai Châu: “Nguyên nhân các vụ tai nạn chủ yếu là do bất cẩn tham gia giao thông trong khi đang mưa lũ và bất cẩn khi qua suối lũ, hiện một người chưa tìm thấy thi thể“. Làm sao có thể nói các nạn nhân lũ lụt là “bất cẩn” được?
- Chấn động vụ thắng kiện hơn 23,6 tỉ USD (TN). “Theo Reuters, một tòa án tại bang Florida, Mỹ vừa công bố phán quyết gây sốc: một quả phụ có chồng chết vì bị ung thư phổi do hút thuốc lá cách đây 18 năm được nhận tổng cộng hơn 23,6 tỉ USD từ tập đoàn sản xuất thuốc lá lớn thứ 2 nước này là RJ Reynolds“.
QUỐC TẾ
- Tội ác của Putin (Blog RFA). – Putin: Sự thèm khát quyền lực của nước Nga (Blog RFA). – MH17: Châu Âu dọa trừng phạt Nga (RFI). – Hà Lan mở cuộc điều tra hình sự vụ MH17 (TT). – Obama kêu gọi Putin hỗ trợ điều tra MH17 (BBC). – TT Obama: Nga phải gây áp lực để quốc tế tiếp cận hiện trường tai nạn (VOA). – Kerry chỉ trích Nga về vụ MH17 (BBC). – Đại sứ Anh chỉ trích Nga ‘câu giờ’ trong vụ MH17 (Soha). – Hội đồng Bảo an sắp biểu quyết vụ máy bay Malaysia bị bắn rơi (VOA). – Hội đồng Bảo an bỏ phiếu nghị quyết về vụ MH17 (VnEconomy). – Hội đồng Bảo an sẽ thông qua nghị quyết (RFI). – TQ ngần ngại không lên án Nga về vụ máy bay Malaysia bị bắn rơi (VOA).
H5- Báo Nga ‘hoan hô bắn rơi máy bay’ (BBC). – Nga tố chiến đấu cơ Ukraine đứng sau vụ MH17 (VNE). – Nga: Chiến đấu cơ Ukraine cách MH17 3-5 km (NLĐ). – Tổng thống Ukraine mời Nga tham gia điều tra vụ MH17 (Tin Tức). – Novosti: Bộ Ngoại giao Nga ra tuyên bố vụ máy bay bị bắn rơi (Hiệu Minh). – Chuyên gia: Vụ máy bay rơi bất lợi cho Nga, tốt cho Ucraine (GDVN). – Giới tỷ phú Nga run sợ sau vụ MH17 (VnEconomy). – Putin: tứ bề thọ địch và sự lựa chọn bi đát (Hoàng Việt Quốc) (Thông Luận). – Phe ly khai Ukraine bị thúc ép (NLĐ). – Tổng thống Obama: Nga cần phải buộc phe ly khai hợp tác trong vụ MH17 (TN).
- Mỹ xác thực băng ghi âm của phiến quân Ukraine về MH17 (VNE). “Phiến quân thừa nhận họ đã bắn trúng máy bay chở khách của Malaysia Airlines vì tưởng nhầm nó là phi cơ quân sự“. – Ukraina công bố ghi âm cáo buộc Nga chỉ đạo quân ly khai giấu hộp đen (LĐ). – FT: 5 bằng chứng quan trọng giúp tìm ra thủ phạm bắn rơi MH17 (Soha). – “Đặc nhiệm Nga có thể là thủ phạm bắn rơi máy bay Malaysia” (Soha). – Vụ MH17: 8 câu hỏi quan trọng chưa có lời đáp (24h). – Ukraina : Vì sao đa số phi cơ dân dụng bay qua vùng có chiến sự ? (RFI). – Các Hãng Hàng Không Hủy Bỏ Tất Cả Các Chuyến Bay Qua Không Phận Đông Ukraine (ĐKN).
- Hội nghị AIDS tưởng nhớ 6 đồng nghiệp thiệt mạng trên chuyến bay MH17 (VOA). – MH17 : Những xác người từ trời rơi xuống cánh đồng Grabovo (Thụy My). – Cận cảnh đoàn tàu hỏa chất đầy thi thể các nạn nhân MH17 (GTVT). – Chuyên gia khám nghiệm tử thi ớn lạnh khi ở hiện trường MH17 (Zing). – MH17 và MH370: Những sự trùng hợp kỳ lạ, những số phận trớ trêu (aFamily). – Những trường hợp hy hữu trên chuyến bay định mệnh MH17 (Kênh 14). – Hạnh phúc vụt tắt (NLĐ). – Bức thư “cảm ơn” đau đớn của một người cha hành khách MH17 (TT). – 2 lần thoát chết với 2 chuyến bay MH370 và MH17 (TT).
- ‘Malaysia Airline là hãng hàng không xui xẻo nhất thế giới’ (GĐVN). – Malaysia Airlines bên bờ vực phá sản: Khó khăn chồng chất (NLĐ). – Malaysia Airlines sẽ đệ đơn xin phá sản? (Zing).
- Putin ‘ủng hộ chấm dứt xung đột Ukraine’ (BBC). – Putin hứa giải quyết xung đột tại Ukraina qua đàm phán (RFI). – CNN: Những cách thức giúp phe ly khai Ukraine có được vũ khí hạng nặng (GDVN).
- Ukraina – Cận Đông, hai hồ sơ nóng bỏng trong chính sách ngoại giao của Mỹ (RFI).
- Phần Lan bắt giữ bộ phận hỏa tiễn gửi từ Việt Nam tới Ukraine (NV).
- 6 máy bay chở khách suýt đâm nhau trên trời Nga (TP).
- 100 người chết trong một ngày ở Gaza (BBC). – Quốc tế tiếp tục nỗ lực ngoại giao để ngừng bắn tại Gaza (RFI). – Hội đồng Bảo an yêu cầu ngưng bắn ngay lập tức ở Dải Gaza (VOA). – Hệ quả tình hình chiến sự Gaza : biểu tình bạo động ở Pháp (RFI).
- Giao tranh dữ dội ở Libya, gần 50 người thiệt mạng (VOA). – Libya: Gần 50 người chết sau một tuần giao tranh ở sân bay Tripoli (RFI).
- Indonesia trước nguy cơ bế tắc chính trị kéo dài (RFI).
- Thủ tướng Cam Bốt gặp lãnh đạo đối lập tìm lối thoát khỏi khủng hoảng (RFI).
- Iran loại bỏ kho hạt nhân làm giàu ở mức cao (VOA).
- Ấn Độ chi nhiều tỉ USD hiện đại hóa quân đội (VNN).
- Tổng thống Pháp cưới vợ vào sinh nhật 60 tuổi? (NLĐ).

* RFA: + Sáng 21-07-2014; + Tối 21-07-2014
* RFI: 21-07-2014
* Video RFA: + Bản tin video tối 21-07-2014

2779. Thế lưỡng nan hậu giàn khoan TQ

BBC – Việt Ngữ
TS Đinh Hoàng Thắng - Hà Nội
18-07-2014
Lính Tàu hay lính Việt?
Lính Tàu hay lính Việt?
Ngay vào thời điểm tin tức về giàn khoan Trung Quốc trên truyền thông đang vỡ òa, có người đã lo lắng, sau khi giàn khoan HD-981 rút khỏi biển Việt Nam, liệu mọi chuyện, một lần nữa, rồi lại sẽ rơi vào im lặng như trước đây.
Việc nhà nước (Việt Nam) hạn chế hay khuyến khích báo chí quốc doanh “xả stress”, sau một đợt “ngủ đông” kéo dài về cuộc ‘xâm lăng toàn diện’ Việt Nam của Trung Quốc, đặt ra những tình huống lưỡng nan cho cuộc đấu tranh ngoại giao và pháp lý tới đây.
Nếu cuộc chạy “sô” lập trường dâng cao sẽ dẫn đến nỗi lo “chùm nho Bắc Kinh nổi giận”, nếu cái nồi hơi “phê Trung, đả Giàn” (phê Trung Quốc, đả Giàn khoan) hạ nhiệt thì ngược lại, biết lấy gì “chống lưng” cho cuộc vận động dư luận đòi đảo cũng như đòi biển bị cướp và bị chiếm?

‘Pháo xịt ngòi’

Theo Tân Hoa xã, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi chiều 16/7 cho biết, việc chuyển giàn khoan là sự sắp xếp từ trước của các doanh nghiệp trên biển, chẳng liên quan gì tới bất cứ một nhân tố bên ngoài nào.
Ý ông này “cãi cối cãi chầy”: Chúng tôi (tức Trung Quốc) rút trước một tháng so với dự kiến không phải vì tính toán sai lầm và do áp lực quốc tế đâu nhé! Trung Quốc rút giàn khoan càng không phải vì Tổng thống Obama đã có cuộc điện đàm (nóng) với Chủ tịch Tập Cận Bình một ngày trước khi chúng tôi ra tuyên bố đâu nhé!?
Đúng, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tiết lộ một phần của bí mật…
Phần của bí mật đó là ông Obama đã nói gì với ông Tập sau hơn hai tháng Trung Quốc “múa gậy vườn hoang” khiêu khích, thách thức, hiếp đáp đối với một nước nhỏ (đang bị họ quở trách là “đứa con hoang đàng”)?
Liệu Trung Quốc đã thật sự hoàn thành sứ mệnh “nắn gân dư luận”? Liệu Trung Quốc đã lãnh đủ những thứ Trung Quốc đáng ra phải nhận?
Sự trỗi dậy muộn màng của Trung Quốc trong một trật tự tương đối an bài bởi những thiết chế quốc tế về an toàn và tự do hàng hải mách bảo cho những thế lực nuôi cuồng vọng sắp xếp lại bàn cờ khu vực cũng như trên toàn cầu rằng, thời của họ chưa đến hoặc thời của họ đã qua.
Phép thử của những kẻ chủ xướng “Trung Hoa Mộng” khi nào thật sự mới kết thúc?
Chẳng có gì bảo đảm, Trung Quốc sẽ không “tái xuất giang hồ”, đẩy “biên giới di động” trở lại vị trí cũ, hoặc sang một vị trí mới. Vì đường lưỡi bò “tham ăn háu đói” đâu chỉ ra đời từ thời Tưởng Giới Thạch.
Nó là sản phẩm từ ngàn năm của điều được cho là “căn tính sói”, sản phẩm của não trạng coi 14 nước láng giềng là man di của một “Trung Hoa quân chủ chuyên chế” (từ của GS Trần Ngọc Vương).

Các lựa chọn

Ai là quan Việt? Ai quan tàu?
Ai là quan Việt? Ai quan tàu?
Một nửa sự mờ ám chưa hẳn đã là sự mờ ám toàn phần. Người Việt, cả ‘thủ lĩnh’ lẫn ‘thảo dân’ sẽ còn mất nhiều công sức để phát hiện, để đối phó! Cơn sốt truyền thông hai tháng qua mới chỉ đủ để công luận qua “cơn ngái ngủ”.
Có một sẽ có hai. Trong một tình huống rõ như ban ngày, Việt Nam là bậc thang đầu tiên để ‘Thiên triều’ đi xuống biển Đông Nam Á, từ đó trổ ra Thái Bình Dương để ăn thua “đủ” với các cường quốc muốn giữ nguyên trạng.
Nhưng rồi “sự trỗi dậy” ấy, cho dù bằng hòa bình như đang quảng bá hay bằng chiến tranh như từng chuẩn bị, dường như cho thấy con sư tử già thức giấc quá muộn.
Dẫu sao mặc lòng, giờ đây ngồi tính lại hơn thiệt (cost and benefit), Trung Quốc đang nhận ra những sự thật không mấy ngọt ngào.
Về phần thế giới, phải thấy các nhà bình luận có lý khi qua những vụ như vừa rồi đã khái quát nên một Trung Quốc “chưa giàu đã già”, “chưa hùng đã hung”.
Còn Việt Nam có thể đứng trước những lựa chọn nào?
Thứ nhất, nhân cơ hội vừa qua, xác lập lại một tư thế mới trong bang giao với các nước láng giềng và thế giới, dù lớn hay bé, như giữa các quốc gia với nhau; thậm chí, nếu muốn, như giữa các thực thể địa – chính trị. Đây là cơ hội để Việt Nam có được một con đường thẳng và tương đối nhanh để đi tới hưng khởi.
Thứ hai, trở lại “đường ray cũ” như một tập quán “bóng đè”, như một định mệnh của lịch sử. Việt Nam sẽ trở thành “trái độn” cho những xung đột có thể có giữa các thế lực lớn. Đây là con đường trở lại ‘kiếp chư hầu’, ‘thuộc quốc’ vốn đã quá bẽ bàng trong lịch sử.
Đều là thành viên của Việt tộc, chúng ta phải hiểu tại sao Trần Hưng Đạo được dân phong Thánh, gọi là Đức Thánh Trần.
Khi xã tắc lâm nguy thì sự đồng thuận cao giữa triều đình với thần dân, đặc biệt là giữa những nhân vật trọng yếu của triều đình với nhau (mặc dầu trong đám ấy cũng có kẻ toan tính chuyện hàng giặc) là vô cùng quan trọng. Trần Hưng Đạo, vì nước bỏ qua thù nhà, góp phần giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đã lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.

Không “há miệng chờ sung”

Pháo Tàu tuy đã “xịt ngòi” nhưng thuốc pháo còn nguyên.
Và những vòi rồng, những súng phun nước, thậm chí các dàn pháo đủ loại (Trung Quốc đã “lột truồng” để phóng đại thêm tính côn đồ) vẫn luôn trong tư thế sẵn sàng.
Lựa chọn của ‘nạn nhân’ trong trường hợp này khá hạn hẹp.
Cũng còn may mà thế lưỡng nan không chỉ xuất hiện trong bang giao Việt-Trung. Thế lưỡng nan còn phản ánh cả ở tương quan giữa Trung Quốc với các nước khu vực và với các đại cường: “Lụt thì lút cả làng”.
An ninh của Việt Nam trở thành một bộ phận của an ninh khu vực, thậm chí toàn cầu. Tuy nhiên, cũng không thể “há miệng chờ sung”.
Ngay giữa ngã ba đường, Việt Nam đã buộc phải chủ động tiến hành nhiều cuộc chinh chiến ngoài ý muốn để góp phần ngăn chặn thảm họa cho toàn khu vực.
Và an ninh và phát triển cho Việt Nam, hòa bình và công lý cho Biển Đông, đó là con đường mở ra ở phía trước, nhưng không phải là một sứ mệnh bất khả thi!
Bài viết phản ánh quan điểm riêng và văn phong của tác giả, một nhà nghiên cứu về tình hình quốc tế và khu vực, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, hiện đang sinh sống tại Hà Nội.

2780. Bể Đông và ông trách nhiệm

Baron Trịnh
19-07-2014
1. Ngày 15/7, Tân Hoa xã đưa tin Tập đoàn Dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC) thông báo đã hoàn thành xong công tác khoan trắc trên vùng đảo Tây Sa và giàn khoan 981 sẽ được chuyển tới làm việc ở đảo Hải Nam. Tại thời điểm này, trên biển Đông xuất hiện cơn bão Thần Sấm (Rammasun) đi thẳng vào vùng biển mà giàn khoan 981 hạ đặt.
Báo chí trong nước đua nhau giật title câu view thông tin này, mạng xã hội cũng nóng lên không kém. Người cho rằng Trung Quốc rút giàn khoan để tránh bão, kẻ lại nói là đã khoan trắc xong nên dời đến vị trí mới. Người phân tích, kẻ trích dẫn, rất huyên náo.
Sau khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao thông báo chính thức về việc trên. Một loạt quan chức và cựu quan chức phát biểu rất hùng hồn, như là họ đã biết trước việc Trung Quốc rút giàn khoan.
Vài quan chức của Quốc hội nổ như pháo tép về biển Đông sau sự kiện này, đến mức báo chí giật title “bản lĩnh Quốc hội về biển Đông”, bởi kỳ họp thứ 7 của Quốc hội diễn ra trong thời điểm căng thẳng ở biển Đông. Bản lĩnh của Quốc hội được ông Giàu – Chủ nhiệm UB Kinh tế “dẫn lời” từ cử tri là: “bài khai mạc và bế mạc của Chủ tịch Quốc hội, công thư của Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại“. Còn ông Phúc – Chủ nhiệm Văn phòng quốc hội thì cho rằng đó là: “Quốc hội đã dành thời gian thảo luận sâu sắc, mạnh mẽ lên án hành động sai trái của phía Trung Quốc” và ra “Bản thông cáo số 2 của Quốc hội (ngày 21/5)“. Trong khi đó, mặc dù đã được Đại biểu quốc hội đề xuất, nhưng Quốc hội cho rằng, chưa cần thiết phải có một nghị quyết về biển Đông(!?).
Phát biểu trước báo giới, ông Hà Lê – cục phó Cục kiểm ngư cho rằng: “Trung Quốc di chuyển giàn khoan vì sức ép đấu tranh của các lực lượng chấp pháp của Việt Nam trên biển”. Ông Lê Mã Lương – cựu tướng 1 sao đánh giá: “Đây là sự thành công về cuộc chiến về pháp lý, về ngoại giao của Nhà nước và Nhân dân Việt Nam”. Còn ông Lê Kế Lâm – cựu Chuẩn đô đốc thì cho rằng đó là kết quả của: “sự đấu tranh kiên cường, quyết liệt của dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo kiên cường của Đảng và Nhà nước Việt Nam”. Ông Lâm còn ví von việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép khiến “trời cũng không dung, người không tha”.
Các nhà phân tích, nghiên cứu cũng đua nhau giải mã về hành động của Trung Quốc. Trả lời hãng tin BBC, ông Carlyle Thayer – giáo sư thuộc Học viện quốc phòng Australia, nhà nghiên cứu hàng đầu về biển Đông cho rằng việc Trung Quốc rút giàn khoan là để “lôi kéo Việt Nam vào con đường đàm phán song phương, ngăn chặn những thành phần trong Bộ Chính trị Việt Nam muốn tìm kiếm sự trợ giúp bên ngoài” trong thời điểm Thượng viện Mỹ ra nghị quyết về biển Đông và chuẩn bị diễn ra Diễn đàn An ninh khu vực (ARF). Ông Thayer nhấn mạnh: “Nếu Trung Quốc muốn đặt giàn khoan ở đó vô thời hạn thì Việt Nam cũng không làm gì được”.
Có điều, sau gần 2 ngày giàn khoan 981 di chuyển, thì nó đã dừng hẳn và ở cách vị trí cũ không xa. Có vẻ lý do tránh bão đã bị loại trừ, vì vị trí mới vẫn nằm trong vùng của tâm bão. Báo Tuổi Trẻ giật title: “Giàn khoan 981 ngừng di chuyển, nằm sâu hơn trong biển Việt Nam”. Bài báo đã được gỡ xuống sau khi xuất bản chưa đầy một tiếng đồng hồ. Một loạt báo chí ăn theo nói leo về việc Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam vội vàng gỡ bài, sửa title hoặc sửa nội dung. Thậm chí cả bài phỏng vấn ông Hà Lê nói trên. Lại có một cuộc tranh luận mới gay gắt trên mạng xã hội về vị trí mới của giàn khoan 981 là ở khu vực biển của ai? Khi giàn khoan không còn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, nhưng vẫn nằm trong khu vực quần đảo Hoàng Sa.
Chuyện biển Đông và giàn khoan 981 là chuyện quốc gia đại sự, liên quan đến chủ quyền đất nước. Ấy mà từ quan chức, cựu quan chức đến truyền thông toàn “tát nước theo sự kiện”, mới thấy sự hèn hạ của một dân tộc tiểu nhược.
Tiền nhân có câu: “Đánh được người mặt đỏ như vang, không đánh được người mặt vàng như nghệ”. Mặt vàng lâu nay đã mang, không bàn. Ấy thế mà vẫn vênh vang cái mặt đỏ khi người ta không buồn “đánh” mà quay đít bỏ đi.
An-nam đang có mốt tin-tin chụp ảnh “tự sướng” khoe trên mạng.
2. Một bản kiến nghị được gửi lên trang web của Nhà Trắng đòi chính quyền của tổng thống Obama phải “đưa ra hình phạt hoặc yêu cầu VTV” phải cấm BLV Tạ Biên Cương vì tội bình luận “nhảm” trong mùa world cup 2014.
Về độ nhảm thì chắc không cần phải nói.
Nhớ cách đây hơn tháng, từ quan chức đến cần-lao, từ trí-thức-khả-kính đến bần-nông-ít-chữ hô hào nhiệt liệt ký tên lên trang này để đòi chính quyền của tổng thống Obama trừng phạt Tàu-khựa vì đã hạ đặt trái phép giàn khoan 981 vào vùng biển của Việt Nam. Dĩ nhiên, đến tận bây giờ không có hồi âm.
Mọi so sánh có thể là khập khiễng, nhưng xét trên chủ thể đối tượng, thì việc kiến nghị Tổng thống Mỹ phạt Tạ Biên Cương và phạt Trung Quốc chả khác nhau là mấy. Thế mới thấy mấy cái kiến nghị của dân An-nam nhờ chính quyền quốc gia khác can thiệp chuyện nhà của mình nhảm nhí và ngu dốt đến mức nào.
Ngày trước, chuyện trong nước, từ chổi cùn rẻ rách cũng kêu lên tận Thủ tướng. Giờ, từ chuyện biển đảo đến cu con BLV bóng đá cũng kêu lên tận tổng thống Mỹ.
Những kẻ hèn hạ thường không biết đến sự nhục nhã, là thế.
3. Vụ vỡ đường ống nước từ nhà máy nước Sông Đà về Hà Nội của Vinaconex đến lần thứ 9 khiến từ quan đến dân thủ đô không khỏi bức xúc. Một công trình liên quan đến đời sống hàng ngày của gần trăm nghìn người dân, đã được cúp vàng về chất lượng xây dựng mà đến 9 lần vỡ ống thì chắc chắn là chất lượng có vấn đề(?) và đơn vị trao cúp vàng kia cũng có vấn đề(?).
Hệ thống cấp nước là công trình công ích, được xây dựng bằng tiền ngân sách. Có nghĩa đây là tiền thuế của dân, được sử dụng để phục vụ lại dân. Thế nhưng tiền thuế thì vẫn thu, nhưng sự phục vụ thì chưa chu đáo.
Vẫn những bài quen thuộc, quan chức chính quyền Hà Nội hùng hồn phản đối, phê phán, quy chụp trách nhiệm. Quan chức Vinaconex thanh minh, giải trình, thậm chí còn phát biểu trước báo giới là “rất muốn xin lỗi nhân dân thủ đô”. Và tất nhiên, báo giới đòi phải tìm ra người chịu trách nhiệm về vụ việc, nhưng chính quyền Hà Nội lại cố né tránh. Nếu bị dồn quá thì vẫn bài cũ đem ra sử dụng, trách nhiệm là của tập thể và lỗi là của thằng cơ chế.
Hà Nội đang có kế hoạch đầu tư 1.000 tỷ đồng để xây dựng đường ống dẫn nước mới thay cho hệ thống đường ống đến 9 lần vỡ của Vinaconex. Thế nhưng, tiền ở đâu và đơn vị nào thi công vẫn chưa được công bố. Trong khi đó, dự án xây dựng hệ thống đường ống dẫn nước sạch từ sông Đà giai đoạn 2 với tổng mức đầu tư lên tới 4.000 tỷ đồng vẫn được Hà Nội chỉ định cho nhà thầu Vinaconex thực hiện.
Dư luận không thể không đặt câu hỏi: Vì sao Vinaconex đang có nhiều bê bối trong dự án 1, dẫn đến gần 100 nghìn dân thủ đô không có nước sinh hoạt vẫn được ưu ái đến như vậy? Và dĩ nhiên, người ta nghĩ ngay đến “lợi ích nhóm” và “chùm khế ngọt” của bên B. Vài năm nữa khi vận hành dự án 2 này, nếu có 9-10 sự cố vỡ đường ống như dự án 1, không biết khi đó trách nhiệm có là của tập thể và lỗi có là của thằng cơ chế nữa không?
Bởi vì, An-nam vẫn chưa tìm ra, ai là ông trách nhiệm?
4. Một vụ lùm xùm về bổ nhiệm giám đốc Sở y tế ở Vĩnh Phúc đối với ông Đỗ Văn Doanh được một số báo chí đưa tin, nhưng rồi lại rơi vào im lặng như chưa hề xảy ra.
Theo thông tin từ báo chí, ông Doanh là chủ một doanh nghiệp dược 100% vốn tư nhân, nhưng không hiểu vì sao vẫn được bầu là Tỉnh ủy viên? Và đường quan lộ của ông “sáng rực” vào cuối đời. Tháng 4/2012 ông được UBND tỉnh Vĩnh Phúc bổ nhiệm làm phó giám đốc Sở y tế (Quyết định số 1168/QĐ-CT) mà không cần phải thi tuyển công chức như quy định, lương của ông Doanh được xếp vào ngạch chuyên viên chính (mã số 01.002), bậc 7, hệ 6,44. Thời gian nâng bậc lương lần sau tính từ ngày 01/5/2012”(?). 2 năm sau, ông Doanh lại được bổ nhiệm lên làm giám đốc Sở y tế (Quyết định số 999/QĐ-CT), một sự thăng tiến trong quan trường có thể nói là nhanh nhất xứ An-nam ở tầm cấp tỉnh thành, và ông Doanh chỉ còn 3 năm nữa là đến tuổi nghỉ hưu theo luật định.
Báo chí chỉ ra những sai phạm trong việc bổ nhiệm ông Doanh, sai phạm cả về quy trình thi tuyển công chức, sai phạm cả về luật công chức, sai phạm cả về quy định bổ nhiệm giám đốc Sở y tế của Bộ y tế. Ấy thế mà hiện tại ông Doanh vẫn nghiễm nhiên ngồi ghế giám đốc Sở y tế.
Báo giới đang đòi hỏi phải làm rõ vụ việc, tại sao để xảy ra sai phạm(?) và ai chịu trách nhiệm cho sai phạm này? Có lẽ, phải tìm câu trả lời từ “ông trách nhiệm”. Nhưng “ông trách nhiệm” là ai(?) ở đâu(?) thì lại là một đáp án bí ẩn.
Thế nên, mọi việc vẫn bình thường như chưa hề có sai phạm!
5. Chuyện giá xăng dầu xứ An-nam nhảy disco trước sự bất lực của cần-lao thì không cần phải nói. Vì cần-lao đã “quen với giá xăng dầu thường xuyên lên xuống” như lời của ông Dũng – Bộ trưởng tài chính.
Ấy thế mà cần-lao vẫn “sốc” khi nghe ông Ngô Hữu Lợi – vụ trưởng Vụ chính sách thuế (Bộ Tài chính) trả lời báo chí rằng, mỗi lít xăng phải tăng 8.300 đồng tiền thuế để “hạn chế buôn lậu!?”.
Có lẽ chưa có một quốc gia nào mà cần-lao lại có “vinh dự” chịu trận cho tất cả mọi yếu kém, lỗ hổng, tiêu cực,… trong hệ thống quản lý nhà nước. Cảm tưởng như cần-lao là một người cha luôn rộng lượng che chở và giải quyết tất cả những sai phạm của những người con – là các cơ quan quản lý nhà nước gây ra.
Tiền thuế để vận hành quốc gia là do cần-lao đóng. Chính phủ sử dụng tiền thuế này để phát triển đất nước và đảm bảo quyền lợi xã hội cho cần-lao, trong đó có quyền được tiêu dùng hàng hóa đúng giá thị trường. Dĩ nhiên cần-lao là người bỏ tiền, và được quyền đòi hỏi chất lượng phục vụ. Nhưng ở An-nam thì khác, cần-lao được quyền đóng tiền, nhưng quyền đòi hỏi phục vụ thì phải xem lại.
An-nam có ít nhất 5 cơ quan thực hiện và tham gia công tác phòng chống buôn lậu ở các cấp, bao gồm quản lý thị trường (Bộ công thương), hải quan (Bộ tài chính), công an (Bộ công an), bộ đội biên phòng và cảnh sát biển (Bộ quốc phòng). Và dĩ nhiên ngân sách để các cơ quan này hoạt động là tiền thuế của cần-lao. Ấy thế mà Bộ Tài chính lại thu phéng của cần-lao thêm 8.300 đồng để giá xăng “cao hơn hoặc bằng” giá xăng trong khu vực nhằm hạn chế buôn lậu. Không tính đến các cơ quan phối hợp tham gia như công an, quân đội, thì nuôi các cơ quan quản lý thị trường với hải quan làm gì? Hay Bộ công thương còn mãi tranh cãi vì sao Cục quản lý thị trường có một ghế lại bổ nhiệm 2 trưởng phòng mà quên đi việc chống buôn lậu?
Khi một chính phủ, thay bằng chăm lo cuộc sống cho người dân, để họ tái tạo ra nhiều hơn và có giá trị hơn các sản phẩm của xã hội (trong đó có tiền thuế nộp vào ngân sách), mà thay bằng khoan sức dân để bù đắp vào những lỗ hổng trong quản lý, thì đến một lúc nào đó, dân sẽ quỵ ngã.
Khi dân đã ốm, ai sẽ nuôi chính phủ?
6. Một quốc gia mà có “một bộ phận không nhỏ” quan chức lấy chuyện chủ quyền đất nước nói cho sướng miệng, báo chí tát nước theo sự kiện, dân tình a dua bầy đàn chém gió cho bằng anh bằng em,… thì có nghĩa, mối nguy mất chủ quyền đã rất cận kề.
Một quốc gia mà người dân chỉ còn biết sớm nắng chiều mưa, nai lưng ra kiếm từng đồng nuôi thân, nộp thuế và giơ đầu chịu báng cho những việc làm sai trái, yếu kém của chính quyền nói chung và quan chức thực thi nói riêng thì rất hiếm người đứng ra gánh vác cái gọi là “trách nhiệm” trước đất nước, trước nhân dân. Và đó không phải là một quốc gia vững mạnh, dân chủ và văn minh.
Liệu có bao nhiêu người dân An-nam muốn sống trong một quốc gia như thế?
© 2014 Baron Trịnh

2781. Nguyễn Trung: Hiểm họa đen?

Viet-studies
Nguyễn Trung
21-07-2014
Bài 2 – Viết gửi Đại hội XII sắp tới của ĐCSVN[1]
Bài 1: Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy
Trước thềm đại hội toàn quốc X của Đảng Cộng Sản Việt Nam (04-2006), tôi viết loạt bài “Thời cơ vàng – hiểm họa đen”. Nội dung đặt vấn đề  thể chế chính trị hiện hành không kham nổi đòi hỏi phát triển của đất nước, đảng cần phải ra sức khắc phục lỗi hệ thống, thực hiện tự do – dân chủ để nắm lấy cơ hội vàng đang đến, đưa đất nước vào một thời kỳ phát triển mới. Loạt bài viết này cảnh báo: Đảng phải vượt lên cái bóng của mình, nếu cứ chịu sự nô dịch của tư duy, không chịu hướng về phía mặt trời mà đi, hiểm họa đen sẽ đến.
 Đã 8 năm đã trôi qua. Đất nước bên trong đang khủng hoảng sâu sắc chưa tìm được lối ra, bên ngoài đang bị chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc uy hiếp toàn diện. Trong bài “Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy” (bài 1), tôi cho rằng: quan điểm kiên định giữ đại cục quan hệ Việt – Trung để bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng, không đặt vấn đề cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu và là sự nghiệp của toàn dân đã tạo ra cho đất nước tình hình nguy hiểm như hôm nay.   
Hiện tình mọi mặt của đất nước khiến tôi phải đặt câu hỏi: Hiểm họa đen đang đến? 
Thế giới đã sang trang, con đường phát triển của Việt Nam đã sang trang từ lâu. Ngoài sự kiên định nói trênra, Đảng Cộng Sản Việt Nam lựa chọn gì trước mọi thách thức đang đăt ra cho đất nước hôm nay? Nói nghiêm khắc: Đến hôm nay mới bàn câu chuyện này là quá muộn. Song dù muộn thế nào chăng nữa cũng phải bàn đến.  
Bài 2 xin xới xáo lên một số vấn đề, mong mỏi toàn đảng cùng suy nghĩ.
I. Thế giới đã sang trang
          I.1. Cục diện thế giới đa cực
          Sự vận động của thế giới không thể dùng cái kéo, rồi cắt nó ra từng khúc, để nói từ đây đến đây là thời kỳ này, từ đây đến kia là thời kỳ kia, mà thường là một thời kỳ sau bao giờ cũng manh nha từ thời kỳ trước, thậm chí từ nhiều thời kỳ trước, có nhiều mối liên hệ cả về hai chiều quá khứ và tương lai. Nhưng dù thế nào đi nữa, trong sự vận động liên tục như thế của thế giới, vẫn xuất hiện những hiện tượng hay những sự kiện nổi bật cho phép phân định sự vận động này thành từng thời kỳ.
          Nhìn lại, bước vào thế kỷ 21, bàn cờ thế giới xảy ra hàng loạt sự kiện quan trọng: 
(1) Chính quyền Obama (tính từ nhiệm kỳ I, tháng 01 – 2009) chủ trương rút khỏi Iraq và Afghanistan,
(2) Trung Quốc thời Hồ Cẩm Đào (2002) kết thúc giai đoạn “giấu mình chờ thời” (do Đặng Tiểu Bình đề xướng 1990) để chuyển sang “trỗi dậy hòa bình”. Thời Tập Cận Bình (11-2012) hiện nay đang dấn lên cho “giấc mộng Trung Hoa”, bắt đầu từ những bước đi mới trên Biển Đông.
(3) Tháng 3-2014 Nga sáp nhập Crimea, ngang nhiên sửa lại bản đồ quốc gia ở thế kỷ 21 này. Sau đó Putin ký với Tập Cận Bình hợp tác Thượng Hải (05-2014), với những hợp đồng kinh tế (và quân sự) 300 – 400tỷ USD. Đế chế Nga đã thức dậy và xuất hiện trở lại chính trường quốc tế. Tác động đầu tiên là vấn đề Ukraina đang nóng lên từng ngày với nhiều hệ lụy khó lường (lúc này cả thế giới bàng hoàng về vụ máy bay MH 17 của hãng hàng không Malaysia bị bắn rơi trên vùng trời miền Đông Ukraina khiến 298 người thiệt mạng).         
          Có thể xem 3 sự kiện trên đây đánh dấu thời kỳ hậu chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới đã chuyển hẳn sang cục diện quốc tế đa cực. Đấy là xem xét trên phương diện địa chính trị toàn cầu. 
-       Thời kỳ chiến tranh lạnh: 1945 – 1990, nghĩa là từ sau chiến tranh thế giới II đến khi các nước Liên Xô Đông Âu cũ sụp đổ (kéo dài 45 năm).
-       Thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, Mỹ nổi lên ví trí số 1 thế giới với ảnh hưởng chưa từng có. Thời kỳ này   kết thúc khi Mỹ chấm dứt chiến tranh Iraq (2003-2010) – (kéo dài khoảng 2 thập kỷ).
-       Chỉ trong vòng vài năm sau thế giới chuyển hẳn sang cục diện quốc tế đa cực rất phức tạp hiện nay[2].
-       Toàn bộ tình hình nói trên cho thấy sự vận động của thế giới ngày càng phức tạp và tình hình diễn tiến nhanh hơn khả năng nhận thức cũng như khả năng ứng xử của các quốc gia.
          Xem xét trên phương diện địa kinh tế toàn cầu, cũng có thể nói cuộc khoảng kinh tế lớn của Mỹ bắt đầu từ năm 2008, kéo theo hay làm trầm trọng thêm các cuộc khủng hoảng kinh tế ở hầu hết các nước phát triển.
           Về nhiều mặt, nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới là Trung Quốc đang tích tụ nhiều vấn đề nghiêm trọng mang tính khủng hoảng.
           Toàn bộ tình hình trên đặt ra hầu như cho mọi quốc gia – đặc biệt là các nền kinh tế lớn – phải tiến hành những thay đổi lớn nhằm cơ cấu lại nền kinh tế của mình cho phù hợp với sự phát triển hiện tại.
           Theo quy luật, một cơ cấu kinh tế đã định hình thường chỉ tồn tại được trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định, bây giờ đã đến lúc phải thay đổi nó. Song cuộc khủng hoảng cơ cấu kinh tế thế giới hiện nay còn có thêm một nguyên nhân mới nữa, đó là nền kinh tế Trung Quốc lớn thứ hai thế giới phát triển rất nóng và tự nó cũng tác động lớn đến cơ cấu của các nền kinh tế khác, làm mất đi nhiều sản phẩm truyền thống của những nước này, cơ cấu lao động của những nước này cũng phải xắp xếp lại… Một quá trình cạnh tranh và phụ thuộc lẫn nhau mới rất phức tạp xuất hiện. Thế giới đang chứng kiến một tình hình: Trung Quốc trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị và quân sự đang trở thành vấn đề của cả thế giới; nhưng đồng thời sự phát triển của các nền kinh tế lớn trên thế giới hiện nay không thể thiếu thị trường Trung Quốc, và ngược lại cũng vậy.
           Có thể nói, với sự xuất hiện của cục diện quốc tế đa cực như thế, sự vận động của thế giới hiện nay đã bước sang một trang mới, với những đặc điểm nổi bật như sau:
 -      Bên cạnh sự hợp tác chiến lược trong nội bộ từng nhóm, tính độc lập với nhau giữa các cực lớn như Mỹ, Tây Âu, Nhật, Nga, Trung Quốc tăng lên rõ rệt hơn trước. Lý do chủ yếu là trong bối cảnh quốc tế ngày nay mỗi cực ngày càng nhiều vấn đề riêng và đòi hỏi riêng (ví dụ: mối quan hệ Tây Âu – Nga, mối quan hệ Tây Âu – Trung Quốc trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư…). Hơn nữa đang xuất hiện ngày càng nhiều vấn đề quốc tế và khu vực vượt quá khả năng giữ vai trò quyết định đơn phương của Mỹ, đòi hỏi phải bàn bạc để chia xẻ trách nhiệm. Ngoài ra, trước sự uy hiếp mới từ phía Trung Quốc, các nước như Úc, Ấn Độ, Nhật… cũng phải thay đổi nhiều vấn đề cơ bản; trong đó nổi bật là Nhật (07-2014) đã quyết định điều chỉnh lại một cách căn bản quan điểm phòng vệ của mình kể từ sau chiến tranh thế giới II, hình thành liên minh quân sự Nhật – Úc, Ấn Độ bước sang một thời kỳ hợp tác mới với Mỹ; mối quan hệ mới đầy các “affairs” Nga – Trung đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp mới, vân… vân…
-      Những thách thức truyền thống và phi truyền thống trên thế giới không hề giảm đi, thậm chí có những vấn đề nóng hơn trước – ví dụ vấn đề nạn khủng bố, vấn đề vũ khí A của một số nước (Bắc Triều Tiên, Iran…), nguy cơ bí mật công nghệ hạt nhân rơi vào tay khủng bố, những vấn đề xung đột sắc tộc và xung đột tôn giáo (đặc biệt là trong thế giới đạo Hồi), tình hình Iraq rất nhạy cảm hiện nay với nguy cơ thành lập nhà nước thánh chiến IS có thể vượt ra ngoài khu vực, vấn đề Afghanistan gần như còn nguyên vẹn, vấn đề Trung Đông lại đang nóng lên… Đặc điểm chung của tình hình này là nó làm cho các nước hữu quan phải phân tán khả năng ứng phó, hoặc thậm chí có những vấn đề có thể vượt ra ngoài khả năng ứng phó… Vì thế Mỹ và phương Tây phải rất thận trọng (ví dụ: chính quyền Obama hiện nay kiên trì việc không đưa quân đội trực tiếp tham gia vào giải quyết những biến động mới ở Iraq và vấn đề nhà nước thánh chiến Hồi giáo IS…).
-      Quan hệ Nga – NATO ngày càng nóng lên trước thực tế nhiều nước trong Liên Xô cũ đã ly khai quan hệ với Nga để gia nhập EU, kéo theo việc gia nhập NATO. Thực tế này làm xuất hiện nguy cơ hình thành vòng vây NATO chung quanh Nga,  khiến cho quan hệ Nga – NATO căng thẳng. Bây giờ lại nổ ra vấn đề Ukraina.
-      Điểm nổi bật của cục diện quốc tế đa cực hiện nay là quan hệ và mâu thuẫn Mỹ – Trung Quốc sẽ là yếu tố chi phối toàn thế giới trong thế kỷ 21, trận địa chính của mối quan hệ song phương này là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương; trong đó không may Việt Nam là một trong các điểm nhạy cảm của các mối quan hệ hay giành giật nhau giữa hai người khổng lồ này. Tình hình càng trở nên phức tạp hơn ở chỗ Châu Á – Thái Bình Dương đồng thời cũng là khu vực kinh tế năng động nhất của thế giới trong thế kỷ này, nơi tranh hùng sôi nổi nhất của các nền kinh tế lớn trên thế giới. Tại đối thoại Mỹ – Trung lần thứ 6 (Bắc Kinh 09 và 10-07-2014) phía Mỹ thẳng thắn yêu cầu Trung Quốc không được phá vỡ nguyên trạng trên Biển Đông, phải tuân thủ luật pháp quốc tế, giải quyết hòa bình các tranh chấp, cần sớm cùng các nước ASEAN hoàn thành COC; Mỹ nói rõ không đứng về bên nào, đồng thời nhấn mạnh để quan hệ Mỹ – Trung đổ vỡ sẽ là thảm họa cho thế giới. Cũng thời gian này Thượng Viện Mỹ thông qua nghị quyết về Biển Đông cùng một nội dung tương tự. 
          I.2. Về siêu cường Trung Quốc đang lên
          Khoảng năm 2035 trở đi, nhiều khả năng Trung Quốc có thể sẽ là nền kinh tế lớn nhất thế giới – nghĩa là GDP vượt Mỹ tính theo sức mua PPP (cứ tạm tin vào các số liệu thống kê như vậy). Có thể nói đây là sự phát triển mang lại cho thế giới nhiều tai họa hơn là thuận lợi. Đơn giản vì quốc gia này không có ý niệm phát triển gắn với trách nhiệm đối với thế giới. Nó vẫn đang ở trong quá trình vơ vét tài nguyên thế giới, đồng thời bằng mọi thủ đoạn và phương tiện đang tận dụng khai thác quy mô thị trường của nền kinh tế thế giới toàn cầu hóa cho sự phát triển nóng của chính nó. Chắc chắn trong một thời gian dài nữa nó sẽ tiếp tục cách đối xử Thế giới chẳng là gì, Trung Quốc mới quan trọng, mục tiêu biện minh cho biện pháp [3]. Tất cả nhằm vào cái đích trở thành siêu cường Trung Hoa. 
          Hiện nay (2013), GDP p.c của Trung Quốc là 6000 USD. Nguy cơ quốc gia này rơi vào cái bẫy nước đang phát triển có thu nhập trung bình rất lớn, bởi vì kinh tế Trung Quốc tăng trưởng và phát triển chủ yếu vẫn dựa vào bóc lột lao động và khai thác quy mô thị trường, chứ không dựa vào nâng cao công nghệ và thể chế. Trong khi đó đất nước có quá nhiều vấn nan giải và bất công. Hiện nay toàn quốc có khoảng 1/3 dân cư tại nhiều vùng nông thôn và hẻo lánh có thu nhập chỉ vài trăm USD tính theo đầu người. Vùng dân cư có thu nhập tính theo đầu người cao nhất gấp khoảng 100 lần vùng dân cư có thu nhập thấp nhất. Vấn đề ô nhiễm môi trường gần như không có lời giải. Trung Quốc có rất nhiều vấn đề nội trị nóng bỏng như Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông, sự phát triển khác biệt giữa các vùng… Song Trung Quốc là một thế giới cho chính nó, nên Trung Quốc không thể sụp đổ được. Bởi vì khả năng của nó hy sinh cục bộ để giữ toàn cục rất lớn, bằng bất cứ giá nào – ví dụ Trung Quốc đã từng hy sinh hàng thập kỷ sự phát triển của miền Tây để tạo ra sự phát triển năng động miền duyên hải… 
          Cả thế giới kinh ngạc trước tình hình chỉ trong vòng một nửa thế kỷ Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 sau Mỹ, một cường quốc quân sự có quân đội đông nhất thế giới, chi phí quốc phòng chỉ xếp sau Mỹ. Sức mạnh kinh tế và quân sự Trung Quốc đang tạo ra áp lực lớn tại chỗ cho các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á, uy hiếp trực tiếp tất cả các nước láng giềng. Trung Quốc là đối tác thương mại và thị trường đầu tư quan trọng đối với tất cả các nền kinh tế lớn của thế giới, với dự trữ ngoại tệ trên 4000 tỷ USD đang là chủ nợ số một của thế giới. Tuy nhiên, đấy là sự phát triển đang gây ra nhiều vấn đề lo ngại cho cả thế giới, trước hết bởi lẽ các thể chế quốc tế và khu vực hiện có một mặt không theo kịp tình hình có sự tham gia ngày càng lớn của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới, mặt khác nhiều thực tiễn hoạt động kinh tế của Trung Quốc đang vô hiệu hóa những thể chế này (các vấn nạn mới nhất là vấn đề ăn cắp bản quyền và những vi phạm bảo hộ sở hữu trí tuệ, nạn hacker, rửa tiền, tham nhũng…). 
          Các chuyên gia tính toán, giả thử muốn nâng GDP p.c. của Trung Quốc hiện nay lên gấp đôi, Trung Quốc cần một khối lượng nguyên liệu, năng lượng gấp 4 – 5 lần mức đang sử dụng hiện nay, lấy ở đâu ra? Quy mô thị trường cũng phải tăng lên tương ứng. Phát triển như vậy mà lại không gắn với trách nhiệm, sẽ tác động lên nền kinh tế thế giới như thế nào? Các chuyên gia đánh giá quy mô và phương thức Trung Quốc hiện nay thu hút tài nguyên của thế giới đã vượt xa chủ nghĩa thực dân mới trong thế kỷ 20, sản phẩm Trung Quốc hiện nay đã lũng đoạn đáng kể thị trường nhiều nước… Vậy sắp tới sẽ là gì? 
          Bành trướng bá quyền là lẽ sống, là phương thức sống, là triết lý xây dựng nên và nuôi dưỡng sự tồn tại của đế chế Trung Hoa từ ngàn xưa. Ngày nay đế chế này đang phục sinh dưới cái nhãn chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Nghĩa là bành trướng bá quyền còn là vấn đề bản chất sinh tồn và văn hóa, chứ không phải chỉ đơn thuần là vấn đề chủ trương chính sách, hay là vấn đề đạo đức chính trị của lãnh đạo Trung Quốc đương thời. Nó còn là sản phẩm của văn hóa và truyền thống Trung Quốc từ ngàn xưa để cố kết nên, và hôm nay đang duy trì, và phát triển tiếp cái Đại Trung Hoa trong thế giới đương đại. Bởi lẽ nếu không có tăng trưởng nóng như vậy, không giữ được toàn Trung Quốc cho khát vọng siêu cường, Trung Quốc sẽ sụp đổ, thậm chí có thể sẽ tan rã thành nhiều mảng. Từ khi nước CHNDTH ra đời đến nay, có một thực tế qua mọi thời kỳ là một khi nội trị càng nhiều vấn đề nóng bỏng, lãnh đạo Trung Quốc càng phải ra sức hướng sự bùng nổ của các mâu thuẫn bên trong ấy ra bên ngoài. Chính thực tế này giải thích tại sao hôm nay “cả nước Trung Quốc đang được chính quyền dạy nhầm là người Trung Quốc đã phát hiện ra Nam Hải (Biển Đông) và các đảo ở đây” (Bill Hayton, Prospect Magazine 10-7-14) để xúc tiến bá chiếm Biển Đông.  
            Mới lên cầm quyền được 2 năm, chủ trương “trỗi dậy hòa bình” thời Hồ Cẩm Đào đã được Tập Cận Bình đẩy lên thành khát vọng “giấc mộng Trung Hoa”, dùng mọi ảnh hưởng củng cố “con đường tơ lụa truyền thống” trên bộ (từ Trung Quốc qua Trung Á, châu Phi, sang châu Âu, đến tận Địa Trung Hải…), đồng thời đẩy mạnh hình thành “con đường tơ lụa thứ hai trên biển” nối eo Malacca với Biển Đông, đi ra Thái Bình Dương, rồi vòng sang Ấn Độ Dương.., trước mắt tập trung thực hiện cái “đường lưỡi bò 9 vạch” (hiện nay trở thành 10 vạch) và tìm cách chi phối tuyến giao thương hàng hải huyết mạch số 1 của thế giới, nâng kim ngạch buôn bán với các nước ASEAN hiện nay khoảng 500 tỷ USD sẽ lên 1000 tỷ USD vào năm 2020, tăng FDI…  
          Từ 3 năm nay, khai thác những vấn đề phức tạp mới trong cục diện quốc tế đa cực, đặc biệt là tình hình Mỹ và quan hệ Nga – Mỹ, lãnh đạo Trung Quốc chủ trương mở ra thời kỳ mới trong chiến lược bá chiếm Biển Đông. Tập Cận Bình tuyên bố Trung Quốc có lợi ích cốt lõi ở Biển Đông, chủ quyền của Trung Quốc là vấn đề không thể nhân nhượng… Đây còn là cách Trung Quốc trả đũa chiến lược trục xoay Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ. 
          Trong tình hình Mỹ cam kết bảo vệ chủ quyền của Nhật bao gồm cả khu vực đảo Điếu Ngư trên cơ sở hiệp ước liên minh phòng thủ Mỹ – Nhật, đồng thời Mỹ cam kết mạnh mẽ bảo vệ Philippines (tuyên bố của Obama 29-04-2014 và việc hai nước ký hiệp ước liên minh quốc phòng mới cho 10 năm tới), có thể phán đoán Trung Quốc lúc này tuy gây ồn ào, nhưng thật ra không dám trực tiếp đụng độ với Nhật và Philippines, vì so sánh lực lượng tại hai nơi này đều nghiêng hẳn về phía Mỹ. 
          Trong khi đó sự kiện giàn khoan HD 981 và những hệ lụy đang diễn ra cho thấy Trung Quốc lúc này tập trung áp lực bành trướng vào vùng biển của Việt Nam.  
          Các diễn tiến tiếp theo  như việc Trung Quốc tiếp tục đặt thêm các giàn khoan ở vùng vịnh Bắc Bộ (giáp gianh đường phân định và thuộc vùng đang còn tranh chấp giữa ta và Trung Quốc), xúc tiến hình thành chiến tuyến các căn cứ quân sự nổi trên biển chạy dài từ Du Lâm (Hải Nam), Tam Sa (thuộc Hoàng Sa chiếm của Việt Nam) đến Gạc Ma, Chữ Thập (2 đảo này chiếm của Việt Nam năm 1988) hướng về Scarborough (Philippines), báo chí Trung Quốc đã nói đến khả năng lập vùng nhận dạng phòng không (AIDZ) trên Biển Đông… cho thấy Trung Quốc đang tìm cách khẳng định “đường lưỡi bò” bằng thực lực (bao gồm cả vũ lực), bất chấp sự lên án quyết liệt của toàn thế giới. 
          Các bước đi mới nói trên của Trung Quốc đối với Việt Nam, bắt đầu từ sự kiện giàn khoan HD 981, cho thấy hiện nay vùng biển của Việt Nam đã trở thành đối tượng bành trướng trực tiếp của Trung Quốc, khâu Trung Quốc có khả năng nhiều nhất để giành thắng lợi trên Biển Đông.  
          Nếu đặt tình hình thực tế nói trên trong bối cảnh Trung Quốc luôn bố trí sẵn sàng lực lượng quân sự trên toàn biên giới phía Bắc Việt Nam, có ảnh hưởng sâu sắc với tất cả các nước láng giềng trên sườn phía Tây của Việt Nam, trên biển Đông là cái đường 9 vạch đang được Trung Quốc tìm mọi cách khẳng định, từ căn cứ hải quân Du Lâm (Hải Nam) đến đặc khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh) chỉ cách nhau khoảng 350km hiện đang có hàng nghìn công nhân Trung Quốc làm việc.., có thể hình dung một bản đồ tổng hợp quân sự – chính trị, trong đó Việt Nam đang bị uy hiếp và bao vây như thế nào. Nếu nhìn sâu thêm vào sự lệ thuộc về kinh tế của Việt Nam, vào tình hình lũng đoạn của quyền lực mềm Trung Quốc vào nội tình Việt Nam, có thể nhận định: Về tổng thể Việt Nam đang bị Trung Quốc uy hiếp toàn diện và ở mức độ chưa từng có kể từ sau ngày 30-04-1975.          
          Phải nói khi xẩy ra cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc 17-02-1979 tình hình Việt Nam bị uy hiếp hồi đó không nguy hiểm bằng hôm nay. Cái “4 không được”[4] Trung Quốc gửi gắm vào dịp chuyến đi Hà Nội 15-06-2014 của Dương Khiết Trì, càng làm rõ Trung Quốc không có sự khoan nhượng nào.  
          Như đã trình bầy trong bài “Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy”, Trung Quốc đã sẵn sàng trong tay các kịch bản từ A – Z để đối xử với Việt Nam theo lợi ích của Trung Quốc đòi hỏi. Hiện nay Trung Quốc đang theo đuổi kịch bản A, vì nó rẻ nhất, “êm ả” nhất đối với dư luận thế giới, đạt nhiều hiệu quả nhất. Bởi lẽ kịch bản này khai thác được tối đa sự khiếp nhược của Việt Nam, Trung Quốc có thể lấn chiếm tiếp mà không cần phải dùng đến những biện pháp quân sự ồn ào. Kịch bản Z là kịch bản cuối cùng, tổng hợp tất cả các biện pháp kinh tế, chính trị và chiến tranh. 
          Việc Trung Quốc cử Dương Khiết Trì đi Hà Nội có thể cho thấy kịch bản A được tiếp tục; với lý do nếu làm quá tay, sự phản ứng của nhân dân Việt Nam sẽ có thể dẫn đến tình huống Hà Nội không kiểm soát được tình hình, buộc Trung Quốc phải chuyển sang kịch bản ồn ào hơn mà Trung Quốc lúc này chưa muốn. Trong giới chuyên gia quân sự quốc tế, có ý kiến: Nếu lúc này Trung Quốc tiến hành chiến tranh dưới các hình thái như bất ngờ đánh chiếm biển đảo như đã làm trong các năm 1974, 1988, hoặc chiến tranh trên bộ như quy mô 17-02-1979, Trung Quốc có thể thắng; song điều bất lợi khiến Trung Quốc còn đang cân nhắc là: bước đi này có thể sẽ đẩy nhiều nước Đông Nam Á ngả hẳn theo Mỹ và tạo thành một vòng vây chống Trung Quốc…  
          Nghĩa là nhìn về bất kể phương diện nào, trong cục diện quốc tế hiện nay chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam đã thực sự bước hẳn sang một giai đoạn có những đối kháng mới, vì đây là khâu yếu nhất cần đột phá cho giai đoạn mới của chiến lược bá chiếm Biển Đông. Nghĩa là Trung Quốc thấy đã đến lúc vứt cái lá nho “4 tốt và 16 chữ” đã hết thời. 
          Thế còn Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ)? 
          Cuốn sách Lược tân lịch sử Trung Quốc (xuất bản 1954) đưa lại lời phát biểu của Mao Trạch Đông nói sau khi thành lập nước CHNDTH: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe Đế Quốc Tây Phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế Chiến I, như  Ngoại Mông, Triều Tiên, “An Nam”, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như  Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc”[5]. Quan điểm này của Mao, cùng với toàn bộ những sự việc tranh chấp lãnh thổ do Trung Quốc gây ra với tất cả các nước láng giềng (trong đó có Việt Nam) trong suốt chiều dài lịch sử nước CHNDTH cho đến hôm nay nói lên rất rõ ý thức hệ mà ĐCSTQ tôn thờ: chủ nghĩa bành trướng Đại Hán. 
          Đại hội 18 của ĐCSTQ (11-2012) đã đưa vào nghị quyết: Nước giầu quân mạnh, quyết đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ. Gắn nội dung này với những phát biểu của Tập Cận Bình về giấc mộng Trung Hoa, về lợi ích cốt lõi của Trung Quốc trên Biển Đông…, quan sát những hành động Trung Quốc đang tiến hành, chỉ có thể kết luận ĐCSTQ hôm nay bộc lộ nguyên hình là tổ chức quyền lực của đế chế Trung Hoa phục sinh, đang khai phá con đường cho quốc gia này trở thành siêu cường số một.  
          Đến đây có thể kết luận: Cục diện quốc tế đã sang một trang mới, trong đó tranh chấp quan hệ Mỹ – Trung trở thành yếu tố chính chi phối cục diện quốc tế đa cực trong thế kỷ 21. Trung Quốc bước vào một thời kỳ mới trên con đường khẳng định vai trò siêu cường. Trước mắt là tận dụng tình hình thế giới hiện nay đang có nhiều vấn đề mới ở khắp mọi nơi, Trung Quốc quyết định đi vào một thời kỳ mới của chiến lược bá chiếm Biển Đông.   
          Do bản chất bành trướng, nên quá trình đi lên siêu cường của Trung Quốc không gắn với trách nhiệm đối với thế giới. Thực tế này khiến cho Trung Quốc trở thành vấn đề của cả thế giới, không thể trở thành vai trò lãnh đạo thế giới như Mỹ và phương Tây hiện đang tiếp tục nắm giữ.     
II. Con đường phát triển của Việt Nam đã sang trang từ lâu
          II. 1. “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”
          Ngày 30-04-1975 đất nước thống nhất, Việt Nam hoàn toàn độc lập, kết thúc thời kỳ chiến tranh, đi vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước. Lịch sử Việt Nam bắt đầu sang trang mới từ đây: Dân tộc Việt Nam làm chủ quốc gia độc lập thống nhất của mình. Khẩu hiệu làm nên Cách Mạng Tháng Tám “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!” trở thành hiện thực với ngày 30-04-1975. 
          Lẽ ra… 
          Nhiệm vụ đầu tiên và mãi mãi của quốc gia độc lập là phải thiết lập và phát huy quyền làm chủ đất nước của toàn dân tộc, vì điều này đơn giản như lẽ sống: Đất nước này từ nay là của toàn thể dân tộc Việt Nam ta, trường tồn với dân tộc ta. Tổ quốc mang trong tim mỗi người Việt Nam chúng ta có ý nghĩa thiêng liêng là vì lẽ như vậy. 
          Bao nhiêu hy sinh xương máu, bao nhiêu đau thương mất mát, bao nhiêu điều đau lòng tay trái chém tay phải, bao nhiêu lầm lỗi và oán thù, bao nhiêu sai lầm phải trả giá đau đớn, và còn biết bao nhiêu đau khổ khác nữa không thể nói lên thành lời cả dân tộc này đã phải chịu đựng trong suốt 3 thập kỷ chiến tranh… Máu nào của người dân ta đã ngã xuống cũng đều là máu của dân tộc ta, tất cả chỉ càng làm cho mỗi người Việt Nam chúng ta thấm thía sâu sắc hơn cái giá phải trả cho đất nước độc lập thống nhất, càng thôi thúc mỗi người Việt Nam chúng ta từ nay phải hiểu các bài học của quá khứ để gìn giữ đất nước trong hiện tại và tương lai, giác ngộ mỗi chúng ta ý thức phải vươn lên sống xứng đáng với tính cách là người chủ của đất nước. 
          Hàng triệu sinh mạng bị cướp đi, hàng triệu tấn bom đạn tàn phá đất nước và biết bao nhiêu đau khổ khác nhân dân ta phải trải qua suốt 3 thập kỷ chiến tranh ấy để có đất nước độc lập thống nhất không cho phép bất kỳ ai, dù với lý do gì, tiếp tục hành hạ đất nước trong hiện tại, cướp đi sức sống của đất nước vì hạnh phúc của hòa hợp dân tộc và vì tương lai của một đất nước độc lập, tự do.  
          Một giọt máu phải nhỏ xuống đất này, một giọt nước mắt mất đi, từng giọt mồ hôi phải nuốt vào trong, tất cả phải dồn nén, phải hun đúc ý chí của từng người dân Việt chúng ta thành một tinh thần dân tộc thống nhất, để sớm lấy lại cho đất nước những gì chiến tranh đã cướp đi, cùng nhau vực dậy đất nước. Hiện tại và tương lai của đất nước đòi hỏi mỗi người dân của đất nước ghi xương khắc cốt những bài học của quá khứ, bởi vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trên con đường dân tộc và dân chủ vô vàn gian truân. Hơn nữa, nước ta trước đây, bây giờ và mãi mãi phải là láng giềng của một Trung Quốc tham lam, lại luôn luôn nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió của khu vực, nếu chúng ta không thấy những yếu kém của nước ta và không hiểu cái thế giới chúng ta đang sống để quyết tìm ra con đường đi lên, nước ta làm sao tránh được số phận con mồi trong tranh giành quyết liệt tiếp theo giữa các cường quốc?… … 
          Những điều lẽ ra phải làm như vậy ngay sau ngày 30-04-1975 đã không xảy ra. 
          Sau 30-04-1975 ĐCSVN đã chọn con đường thừa thắng xông lên, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội theo con đường của chủ nghĩa Mác – Lênin. 
          Hệ quả: kinh tế đất nước vốn kiệt quệ sau chiến tranh đi ngay vào sụp đổ cho đến khi phải tiến hành đổi mới. Đồng thời đất nước bị đẩy tiếp vào 2 cuộc chiến tranh lớn kéo dài 10 năm (1979 – 1989).  
          Nguyên nhân chủ yếu là ý thức hệ của đảng một mặt đã lựa chọn cho đất nước con đường phát triển sai lầm vì duy ý chí, và mặt khác đã nhìn nhận sai bàn cờ thế giới lúc ấy, nên đẩy đất nước vào tình thế nguy hiểm. 
          Cần nhìn nhận 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên là một giai đoạn phát triển thất bại, vì các lẽ: 
1.    Ngoài 10 năm đầu mất cho 2 cuộc chiến tranh tiếp theo, thành tựu giành được trong 28 năm đổi mới tuy là rất lớn so với điểm xuất phát, nhưng về cơ bản là thất bại nếu so với công sức đã bỏ ra và cơ hội đất nước có được. Mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 không thể hoàn thành vì cơ cấu kinh tế hiện còn rất lạc hậu, kết cấu hạ tầng vật chất & kỹ thuật thấp kém, hiện đang khủng hoảng cơ cấu sâu sắc, chưa có lối thoát ra khỏi cái bẫy là nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, chất lượng nguồn nhân lực đạt được nhìn chung còn thấp, khoảng cách tụt hậu so với nhiều nước chung quanh ngày càng rộng.
2.    Sau 3 thập kỷ xây dựng đất nước, lúc đầu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, do có nhiều sai lầm không khắc phục được nên từ khi tiến hành đổi mới phải điều chỉnh lại thành xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những thành tựu kinh tế – xã hội đạt được có nhiều măt hạn chế như đã nói trong điểm 1 bên trên. Riêng về mặt thể chế chính trị, nước ta hiện nay rất lạc hậu so với đòi hỏi phát triển của đất nước, so với xu thế phát triển của thế giới, so với một số quốc gia có mức thu nhập tính theo đầu người tương tự như nước ta. Tuy có cái tên gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa hay là định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ chính trị một đảng của đất nước hiện nay về bản chất có quá nhiều tàn dư của chế độ phong kiến cũ. Quá trình tha hóa đã nhanh chóng làm cho tính đảng trị của chế độ ngày càng nổi bật, trên thực tế ngày nay đã trở thành chế độ toàn trị.  
3.    Đất nước đã độc lập thống nhất 4 thập kỷ. Thay vào chỗ phải có một nhà nước pháp quyền dân chủ để thực thi quyền lực của nhân dân, đất nước có một chế độ chính trị toàn trị. Tính đảng trị của chế độ này tạo ra cho truyền thống phong kiến cũ cha truyền con nối cái phương thức mới “làm vua tập thể” (Nguyễn Văn An) để duy trì chế độ đảng mặc nhiên và mãi mãi cầm quyền cai trị đất nước. Trên thực tế đã hình thành sự phân chia: ĐCSVN trở thành kẻ cai trị, nhân dân trở thành người bị cai trị. Nhân dân bị phân chia thành các giai cấp để đối xử. Trong nhiều hình thái tư tưởng của xã hội và trong thiết kế các chủ trương chính sách vẫn tồn tại sự phân biệt giữa “ta” và “ngụy”, giữa “yêu nước đồng nghĩa với yêu chủ nghĩa xã hội”  và  “không yêu chủ nghĩa xã hội là không yêu nước, là chống chế độ”; ai dám mở miệng nói trong lòng kháng chiến có cuộc nội chiến, sẽ lập tức bị quy kết là phản động… Nhiều quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân tuy đã được ghi trong hiến pháp nhưng chỉ là hình thức. Tuy chế độ toàn trị của ĐCSVN mang trong nó nhiều tàn dư của chế độ phong kiến cũ, song cái nền tảng tinh thần của “làm vua tập thể” hôm nay được tạo dựng ra không phải từ một trật tự của thượng tầng kiến trúc phong kiến vương đế, mà hình thành từ một thứ văn hóa ra đời trong quá trình chia chát quyền lực giữa các nhóm lợi ích đủ các thành phần phức tạp trong xã hội. Các “nhóm” này sống và tự ngụy trang bằng nhiều thứ “giả, diễn, hão”, luôn luôn tìm kiếm đồng minh trong mọi rác rưởi của xã hội[6]. Hệ thống chính trị của đất nước được tổ chức theo cái phương thức “đảng cử dân bầu” là tiêu biểu tổng hợp nhất cho những “giá trị” “giả, diễn, hão” này. Thực tế này lý giải: Bên cạnh những thành tựu đạt được phải trả giá đắt, mỗi bước phát triển của đất nước luôn gắn theo một nấc thang xuống cấp mới về đạo đức, chính trị và tư tưởng. Dẫn đến nghịch lý càng phát triển càng yếu, càng ngày sinh nhiều yếu kém mới, mâu thuẫn mới. 
          Xin lưu ý, chủ nghĩa Mác – Lênin ĐCSVN hiện đang kiên định bám giữ, có quá nhiều sai trái thoát ly hẳn cái gốc thực của lý luận Mác. Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã chứng minh đó là chủ nghĩa Mác – Lênin đã được Stalin-hóa, trước khi vào đến Việt Nam nó được tác chế thêm một lần Mao-hóa nữa. Một thứ chủ nghĩa như vậy trên thực tế là phản khoa học – được chứng minh qua những thất bại của tất cả các ĐCS cầm quyền trên thế giới, chỉ còn lại là một công cụ giáo điều. Ý thức hệ này chỉ thuận tiện cho việc đàn áp chính trị – tư trưởng và làm tha hóa chính bản thân ĐCSVN. Là một công cụ chính trị như thế, ý thức hệ này một mặt khiến đảng đặt quyền lực của mình là tối thượng, mặt khác đã lấy đi của đảng mọi khả năng nhận thức khách quan sự vật. Có thể nói chính bản thân ĐCSVN đã tự nô dịch mình bằng ý thức hệ như vậy, và qua đó đang nô dịch cả đất nước. 
          Hệ quả là đất nước đã độc lập thống nhất bốn thập kỷ, song khẩu hiệu làm nên Cách Mạng Tháng Tám “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!” với nghĩa nhân dân là người chủ của đất nước đến hôm nay vẫn chưa trở thành hiện thực, kẻ chiến thắng trở thành người cai trị chính nhân dân nước mình.
          II. 2. Con đường phát triển của Việt Nam bị chặn đứng
            Có thể nói một cách rốt ráo: Đất nước có độc lập thống nhất bốn thập kỷ, nhưng đến hôm nay nhân dân vẫn chưa được giải phóng!  Đây là nguyên nhân gốc gây nên mọi yếu kém của đất nước hôm nay, độc lập chủ quyền của quốc gia thiếu sức mạnh lẽ ra phải có trước những thách thức mới.
           Thập kỷ đầu tiên sau 30-04-1975 bị mất hoàn toàn cho 2 cuộc chiến tranh và sự đổ vỡ kinh tế. Công cuộc kiến thiết lại đất nước thực ra chỉ bắt đầu từ khi tiến hành đổi mới 1986, đến nay là 29 năm. Bản “kết toán” 40 năm độc lập thống nhất của quốc gia hôm nay có thể phác thảo như sau:   
1.    Đất nước hình thành một nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, đã tận dụng tới mức tối đa có thể huy động được những yếu tố ban đầu như lao động rẻ, tài nguyên, đất đai và môi trường. Cơ cấu hiện có của nền kinh tế nhìn chung còn lạc hậu, hàm lượng chế biến trong sản phẩm rất thấp, tính lệ thuộc của một nền kinh tế gia công rất cao (thực chất là chỉ bán lao động rẻ và môi trường, không tự hình thành được những sản phẩm hay ngành kinh tế của chính quốc gia mình), kết cấu hạ tầng thấp kém, năng suất lao động vào lọai thấp nhất trong khu vực, khả năng cạnh tranh đang suy giảm nhanh vì đã khai thác cạn kiệt những yếu tố ban đầu, các hệ quả trong quá trình phát triển của một nền kinh tế lạc hậu ngày càng gia tăng (như thất nghiệp, nghèo đói, chênh lệch giầu nghèo và bất công xã hội, ô nhiễm môi trường…). Về nhiều mặt sự phát triển kinh tế có phần mang tính thị trường hoang dã, đồng thời đặm nét chủ nghĩa tư bản thân hữu. Nền kinh đòi hỏi bắt buộc phải tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới.  
2.    Thể chế chính trị và hệ thống nhà nước được thiết kế theo quan điểm đảng đứng trên Hiến pháp, nắm quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối. Trong thực tế đó là một hệ thống đảng trị, có trong tay hệ thống nhà nước làm công cụ thực hiện quyền lực của hệ thống đảng. Hệ thống quyền lực kép này (đảng + chính quyền) còn có hệ thống mặt trận (MTTQVN) là công cụ phụ trợ. Thiết kế như vậy, ngân sách quốc gia (thuế của dân) phải gánh 3 hệ thống quyền lực: (a) hệ thống đảng, có mọi quyền lực nhưng không phải chịu trách nhiệm ràng buộc nào trước đất nước; (b) hệ thống chính quyền, thực thi quyền lực của hệ thống đảng và trên thực tế hầu như chỉ chịu trách nhiệm trước hệ thống đảng, (c) hệ thống mặt trận với tính chất là công cụ thâu tóm mọi hoạt động trong xã hội vào guồng máy của hệ thống chính trị. Toàn bộ cỗ máy quyền lực này được vận hành dưới sự chi phối của (1) tập đoàn kinh tế nhà nước, (2) nền kinh tế GDP tỉnh, và (3) tư tưởng tư duy nhiệm kỳ. Có thể thấy ngay, một hệ thống quyền lực cồng kềnh và chồng chéo, có hệ điều hành đảng quyết định tất cả nhưng không chịu trách nhiệm ràng buộc, với chất lượng con người hoạt động trong hệ thống được nhào nặn từ chính hệ thống này, hiển nhiên không thể vận hành có hiệu quả toàn bộ sự vận động của một quốc gia. Về nhiều mặt, đây là một hệ thống quyền lực kìm kẹp quốc gia, vô hiệu hóa không ít hay không thực thi được bao nhiêu các chính sách cũng như luật pháp do chính hệ thống này ban hành. Mọi chiến lược hay quy hoạch quốc gia đã vạch ra được đều trở nên không khả thi hoặc chỉ được thực hiện manh mún phần nào trong một hệ thống quyền lực chồng chéo, vận hành theo nhiệm kỳ và xé lẻ như vậy; quan liêu, lãng phí, tham nhũng và tội ác ngày càng trầm trọng là tất yếu. Chính hệ thống quyền lực này bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ của nhân dân, hủy hoại nghị lực sáng tạo của đất nước. Thực tế này đẻ ra đòi hỏi phải tăng cường trấn áp để bảo toàn chế độ, hệ quả là ngày càng mất lòng dân, trực tiếp cản trở sự phát triển của đất nước. Với một hệ thống quyền lực như vậy không thể tạo ra và cũng không thể quản lý nổi một nước Việt Nam công nghiệp hóa.  
     Tình hình kinh tế đất nước bế tắc như hiện nay, đất nước hầu như bị động và chưa chuẩn bị được bao nhiêu trong việc đối phó với âm mưu bành trước bá quyền của Trung Quốc, cũng như nhiều yếu kém khác nữa của sự nghiệp phát triển đất nước trong đối nội và đối ngoại còn cho thấy: Trong tình hình mới, hệ thống quyền lực này ngày càng bất cập và không có khả năng dẫn dắt đất nước trong thế giới hiện tại. Ngoài ra không thể không đặt câu hỏi sự lũng đoạn của quyền lực mềm Trung Quốc đã tác động  tới mức nào vào hệ thống quyền lực nước ta hiện nay.
3.    Những sai lầm và yếu kém của hệ thống quyền lực trong hai thập kỷ gần đây ngày càng trầm trọng, gây ra áp lực ngày càng lớn trong đời sống của nhân dân. Chính sách thông tin bưng bít và định hướng để giữ chế độ và giữ đảng trong quá trình ngày càng tha hóa đang một mặt làm trầm trọng thêm tình trạng ngu dân, mặt khác vấp phải sự bác bỏ (bộc lộ ra hay không bộc lộ ra) của nhân dân ngày càng quyết liệt. Trong đời sống xã hội, sự lên ngôi của giả dối và của những hiện tượng phi đạo đức của quyền lực đang gây ra cuộc khủng hoảng trầm trọng đời sống tinh thần và văn hóa của đất nước. Trong đời sống đất nước xuất hiện những nghịch lý trầm trọng: Giữa lúc cần phát huy cao nhất tinh thần đoàn kết hòa hợp hòa giải dân tộc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, nhưng lòng dân ly tán và dân tộc bị chia rẽ; giữa lúc cần phát huy những giá trị tinh thần, đạo đức, văn hóa, xã hội cho sự nghiệp chấn hưng đất nước lại xảy ra hiện tượng đời sống tinh thần của nhân dân sa sút nhất, sự băng hoại các giá trị đạo đức xã hội ngày càng trầm trọng; chưa bao giờ các hiện tượng phản văn hóa, hủ tục, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút và tội phạm hình sự tràn lan như hiện nay. Tinh thần dân tộc bị tổn thương, nguyên khí quốc gia bị đánh cắp. Và như đã phân tích trong phần II. 1. “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”, đất nước đã độc lập 40 năm mà vẫn chưa phải là của nhân dân và do nhân dân làm chủ. Nguyên nhân gốc của toàn bộ tình trạng này xuất phát từ sự tha hóa của hệ thống quyền lực.  
4.    Bốn mươi năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước cũng là 40 năm đảng và nhà nước Việt Nam vấp phải nhiều sai lầm đối ngoại trầm trọng nhất. Do nhìn nhận sai về thế giới, nên sau khi vừa mới ra khỏi chiến tranh đất nước lại bị kéo ngay vào 2 cuộc chiến tranh mới trong 10 năm liền (1979 – 1989). Hội nghị Thành Đô là sai lầm chiến lược tiếp theo, để lại hệ lụy lâu dài và khôn lường cho đất nước. Điều trớ trêu là ĐCSVN chủ trương đường lối đối ngoại hòa hiếu, không đi với bất kỳ nước nào chống lại nước thứ ba. Song đường lối đối ngoại bắt đầu từ hội nghị Thành Đô lại cột chặt nước ta vào một bên Trung Quốc, có nghĩa là làm như thế khách quan tạo ra những mâu thuẫn nhất định giữa nước ta và các nước thứ ba. Nguy hiểm hơn thế, đường lối đối ngoại này đã đưa con đường phát triển của đất nước đi vào quỹ đạo của Trung Quốc, tạo ra sự lệ thuộc trầm trọng và tình trạng bị Trung Quốc uy hiếp cho đến hôm nay ĐCSVN vẫn không thể tìm ra đối sách khắc phục; độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng. Đường lối đối ngoại Thành Đô cùng với đường lối đối nội giữ đảng và giữ chế độ bằng mọi giá trên thực tế đã biến nước ta thành một nước chư hầu kiểu mới của Trung Quốc, giữa lúc nước ta đã hội nhập toàn diện vào thế giới toàn cầu hóa, có tất cả các quốc gia quan trọng là đối tác chiến lược hay đối tác toàn diện. Đường lối đối ngoại này khiến cho nước ta bị cô lập, vì nó chỉ cột chặt nước ta vào Trung Quốc và đẩy nước ta vào thế phải leo dây với các đối tác khác, nước ta vừa không có sự liên minh thật sự với bất kỳ đối tác quan trọng nào cần thiết cho an ninh của nước ta, vừa tự mình không tranh thủ được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của cả thế giới cho bảo vệ chủ quyền quốc gia và những lợi ích chính đáng của nước ta. 
     Trung Quốc là đối tác và đối tượng số một tự nhiên và mãi mãi đối với nước ta, nhưng trong 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước ĐCSVN đã thất bại hoàn toàn trong việc xây dựng nên một quốc sách có thể bảo vệ được độc lập chủ quyền quốc gia, đồng thời giữ được hòa bình và thực hiện được hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc. Nguyên nhân chủ yếu là: ĐCSVN đặt lợi ích quốc gia dưới lợi ích của đảng và của chế độ, trí tuệ thấp kém, sự lầm lẫn nghiêm trọng của ý thức hệ, sự khiếp nhược trước Trung Quốc, bị quyền lực mềm Trung Quốc lũng đoạn nghiêm trọng. 
          Bản kết toán 40 năm đất nước độc lập thống nhất cho phép đánh giá:
1.    Đất nước trong 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên dưới chế độ toàn trị của ĐCSVN đã tạo ra được một nền kinh tế chủ yếu là bán những thứ tự có nhiều hơn là những thứ tự làm ra, nợ nần nhiều ai trả (?), với một chế độ chính trị không có khả năng đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp phát triển. 
2.    Để giữ đại cục quan hệ với Trung Quốc, đảng đã phải chấp nhận nhiều thỏa hiệp hay hy sinh lợi ích quốc gia (không loại trừ có thể có những vụ việc sự tha hóa của cá nhân đã bán rẻ lợi ích quốc gia); đất nước lâm vào tình trạng lệ thuộc và bị chèn ép nhiều mặt đến mức gần như trở thành một chư hầu kiểu mới của Trung Quốc. 
3.    Giữ đảng và chế độ như hiện nay, không thể giữ nước. Tình hình đã đến mức sự tồn tại và hành động của đảng và của chế độ như trong hiện tại đã và đang cản trở trực tiếp sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Sự lũng đoạn và uy hiếp của Trung Quốc rất nguy hiểm nhưng không nguy hiểm bằng. 
          Đại hội XII sắp đến của ĐCSVN nhất thiết cần thẳng thắn mổ xẻ toàn bộ tình hình đất nước nói trên và rút ra những kết luận dứt khoát. 
III. Hiểm họa đen?
          III. 1. Lạc lõng
          Phần I cho thấy thế giới đã sang trang tiếp, sang trang tiếp, và lại vừa mới sang trang tiếp một trang mới nữa. Càng ngày càng rõ trong thời đại chúng ta đang sống không có chỗ cho những suy nghĩ hão huyền về chủ nghĩa xã hội hoặc xu thế tất yếu nào về điều này trong bất kỳ mối quan hệ quốc tế nào. Hiện nay giành giật của quan hệ Mỹ – Trung đang chi phối sâu sắc bàn cờ thế giới. Một thời kỳ mới của các mối quan hệ quyết liệt tập hợp lực lượng và đối đầu nhau trong trật tự quốc tế đa cực bắt đầu, đặt ra rất nhiều vấn đề nan giải cho nhiều quốc gia liên quan – nhất là cho nước Việt Nam ta.  
          Phần II cho thấy lịch sử Việt Nam đã sang trang cách đây 40 năm. ĐCSVN đã áp đặt cho đất nước một con đường phát triển theo ý thức hệ của mình, hoàn toàn trái với đòi hỏi hỏi tất yếu của một nước được tự nhiên đặt sẵn vào vị trí địa kinh tế và địa chính trị trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Con đường phát triển đã lựa chọn ấy, một mặt là duy chí với quy luật phát triển tự nhiên của một quốc gia như nước ta – một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua liên tiếp những cuộc chiến tranh lớn thảm khốc, mặt khác là không nhận thức được cái trật tự quốc tế hiện hành đã ấn định cho nước ta một vị thế địa kinh tế và địa chính trị nhất định, buộc nước ta phải chấp nhận và phải tìm ra cách xử lý thỏa đáng sao cho có lợi nhất cho mình.  
          Nói hình ảnh, ĐCSVN đã chọn cho đất nước độc lập thống nhất con đường phát triển đảng muốn và xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa như ở trên cung trăng – với hàm nghĩa đảng chọn một mô hình xây dựng đất nước không theo quy luật của phát triển, lại một mình chọn một sân chơi khác kiểu trong thế giới, không nhận thức đúng được các mối quan hệ qua lại giữa nước ta và toàn bộ thế giới bên ngoài, càng không hiểu rõ sự chi phối có ý nghĩa quyết định về nhiều mặt của những mối quan hệ qua lại này đối với nước ta.  
          Có thể kết luận: ĐCSVN vừa không hiểu đất nước sau khi ra khỏi chiến tranh, vừa không nhận thức đúng được cái thế giới nước ta đang sống. 
          Tư duy ý thức hệ của đảng là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, lại trong hệ thống chính trị một đảng, nên ngay từ ngày đầu tiên của đất nước độc lập thống nhất, với tính cách là người chiến thắng, ĐCSVN đã trở thành người cai trị đất nước. Chính thực tế này giải thích tại sao quyền làm chủ của nhân dân đối với đất nước độc lập thống nhất không được trao lại cho nhân dân ngay sau khi chiến tranh kết thúc – nhân danh đảng phải đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng, để đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Về phương diện này, lịch sử phát triển của Việt Nam đã bị chặn đứng ngay từ đấy – nghĩa là cách đây 40 năm, và bị bẻ ngoặt sang một hướng duy tâm, duy ý chí, với kết quả đạt được như hôm nay. 
          Theo quy luật tha hóa của quyền lực, hệ thống chính trị quốc gia được xây dựng lên dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng ngày nay đã thật sự trở thành chế độ toàn trị, đang tích tụ ngày một nhiều mâu thuẫn đối kháng với các quyền tự do dân chủ của nhân dân và đi ngược lại lợi ích quốc gia. Đất nước bị chính hệ thống chính trị của mình kìm hãm trước tiên, mọi bước phát triển đạt được đều phải trả giá đắt, hiện đang lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện rất sâu sắc.  
          Ngày nay, tình hình tha hóa của đảng đến mức ý thức hệ thật ra cũng chỉ còn lại là cái bình phong hay là công cụ, để che đậy hay để thực hiện yêu cầu bảo vệ quyền lực của đảng, thực sự nó không còn đọng lại chút nào là lý tưởng cách mạng. 
          Tổng hợp lại có thể nói: Tư duy ý thức hệ của ĐCSVN không phải là tụt hậu hay lạc hậu so với thời đại của thế giới hiện tại, nó lạc lõng theo một lối riêng không tưởng và không đi cùng với xu thế phát triển của thế giới hiện tại. Sự tha hóa của quyền lực trong hệ thống chính trị một đảng càng khiến cho sự lạc lõng này không thể cứu vãn được, đảng ngày càng suy yếu vì những thất bại của chính mình. Để tồn tại, đảng bắt buộc phải mắc thêm nhiều sai lầm mới, buộc phải thêm độc tài và toàn trị hơn nữa. 
          Tình hình nêu trên có thể rọi thêm ánh sáng vào những quyết định của đảng khi lựa chọn giải pháp Thành Đô và các giải pháp thỏa hiệp khác với Trung Quốc cho đến nay. Ảo tưởng rằng Trung Quốc cùng chung ý thức hệ đã làm cho cái giá phải trả cho những thất bại phạm phải càng đắt hơn. 
          Đành rằng giác ngộ là một quá trình, song độc quyền chân lý của chế độ toàn trị đã không dung nạp quá trình này cho đến hôm nay.  
          Cũng như ở hầu hết mọi nước Liên Xô Đông Âu cũ và một số nước xã hội chủ nghĩa khác, ở nước ta tiếng nói phê phán tư duy ý thức hệ cộng sản và đường lối sai lầm của tư duy này đã được trí tuệ của đất nước cất lên rất sớm ngay sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc. Chí ít vụ Nhân văn giai phẩm có thể coi như là tiếng nói tập thể đầu tiên nêu lên mối nguy của ý thức hệ làm mất dân chủ và nhân văn trong sự nghiệp phát triển đất nước. Ai cũng biết vụ Nhân văn giai phẩm đã bị trấn áp quyết liệt. Khoảng dăm bẩy năm nay hầu như các nạn nhân vụ này đã được phục hồi danh dự cá nhân, nhưng chế độ chưa bao giờ có một lời xin lỗi hay nhận sai lầm. Nhìn chung chế độ này không biết xin lỗi các sai lầm đã xảy ra (trong cải cách ruộng đất, trong cải tạo tư sản, trong cải tạo tù chính trị…).  
          Đặc biệt là sau khi kháng chiến chống Mỹ kết thúc, tiếng nói phê phán những sai lầm tư duy ý thức hệ và đường lối của nó ngày càng nhiều, được nói lên từ những nhân vật tiêu biểu như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trần Độ, Trần Xuân Bách, vân vân… Sự tiếp thu của chế độ là quy kết những tư duy như thế là phản động, là chống chế độ, và thậm chí là phản quốc, phải đàn áp. Phan Đình Diệu không bị đàn áp nhưng bị bỏ ngoài tai, còn nhiều người khác bị bỏ ngoài tai…Sự việc mà tôi biết rõ nhất là bức thư gửi Bộ Chính trị ngày 09-08-1995 của đương kim Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc ấy đặt vấn đề: (1) phải nhận thức lại thế giới, (2) trên cơ sở đó xem lại đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước, (3) giai đoạn phát triển mới của đất nước nhất thiết phải có nhà nước pháp quyền dân chủ. (4) nhất thiết phải thay đổi tổ chức và xây dựng đảng. Bức thư này mới chỉ đặt vấn đề, chưa nói được gì nhiều, nhưng không có cái tai nào nghe, và người viết thư được hưởng quả đắng, ba người khác bị bắt giam chỉ vì đã đọc bản photo copy…  
          Sự việc ghiêm trọng mới đây nhất của tình trạng độc quyền chân lý và bóp nghẹt tự do dân chủ là mọi ý kiến đúng đắn góp vào xây dựng / sửa đổi hiến pháp năm 2013 đã bị loại bỏ rất thô bạo, để thông qua rất hình thức (đúng ra phải nói là lừa dối) một hiến pháp sửa đổi về cơ bản giữ nguyên như cũ, cướp đi của đất nước cơ hội hòa bình cải cách thể chế độc đảng toàn trị hiện nay sang chế độ pháp quyền dân chủ. Việc sửa đổi hiến pháp như đã làm cuối cùng biến thành bước đi quan trọng để tiếp tục bảo vệ quyền lực của ĐCSVN bằng mọi giá, không đếm xỉa đến những đòi hỏi sống còn của đất nước. 
          Cho đến hôm nay, độc quyền chân lý vẫn đang quyết liệt tiếp tục đàn áp mọi tư duy “trái chiều”, nhân danh chống diễn biến hòa bình, bảo vệ chế độ, bảo vệ tổ quốc… 
          Đến đây có thể nói, hiểm họa đen hôm nay thực ra đã manh nha ngay sau ngày đất nước độc lập thống nhất đầu tiên từ tư duy ý thức hệ và từ quá trình tha hóa của quyền lực đảng. 
          Có thể rút ra kết luận: Tư duy ý thức hệ của đảng và sự tha hóa của quyền lực đến hôm nay đã biến chất trầm trọng ĐCSVN vốn là một đảng yêu nước, ra đời trước hết với lý tưởng giải phóng đất nước. ĐCSVN hôm nay tha hóa thành vấn đề nghiêm trọng của đất nước.  
          Trừ một thiểu số thoái hóa, phần lớn đảng viên, nhất là đảng viên các thế hệ kháng chiến, là những người yêu nước. Tất cả những đảng viên yêu nước  - như tôi đã viết trong bài 1[7] – có món  nợ lương tâm và có trách nhiệm chính trị phải trang trải với đất nước: Cất lên tiếng nói tại đại hội XII đòi vứt bỏ tư duy ý thức hệ, đòi phải thay đổi đảng để thay đổi chế độ, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước theo tinh thần bức thư ngày 09-08-1995 của đảng viên Võ Văn Kiệt. 
          Với tính cách nắm quyền toàn diện và tuyệt đối, ĐCSVN hôm nay có trách nhiệm ràng buộc toàn diện và tuyệt đối trước đất nước thực hiện nhiệm vụ hòa bình cải cách chế đố toàn trị hiện nay chuyển sang chế độ pháp quyền dân chủ, và qua đó thay đổi chính bản thân mình trở thành một đảng khác đi với dân tộc, phấn đấu trở thành đảng của dân tộc, vì sự nghiệp cứu nước và chấn hưng đất nước. Đây phải là vấn đề nghị sự số 1 của đại hội XII. ĐCSVN hôm nay thực ra có mọi điều kiện cần và đủ để thực hiện thành công những nhiệm vụ trong vấn đề nghị sự số 1 này, đảng chỉ còn thiếu ý chí đoạn tuyệt với sự tha hóa của chính mình.  
          Hơn bao giờ hết, đại hội XII cần bắt đầu từ thẳng thắn nhìn lại toàn bộ tình hình của đất nước và của đảng trong 40 năm đất nước độc lập thống nhất đầu tiên, từ đó đảng tự giải phóng chính mình khỏi kiếp nô lệ của ý thức hệ và của quyền lực, chỉ để giữ lại cho mình lòng yêu nước, cùng với cả nước khai phá con đường dân tộc dân chủ cứu nước và đưa đất nước đi lên.         
           Mong rằng ĐCSVN hôm nay đừng mảy may ngó nghiêng hay lấn cấn gì với ĐCS Trung Quốc, để dứt khoát đoạn tuyệt với cái gọi là tư duy ý thức hệ anh em trên mọi phương diện. Đơn giản vì ĐCSTQ hôm nay chỉ giữ lại cho nó cái tên khai sinh như đang có, còn bản thân nó hôm nay là bộ máy quyền lực siêu lợi hại của siêu cường Trung Quốc đang lên trên con đường bành trướng bá quyền. Quan hệ ngoại giao là chuyện khác.  
          Đồng thời phải nói sòng phẳng: ĐCSVN hôm nay cũng chỉ còn lại mỗi cái tên. Bản chất đảng hiện nay, những việc đảng đang làm, hiện thực đất nước của nền kinh tế thị trường còn nhiều mặt hoang dã và đậm nét chủ nghĩa tư bản thân hữu, tất cả những điều này nói lên ĐCSVN hôm nay chẳng còn dính dáng gì đến chủ nghĩa Mác – Lênin hay tư tưởng Hồ Chí Minh. ĐCSVN hôm nay chỉ còn lại là đảng của quyền lực độc quyền nắm quyền cai trị đất nước. Việc thay đổi đảng trở thành đảng của dân tộc đã trở thành đòi hỏi sống còn đối với chính bản thân ĐCSVN, nhằm chặn đứng con đường đảng trở thành lực lượng đối kháng quốc gia và lợi ích dân tộc, tránh cho đất nước thảm họa tự hủy diệt.  
          III. 2. Đối mặt với hiểm họa đen
          Những khó khăn và thách thức đất nước hiện tại đang phải đối mặt trên mọi phương diện đối nội và đối ngoại không thể nói là nhỏ hoặc dễ giải quyết. Song hiểm họa đen về nhiều mặt có thể không đến từ những khó khăn và thách thức này, mà trước hết có thể lại đến từ những câu hỏi: 
-      Nhân dân này, dân tộc này lựa chọn gì trước những vấn đề đang đặt ra cho đất nước hôm nay?
-      ĐCSVN với tính cách là lực lượng chính trị lớn nhất đang nắm quyền cai trị đất nước (không còn là lực lượng lãnh đạo nữa) lựa chọn gì? Lựa chọn đất nước hay chính bản thân mình? 
-      Nói như thế chẳng lẽ hiểm họa đen chủ yếu đến từ phía ta,  nghĩa là từ phía nhân dân này? Từ đảng này? 
-      Đúng vậy với nghĩa: Nếu ta nhận biết được hiểm họa đen, thì có thể vô hiệu hóa nó, hoặc làm thất bại nó; đối phương dù có ác hiểm đến thế nào chăng nữa cũng không phải là bất khả kháng. Nhưng nếu ta mù quáng chẳng nhìn thấy gì, hoặc nếu ta cường điệu nó hay đánh giá thấp nó thì đúng là hiểm họa đen.  
          Đơn giản vì nếu ai hiểu Trung Quốc, chắc chắn đều thấy không thể quỳ xuống xin Trung Quốc rủ lòng thương lựa chọn kịch bản nhẹ tay đối với nước ta. 
          Trong phát triển kinh tế cũng thế, chẳng có gì cho không cả!  
          Vậy phải tập trung vào việc ta chống hiểm họa đen như thế nào? 
          Để làm rõ vấn đề, xin bàn luận thêm về Trung Quốc. 
          Như đã nói trong phần I. 2. Bàn về siêu cường Trung Quốc, hiện nay Trung Quốc đã sẵn sàng trong tay các kịch bản từ A – Z trong đối xử  với Việt Nam. Hiện nay họ đang thực hiện kịch bản A. Khi cần thiết họ có mọi điều kiện cần và đủ để chuyển sang kịch bản khác họ muốn. Kịch bản Z là tồi tệ nhất, tổng hợp mọi phương tiện từ những thủ đoạn bẩn thỉu đến chiến tranh. Thật là khó chịu một khi phải đối mặt với một đối tượng giữ thế chủ động như vậy (trong đó có phần nào do lỗi bị động từ trước đến nay của phía ta). 
          Sự thật là ngay trong kịch bản A hiện nay, Trung Quốc có thể dễ dàng làm kinh tế nước ta tổn thất 10 – 15% GDP như nhiều chuyên gia đã tính toán. Trong kịch bản khác, Trung Quốc có thể đánh thắng ta trong một cuộc hay một số cuộc chiến tranh có giới hạn. Trong kịch bản Z Trung Quốc có thể hủy hoại tới 1/3 GDP của nước ta hoặc hơn nữa, đánh chiếm thêm các đảo của ta, thậm chí có thể đánh chiếm kiểm soát một phần lãnh thổ ta trong một thời gian nhất định…  
          Vì ta không thể ra lệnh được cho Trung Quốc chỉ được phép dùng kịch bản gì và dùng như thế nào, cho nên lựa chọn sự đáp trả của phía ta mới là quyết định. Lựa chọn sự đáp trả đúng thì thắng, lựa chọn sai thì là hiểm họa. 
          Sự lựa chọn tại Thành Đô là sự lựa chọn sai, đã và đang đem lại hiểm họa hôm nay. 
          Trong tiểu thuyết “Lũ” (bản thảo 2, tập II, tháng 08-2012[8]), những kinh nghiệm có được trong những năm phải đối phó với cuộc chiến tranh 17-02-1979 và chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc khiến tôi đã phải tính đến kịch bản Z này. Song nước ta xưa nay có bao giờ chịu khuất phục một cuộc xâm lược như thế? Trong thế giới ngày nay lại càng không thể như thế. Trong thế giới đương đại, nước ta mới đây thôi đã 3 lần chiến thắng 3 kẻ xâm lược lớn với sự hậu thuẫn của cả thế giới tiến bộ.
          Giả thiết Trung Quốc áp đặt lên nước ta kịch bản Z, nhân dân ta có sự lựa chọn nào hơn là trong tình huống “bị lôi ra làm thịt” như thế, thì phải tìm cách tự giải phóng đất nước thoát khỏi kiếp chư hầu, đồng thời giành lại cho chính mình quyền làm chủ đất nước đã bị trì hoãn 4 thập kỷ nay? Tôi có lòng tin vững chắc trong tình huống xảy ra kịch bản Z, nhân dân ta sẽ buộc phải lựa chọn như vậy và nhất định sẽ thắng cả gói: Nước giữ được độc lập, dân giành lại được quyền làm chủ đất nước đã bị trì hoãn 4 thập kỷ. 
          Nếu nước ta bị Trung Quốc áp đặt một kịch bản Z như thế, nhân dân ta sẽ phải một lần nữa hy sinh xương máu ghê gớm lắm, phải cố tránh. Trong vòng một nửa thế kỷ đã 4 cuộc chiến tranh lớn đẫm máu là quá nhiều đối với đất nước ta! Nhưng biết làm thế nào? Rồi bao nhiêu mổ hôi nước mắt, và cả máu nữa, mới xây dựng nên được những gì đất nước có hôm nay! Càng tha thiết với hòa bình, quý trọng sinh mạng và công sức của đất nước, càng phải có ý chí quyết liệt đấu tranh bảo vệ, huy động sự hậu thuẫn của cả thế giới để quyết bảo vệ. Bởi vì không thể quỳ gối mà gìn giữ được! Hòa bình không thể đến được bằng van xin.         
          Nhưng một khi cây muốn lặng, nhưng gió chẳng đừng!? Vâng, một khi nước ta bị Trung Quốc cố ý áp đặt một kịch bản Z như thế, cho dù cho đảng lựa chọn đối phó thế nào, chắc chắn dân tộc ta sớm hoặc muộn sẽ chỉ có sự lựa chọn duy nhất nói trên của chính mình mà thôi, sẽ quyết chấp nhận sự lựa chọn duy nhất này, như đã từng bao nhiêu lần dân tộc ta phải lựa chọn như thế trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước. 
          Đồng thời tôi cho rằng: Một khi phải đương đầu với một kịch bản Z như thế, trong sự lựa chọn nói trên của nhân dân có lẽ sẽ không thể có một chỗ đứng nào cho ĐCSVN như đảng đang là, vì lòng tin của nhân dân vào đảng như đang là không còn nữa.  ĐCSVN như đang là cũng không thể lựa chọn như nhân dân lựa chọn, càng không thể có phẩm chất và năng lực lãnh đạo nhân dân thực hiện sự lựa chọn ấy, bởi vì phẩm chất và năng lực của ĐCSVN như đang là không còn đáp ứng được nhiệm vụ quyết liệt này nữa. Trong tình hình như vậy, ĐCSVN như đang là sẽ không còn đứng và sẽ không thể đứng được trong hàng ngũ cứu nước của dân tộc. 
          Câu chuyện sẽ hoàn toàn khác, nếu ĐCSVN như đang là quyết lột xác để trở thành đảng của dân tộc và để cùng chung với nhân dân sự lựa chọn như thế. ĐCSVN chủ động tiến hành cải cách hòa bình đễ xóa bỏ chế độ toàn trị, thiết lập chế độ pháp quyền dân chủ chính là con đường đảng như đang là có thể hoàn toàn thay đổi chính bản thân mình, để  trở thành đảng cùng đi với cả dân tộc. ĐCSVN như đang là chủ động tiến hành cải cách hòa bình xóa bỏ chế độ toàn trị, để tập hợp toàn dân tộc thành một khối thống nhất rong một thể chế pháp quyền dân chủ, sẵn sàng đương đầu với bất kỳ kịch bản nào của Trung Quốc – đấy còn là con đường ngăn chặn hay làm thất bại kịch bản xấu nhất mà Trung Quốc muốn ra tay. 
          ĐCSVN như đang là, nếu chủ động hòa bình cải cách xóa bỏ chế độ toàn trị để tập hợp toàn dân tộc trong một thể chế pháp quyền dân chủ vì sự nghiệp cứu nước và chấn hưng đất nước, chắc chắn nước ta sẽ có sức mạnh của chính mình và đồng thời sẽ tranh thủ được sự hậu thuẫn của cả thế giới tiến bộ, kịch bản nào của Trung Quốc đưa ra cũng sẽ thất bại, đất nước ta sẽ có hòa bình và từ đó mới tạo ra được hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc. Dĩ bất biến đối với mọi cái “biến” Trung Quốc muốn áp đặt với nước ta chính là điểm này! 
          Tâp hợp toàn dân tộc trong một thể chế pháp quyền dân chủ vì sự nghiệp cứu nước và chấn hưng đất nước – chính cái dĩ bất biến này mới cho phép nước ta một mặt bất di bất dịch gìn được giữ độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, mặt khác mới có điều kiện thực hiện các giải pháp sách lược. Trong quan hệ ngoại giao, làm sao mà thiếu được các giải pháp sách lược, nhất là đối với Trung Quốc? Song chỉ riêng lịch sử quan hệ Việt – Trung đã có đủ các bài học cho nước ta cần học: bất kỳ giải pháp sách lược nào với Trung Quốc mà nước ta không có cái dĩ bất biến này làm nền tảng, nước ta đều thua, và không hiếm trường hợp mất luôn cả chì lẫn chài – như đã trình bầy trong câu chuyện Hội nghị Thành Đô.  
          Xin nhắc lại: Tiến hành giải pháp Thành Đô, trong thâm tâm những người lãnh đạo nước ta hồi ấy là muốn thực hiện một giải pháp sách lược lớn – hòa hiếu với Trung Quốc. Nhưng vì không có cái dĩ bất biến này làm chỗ dựa, nên cuối cùng nước ta chỉ nhận được 4 tốt và 16 chữ
          Hiểm họa đen đang đến, ở chỗ cho đến hôm nay đảng như đang là và đội ngũ lãnh đạo vẫn không dám nhìn lại 40 năm đầy sai lầm của mình, vẫn còn lo mất quyền lực hơn lo mất nước, vẫn còn cố tìm cách trì hoãn hay thỏa hiệp vì khiếp nhược, trong khi đó thời gian không chờ đợi và phía Trung Quốc đã sẵn sàng mọi kịch bản khác. Những vấn đề lịch sử để lại rất lớn và phức tạp, song chí ít ĐCSVN nhất thiết phải đứng trên quan điểm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc đánh giá lại toàn bộ chặng đường 40 năm đất nước độc lập thống nhất đầu tiên để có ý chí thay đổi đảng một cách triệt để.  
          Hiểm họa đen thực sự đang tiến đến, bởi lẽ cái giàn khoan HD 981 chưa đủ lớn, chưa đủ nặng để đặt ra cho Hội nghị Trung ương 9 sự lựa chọn sẽ phải được bàn đến tại đại hội XII sắp tới: Cứu nước? hay cứu chế độ và cứu đảng như đang là? Cho đến giờ phút này đối với cả nước đảng như đang là vẫn tiếp tục vừa lừa mỵ dân, vừa  đàn áp lẽ phải, trấn an dân, kêu gọi kiên định chung chung.., trong khi đó đội ngũ lãnh đạo vẫn trống đánh xuôi kèn thổi ngược. 
          Hiểm họa đen cũng có thể xuất hiện dưới dạng thường trực không mời mà đến, vì bất kể một yếu kém nào của chế độ đương quyền trong một bối cảnh nào đó, với sự lũng đoạn của quyền lực mềm – ví dụ như dưới dạng kịch bản tạo ra phản ứng bầy đàn cướp phá khoảng 800 xí nghiệp có FDI ngày 13 và 14-05-2014 ở quy mô không kiểm soát được… Những chuyện phản ứng bầy đàn như thế có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trong thị trường kinh tế, trong thị trường tài chính tiền tệ, trong tình hình khiếu kiện đất đai của nông dân, trong trấn áp biểu tình, trấn áp chính trị, trong một thiên tai… Bởi vì lúc này đất nước có không ít những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội… rất nhậy cảm, mà nguyên nhân gốc thường là những sai trái và yếu kém chế độ và của người trong hệ thống chính trị. Bưng bít thông tin, không công khai minh bạch, các hoạt động lừa bịp của dư luận viên, các biện pháp trấn áp trên báo chí và bằng quyền lực… nhân danh giữ ổn định, vân vân.., tất cả những thứ này chỉ là đổ dầu vào lửa, đồng thời tạo đất thánh cho hoạt động của quyền lực mềm Trung Quốc. Chỉ có một con đường: Phải dựa hẳn vào dân, vào dân tộc, dấy lên sức mạnh từ dân để giải quyết tất cả, bắt đầu từ phát triển xã hội dân sự để nuôi dưỡng tinh thần dân tộc và phát huy dân chủ – vì sự nghiệp cứu nước và chấn hưng đất nước. 
          Hiểm họa đen thực sự không thể tránh nổi, nếu chế độ toàn trị hiện nay theo quy luật mâu thuẫn giữa cai trị và bị cai trị đến một lúc nào đó sẽ tức nước vỡ bờ và ắt phải sụp đổ, đất nước rơi vào tự hủy diệt của hỗn loạn nồi da xáo thịt.  
          Hiểm họa đen luôn tiềm tàng và không thể đảo ngược được, chừng nào đảng như đang là trốn tránh nhiệm vụ tạo ra cho đất nước cái dĩ bất biến nói trên không thể trì hoãn được nữa. 
          Cần thảo luận rộng rãi trong đảng để đi tới kết luận và hành động.

Lời kết: Phải cắt bỏ cái thòng lọng đang siết dần

          Cách đây vài ngày cái dàn khoan HD 981 đã rời khỏi chỗ nó đứng hơn 2 tháng trong vùng biển của ta. Ý kiến nói ra nói vào trên thế giới nhiều chiều lắm.  
          Trong rừng các ý kiến ấy, đáng chú ý nhất là người Trung Quốc nhắc nhở chúng ta: Người Việt Nam đừng lấy trứng chọi đá, phải làm quen với việc cái giàn khoan này rút ra, cái khác sẽ được đưa vào, tùy theo công việc đòi hỏi mà!..  
          Ý kiến khác đánh giá: Việc rời giàn khoan HD 981 đi chỗ khác tạm thời làm xẹp được sự căng thẳng trong dư luận quốc tế; mặt khác bước đi này tiếp sức cho phái Việt Nam chủ hòa và đầu hàng, lôi kéo phái Việt Nam này vào giải pháp song phương, thuận cho phương thức “gác tranh chấp cùng khai thác”.
          …Dù sao, cái giàn khoan phải di chuyển đi nơi khác như thế cho thấy không phải Trung Quốc muốn làm gì cũng được!.. Sự phản đối quyết liệt của Việt Nam và dư luận thế giới đã buộc Trung Quốc phải tính đến.
          …
          …
          …
          Nhìn lại, mười năm đầu sau 30-04-1975 Trung Quốc đã thành công đáng kể trong việc vô hiệu hóa gần như hoàn toàn ảnh hưởng của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam trong khu vực, đồng thời giành được vị thế tạm thời lấp chỗ trống của Mỹ. Sau Hội nghị Thành Đô 1990, Trung Quốc thực sự đã đặt được cái thòng lọng ý thức hệ lên cổ đất nước ta. 25 năm qua Trung Quốc đã từng bước và bằng mọi thủ đoạn chính tri, kinh tế, quân sự siết dần cái thòng lọng này, và hôm nay đạt được một Việt Nam lệ thuộc trầm trọng về kinh tế, đối nội bị lũng đoạn, đối ngoại phải “leo dây”, ngoài việc Trung Quốc đã chiếm thêm được một số đất đai và một số diện tích biển đảo.  
          Những gì cái giàn khoan HD 981 đã lộ thiên ra được ở Việt Nam hai tháng qua và sự việc cái đường lưỡi bò 9 vạch được nối thêm một vạch nữa là những cái “tests” giúp Trung Quốc khẳng định được Việt Nam là khâu yếu nhất, cần đột phá cho giai đoạn mới của chiến lược bá chiếm Biển Đông, lúc tiến lúc thoái nhưng sẽ kiên định lấn tiếp.  
          Hiển nhiên, những năm tháng ngày càng hiểm nguy cho đất nước ta đang ở phía trước! 
          Bài toán 1: Chủ hòa, thôi kiện ra quốc tế, chấp nhận đàm phán song phương cho vấn đề Biển Đông, gác tranh chấp cùng khai thác, có thể tạm thời tránh được chiến tranh, bảo toàn được tài sản riêng và các đặc quyền của quyền lực; làm thể tuy sẽ phải mặt dầy mày dạn thêm với dân và bạn bè, nhưng quyền lực có thể sống thêm một thời gian nữa, đất nước sẽ bị cô lập thêm nữa cùng đành, chấp nhận cái thòng lọng ở trên cổ đất nước siết thêm một nấc nữa nhưng quyền lực vẫn còn thở tiếp được… Song bia miệng chắc sẽ đời đời phỉ báng, tâm linh đất nước của quá khứ đằng đẵng đau thương chiến tranh chắc sẽ nguyền rủa trời chu đất diệt chủ hòa theo kiểu đầu hàng như vậy… Thật ra chủ hòa như thế là phương án chấp nhận chết dần từng nấc về thể xác, nhưng chết ngay và chết hẳn về nhân cách một quốc gia, một dân tộc. Cho dù có cái chủ hòa này, nhân dân ta chắc chắn sớm hay muộn sẽ không bao giờ chấp nhận bài toán này. Chấp nhận như thế, đầu tiên sẽ phải tính đến ngay sự phản kháng quyết liệt từ dân. Đàn áp thế nào đi nữa cũng không thể giập tắt được sự phản kháng của nhân dân, của dân tộc. Chấp nhận chủ hòa như thế, dù có dùng đến cả nội chiến để đàn áp nhân dân, trước sau và cuối cùng vẫn sẽ là cái chết nhục nhã của quyền lực.   
           Bài toán 2: Đấu tranh: Cắt đứt cái thòng lọng đang siết dần - Cùng với cả dân tộc và toàn thế giới tiến bộ bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế. Trước hết bằng cách cùng với nhân dân cả nước nhất quyết cắt cái thòng lọng ý thức hệ và sự nô lệ của quyền lực cũng như sự cám dỗ của mọi lợi ích tội lỗi khác, trả lại quyền làm chủ đất nước cho nhân dân để tạo ra cái dĩ bất biến ứng vạn biến. Dân tộc sẽ thắng, đất sẽ nước thắng, các nước trong khu vực cùng thắng – cũng có nghĩa là   luật pháp quốc tế sẽ thắng; thậm chí nếu có ý chí quyết liệt thì có thể bằng cái dĩ bất biến phải có này thắng được bành trướng bá quyền Trung Quốc trong đấu tranh hòa bình, nhờ đó tránh được chiến tranh… Nhưng lựa chọn bài toán 2 chế độ toàn trị cùng với mọi quyền lực và đặc quyền của nó sẽ không còn, ĐCSVN cũng có thể không còn như đảng đang là nữa mà phải trở thành thành một đảng khác, hoặc là không còn nữa. 
           Bài toán 3: “?” – Sự thật là quyền lực của chế độ toàn trị và lợi ích quốc gia không thể dung hòa được với nhau để cùng tồn tại, nên hình như không có bài toán này. 
Để đại hội XII tính toán các bài toán và sự lựa chọn, chỉ xin lưu ý vài điều: 
-      Trung Quốc siêu cường đang lên mạnh, ác, hiểm độc, nhưng không phải là bất khả kháng như suy nghĩ của bóng vía yếu. Cái yếu nhất của Trung Quốc không phải là sự phi nghĩa, vì bành trướng bá quyền Trung Quốc đâu có quan tâm đến đạo nghĩa, nên hầu như nó không có nỗi sợ nào về đạo lý và lẽ phải. Nhưng như đỉa sợ vôi, Trung Quốc rất sợ dân chủ. Một Việt Nam dân chủ đúng nghĩa, sẽ là gương xấu cho khát vọng cháy bỏng về dân chủ cho các vùng miền khác nhau ở Trung Quốc – đây là cái gót chân Achile Trung Quốc đang giấu. Đập chết một Việt Nam dân chủ như vậy ngày nay hầu như không thể, vì sức mạnh nội tại của nó sẽ là bất khả kháng đã đành, và vì thế giới ngày nay không còn lạc hậu như cách đây 2 thế kỷ. Song trong trường hợp này cái gót chân Achile của Trung Quốc sẽ làm cho nó đứng ngồi không yên. Ngoài ra, nhìn toàn diện cả bàn cờ thế giới, bành trướng bá quyền Trung Quốc vẫn đang là kẻ yếu. (Nhiều người đã nói đúng: Trung Quốc mạnh chỉ vì ta quỳ xuống!
-      Đi với ai? Liên minh với ai để đối phó với cái người láng giềng khổng lồ không biết điều này?
     Xin trả lời:
§  Nước ta như hiện nay chẳng ai muốn liên minh cả, có nài xin cũng không được. Nước ta đã có khá nhiều cam kết của các đối tác chiến lược hay toàn diện rồi mà hiện nay vẫn tay trắng, chính là vì lẽ này. Các đối tác này đang kiên nhẫn chờ đợi.
§  Chẳng lẽ Việt Nam đang là một thứ con bệnh?
§  Nếu dân tộc ta, nước ta còn chưa đủ bản lĩnh sống vì chính ta, thì ai dám liên minh với ta? Xin hãy tự hỏi mình: Bản thân chúng ta có dám kết thân với kẻ ba, bốn mặt, hư, ăn bám và èo uột không?
               Một khi ta có bản lĩnh dám sống vì một đất nước của dân tộc và dân chủ, ta sẽ có hậu thuẫn của trào lưu dân tộc và dân chủ trên cả thế giới này, sẽ biết liên minh như thế nào và liên minh với ai, từ đó sẽ tạo ra được liên minh. Trước sau, Việt Nam phải sớm tự thay đổi chế độ chính trị hiện nay của nước mình để có mọi điều kiện xây dựng được cho mình các mối quan hệ liên minh vững chắc dưới các hình thức và trong mọi lĩnh vực (kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa…), ở mọi tầng nấc quốc tế và khu vực, để thay đổi triệt để nền kinh tế của nước ta, và để gắn kết được sự phát triển của nước ta với lợi ích phát triển chung của cộng đồng các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam nhất thiết phải làm như thế để tạo ra một liên kết bền vững với cả thế giới mà an ninh và sự nghiệp phát triển của nước ta đòi hỏi. Điều này trước hết có nghĩa Việt Nam phải trở thành một nước có những phẩm chất mới để có thể tạo ra cho mình một liên kết như thế với nhân loại. Dù để chậm mất 40 năm rồi, nhưng bây giờ vẫn là lúc dân tộc Việt Nam ta phải đề ra cho mình lẽ sống này!  
               Trong bối cảnh cục diện quốc tế đa cực rất phức tạp và giành giật nhau rất quyết liệt hiện nay, cái lối nghĩ “Việt Nam không bao giờ liên minh với ai để chống nước thứ ba” đã trở nên quá sơ lược, lỗi thời và tự trói tay mình. Thực ra lối suy nghĩ này hàm chứa (1)sự mơ hồ chết người về cái thế giới chúng ta đang sống, (2)sự nhu nhược không dám tự thay đổi bản thân mình để thích nghi và sống được trong cái thế giới hiện tại này, và (3)sự van xin trá hình lòng thương từ Trung Quốc.  
               Ngày nay Trung Quốc trở thành vấn đề riêng rất nghiêm trọng của Việt Nam, đồng thời cũng là vấn đề chung nghiêm trọng của cả thế giới, Việt Nam phải tự thay đổi chính mình để tự giải quyết vấn đề của mình và cùng chung tay giải quyết vấn đề của cả thế giới. 
-      Có cái dĩ bất biến đất nước đang đòi hỏi, sẽ có thể ứng vạn biến. Nước ta muốn sống có hòa bình, hữu nghị và hợp tác được với Trung Quốc, nhất thiết phải sống như thế. Phải gạt sang một bên mọi di sản tiêu cực của quá khứ và suy nghĩ cảm tính, để có trí tuệ và ý chí cần thiết xây dựng nước ta trở thành một đối tác chiến lược của Trung Quốc với đúng nghĩa Trung Quốc phải nhìn nhận nước ta là đối tác chiến lược, chứ không phải là một chư hầu. Vấn đề đặt ra cho nước ta là: Ngoài “quyền lực mềm” luôn luôn có sẵn trong “thực đơn” Trung Quốc đưa ra, không có sự nhượng bộ hay quà biếu nào trong mối quan hệ này, mà chỉ có sản phẩm của trí tuệ và ý chí độc lập tự do nước ta cần tạo ra để xây dựng những mối quan hệ bình đẳng, cùng có lợi và thuận với lợi ích chung của cộng đồng khu vực và quốc tế. Nước ta rất cần một Trung Quốc của những mối quan hệ như thế. Song cũng có thể nói nước ta có những điều kiện làm cho Trung Quốc cần một Việt Nam không phải là thù địch của Trung Quốc, là cầu nối cho mọi liên hệ, là trung tâm của hòa giải trong khu vực – và một ngày nào đó Việt Nam trở thành một trung tâm phát triển mới trong khu vực cùng có lợi cho mọi bên hữu quan. Chống chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc một cách chủ động là phải dấn thân tự thay đổi chính mình như thế để có trí tuệ, bản lĩnh, nghị lực, thực lực và thế đứng tự mở ra được con đường làm cho mình trở thành một đối tác như thế mà Trung Quốc cũng phải cần đến.  
     Sự thật một trăm lần rõ phải bắt đầu từ dứt khoát cắt đi cái thòng lọng ý thức hệ đang siết trên cổ đất nước.

              Thiết tha mong từng đảng viên suy nghĩ. Hiểm họa đen thực sự đang đến. Phải quyết liệt đối mặt với nó, bằng dấn thân tự thay đổi chính mình trước tiên. Nhìn được ra vấn đề, dựa hẳn vào dân tộc, sẽ định liệu được nhiệm vụ và những bước đi thích hợp. 
              Để có một điểm tựa nào đó cho so sánh, có thể nói: Một phần tư thế kỷ vừa qua từ Hội nghị Thành Đô mọi sai lầm chết người ở nước ta đều xuất phát từ lỗi của hệ thống; cũng một phần tư thế kỷ vừa qua, mọi thành công ngoạn mục của nước Đức thống nhất đều bắt nguồn từ hệ thống đúng đắn./.
Nguyễn Trung
Hà Nội  tháng 7-2014
———–
[1] Bài 1: Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy
http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_CayDangHonMyChauTrongThuy.htm
[2] Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, “Việt nam trong thế giới thập kỷ thứ hai thế kỷ 21http://vietsciences.free.fr/timhieu/khoahoc/kinhte/khunghoangkinhteVN2008.htm
[3]Tham khảo thêm: Peter W. Navarro, Greg Autry “Death by China: Confronting the Dragon – A Global Call to Action”.
[4] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Từ 4 tốt đến 4-không-được
http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_BonTotBonKhong.htm
Bốn không được: (1) không được đánh giá thấp quyết tâm và sức mạnh của Trung Quốc, (2) không được dù tư liệu lịch sử làm dư luận thế giới hiểu sai, (3) không được quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, (4) không được phá bỏ quan hệ hữu nghị với Trung Quốc đã xây dựng lại được 20 năm.
[5]  Tham khảo: Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG, “CHÍNH SỬ TRUNG QUỐC PHỦ ĐỊNH BIỂN LỊCH SỬ TRUNG QUỐC”.
[6] Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, bộ 3 các loạt bài “Viễn tưởng”, bài 3 “Đảng Cộng Sản Việt Nam phải giành lại vai trò lãnh đạo bị đánh mất – hay là Hoang tưởng?”
http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_VienTuong_3.htm#_ednref11
[7] Nguyễn Trung, “Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy”
http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_CayDangHonMyChauTrongThuy.htm
[8] Nguyễn Trung, tiểu thuyết “”, bản thảo 2, tập II, http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/Lu_I_15.pdf

2782. Vài đặc điểm trong các phát biểu của lãnh đạo Việt Nam

GS Nguyễn Văn Tuấn
21-07-2014
Những người lãnh đạo giỏi và có bản lĩnh họ không chỉ nói, mà còn thực hiện những gì họ nói. Ngay cả cách nói, mỗi một lần phát biểu họ đều để lại những câu mà báo chí có trích trích dẫn (quotable words) hay làm cho người nghe phải suy nghĩ vì nó có cái wisdom trong đó. Chẳng hạn như khi nói về những việc làm liên quan đến tai nạn máy bay MH17, thủ tướng Úc nói “Mục tiêu của chúng ta là đảm bảo phẩm giá, sự tôn trọng, và công lí cho người quá cố và người đang sống.” Đó là một câu có thể trích dẫn.
Nhìn lại giới lãnh đạo VN, tôi thấy hình như họ không có cái tư chất về ăn nói của chính khách phương Tây. Chính khách VN quen với đường mòn chữ nghĩa mang đậm bản chất XHCN nên họ chỉ loanh quanh những câu chữ quen thuộc. Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Đọc qua nhiều bài phát biểu của các lãnh đạo VN tôi nhận ra vài đặc điểm chính (có thể chưa đủ) như sau:

Thứ nhất là tính chung chung, không có một cái gì cụ thể. Có thể nói rằng thói quen phát biểu chung chung là đặc điểm số 1 của chính khách VN, họ không có khả năng nói cái gì cụ thể, tất cả chỉ chung chung, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Ví dụ như phát biểu “Đặc biệt là, tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.” Đọc xong đoạn văn chúng ta chẳng có thông tin nào, mà tất cả chỉ là những rhetoric tầm thường, giống như những khẩu hiệu được nối kết với nhau. Chúng ta cũng không có thêm thông tin, ngoại trừ một chữ rất chung chung là “phức tạp”. Hai chữ “phức tạp” có thể nói là rất phổ biến ở VN, đụng đến cái gì họ không giải thích được, không mô tả cụ thể được, thì họ bèn thay thế bằng hai chữ “phức tạp” mà chẳng ai hiểu gì cả. Cả một đoạn văn 74 chữ, chúng ta không thấy một ý nào cụ thể và không thể trích dẫn bất cứ câu nào.
Thứ hai là dùng nhiều sáo ngữ. Ví dụ tiêu biểu cho đặc điểm này là bài nói chuyện nhân kỉ niệm 40 năm ngày kí Hiệp định Paris: “Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.” Chú ý những chữ “mốc son”, “sử vàng”, “mặt trận ngoại giao”, tất cả đều là những sáo ngữ. Có một loại sáo ngữ khác là chúng mang tính tích cực nhưng không có ý nghĩa thực tế. Vì dụ như bài diễn văn nhân dịp kết thúc một đại hội đảng, có đoạn: “Sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, tư duy lý luận về văn hóa của chúng ta đã có bước phát triển …. Nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực. Truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… được phát huy.” Chúng ta chú ý thấy nào là “phát triển”, “phát huy”, “hiệu quả thiết thực”, nhưng vì chúng không có một dữ liệu cụ thể nào nên tất cả chỉ là rỗng tuếch về ý nghĩa. Thật vậy, đọc xong đoạn phát biểu này chúng ta không thấy bất cứ một điểm cụ thể nào để nhớ hay để làm minh hoạ. Chẳng có một ý tưởng nào để đáng nhớ.
Một trong những sáo ngữ chúng ta hay thấy trong các bài phát biểu là “đánh giá cao”. Ví dụ như “tôi cám ơn và đánh giá cao bài phát biểu rất tốt đẹp của Ngài Thủ tướng Hà Lan”, “tôi đánh giá cao và chân thành cám ơn sự hỗ trợ của Chính phủ …”. “Đánh giá cao” hình như là một thuật ngữ đặc thù xã hội chủ nghĩa nó vẫn còn sống sót đến ngày hôm nay. Thoạt đầu nghe qua “đánh giá cao” thì cũng hay hay, nhưng nghĩ kĩ thì thấy câu này chẳng có ý nghĩa gì cả. Thế nào là đánh giá cao, cao cái gì? Tôi thấy nó là một sáo ngữ cực kì vô duyên và vô dụng.
Thứ ba là không có thông tin (lack of information). Có nhiều lãnh đạo VN quen tính nói rất nhiều, nhưng nếu chịu khó xem xét kĩ chúng ta sẽ thấy họ chẳng nói gì cả. “Chẳng nói” vì những gì họ nói ra không có thông tin, tất cả chỉ là những câu chữ lắp ráp vào nhau cho ra những câu văn chứ không có dữ liệu. Do đó, có khi đọc xong một đoạn văn chúng ta chẳng hiểu tác giả muốn nói gì. Chẳng hạn như phát biểu về hiến pháp, ông chủ tịch QH nói: “Chúng tôi cũng hiểu rằng một bộ phận, một số người trong các tầng lớp nhân dân và ngay một số ĐBQH cũng còn ý kiến khác. Tuy nhiên tuyệt đại nhân dân và Quốc hội có thể khẳng định đã đồng tình cao với bản Hiến pháp thông qua lần này. Với quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, chúng ta đã thể hiện được đại đa số nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội với tinh thần làm chủ của nhân dân, chúng ta sẽ biểu quyết theo tinh thần đó.” Câu cú và cấu trúc ý tưởng chẳng đâu vào đâu. Lúc thì quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, lúc thì nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội, lại còn đèo theo một câu “tinh thần làm chủ của nhân dân”. Câu chữ cứ nhảy nhót loanh quanh, chẳng đâu vào đâu, và cuối cùng là chẳng có gì để nói!
Thứ tư là ngôn ngữ khẩu hiệu. Có thể nói rằng rất rất nhiều bài nói chuyện và diễn văn của các lãnh đạo VN chỉ là những khẩu hiệu được lắp ráp vào với nhau. Có những khẩu hiệu quá quen thuộc nên chẳng ai chất vấn tính chính xác của nó. Ví dụ như câu “Trong niềm tự hào, chúng ta thành kính tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới …”, có lẽ chẳng ai để ý đến chữ “danh nhân văn hóa thế giới”. Nếu người bình thường phát biểu như thế thì chắc người ta cũng lắc đầu bỏ qua, nhưng lãnh đạo mà phát biểu như thế thì chẳng có gì sáng tạo, chỉ lặp lại những câu chữ đã có trước đây.
Một loại ngôn ngữ khẩu hiệu khác mang tính tự hào. Tự hào là một “đặc sản” của các vị lãnh đạo VN, đi đâu cũng nghe họ nói về tự hào. Điều này cũng hiểu được, vì làm lãnh đạo thì phải gieo niềm tự hào vào người dân. Nhưng gieo không đúng chỗ và gieo mãi thì có thể trở thành phản tác dụng. Thử đọc bài diễn văn có đoạn “Chúng ta tự hào về đất nước Việt Nam anh hùng, nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về những con người giản dị bằng những việc làm tốt của mình ở mọi lúc, mọi nơi đã góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam; góp phần quyết định để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh.” Tôi tự hỏi có cần quá nhiều tự hào như thế. Đất nước anh hùng, con người anh hùng, vẻ đẹp văn hoá, v.v. nhưng tại sao đất nước vẫn còn nghèo và phải “ăn xin” hết nơi này đến nơi khác và ăn xin kinh niên, con người vẫn còn đứng dưới hạng trung bình trên thế giới. Thay vì tự ru ngủ là anh hùng và giàu mạnh, tôi nghĩ lãnh đạo phải nói thẳng và nói thật là đất nước vẫn còn rất nghèo, tài nguyên chẳng có gì, và cả nước đang phải đương đầu với ngoại xâm.
Thứ năm là loại ngôn ngữ hành chính hoá. Nếu chú ý kĩ chúng ta sẽ thấy phần lớn những bài nói chuyện, bài diễn văn các lãnh đạo đọc là họ nói với đảng viên, với quan chức, công nhân viên, với quân đội, v.v. chứ không phải nói với người dân. Có lẽ chính vì thế mà ngôn ngữ của họ thường mang tính hành chính. Có những chữ mà hình như họ sử dụng quá nhiều nên chẳng ai để ý ý nghĩa thật của nó, như “Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.” Đối với người dân bình thường, ít ai hiểu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế là cái gì. Có thể nói đó là những ngôn ngữ xa lạ đối với người dân.
Những bài diễn văn của các chính khác phương Tây thường rất sinh động, thực tế, và có khi … vui. Khán giả cảm thấy gần gũi với diễn giả. Ngược lại, những bài diễn văn của lãnh đạo VN thường cứng nhắc, công thức, và lúc nào cũng tỏ ra hết sức nghiêm trọng (dù sự việc chẳng có gì nghiêm trọng). Khán giả nghe họ đọc hơn là diễn. Một phần có lẽ do lãnh đạo VN chưa quen với văn hoá hài, và họ cũng muốn tỏ ra là người quan trọng. Dù gì đi nữa thì những bài nói chuyện của lãnh đạo VN rất khó gần với người dân do ngôn ngữ cứng đơ và kém thân thiện, và cách họ triển khai bài nói chuyện quá xa rời công chúng.
Dĩ nhiên, những đặc điểm này không phải là độc quyền của các lãnh đạo VN, mà thỉnh thoảng các chính khách phương Tây cũng vướng phải. Khi họ vướng phải, người dân biết vị chính khách đó có vấn đề, hoặc là không nắm vững vấn đề, hoặc là lúng túng. Vì không nắm vững vấn đề nên họ nói chung chung. Có người nghĩ nói chung chung là nói “đa tầng”, nhưng thật ra đó chỉ là cách nguỵ biện thô thiển. VN nói về hội nhập quốc tế, nhưng với loại ngôn ngữ đặc thù XHCN trên đây, tôi nghĩ các lãnh đạo VN sẽ rất khó gần với lãnh đạo thuộc thế giới văn minh.
Nguồn: FB Nguyen Tuan

2783. VIỆC THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GENÈVE

Trần Gia Phụng
Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève (20-7-1954), chúng ta thử nhìn lại Bắc Việt Nam (BVN) dựa vào lý do nào để khởi binh tấn công Nam Việt Nam (NVN)?
1.-   HIỆP ĐỊNH GENÈVE
Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. Hiệp định nầy được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp định Genève là Henri Delteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH tức Việt Minh cộng sản). Đại diện các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng), Lào, Cambodia. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN) và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp định nầy.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (gọi tắt là hiệp định Genève) gồm có 6 chương, 47 điều, trong đó các điều chính như sau:
Việt Nam được chia thành hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải, theo dòng sông, đến làng Bồ-Hô-Su và biên giới Lào Việt. [Cửa sông Bến Hải tức Cửa Tùng, thuộc tỉnh Quảng Trị. Sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta nói nước Việt Nam được chia hai ở vĩ tuyến 17.]   Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía bắc (tức Bắc Việt Nam) và Quốc Gia Việt Nam ở phía nam (tức Nam Việt Nam). Dọc hai bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm “khu đệm”, có hiệu lực từ ngày 14-8-1954. Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày hiệp định có hiệu lực. Cuộc ngưng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7 ở Bắc Việt, 1-8 ở Trung Việt và 11-8 ở Nam Việt. Mỗi bên sẽ phụ trách tập họp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chánh riêng. Cấm phá hủy trước khi rút lui. Không được trả thù hay ngược đãi những người đã hợp tác với phía đối phương. Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía bên kia. Cấm đem thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới. Tù binh và thường dân bị giữ, được phóng thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi thực sự ngừng bắn. Sự giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định sẽ giao cho một Uỷ ban Quốc tế. Thời hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ ngày ngừng bắn: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày). Đợt chót ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày).
2.-   AI VI PHẠM HIỆP ĐỊNH GENÈVE ?
Hiệp định Genève ký kết ngày 20-7-1954 chỉ là một hiệp định có tính cách thuần tuý quân sự. Cũng giống như hiệp ước đình chiến Panmunjom (Bàn Môn Điếm) ngày 27-7-1953 ở Triều Tiên, hiệp định Genève không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.
Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm lo tập trung và rút toàn bộ lực lượng của mình về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, chẳng có tài liệu sách vở nào cho thấy là chính phủ QGVN đã gài người hay lưu quân ở lại đất Bắc. Như thế, trong việc thi hành hiệp định Genève, chính phủ QGVN đã thi hành đúng đắn hiệp định.
Trái lại, nhà nước VNDCCH do Việt Minh cộng sản cầm đầu đã không tuân hành quy định trong hiệp định Genève. Sau đây là hai bằng chứng cụ thể do phía cộng sản đưa ra về sau:
Thứ nhứt, tại hội nghị Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), giữa thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai và chủ tịch nhà nước VNDCCH Hồ Chí Minh từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tức trước khi hiệp định Genève được ký kết, Hồ Chí Minh đã đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet).
Thứ hai, Việt Minh cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam, mà còn gài những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại miền Nam như Lê Duẫn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273), để chỉ huy Trung ương cục miền Nam (TƯCMN). Trung ương cục miền Nam được thành lập ngày 20-1-1951, chỉ huy toàn bộ hệ thống cộng sản ở Nam Việt Nam. (Tháng 10-1954, TƯCMN đổi thành Xứ ủy Nam Bộ. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TƯĐ (khóa III) đảng LĐ (ngày 23-1-1961) ở Hà Nội, Xứ ủy Nam Bộ trở lại thành TƯCMN.)
Hai tài liệu trên đây do phía cộng sản Việt Nam tiết lộ, chứ không phải tài liệu tuyên truyền của NVN hay Tây Phương. Như vậy, rõ ràng trong khi chính phủ QGVN tôn trọng hiệp định Genève, nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, ngay khi trước khi hiệp định được ký kết và cả sau khi hiệp định được ký kết.
3.- BẮC VIỆT NAM ĐÒI HỎI ĐIỀU KHÔNG CÓ
Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến, thuần túy quân sự và không đưa ra một giải pháp chính trị. Trong khi chính Bắc Việt Nam (BVN) vi phạm hiệp định Genève, thì ngày 19-7-1955, thủ tướng BVN là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng Nam Việt Nam (NVN) là Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, như đã quy định trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954, để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.) Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, vì cho 1955 rằng chính phủ QGVN tức NVM không ký các văn kiện Genève nên không bị ràng buộc phải thi hành.
Tuy sau đó chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thay chính phủ QGVN, nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, để chứng tỏ BVN quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và nhằm tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống VNCH, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.
Một điều lạ lùng là trong hiệp định Genève, không có một điều khoản nào nói đến việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước mà nhà cầm quyền CS cứ nhất định đòi hỏi tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Genève. Thật ra, sau khi hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, ở Lào và ở Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954, nhằm bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhất là điều 7, ghi rằng:
Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Xem bản Pháp văn của tuyên ngôn nầy, vào: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954.)
Chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge trả lời miệng rằng “đồng ý”. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nxb. Nam Á 2002, tr. 2642.) Tất cả bảy phái đoàn đều trả lời miệng chứ không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký.
Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến một cuộc tổng tuyển cử trong tương lai ở Việt Nam, không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành. Một văn kiện quốc tế không có chữ ký thì làm sao có thể bắt buộc phải thi hành? Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị CSVN vi phạm trắng trợn, huống gì là bản tuyên bố không chữ ký.
Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của chính phủ mình.
4.- BẮC VIỆT NAM BỊA ĐẶT LÝ DO ĐỂ TẤN CÔNG MIỀN NAM
Cộng sản BVN vi phạm hiệp định Genève ngay khi hiệp định nầy chưa được ký kết, nhưng lại bịa đặt ra hai lý do để tấn công NVN: 1) Nam Việt Nam không tôn trọng hiệp định Genève về việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 2) Nam Việt Nam là tay sai đế quốc Mỹ nên BVN quyết định chống Mỹ cứu nước.
Về lý do thứ nhứt, như trên đã viết, hiệp định Genève không đề cập đến giải pháp chính trị tương lai cho Việt Nam. Giải pháp tổng tuyển cử nằm trong điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố nầy lại không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, nên chỉ có tính cách khuyến cáo chứ không có tính cách bắt buộc phải thi hành.
Lý do thứ hai hoàn toàn có tính cách tưởng tượng vì sau năm 1954, Hoa Kỳ viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam tái thiết đất nước, ổn định cuộc sống của dân chúng sau chiến tranh, chứ Hoa Kỳ không viện trợ quân sự, chưa đem quân vào Việt Nam.
Nếu để cho VNCH yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn VNCH với nền kinh tế tự do sẽ phát triển và vượt xa VNDCCH với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản. Đó chính là điều mà VNDCCH thực sự lo lắng.
Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho NVN chẳng những khiến BVN rất quan ngại, mà sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại NVN còn khiến cho cả Trung Cộng chẳng yên tâm.
Lúc đó, Hoa Kỳ đang giúp Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ Đài Loan (Taiwan), chống Trung Cộng. Hoa Kỳ còn giúp bảo vệ Nam Triều Tiên và Nhật Bản, nên Trung Cộng mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ chẳng những tại Đông Á, mà còn chống Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ. Nay người Hoa Kỳ lại có mặt ở NVN, gần sát với Trung Cộng, nên Trung Cộng rất quan ngại cho an ninh phía nam của chính Trung Cộng.
Hơn nữa, cho đến năm 1960 là năm BVN khởi động chiến tranh tấn công NVN, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế cho NVN chứ Hoa Kỳ không đem quân vào NVN. Chỉ sau khi BVN tấn công và uy hiếp mạnh mẽ NVN, Hoa Kỳ mới đem quân vào giúp NVN năm 1965. Vì vậy, chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” năm 1960 là hoàn toàn hoang tưởng.
Như thế, BVN cố tình đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” vừa để kêu gọi lòng yêu nước của người Việt Nam vốn có tinh thần chống ngoại xâm, vừa để xin viện trợ cộng sản quốc tế và thi hành nghĩa vụ quốc tế, như LêDuẫn đã từng nói “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô”. (Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991-2000, trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 24-1-2013.)
KẾT LUẬN
Hiệp định Genève là hiệp định đình chỉ quân sự. Chính thể QGVN hay VNCH tức NVN đã thi hành đúng hiệp định Genève, trong khi VNDCCH tức BVN liên tục vi phạm hiệp định nầy. Do tham vọng quyền lực, do chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản và do làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, VNDCCH tức BVN mở cuộc chiến từ năm 1960, tấn công Việt Nam Cộng Hoà tức NVN dưới chiêu bài thống nhất đất nước và chống Mỹ cứu nước.
Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève, xin ôn lại điều nầy để giới trẻ trong và ngoài nước thấy rõ nguyên nhân của cuộc chiến 1960-1975, làm cho đất nước điêu tàn và khoảng 3 triệu người Việt tử vong, xuất phát từ VNDCCH hay BVN do đảng Lao Động hay đảng Cộng Sản Việt Nam điều khiển.
Điều nầy càng làm sáng tỏ chính nghĩa của VNCH, cương quyết chống lại CSBVN, bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại sự xâm lăng của cộng sản và sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Dầu thất bại, chính nghĩa tự do dân chủ của VNCH vẫn luôn luôn sáng ngời và luôn luôn là mục tiêu tối hậu mà nhân dân Việt Nam hiện đang cố gắng vươn tới.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 20-7-2014)

Chim khôn ăn trái Nhãn lồng

Câu tục ngữ “Chim khôn ăn trái nhãn lồng” không biết có tự bao giờ. Có lẽ từ lâu lắm rồi. Vì nó đã trở thành lời của một làn hát chèo cổ. 

Những người nay đã ở vào tuổi “xưa nay hiếm” ai mà chẳng nhớ bài học thuộc lòng hồi học lớp Đồng ấu trước Cách mạng tháng 8: “ Tháng giêng là tháng ăn chơi, Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè, Tháng tư đong đậu nấu chè, Ăn tết Đoan ngọ trở về tháng năm, Tháng sáu buôn nhãn bán trăm....”.
Mùa xuân nhãn ra hoa. Một màu vàng nhạt bạt ngàn càng góp phần rực rỡ cho tấm áo khoác muôn màu của chúa Xuân. Tháng sáu cuối hè là mùa nhãn.
Năm nay, tháng sáu âm lịch là tháng bảy dương. Mùa nhãn là mùa gió bão. Nhìn nhãn sai quả, người nông dân không vui mà còn lo ngay ngáy. Kinh nghiệm từ bao đời; nhãn được mùa, nước to. Cảnh vỡ đê, đồng trắng nước trong, cả nhà bỏ quê quán, bồng bế nhau đi cầu thực..... thật khủng khiếp, đáng sợ. Nay thì không bao giờ còn cảnh ấy xảy ra nữa!
Đất nước ta ở miền nào cũng có nhãn. Miền bắc nổi tiếng là nhãn lồng Hưng Yên. Cây nhãn tổ có tuổi hàng trăm năm vẫn cho quả ngọt. Miền Trung Thừa Thiên-  Huế có nhãn Lương Quế, Nguyệt Biểu. Miền Nam các tỉnh Vĩnh Long, Tiền Giang, Cần Thơ có nhãn tiêu da bò cùi dày, hạt nhỏ, mọng nước ngọt sắc như đường phèn.
Thông thường thì nhãn ăn tươi. Nhãn còn có thể chế biến thành nhãn khô, đóng hộp. Thừa Thiên - Huế có chè hạt sen bọc cùi Nhãn là món ăn rất hấp dẫn. Không những hấp dẫn người trong nước mà còn hấp dẫn cả khách du lịch người nước ngoài.
Nhãn ăn ngon, lại là vị thuốc quí, ấy là “Long nhãn”. Theo y học cổ truyền, “Long nhãn” vị ngọt, tính bình, bổ tâm, bổ tỳ...là vị thuốc chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ, an thần, hồi hộp, sợ hãi, hoảng hốt, các bệnh về thận, tim, phổi, ho, trĩ...cũng là thuốc bổ nâng cao sức khoẻ rất tốt cho mọi người. Đặc biệt là đối với người vừa ốm dậy hoặc làm việc quá sức cả về trí óc, chân tay. Thang thuốc bổ Đông y thường không thể thiếu được Long nhãn.
 
Một thang thuốc của Trung Quốc sau đây chữa cho các bệnh kể trên :
Long nhãn                120g
Lá Dâu                         80g
Đậu ván trắng             80g
Củ Mài                          80g
Hạt Sen                      120g
(Lá Dâu, Đậu ván trắng, củ Mài, hạt Sen đem sao vàng, tán nhỏ). Cho vào nồi, đổ 2 bát nước sắc còn 1, chia làm hai phần uống trong ngày sáng và chiều trước bữa cơm. Dùng cho đến khi khoẻ thì dừng.
 
Long nhãn nấu cao đặc trộn với bột nếp làm thành viên, uống vào sau hai bữa ăn hàng ngày, là thuốc bồi bổ sức khoẻ rất tốt. Cũng có thể hoà thêm mật ong (loại thật) để bột vừa dẻo, vừa khỏi dính tay. Đơn giản chỉ dùng Long nhãn không thôi sắc uống hàng ngày cũng rất tốt. Uống liên tục mấy tuần liền trước khi đi ngủ vừa bổ vừa chống được các bệnh nói trên. Một điều đặc biệc là Long nhãn không hề có độc tố.
Về thành phần, cứ 100g cùi Nhãn thì có 86,3g nước; 0,9g Prôtit; 11g Gluxit; 1g Xenlulo. Ngoài ra còn có nhiều muối khoáng và rất giầu Vitamin C. Cùi nhãn khi được chế biến thành Long nhãn thì còn chứa 0,85% nước, trên 80% các chất tan trong nước gồm: Glucoza (26,9%); Saccaroza (0,27%); Axit tartric (1,26%), chất có Nitơ (6, 30%).
   Hiện nay Nhãn của Việt Nam đang là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Nhiều địa phương đã trồng Nhãn thay cây lúa có thu nhập cao hơn nhiều lần góp phần xoá đói giảm nghèo có hiệu quả, đời sống nông dân nhờ có Nhãn ngày một nâng cao. Nhiều gia đình nông dân đã giàu lên rõ rệt... con cái được học hành đến nơi đến chốn. Họ không nhìn Nhãn được mùa mà lo đồng trắng nước trong nữa.
Nhiều gia đình nông dân đã biết xây lò sấy để bào chế Long nhãn. Kể ra cũng đơn giản. Quả Nhãn thu hoạch về, cứ thế nhúng vào nước sôi hai phút rồi cho vào lò sấy. Đến khi quả Nhãn khô vừa phải, lắc thấy kêu lóc cóc thì bóc vỏ, tách lấy cùi bỏ hạt đi rồi lại tiếp tục cho sấy đến khi cầm không thấy dính tay là được. Nhiệt độ sấy luôn giữ ở 50 - 60 độ C .
   Lại một năm Nhãn được mùa. Bây giờ làm gì còn có cảnh nhìn Nhãn sai quả mà phải lo ... đồng trắng nước trong !
 
Phó Đức An_ CTQ số 06

Lý Quang Diệu viết về vấn đề năng lượng và biến đổi khí hậu


Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “Engergy & Climate Change: Prepare for the Worst”, in L.K. Yew, One Man’s View of the World (Singapore: Straits Times Press), pp. 280-293.
Biên dịch: Nguyễn Quế Phương | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Bài liên quan: Các phần khác của cuốn One Man’s View of the World 
Tôi tin rằng trái đất đang dần nóng lên do chính những hoạt động của con người. Điều này xem ra cũng nhận được sự nhất trí rộng rãi của các nhà khoa học đang nghiên cứu về vấn đề trên.
Có nhiều quan điểm bất đồng, bao gồm quan điểm cho rằng sự gia tăng nhiệt độ có thể là một phần chu kỳ bình thường mà trái đất thi thoảng trải qua trong quãng thời gian 4,5 tỉ năm của nó và vì thế không liên quan gì đến sự phát thải khí cacbon của con người. Nếu điều này đúng, chúng ta không nên làm gì cả ngoại trừ ngồi yên và chờ đợi nhiệt độ giảm xuống khi chu kỳ này dần qua. Nhưng xét cho công bằng, tôi tin có bằng chứng thuyết phục cho thấy không có gì là “bình thường” với những gì chúng ta đang gặp phải ngày nay. Sự nóng lên đang diễn ra quá nhanh chóng. Những tảng băng đang tan chảy trước mắt chúng ta. Đường bờ biển phía Bắc Canada, Alaska và Nga trước đây bị chặn bởi băng, bây giờ đang được mở ra để phát triển giao thông hàng hải trong những tháng hè. Điều này chưa từng xảy ra trước đây.
Biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu đe dọa sự tồn tại của con người. Nó đòi hỏi chính phủ các nước phải cùng nhau hành động để cắt giảm tổng lượng khí thải một cách đáng kể. Thật đáng tiếc là dường như việc này sẽ không được thực hiện. Năm 2009, Hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc ở Copenhagen (Thủ đô Đan Mạch) đã kết thúc mà không đạt được một thoả thuận ràng buộc nào mặc dù đã tụ họp các nhà lãnh đạo của tất cả những quốc gia quan trọng. Các hội nghị tiếp theo cũng không đạt được kết quả ngoạn mục, và tôi cũng sẽ không nín thở chờ những hội nghị trong tương lai đạt được kết quả như vậy.
Cốt lõi của vấn đề được nhận thấy là sự đánh đổi không thể tránh khỏi giữa việc cắt giảm lượng khí thải và phát triển nền kinh tế. Khi một chính phủ ngồi vào bàn đàm phán, họ biết rằng họ không thể đi quá xa sự chấp thuận của người dân trong nước nếu đưa ra những sự nhượng bộ. Nếu (sự nhượng bộ) gây nên những thiệt hại cho thu nhập và việc làm quá mức không thể chấp nhận được thì họ sẽ có nguy cơ bị thất cử.
Một vài xã hội cảm thấy lo lắng hơn về tác động của sự nóng lên toàn cầu và sẵn sàng trả bất cứ giá nào cho sự xanh sạch của môi trường. Những người Châu Âu có khuynh hướng rơi vào nhóm này. Tôi đã sống ở Anh trong 4 năm ngay sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Nó có khí hậu tương đối ôn hòa và dễ dự đoán, tương tự như ở Châu Âu lục địa. Thế nhưng điều đó đã thay đổi. Từ Địa Trung Hải tới Bắc Âu, những người dân từng quen thuộc với khí hậu ôn hòa giờ đây phải đối mặt với lũ lụt, lốc bão và những đợt nắng nóng làm chết người và phá hoại tài sản. Người Châu Âu vì vậy đã cảm nhận được sự cấp bách trong việc giải quyết vấn đề trên.
Người Mỹ có truyền thống ít bị đe dọa bởi thời tiết xấu. Họ đã luôn luôn đối mặt với những cơn lốc xoáy và bão, dù số lượng có gia tăng trong những năm gần đây. Nhưng đó không phải là vấn đề lớn đối với họ: Bạn chỉ cần tuyên bố đó là khu vực thảm họa, sau đó các nguồn lực của liên bang được đưa đến để cứu trợ, các công ty bảo hiểm sẽ trả tiền và bạn mua một căn nhà mới. Có thể nhận thấy rõ ràng rằng Mỹ sẽ tiếp tục không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto. Tổng thống Barack Obama đã tuyên bố rằng biến đổi khí hậu là một ưu tiên hàng đầu nhưng chính quyền của ông không thúc đẩy việc ban hành một đạo luật toàn diện về biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, tôi nhận thấy người Mỹ đang bắt đầu từ từ nhận ra vấn đề. Chắc hẳn sẽ mất một thời gian dài để họ đạt được lập trường như Châu Âu hiện giờ, nhưng họ đang dịch chuyển dần theo hướng đó. Các cuộc cách mạng khí đá phiến(shale gas – khí gas kẹt giữa những phiến đá ngầm dưới lòng đất – NHĐ) ở Mỹ đang khích lệ sự chuyển hướng khỏi than đá vốn là nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm nhất. Người Mỹ là một trong những nguồn tiêu thụ năng lượng lớn nhất trên thế giới và điều đó đặt kỳ vọng rất nhiều trên vai họ. Họ phải đi đầu nêu gương.
Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế đang nổi lên khác đã đưa ra lời biện minh rằng lượng khí thải họ đang chịu trách nhiệm thật sự là thấp hơn so với các nước công nghiệp phát triển nếu tính bình quân theo đầu người thay vì tính trên cơ sở toàn quốc gia. Họ cũng khao khát tăng trưởng, và chỉ ra rằng có điều gì đó không trung thực ở các nước giàu vốn đã đạt đến mức độ phát triển hiện tại của họ dù theo các biện pháp làm hại đến môi trường nhưng bây giờ lại tìm cách áp đặt các mục tiêu xử lý khí thải nặng nề lên những nước đang cố gắng bắt kịp họ. Nhiều tình trạng ô nhiễm đến thời điểm hiện tại đã được tích tụ thông qua các hoạt động của những nước phát triển, không phải những nước đang phát triển như họ nêu ra. Do các lập trường này, tôi cũng không hy vọng gì về việc vấn đề này sẽ được giải quyết.
Tình trạng ngày càng tồi tệ hơn khi dân số toàn thế giới tiếp tục gia tăng đều đặn. Nó vượt quá 7 tỷ người trong năm 2012 và dự kiến sẽ đạt đến 9 tỷ vào năm 2050. Mặc dù đúng là tiến bộ công nghệ có thể nâng cao năng lực sản xuất thực phẩm và khả năng cung cấp chỗ ở cho nhiều người hơn trong những không gian nhỏ gọn, nhưng tới một thời điểm nào đó, chúng ta chắc chắn sẽ đi đến giới hạn. Trái Đất chỉ có thể chứa nhiều người nếu không có thiệt hại nghiêm trọng nào cho môi trường sống và đa dạng sinh học. Làm thế nào chúng ta có thể chấm dứt sự gia tăng dân số này? Theo tôi, chìa khóa nằm trong việc giáo dục phụ nữ, điều khiến họ muốn sinh ít con cái hơn. Càng sớm làm được điều này, chúng ta sẽ càng sớm có một thế giới ít đông đúc hơn.
Vậy điều gì cần được thực hiện trong lúc này?
Thứ nhất, sẽ là lựa chọn khôn ngoan hơn cho các nước nếu họ dành nhiều thời gian và sức lực để chuẩn bị cho các thảm họa của con người có thể xảy ra trong vài thập kỉ tới, thay vì khiến cho các nước khác phải cắt giảm lượng khí thải. Đã có kế hoạch nào để đối phó với sự gia tăng mực nước biển, thời tiết ngày càng khắc nghiệt, thức ăn và nước uống khan hiếm dần, và các vấn đề khác hay chưa? Ví dụ, nếu các sông băng ở Trung Á và Trung Quốc tan chảy, các thành phố ở hạ lưu có thể đầu tiên sẽ phải hứng chịu lũ lụt, sau đó là hạn hán vì nguồn cung cấp nước cạn kiệt khi không còn băng để tan chảy nữa. Các lưu vực sông sẽ không còn khả năng cung cấp nơi ở cho nhiều người.
Hơn nữa, khi mực nước biển tăng lên, con người sống ở những vùng trũng thấp sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc chuyển đi. Một nghiên cứu cho thấy một mét mực nước biển tăng lên có thể khiến 145 triệu người toàn cầu phải chuyển chỗ ở và làm ô nhiễm nguồn nước uống của hàng triệu người nữa. Những dải đất rộng lớn – thực tế là là toàn bộ diện tích của nhiều thành phố – có thể bị nhấn chìm dưới nước. Kế sinh nhai sẽ bị đe dọa, vì trong nhiều trường hợp, di chuyển tới địa thế cao hơn sẽ liên quan tới việc từ bỏ đất phù sa mà con người cần để trồng trọt.
Các nước giàu hơn sẽ tìm ra cách để đối phó với điều này. Ví dụ như ở Luân Đôn đã có Đập chắn sông Thames, vì thế nước có thể bị chặn lại khi thủy triều dâng cao. Và sẽ không quá khó khăn trong việc nâng các đập chắn lên cao hơn nữa. Nhưng đối với các thành phố nằm cạnh bờ biển, hay các hòn đảo như Singapore và Maldives, các giải pháp cho vấn đề này sẽ không đơn giản như vậy. Di cư trong phạm vi một quốc gia cũng gây ra ít vấn đề hơn di cư qua biên giới. Ví dụ, nếu các khu vực ven biển của Trung Quốc bị ảnh hưởng, người dân có quyền lựa chọn di chuyển vào trong nội địa. Sẽ có những hậu quả về mặt kinh tế, nhưng hậu quả chính trị thì ít nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp của Bangladesh, nơi có nhiều vùng trũng thấp, con người có thể buộc phải di chuyển đến Ấn Độ. Các đường biên giới dài và dễ xâm nhập có nghĩa là không phải lúc nào nó cũng có thể ngăn cản họ vượt biên. Dẫu gì đi nữa, bạn cũng không thể ngăn được dòng người khi họ đang cố chạy thoát để cứu lấy mạng sống của mình. Những hệ lụy vì vậy là rất lớn. Nếu có quá đông người di cư, nguy cơ xung đột sẽ tăng đáng kể.
Thứ hai, điều đáng chú ý là một số hành động có thể khả dĩ bất chấp sự do dự tại các cuộc hội nghị quốc tế bởi vì bảo vệ môi trường không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc xem trọng lợi ích của các quốc gia khác mà làm tổn hại mình. Làm giảm sự ô nhiễm giúp cải thiện môi trường địa phương và cuộc sống của những người dân bình thường trong đất nước của bạn. Cắt giảm lượng cacbon thải ra cũng là đúng đắn về mặt kinh tế trong một vài trường hợp, nhất là khi việc thải khí bắt nguồn từ việc năng lượng được sử dụng không hiệu quả hoặc lãng phí. Người Nhật bỏ ra nhiều thời gian nghiên cứu làm thế nào họ có thể giảm thiểu lượng năng lượng dùng cho việc chế tạo từng sản phẩm vì họ hiểu rằng điều này sẽ chuyển thành tiết kiệm chi phí như thế nào. Một ví dụ khác là trợ cấp nhiên liệu. Khi bạn trợ cấp, chắc chắn là người ta sẽ có xu hướng tiêu thụ nhiều hơn mức tối ưu. Đó là sự lãng phí. Việc xóa bỏ trợ cấp vàthậm chí đánh thuế sử dụng nhiên liệu để phản ánh chi phí thực sự của nó với toàn xã hội do vậysẽ là điều đúng đắn phải làm về cả mặt kinh tế lẫn lợi ích môi trường.
Chính vì những lý do này, nhiều quốc gia đã hành động đơn phương. Điều này giải thích cho việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường ở Trung Quốc. Họ biết rằng nếu họ tiếp tục sản xuất ở mức hiệu suất năng lượng như hiện tại, họ sẽ không bao giờ chạm được mức GDP bình quân đầu người của Mỹ bởi vì đơn giản là không có nhiều năng lượng có sẵn cho họ. Hơn nữa, họ có thể thấy rằng người dân đang chịu thiệt hại từ ô nhiễm không khí và nguồn nước, và môi trường của họ đang thay đổi theo những chiều hướng khủng khiếp. Các bệnh lý hô hấp đang tăng dần. Bão cát trở nên thường xuyên hơn. Các sông băng ở cao nguyên Tây Tạng đang rút xuống mỗi năm. Trong thời gian diễn ra Thế vận hội mùa hè năm 2008, họ đã giảm một nửa lượng xe trên đường và cho ngừng hoạt động một số nhà máy xung quanh – và kết quả đã quá rõ ràng. Khi con người nhận thấy những gì là có thể thì theo thời gian, khi chất lượng cuộc sống tăng lên, chính phủ sẽ phải hành động dưới nhiều áp lực để tạo nên những thay đổi cần thiết cho việc cải thiện môi trường.
Ấn Độ có thể mất thời gian dài hơn một chút để phát triển một phong trào môi trường xanh vì nước này ít đô thị hóa và công nghiệp hóa hơn so với Trung Quốc và họ cũng gặp ít vấn đề về môi trường hơn – nhưng họ không ở phía sau quá xa. Tuy nhiên đối với mỗi quốc gia, người dân sẽ nhận ra vấn đề khi họ nhìn thấy được những hậu quả của hiện tượng nóng lên toàn cầu và cảm nhận được mối đe dọa thật sự lên cuộc sống của họ – cũng giống như ở Châu Âu vậy. Điều này cũng chỉ là một vấn đề về mặt lý thuyết cho đến khi nó tấn công bạn.
Trong khi đó, các phát triển trong ngành năng lượng có thể giúp chúng có thêm chút ít thời gian. Công nghệ mới cho phép khai thác khí đá phiến đã khai phá ra những nguồn dự trữ khổng lồ tại Mỹ và các nơi khác. Điều này đã được mô tả một cách chính xác như là một cuộc cách mạng và đã thay đổi đáng kể cuộc chơi trên nhiều phương diện.
Khí đá phiến là một dạng năng lượng sạch hơn than đá, và có thể giúp giảm tổng lượng khí thải một cách đáng kể. Tổng trữ lượng năng lượng hóa thạch trên thế giới cũng đã được tăng lên (đủ dùng cho) thêm vài thập kỷ, thậm chí có thể lâu hơn nữa. Đặc biệt, khí đá phiến hứa hẹn sẽ làm cho Bắc Mỹ có một nguồn năng lượng độc lập – một thành tích chưa từng có. Các cảng và trạm tiếp nhận khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) được xây dựng ở Mỹ nhằm chuẩn bị cho nhu cầu nhập khẩu sẽ được chuyển sang dùng cho xuất khẩu. Khí đá phiến sẽ không thể thay thế dầu ở tất cả các lĩnh vực. Ví dụ như bạn vẫn sẽ cần dầu cho máy bay. Nhưng nhu cầu sử dụng dầu sẽ giảm đi một phần nào đó do một số sẽ chuyển sang khí đá phiến. Kết quả là, Trung Đông sẽ không còn giữ vai trò sản xuất dầu quan trọng nữa và mất đi quyền lực. Mối đe dọa giá dầu leo thang gây nên suy thoái kinh tế toàn cầu mà thế giới đã phải đối mặt rất nhiều lần trong quá khứ ngày nay đã giảm đi nhiều.
Thế nhưng, các nhóm về môi trường có vẻ như không khích lệ. Họ muốn thế giới phải tự chấm dứt sử dụng năng lượng hóa thạch và phát triển các nguồn năng lượng tái tạo để thế chỗ cho nó. Tuy nhiên, tôi không tin có bất kì nước nào có thể phụ thuộc trên thực tế vào các nguồn năng lượng tái tạo để đáp ứng tất cả hoặc phần lớn các nhu cầu năng lượng của mình. Có những lĩnh vực mà mà dầu mỏ sẽ tiếp tục là nhiên liệu cần thiết trong thời gian dài – ví dụ như vận chuyển bằng đường hàng không và đường bộ. Bạn có thể chuyển sang xe điện, nhưng sẽ không thể làm được như vậy nếu bạn phải đi một quãng đường xa và đương nhiên là không thể đối với xe tải vốn phải chuyên chở một lượng hàng nặng.
Tôi tham gia ban tư vấn quốc tế của Total, một công ty dầu khí Pháp. Công ty thực hiện một đánh giá thường xuyên về các nguồn năng lượng thay thế như gió, năng lượng mặt trời, thủy điện và các nguồn năng lượng khác. Kết luận ở mỗi lần là như nhau: Trong khi các khu vực trên thế giới có thể thấy rằng họ có những điều kiện thuận lợi để tận dụng một nguồn năng lượng thay thế đặc thù thì sự đóng góp tổng thể cũng không đáng kể. Các nguồn năng lượng này có thể đóng một vai trò bổ sung, nhưng chúng sẽ không bao giờ có thể thay thế các nguồn năng lượng truyền thống bởi vì chúng quá ít và cũng không chắc chắn.
Vài năm trước đây, một người bạn của tôi từ Trung Quốc đã nói cho tôi nghe về việc sử dụng ngày càng phổ biến những tấm pin năng lượng mặt trời trong những gia đình ở Trung Quốc, đặc biệt là dùng làm nóng nước tắm. Tôi đã gửi một bức thư tới Bộ Tài nguyên Nước và Môi trường để hỏi tại sao Singapore không xem xét việc mua các tấm pin này từ Trung Quốc nếu thực sự chúng đã có sẵn với giá rẻ. Câu trả lời tôi nhận được là công nghệ chưa đạt hiệu quả kinh tế. Trung Quốc đã trợ cấp cho các tấm pin và chi nhiều tiền cho việc nghiên cứu chúng vì họ đã xác định mục tiêu cuối cùng sẽ trở thành quốc gia đi đầu thế giới trong sản xuất (các tấm pin này). Là một nước lớn, họ có đủ khả năng làm điều đó. Ngược lại, Singapore phải chờ giá giảm xuống – chúng ta phải tuân theo kết quả phân tích lợi ích – chi phí.
Như vậy chúng ta chỉ còn lựa chọn năng lượng hạt nhân, một nguồn thay thế dầu khí mà không làm trái đất nóng lên. Sau sự cố Fukushima ở Nhật, một số nước, trong đó có Đức, đã quyết định hoặc là đóng cửa các nhà máy hoặc là hoãn kế hoạch xây dựng các nhà máy mới. Những nước khác như Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn tiếp tục với kế hoạch của mình. Bản thân Nhật Bản dường như đã đưa ra quyết định thiết thực là vẫn tiếp tục ngành năng lượng hạt nhân. Trong thế giới lý tưởng, tất cả đều muốn trở thành các quốc gia phi hạt nhân bởi vì các rủi ro đi kèm và các vấn đề chưa được giải quyết liên quan đến xử lý chất thải phóng xạ. Nhưng trong thực tế, quyền lựa chọn của chúng ta là rất hạn chế. Về lâu dài, tôi tin rằng nhiều nước sẽ từ từ bắt đầu nhận thấy năng lượng hạt nhân hấp dẫn hơn. Cuộc cách mạng khí đá phiến có thể đã làm chậm việc này, nhưng thị phần của năng lượng hạt nhân trong tổng sản lượng điện của thế giới nhiều khả năng sẽ gia tăng.
Rốt cuộc, tất cả các nước phải công nhận rằng những gì thế giới có thể chống đỡ được là có giới hạn. Chúng ta phải sống trong những giới hạn đó để có một cuộc sống thoải mái. Chúng ta cùng sống trên một hành tinh và số phận của chúng ta gắn bó cùng nhau. Việc ai là người chiến thắng trong các cuộc tranh luận không mấy quan trọng. Nếu thế giới này bị phá hủy, tất cả chúng ta sẽ gặp rắc rối nghiêm trọng như nhau. Tất nhiên, vào thời điểm mà những hậu quả hủy diệt ghê gớm nhất của việc nóng lên toàn cầu được biểu hiện – có khi khoảng từ 50 tới 150 năm nữa tính từ bây giờ – tôi cũng như nhiều người hôm nay sẽ không còn sống vào thời điểm đó nữa. Tuy nhiên, chúng ta có trách nhiệm đối với con cháu trong việc trao cho chúng một thế giới tràn đầy hy vọng và sức sống, như thế giới chúng ta đã được nhận.
Hỏi – Đáp
….
Download toàn bộ văn bản tại đây: Ly Quang Dieu ve nang luong va bien doi khi hau.pdf

Người Việt không thiếu sức sáng tạo?

GS Nguyễn Văn Tuấn

21-07-2014
Tôi nghĩ phần lớn những người Việt sẽ rất đồng ý với ông thứ trưởng này khi ông nói “Người Việt Nam chúng ta vốn có tính sáng tạo và trong lĩnh vực CNTT, các nhà phát triển Việt Nam không thiếu sức sáng tạo” (1). Người ta có thể minh chứng câu đó bằng cách đem những giải thưởng Olympic hay gì đó để cho thấy người Việt rất thông minh và sáng tạo. Trong thực tế và ở mức độ cá nhân thì quả thật người Việt chúng ta cũng chẳng kém ai. Ông Lý Quang Diệu cũng có nhận xét như thế.
Nhưng người bình tĩnh sẽ nhìn vào bức tranh chung thay vì vài trường hợp “gà chọi” (mà nước nào cũng có). Bức tranh chung thì VN không sáng tạo hơn ai, thậm chí còn kém hơn các nước khác. Chẳng hạn như theo World Bank, chỉ số tri thức (knowledge index, đo lường khả năng sáng tạo, tiếp thu, và quảng bá tri thức mới) thì VN có chỉ số 3.60, thấp hơn Thái Lan (5.25), Mã Lai (6.25), Phi Luật Tân (3.81), Singapore (7.79). Còn chỉ số về innovation thì VN cũng có chỉ số thấp (2.75), so với Thái Lan (5.95), Mã Lai (6.91), Phi Luật Tân (3.77), Singapore (9.49). Nói chung, bất cứ chỉ số tri thức và sáng tạo nào thì VN vẫn thấp hơn các nước trong vùng.
Những quan chức thì có thể nói tại vì chúng tôi chưa có điều kiện nên chưa phát huy được tính sáng tạo. Nhưng người ngoài thì họ DON’T CARE (chẳng quan tâm) điều kiện, họ chỉ nhìn cái kết quả sau cùng. Tại sao người của anh ở nước anh thì chẳng làm được gì, nhưng khi ra ngoài thì rất khá, có phải tại vì anh tồi dở. Anh làm ăn như thế nào, tạo điều kiện ra sao, mà cả một dân tộc có chỉ số sáng tạo thấp nhất trong vùng. Còn nếu anh nói vì lí do XYZ và ABC, thì người ta sẽ nói đó là vấn đề của anh, nói với tôi làm gì, anh bất tài thì anh ráng chịu chứ than thân trách phận làm gì. Khi người ta đánh giá một quốc gia, người ta nhìn vào tổng thể, chứ không quan tâm đến chi tiết. Một khi tất cả những cơ phận (chi tiết) hoạt động tốt thì điều đó cũng phản ảnh tính sáng tạo của một quốc gia.
—–
(1) http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/186536/nguoi-viet-khong-thieu-suc-sang-tao.html

  • Hiệp Định Genève 1954: bài học gì cho Bộ Chính Trị ĐCSVN ngày nay? (RFA) - Bài viết đánh dấu 60 năm Hiệp Định Genève được soạn thảo với một hi vọng nho nhỏ là chúng ta có thể học được kinh nghiệm của quá khứ đau buồn mà đất nước Việt Nam thân yêu đã phải trải qua. Hiệp Định nầy và hậu quả của nó đã được trình bày từ nhiều quan điểm khác nhau, kể cả tài liệu khá đầy đủ của Bộ Quốc Phòng Mỹ
  • Ukraina : Vì sao đa số phi cơ dân dụng bay qua vùng có chiến sự ? (RFI) - Chủ đề chuyến bay MH17 bị tên lửa bắn hạ tại Ukraina tiếp tục là quan tâm hàng đầu của báo chí Pháp.
    Để máy bay dân sự bay qua vùng có chiến sự tại Ukraina trước khi có lệnh cấm hoàn toàn, đặt cược tính mạng của người dân vào may rủi, các hãng hàng không, chính quyền Kiev, cơ quan hàng không quốc tế, ai phải chịu trách nhiệm chính ? Les Echos cung cấp một số trả lời.
  • Indonesia trước nguy cơ bế tắc chính trị kéo dài (RFI) - Trên nguyên tắc, đô trưởng Jakarta Joko Widodo, biệt danh Jokowi, sẽ được tuyên bố đắc cử tổng thống ngày mai, 22/07/2014 khi ủy ban bầu cử Indonesia thông báo kết quả cuộc bỏ phiếu ngày 09/07 vừa qua.
    Thế nhưng, bế tắc chính trị tại quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới này có nguy cơ kéo dài nhiều tuần nữa.
  • Triển lãm về Yuri Andropov : Nga vẫn tôn thờ những kẻ độc tài (RFI) - Nhiều phim chiếu trên đài truyền hình, một cuộc triển lãm mở cho đến tháng 08/2014, Matxcơva kỷ niệm một cách long trọng sinh nhật thứ 100 của cố lãnh đạo Liên bang Xô Viết, Yuri Andropov, người cũng như đương kim Tổng thống Nga, đã từng lãnh đạo cơ quan KGB.
  • Những yếu tố nguy cơ của ung thư buồng trứng (RFA) - Có khoảng gần ¼ triệu phụ nữ được chẩn đoán bị ung thư buồng trứng mỗi năm trên toàn thế giới. Trong số này, có khoảng 140,000 người tử vong do căn bệnh ung thư quái ác.
  • MH17 : Châu Âu dọa trừng phạt Nga (RFI) - Anh, Pháp, Đức ngày 20/07/2014 đe dọa lban hành các biện pháp trừng phạt mới đối với Nga nếuông Vladimir Putin khôngép phe ly khai tại miền Đông Ukraina hủy bỏ việc phong tỏa khu vực có xác chiếc máy bay của Malaysia Airlines bị tên lửa bắn rơi.
  • Putin hứa giải quyết xung đột tại Ukraina qua đàm phán (RFI) - Ngày 21/07/2014, Tổng thống Vladimir Putin hứa Nga sẽ làm hết khả năng để tạo điều kiện thương lượng, giải quyết cuộc xung đột tại miền Đông Ukraina sau vụ thảm họa máy bay của hãng Malaysia Airlines. Matxcơva yêu cầu bảo đảm an toàn cho các chuyên gia và các nhà điều tra quốc tế tại hiện trường máy bay rơi.
  • MH17: Hội đồng Bảo an sẽ thông qua nghị quyết (RFI) - Theo các nhà ngoại giao tại Liên Hiệp Quốc, chiều ngày 21/07/2014, Hội đồng Bảo an có thể thông qua một nghị quyết yêu cầu phiến quân ly khai thân Nga để cho các nhà điều tra quốc tế tiếp cận một cách tự do và an toàn hiện trường tai nạn máy bay của Malaysia Airlines. Chiếc Boeing mang số hiệu MH17 đã bị trúng tên lửa và rơi ở miền Đông Ukraina ngày 17/07/2014.
  • RIMPAC : Bắc Kinh bảo vệ « quyền dọ thám » (RFI) - Bộ Quốc phòng Trung Quốc, được báo chí Nhà nước Trung Quốc hôm nay 21/07/2014 trích dẫn biện minh cho việc gởi tàu dọ thám đến vùng hải phận quốc tế ngoài khơi Hawai. Đây là nơi diễn ra cuộc tập trận RIMPAC do Hoa Kỳ tổ chức
    . Việc dọ thám này được tiến hành mặc dù Bắc Kinh lần đầu tiên đã cho tàu chiến của mình tham gia cuộc thao diễn Hải quân đa quốc gia thường niên của Mỹ. 
  • Trung Quốc mở chiến dịch chỉnh đốn tư tưởng (RFI) - Truyền thống chính thức Trung Quốc cho hay đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ mở chiến dịch tăng cường giáo dục tư tưởng trong cán bộ, quan chức chính quyền để tránh không bị cám dỗ bởi những giá trị phương Tây và củng cố lý tưởng cộng sản.
  • Bức chân dung đặc biệt (BaoMoi) - Ngày 30-5-2014, tại lễ phát động chương trình "Chung sức bảo vệ chủ quyền Biển Đông của Tổ quốc", khi tiến đến đài lễ nơi đặt bức chân dung Bác Hồ cỡ lớn, mọi người hết sức ngạc nhiên khi nhận thấy bức chân dung này không phải là ảnh chụp mà là tác phẩm thêu thủ công. Bức chân dung thể hiện khá chuẩn xác thần thái, sự đôn hậu, nhân từ, anh minh của vị lãnh tụ tối cao của Đảng và dân tộc ta. Ngắm nhìn bức chân dung đặc biệt này, ai cũng thán phục vì thấy như đang được gần Bác.
  • Hành động đơn phương đi ngược lại những cam kết (BaoMoi) - Ngày 20-7, tờ Youmiuri Shimbun của Nhật Bản có bài bình luận cho rằng, chính những lời chỉ trích dữ dội của cộng đồng quốc tế đã khiến Trung Quốc “không còn lựa chọn nào khác” ngoài việc ngừng các hành động “thay đổi hiện trạng bằng vũ lực”, khi họ chấm dứt hoạt động vi phạm luật pháp quốc tế của giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam. Từ các diễn biến trên, Youmiuri Shimbun cho rằng sự cô lập của Trung Quốc là “không thể nào rõ ràng hơn”.
  • Lịch sử cần được nhìn nhận một cách trung thực (BaoMoi) - QĐND - Trong bài viết với nhan đề “China’s false memory syndrome” (Tạm dịch: Hội chứng ký ức hư cấu của Trung Quốc), đăng trên Tạp chí Prospect của Anh, tác giả B.Hay-tơn (Bill Hayton) khẳng định cả Trung Quốc đã bị “ru ngủ” bởi thông tin sai lệch khi cho rằng, chính người Trung Quốc đã phát hiện và đặt tên cho các đảo ở Biển Đông. Tác giả cũng chỉ ra rằng, chìa khóa cho một tương lai hòa bình ở châu Á chính là phải nhìn nhận lịch sử một cách trung thực. Xin giới thiệu với độc giả nội dung chính bài viết này.
  • Những bằng chứng lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa (BaoMoi) - Từ ngày 15-7 đến 15-8, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức triển lãm chuyên đề "Hoàng Sa, Trường Sa - Chủ quyền Việt Nam" với hơn 300 hình ảnh, tư liệu, hiện vật về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này. Các tư liệu bao gồm: một số châu bản thời Nguyễn, bản đồ cổ Việt Nam do Vua Minh Mạng cho vẽ năm 1838, An Nam Đại quốc họa đồ của giám mục Taberd xuất bản tại phương Tây năm 1838 xác nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, một số bản đồ Trung Quốc xuất bản tại phương Tây thế kỷ 16-20 và Hoàng Triều nhất thống chí dư địa tông đồ do Trung Quốc xuất bản năm 1894 ghi nhận điểm cực nam lãnh thổ Trung Quốc kết thúc ở đảo Hải Nam. Đây là những chứng cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Hoài Phương: Gửi đảo xa (BaoMoi) - (HQ Online)- Ca sĩ Hoài Phương vừa ra mắt album “Gửi đảo xa” để cùng bày tỏ tiếng lòng nghệ sĩ trước những ngày biển Đông nổi sóng.
  • Hội nghị Tuyên truyền biển đảo năm 2014 (BaoMoi) - Chiều 21-7, BĐBP Khánh Hòa và Liên đoàn Lao động TP Nha Trang phối hợp tổ chức Hội nghị tuyên truyền biển đảo năm 2014 cho 100 cán bộ công đoàn cơ sở của 27 xã, phường TP Nha Trang.
  • Ngân hàng Kiên Long tiếp tục ủng hộ lực lượng bảo vệ biển Đông (BaoMoi) - (TNO) Tại Hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2014 diễn ra sáng 21.7, Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long (KienlongBank) phát động mỗi cán bộ, nhân viên của đơn vị này tham gia đóng góp mỗi người một ngày lương ủng hộ lực lượng bảo vệ biển Đông, với số tiền thu được hơn 530 triệu đồng.
  • Trung Quốc quyết dồn Mỹ-Nhật vào chân tường (Kỳ III) (BaoMoi) - (PetroTimes) - Ngày 13/7, tờ Tin tức Quốc phòng (Mỹ) đưa tin, Mỹ đã công bố kế hoạch đóng tàu mới nhất và chi tiết sửa đổi gồm vốn chế tạo tàu ngầm trong tương lai, cho nghỉ hưu và cải tạo hiện đại hóa nửa số tàu tuần dương. Theo đó, tăng 10 tàu chiến (284 tàu so với 274 tàu).
  • PVEP - đơn vị Anh hùng lao động (BaoMoi) - Giữ vai trò đơn vị chủ lực, cốt lõi của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), Tổng công ty Thăm dò Khai thác dầu khí (PVEP) từng bước trưởng thành và gặt hái nhiều thành công, đóng góp quan trọng vào những giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất trong lịch sử ngành dầu khí.
  • Công nghiệp 6 tháng: Sản xuất và tồn kho đều tăng (BaoMoi) - Nhu cầu sản phẩm công nghiệp có xu hướng tăng trở lại trong khi tồn kho vẫn tiếp tục ở mức cao, giá trị gia tăng thấp là những gam màu chính trong bức tranh sản xuất công nghiệp nửa đầu năm 2014.
  • Giao lưu Trại hè Việt Nam “Biển đảo quê hương tôi" (BaoMoi) - Tối 19-7, tại Công viên Biển Đông (TP Đà Nẵng), Chương trình giao lưu Trại hè Việt Nam với chủ đề “Biển đảo quê hương tôi” đã được diễn ra trong không khí đoàn kết, ấm cúng và đậm đà sắc màu dân tộc. Chương trình đã hòa vàokhông khí chung của cả nước hướng về biển đảo thân yêu của Tổ quốc qua các hoạt động của cộng động người Việt Nam ở nước ngoài ủng hộ vật chất và tinh thần cho các lực lượng thực thi pháp luật trên biển và bà con ngư dân bám biển, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
  • Tuổi trẻ kiều bào với biển đảo quê hương (BaoMoi) - (Cadn.com.vn) - ĐÀ NẴNG- Tối 19-7, tại Công viên Biển Đông, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao) phối hợp với UBND TP Đà Nẵng tổ chức Chương trình giao lưu nghệ thuật Trại hè 2014 “Biển đảo quê hương tôi”. Tham dự chương trình có Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, đại diện lãnh đạo TP Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư Vùng 2, đông đảo bà con ngư dân thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt là gần 170 thanh niên, sinh viên kiều bào tham gia trại hè 2014.
  • Độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là yếu tố bất biến (BaoMoi) - TP - Trao đổi với phóng viên Tiền Phong, PGS.TS Phạm Quang Minh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội khẳng định bài học mà Hiệp định Geneva mang lại cho Việt Nam là mục tiêu độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ - yếu tố bất biến trong mọi cuộc đàm phán, đấu tranh ngoại giao.
  • Thời sự qua hình ảnh - 17 tháng 07, 2014 (RFA) - Các nhà báo Hồng Kông trong một báo cáo ngày 06 tháng 7 năm 2014 cho biết trong năm qua là những ngày đen tối nhất cho nền tự do báo chí ở Hong Kong

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét