Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, ngày 04 tháng 7 năm 2014

Đã Đến Lúc Hoa Kỳ Phải Cứng Rắn với Việt Nam

Dương Thu Hương - Sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân

Vốn thích nhạc không lời nhưng đôi khi tôi vẫn nhớ về một câu hát cũ, “Anh ở đầu sông, em cuối sông. Chung nhau dòng nước Vàm Cỏ Đông…” Lãng mạn sao, những cặp tình nhân cùng uống chung một dòng nước. Và hạnh phúc thay những kẻ có thể sống cả đời bên một con sông êm đềm, qua những mùa lúa chín không tiếng súng, những trưa hè có thể nép mình dưới bóng các rặng cây. Nhưng đó là chuyện cổ tích.

Lịch sử cận đại của người Việt Nam đã diễn ra trong khói bom và tiếng nổ của đạn pháo. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ chia cắt đến tận lòng sâu của mỗi gia đình. Sự nhầm lẫn, cự bất khả tri không chỉ xẩy ra giữa hai nền văn hoá Đông-Tây mà còn xẩy ra ngay giữa lòng dân tộc Việt, giữa các thành viên trong một gia đình, một dòng họ, giữa miền Bắc và miền Nam, giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc, giữa người trong nước và những người sống ngoài biên giới… Tóm lại, những người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông. Những con sông thiếu vắng những cây cầu.
 
http://1.bp.blogspot.com/-cdGd0OgQkd8/UR3N-HGpFiI/AAAAAAAAAsM/1LlX4l66DgE/s1600/DTH.jpg
NV. Dương Thu Hương
Khoảng cách giữa người với người có thể còn dài rộng hơn sông, sâu hơn vực thẳm, thế nên, dù trên địa hạt văn chương, tôi coi Albert Camus cao hơn hẳn Jean Paul Sartre, tôi vẫn phải công nhận câu nói nổi tiếng của Sartre là một nghiệm sinh có tính nhân loại, “Tha nhân là địa ngục của ta.”

Đây là kinh nghiệm của chính tôi.

Năm 1994, tôi sang Pháp lần đầu, được một nhóm “Việt kiều yêu nước” đón tiếp. Có lẽ tên ấy được đặt ra khi nhóm này tham gia vào phong trào chống chiến tranh và người cầm đầu nhóm ấy đã từng là phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ trong các hội nghị đàm phán hưu chiến ở Paris. Khoảng năm 1990, cũng nhóm này đứng lên lấy chữ ký của Việt kiều trí thức ở Mỹ, Đức, Úc và Pháp trong bản kiến nghị yêu cầu nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam mở rộng dân chủ. Sau bản kiến nghị ấy, họ bị cấm về nước một thời gian khá dài, thậm chí còn bị gọi là “các phần tử phản động”.

Như thế, phải hiểu là giữa nhóm Việt kiều này với tôi có chung mục đích tranh đấu cho quyền sống của người dân Việt Nam. Có lẽ cũng vì lý do ấy, họ đón tôi, ít nhất đấy là điều tôi nghĩ. Cuộc đón tiếp diễn ra nồng nhiệt, dường như mang mầu sắc bạn hữu. Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau, tôi nhận thấy giữa họ với tôi có rất nhiều điểm bất đồng, đặc biệt là sự nhìn nhận về cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Tôi tự nhủ,
“Người ta sống trên đời, thường tụ thành bè, còn bạn là thứ quý hiếm, nó còn quý hiếm hơn tình yêu vì không có bệ đỡ tình dục. Tình bạn đòi hỏi một sự cảm thông sâu sắc, những phẩm chất tương đồng, và cơ duyên để có thể cùng nhìn về một hướng, cùng đi theo một ngả. Vì lẽ đó, tình bạn không thể có được một cách dễ dãi. Không có thứ tình cảm nào không cần thử thách, cho dù là tình yêu, tình bạn hay tình đồng đội, tất thảy đều cần phải nung qua lửa mới biết vàng thau”.

Nghĩ thế, tôi chọn thái độ im lặng, lảng tránh các cuộc tranh cãi, vì nếu không là bạn, hà tất phí nước bọt để đôi co?

Tôi biết rõ rằng, đối với nhóm Việt kiều này cuộc chiến tranh chống Mỹ là cần thiết, là niềm kiêu hãnh, là đài vinh quang của dân tộc Việt Nam. Đối với tôi, đó là sự nhầm lẫn lớn nhất trong lịch sử, là cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất, tàn khốc nhất đã xảy ra trong một tình thế đen trắng lẫn lộn, các khái niệm bị đánh tráo, kẻ tham gia cuộc chiến ở phía Bắc nhầm lẫn do trói buộc bởi ngôn từ, kẻ tham chiến ở phương Nam bị cuốn vào dòng chảy của cuộc Chiến tranh Lạnh, và cả hai bên đều bị đặt vào thế đã rồi.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ là bài học đau đớn nhất, nhục nhã nhất cho dân tộc Việt Nam, mà kẻ chịu trách nhiệm không chỉ là người Mỹ mà còn là chính những người lãnh đạo cộng sản phía Bắc. Trong cuộc chiến tranh ấy, dân tộc Việt tự biến mình thành vật đệm giữa hai toa tầu, là đám lính đánh thuê cho hai hệ thống tư tưởng trái chiều đang tiến hành cuộc chiến tranh Lạnh. Trong suốt một thập kỷ, nước Việt Nam đã thực sự biến thành cái cối xay thịt khổng lồ nhất trong lịch sử của toàn thể loài người. Vì lẽ ấy, theo tôi, cả người thắng lẫn người thua phải biết sám hối, và nếu muốn lật trang cho lịch sử đất nước, trước hết kẻ thắng phải biết câm mồm lại đừng huyênh hoang nữa; còn kẻ thua cũng phải biết câm mồm lại, thôi chửi rủa, cả hai phía không nên tiếp tục đào bới cái thây ma lên mà ngửi. Nếu không đủ can đảm nhìn nhận vấn đề như nó vốn thế, họ chỉ còn là đám thú rừng bị lọt xuống một cái bẫy của lịch sử và không bao giờ có thể nhẩy lên khỏi hố sâu.

Năm 2005, tôi trở lại Pháp.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” chủ động mời tôi đến ăn cơm tối với họ để trao đổi tình hình. Tôi nhận lời. Bữa cơm ấy diễn ra ở một quán ăn thuộc quận 13. Trước khi đến Paris, tôi đã ở Turin (Ý) một tuần. Trong tuần lễ đó, khá nhiều báo Ý đã phỏng vấn tôi và đã đăng bài tức khắc. Một trong số các bài báo ấy, có đề tựa “Mười triệu người chết trong cuộc chiến Việt Nam”.

Trong các cuộc phỏng vấn tại Turin, tôi đã kể lại hai điều:

- Thứ nhất, khi làm người viết thuê cho các ông tướng, tôi được nghe họ nói với nhau: Chúng ta chỉ công bố con số thật sự khi người Mỹ bồi thường chiến tranh. Như thế, con số phía Mỹ đưa ra (khoảng 5 triệu tử vong) lẫn con số chính quyền Việt Nam đưa ra (hai triệu rưỡi) đều là số sai sự thật.

- Thứ hai, chỉ khi đến Turin tôi mới biết lính các nước chết ra sao và nhờ có sự so sánh ấy, tôi mới biết thân phận người lính và người dân Việt Nam đau khổ đến mức nào. Năm 2005, cuộc chiến tranh đang xảy ra ở Iraq. Báo mỗi ngày đều đăng tin bao nhiêu lính Mỹ, bao nhiêu lính Iraq tử vong. Nếu con số đó chạm tới năm chục đã khiến các nhà báo làm rộn lên, chất vấn tổng thống. Khi số tử vong chạm đến số 100 thì sự căng thẳng trong chính trường đã khiến Nhà Trắng điên đầu. Trong chiến tranh Việt-Mỹ, mỗi lần B52 bay qua, chỉ hai ba phút, dân thường, thanh niên xung phong chết hai trăm, ba bốn trăm, thậm chí nơi đông hơn sáu trăm người nhưng không có một dòng trên báo, không một câu trên đài phát thanh. Không ai hay biết, kể cả người Việt lẫn người nước ngoài.

Tôi nói với các nhà báo Ý:

“Tới tận năm nay, gần sáu mươi tuổi tôi mới thấm thía sự khác biệt giữa kiếp người. Nhờ đọc báo phương Tây, tôi mới biết là người Mỹ và người Iraq chết như người, chết theo kiểu người. Chúng tôi, những người Việt Nam, chúng tôi chết như kiến, chúng tôi chết như ruồi, chúng tôi chết như lá khô rụng, cái chết của chúng tôi hoà lẫn bùn đen, và tan trong câm lặng.”

Vì ở Turin có những Việt kiều liên hệ chặt chẽ với nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris và gửi báo cho họ nên trong bữa cơm tối hôm ấy, tôi bắt buộc phải bàn cãi với họ về chủ đề chiến tranh Việt-Mỹ. Tôi đã thuật lại cho họ nghe sự tổn thất to lớn của dân tộc khi những người lãnh đạo mắc chứng vĩ cuồng. Rất nhiều trận xảy ra khi lực lượng trinh sát thăm dò địa hình địa vật không kỹ, bộ phận hậu cần chuẩn bị khí tài chưa đủ nhưng cấp chỉ huy ham lập thành tích nên cứ đẩy lính ra chiến trường, kết quả là đại bại. Trong khi ở chiến trường xác lính chết ngập suối, nước không chảy được, chim cắt chim kền kền ăn thịt no đến mức không bay lên nổi, lệnh ở Hà Nội vẫn tiếp tục giục tấn công. May mắn là còn có những vị tướng biết thương dân, thương lính, khóc đỏ mắt, quyết định rút quân và làm báo cáo giả để gỡ tội.

Hồi ấy, tổng tư lệnh của cuộc chiến là Lê Duẩn, đã đưa ra khẩu hiệu:
“Dân tộc chúng ta là dân tộc anh hùng, chỉ có thắng không có thua.
Quân đội chúng ta là quân đội anh hùng, chỉ có tiến không có lùi.”
Điều đó có nghĩa: Chỉ tiến công, không phòng thủ!

Xưa nay, trong lịch sử ngàn năm chống ngoại xâm của dân tộc, bao giờ chúng ta cũng lùi về rừng núi để chờ thời gian mài mòn lòng kiêu ngạo lẫn ý chí quân địch, cũng là để khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt quật ngã chúng, cũng là để củng cố quân đội rồi chờ thời cơ thuận lợi mới huy động binh lính và dân chúng tổng tấn công. Khẩu hiệu của ông Lê Duẩn đưa ra là một sự sáng tạo thuần tuý, một ý thơ bay bổng, xuất phát từ tham vọng và lòng kiêu mạn cộng sản. Nhưng thơ phú là thứ chỉ để ngâm ngợi khi gió mát trăng thanh, thơ mà trà trộn với chiến tranh nó biến thành núi xương sông máu.

Đám tướng lĩnh không dám tuyên bố thẳng thừng, nhưng đều hiểu ngầm rằng lãnh tụ của họ là một kẻ vĩ cuồng.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris nghe tôi nói xong thì hai nhân vật chủ chốt phản ứng dữ dội. Ông X bảo:

- Mục tiêu biện minh cho phương pháp. Muốn thắng cuộc trong chiến tranh thì phải chấp nhận tất cả.

Ông Y phản ứng với con số Mười triệu:
- Con số đó không thật. Ở nước Pháp chúng tôi có các biện pháp khoa học về dân số để chứng mình là con số ấy sai. Làm sao chị có thể nghe theo mấy thằng tướng ngu ấy được?

Tôi im lặng không đáp. Nhưng hôm sau, tôi có nhờ ông Phan Huy Đường, lúc đó còn dịch sách của tôi, nói lại với ông Y:

- Nhờ Đường nói với ông bạn của Đường là về Việt Nam chớ mở mồm mà bảo mấy ông tướng là ngu. Bởi vì, rất nhiều hạ sĩ quan thời đó (trung uý, đại uý, thiếu tá…) biết rõ rằng sinh mạng họ được bảo tồn là nhờ những ông tướng thực sự thương lính và không ham thành tích như tướng Vũ Lăng. Bây giờ, nếu không giải ngũ họ cũng đã leo lên đại tá hoặc thiếu tướng. Nếu ông Y mở mồm bảo tướng của họ là thằng ngu hẳn họ sẽ cho một báng súng vào đầu, hiền hoà nhất họ cũng khạc vào mặt.

Đấy là phản ứng duy nhất của tôi. Trong thâm tâm, tôi quyết định chia tay.

Tôi nghĩ, đám người này cần cuộc chiến tranh chống Mỹ như người đàn bà cần son phấn. Giữa họ với ta chẳng còn điều gì đáng nói. Một cuộc chia tay vĩnh viễn là điều hợp lý hơn cả. Không cần kiệt xuất thông minh, chỉ cần chịu khó quan sát sẽ thấy ngay rằng cộng đồng người Việt ở nước Pháp là một cộng đồng không bản sắc, sống co cụm, một bầy thỏ ngoan ngoãn đối với chính quyền. Họ không gây ra các vụ lộn xộn như người da đen và người Arab theo đạo Hồi, nhưng họ cũng chẳng có tiếng nói, chẳng có một gương mặt nào trên các diễn đàn quyền lực. Vì bản chất nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó nên họ thành công ở mức trung bình, trở thành kỹ sư, bác sĩ, nha sĩ, giáo viên đã là giấc mơ tột đỉnh. Hội nhập vào xã hội Pháp chưa lâu, sự tự tin vào bản thân chưa đủ, họ lại bị ám ảnh bởi thân phận lớp người Việt Nam nhập cư trước họ, những người lính thợ bị thực dân cưỡng bức rời quê hương sang Pháp phục vụ tại một số nhà máy làm thuốc súng để thay thế cho các công nhân Pháp ra chiến trường.

Năm 1937, để dự phòng chiến tranh, bộ trưởng Bộ Thuộc Địa và Quân Đội (ministre de la Colonie et de la Défense) Georges Mandel dự tính tuyển 80.000 người Đông Dương. Tháng 6 năm 1940 đám thanh niên Việt Nam được dẫn đến hải cảng Pháp gồm: 10.750 người trung kỳ, 7.000 người miền Bắc, 2.000 người miền nam. Đám lính thợ này đã bị đối xử như những con vật, bị dồn vào sống trong những khu nhà tồi tàn, không điện và thiếu nước, không nơi vệ sinh, không lò sưởi và thức ăn không đủ nửa khẩu phần. Mùa đông, những kẻ khốn khổ ngủ trên sàn, đại tiểu tiện ngay bên ngoài cửa, người nọ dẫm vào phân người kia. Đói khát, họ phải đào rễ củ và hái rau dại về ăn. Cái sự thật tàn nhẫn này bị vùi trong câm lặng. Cho đến đầu thế kỷ XXI, mới có vài nhà báo Pháp lên tiếng. Sau đó, Bernard Kouchner, vốn là một ngôi sao cánh tả nhưng sau thất bại của Ségolen Royal trong cuộc tranh cử 2007, đã nhận lời làm bộ trưởng bộ ngoại giao cho chính phủ Sarkozy mới chính thức lên tiếng xin lỗi vì: “Nước Pháp đã đối xử với những người lính thợ Việt Nam như đối với súc vật.”

Trong thực tiễn, nước Pháp đã đối xử với đám lính thợ Việt Nam còn tệ hơn súc vật bởi khi cưỡng chế thanh niên Việt Nam sang Pháp, họ dồn đám người này xuống hầm tầu còn tầng trên, thoáng mát hơn thì để dành cho… những con bò. Cái kinh nghiệm tồi tệ ấy được cấy trong tim như một quá khứ sầu thảm, cộng đồng người Việt không thể tránh khỏi mặc cảm của những kẻ vừa là dân nhập cư, vừa mang nhãn hiệu “Được lôi ra từ vùng đất thuộc địa”. Thế nên, cuộc sống tinh thần của họ dường như đột ngột khởi sắc, bừng bừng ánh sáng khi cuộc chiến tranh Việt-Mỹ xẩy ra. Tại sao?

Dễ hiểu thôi, tinh thần „Bài Mỹ“ là chất xi-măng gắn kết một số đông quốc gia trên thế giới, không chỉ các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa nhưng ngay cả các nước phương Tây. Hành vi của nước Mỹ không chỉ gợi lên lòng căm thù nhưng kèm theo đó cả sự sợ hãi. Nếu có tiền lệ một nước nhược tiểu bị Mỹ chà nát thì sẽ đến lượt các nước khác theo thành ngữ, “Không bao giờ có lần thứ nhất, lần thứ hai mà lại không có lần thứ ba”.

Vả chăng, về mặt lý, cuộc chiến này không thể biện minh, “Không một người Việt Nam nào mang bom sang giết người Mỹ.”

Dù cộng sản hay không cộng sản thì sự thực là không có một người Việt Nam nào cầm dao hoặc cầm súng sang tận nước Mỹ để giết một người Mỹ, hoặc ngay đến một con bò trong trang trại Mỹ cũng không.

Vì thế, lương tâm nước Mỹ phải thức tỉnh. Các vụ biểu tình phản đối chiến tranh trước toà Nhà Trắng của Mỹ điệp với các cuộc biểu tình trước sứ quán Mỹ tại các nước khác. Tiếng hát và ngọn lửa tự thiêu của trí thức Mỹ đốt nóng cả châu Mỹ La-tinh và châu Âu.

Vào thời điểm ấy, người Việt Nam nhập cư chống chiến tranh được hưởng một sự ưu đãi vô tiền khoáng hậu. Đi đến đâu họ cũng được thăm hỏi, giúp đỡ, được coi là người của “một dân tộc anh hùng”. Và, trên các diễn đàn chống chiến tranh, đại diện của “tổ chức Việt kiều yêu nước” được xuất hiện bên cạnh những nhân vật quan trọng bản xứ mà nếu không nhờ ân sủng của cuộc chiến này, không bao giờ họ có cơ hội và có tư thế tiếp xúc. Để ví von, có thể nói rằng: Những con chim vốn nép mình trong bóng tối nhờ ánh đạn lửa mà được nhô đầu ra và há mỏ cất tiếng kêu.

Thế nên, họ cần cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Lòng ích kỷ, cái kiêu ngã của con người quả là vô giới hạn. Những kẻ sống ở một phương trời, cần máu đồng bào phải đổ ở một phương trời khác để tô điểm cho cuộc sống tinh thần của chính mình.

Chiến tranh thật đẹp khi nó được tạo bằng máu xương kẻ khác!

Từ đây, tôi nghi ngờ hai từ “yêu nước”. Phía sau danh từ này có vô vàn tâm trạng, có vô số động cơ, hoặc xác thực, hoặc ngầm ẩn, hoặc có ý thức, hoặc vô thức.

Danh từ nào cũng lập lờ và cũng có khả năng phản lại nghĩa chính thống.

Như thế, giữa người Việt với người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông vô hình. Chắc chắn cũng còn khá lâu mới bắc được cầu qua những con sông ấy.

Chiến tranh Việt-Mỹ đã qua, nhưng sau đó không lâu cái tên Việt Nam lại dội lên trên các kênh thông tin quốc tế. Lần này, là một thứ ồn ào dơ dáy. Chẳng còn là người anh hùng bé nhỏ dám đương đầu với đế quốc Mỹ mà là tác giả của Khổ nạn Thuyền nhân. Ở châu Âu, phái đoàn Việt Nam không còn được chào đón bằng cờ và hoa mà bằng cà chua và trứng thối. Tôi nhớ rằng lần đi châu Âu, ông Võ Văn Kiệt đã hứng trọn một quả trứng thối vào giữa mặt còn đến lượt ông Phan Văn Khải thì thoát nạn nhờ sự bố trí, dàn cảnh công phu của cảnh sát Pháp. Sự đời vốn đổi thay như các lớp tuồng. Điều khốn khổ cho người Việt Nam là dường như họ chỉ được biết đến trong các tình huống đau khổ. Kể từ khi làn sóng “Thuyền nhân” dịu đi, Việt Nam gần như chẳng còn gì để nhớ. Cứ nghe đài phương Tây thì biết, người ta chỉ nhắc tới hai từ Việt Nam khi nhắc tới cuộc chiến tranh Việt-Mỹ, bởi rất nhiều trí thức phương Tây, đặc biệt là các văn nghệ sĩ đã tham gia vào phong trào chống chiến tranh và tuổi trẻ của họ gắn bó với những kỷ niệm của một thời sôi động. Tuy nhiên, ngay cả những người kiên nhẫn nhất và hiểu biết Việt Nam nhiều nhất cũng chưa dám quả quyết rằng họ nắm được sự thực về cuộc chiến tranh này. Điều đó, quá khó khăn.

Một lần, một nhà văn Pháp hỏi tôi:
- Cái gì tạo nên sức mạnh của chúng mày trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ?
Tôi đáp:
- Một nửa là thói quen của hàng ngàn năm chống xâm lược. Nửa kia là sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân.
Anh bạn chưng hửng:
- Mày không đùa đấy chứ? Ai có thể tin nổi một thứ lý thuyết quái gở như thế.
Tôi cười:
- Rất nhiều thứ quái gở ở phương Tây lại là sự thực đơn giản ở phương Đông. Và ngược lại.
Bây giờ, tôi xin giải thích “thứ lý thuyết quái gở” này.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ được đảng cộng sản phát động với lời tuyên bố: Đánh đuổi quân xâm lược Mỹ.

Năm 1964, tôi mười bẩy tuổi. Vào tuổi ấy, tất thảy thanh niên ở miền Bắc không có quyền nghe đài nước ngoài, không có ti-vi, không có máy quay đĩa, không có bất cứ nguồn thông tin nào ngoài báo chí cộng sản và đài phát thanh trung ương. Lần đầu tiên, tôi được nghe những bài hát nước ngoài là năm tôi mười sáu tuổi. Mùa hè năm 1963, anh họ tôi là phiên dịch tiếng Nga dẫn tôi cùng đứa em trai đến nhà ông chuyên gia mỏ thiếc Tĩnh Túc ở Hà Nội. Ông bà ấy đón tiếp rất tử tế, ngoài việc chiêu đãi bánh ngọt và nước trà chanh, còn mở máy quay đĩa cho chúng tôi nghe. Cảm giác của tôi lúc đó là choáng váng, như muốn chết. Đó là cảm giác thật sự khi con người lạc vào một thế giới mà họ vừa cảm thấy ngây ngất vừa cảm thấy như ngạt thở. Đĩa nhạc đó là của Roberto… (không nhớ họ), một giọng ca Ý tuyệt diệu nhưng chết trẻ. Những bài hát tôi nghe là các bài nổi tiếng cổ truyền: Ave Maria, Santa Lucia, Paloma, Sérénade, Histoire d’amour, Besame Mucho…

Ra khỏi cửa nhà ông chuyên gia Nga nọ, tôi bước đi loạng choạng. Lần đầu tiên, tôi hiểu rằng cuộc sống của chúng tôi là cuộc sống của những kẻ bị nhốt dưới hầm. Những bài hát kia là một thứ ánh sáng mà lần đầu tiên tôi được thấy. Ánh sáng đó rọi từ một thế giới khác, hoàn toàn ở bên ngoài chúng tôi. Kể lại chuyện này, để hậu thế nhớ rằng, thời đại của chúng tôi là thời đại của một thứ chủ nghĩa ngu dân triệt để. Một thứ chủ nghĩa ngu dân tàn bạo, nó buộc con người sống như bầy súc vật trong một hàng rào được xây nên bằng đói khát, hà hiếp và tối tăm.

Khi con người bị điều khiển cùng một lần bằng tiếng gào réo của dạ dầy và cái bỏng rát của roi vọt thì họ không thể là người theo nghĩa thực sự. Chủ nghĩa ngu dân là thứ lá chắn mắt ngựa, để con vật chỉ được quyền chạy theo chiều mà ông chủ ra lệnh. Khi tất cả những con ngựa đều chạy theo một hướng, ắt chúng tạo ra sức mạnh của “bầy chiến mã”, nhất là khi, trong máu chúng đã cấy sẵn chất kích thích cổ truyền “chống xâm lăng”.

Với lũ trẻ là chúng tôi thời ấy, danh từ Xâm lăng dùng để chỉ: quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, và bây giờ là quân Mỹ. Danh từ ấy đồng nghĩa với Tô Định, Mã Viện, Thoát Hoan… Tóm lại, Mỹ là lũ giặc phương Bắc nhưng mũi lõ, mắt xanh, tóc vàng.

Ngôn ngữ vốn là một nhà tù, mà chúng tôi không có điều kiện để tiếp cận với các nguồn thông tin khác, các ngôn ngữ khác, nên hiển nhiên chúng tôi là đám tù binh ngoan ngoãn sống trong nhà tù ấy, đinh ninh rằng mình ra đi là để bảo vệ non sông.

Bởi vì, tổ tiên chúng tôi đã quen chết hàng ngàn năm để chống lại những kẻ thù mạnh hơn họ bội phần, chúng tôi cũng sẵn sàng ra chiến trường chống quân xâm lược Mỹ theo đúng cách thức ấy.

Đó là lý do tôi nói, “sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân”.
© Dương Thu Hương
(Đàn Chim Việt)

'Trung Quốc là bậc thầy của mua chuộc, đút lót'

(TNO) Tại cuộc hội thảo “Tự chủ kinh tế trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau” do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức sáng 3.7, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng: “Việt Nam đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc theo hình thức EPC: 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng (bauxite), cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới…”.


Công trình thi công cảng Vĩnh tân (Bình Thuận) do nhà thầu Trung Quốc đảm nhiệm - Ảnh: Quế Hà
Ông cũng cho rằng, với các dự án có nhà đầu tư Trung Quốc tham gia, lợi ích nhóm chi phối mạnh trong khi “Trung Quốc là bậc thầy của mua chuộc, đút lót”. Theo chuyên gia này, việc để lợi ích nhóm chi phối trong các dự án có nhà đầu tư Trung Quốc sẽ dẫn đến tình trạng có “quá nhiều sơ hở không đáng có dẫn đến tình trạng phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc”, do đó, cần công khai minh bạch hơn nữa và làm rõ trách nhiệm cá nhân. Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, cần sửa đổi, bổ sung luật Đấu thầu và các luật có liên quan (như về cho thuê rừng và đất rừng).


Với các dự án có nhà đầu tư Trung Quốc tham gia, lợi ích nhóm chi phối mạnh trong khi Trung Quốc là bậc thầy của mua chuộc, đút lót

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh


Ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cũng xác nhận tình trạng này. “Hiện nay, ngành cơ khí Việt Nam không có thị trường, hầu hết các dự án công nghiệp dùng cơ chế chỉ định thầu hoặc cơ chế đấu thầu giá thấp nên đều lọt vào tay nhà thầu Trung Quốc”, ông Thụ nói. Theo ông này, từ năm 2003-2011, nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC của 5/6 dự án hóa chất; 2/2 dự án chế biến khoáng sản; 49/62 dự án xi măng. Riêng nhiệt điện có 16/27 dự án do Trung Quốc làm tổng thầu.

“Nhưng các dự án do Trung Quốc làm thường chậm tiến độ 3 tháng đến 3 năm, chất lượng thiết bị không đồng đều, một số thiết bị phụ trợ chất lượng thấp thường bị thay thế. Nhà thầu Trung Quốc thường xuyên thay đổi thiết bị so với cam kết ban đầu, thay đổi tiêu chuẩn vật liệu, thay đổi hoặc bổ sung nhà cung cấp do đó, giá hợp đồng bị đội lên”, ông Thụ cảnh báo.

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam lo lắng: “Có thể nói, ngành cơ khí Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi tình trạng nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu phần lớn các dự án công nghiệp, không dành phần việc nào cho cơ khí trong nước”. Ông cho rằng, một phần nguyên nhân của tình trạng trên là do luật Đấu thầu của Việt Nam hiện vẫn ưu tiên cho các nhà thầu bỏ giá thấp mà chưa chú trọng đến nguồn gốc xuất xứ về chất lượng thiết bị. Trong khi đó, các dự án chỉ định thầu EPC do nhà thầu Trung Quốc thu xếp được tài chính từ nguồn vay tại Trung Quốc với lãi suất thấp, thủ tục vay đơn giản.

Tập đoàn Dệt may (Vinatex) cũng cho biết, hiện nay ngành dệt may lệ thuộc quá lớn vào nguồn vải nhập khẩu (chiếm 86% tổng nhu cầu), đặc biệt là Trung Quốc (46%). “Tình trạng nút thắt cổ chai tại khâu dệt nhuộm trong chuỗi cung ứng dệt may của Việt Nam”, đại diện Vinatex nói.

Tại hội thảo, nhiều chuyên gia kinh tế khác cũng cảnh báo về nhập siêu từ Trung Quốc quá lớn. “Nhập siêu từ Trung Quốc luôn lớn hơn tổng nhập siêu của Việt Nam, thực sự là vấn đề lớn”, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong nói. Ngoài những nguyên nhân khách quan về sự gần gũi về địa lý, sự phụ thuộc của nhiều ngành kinh tế Việt Nam vào những nguyên, phụ liệu từ Trung Quốc mà Việt Nam chưa sản xuất được; giá hàng hóa từ Trung Quốc quá rẻ và cạnh tranh hơn… theo chuyên gia này, một nguyên nhân chính là do các nhà thầu Trung Quốc thắng thầu quá nhiều công trình ở Việt Nam, nhiều cuộc thắng thầu không minh bạch.

Theo ý kiến chung của nhiều chuyên gia kinh tế, đại diện nhiều ngành sản xuất tại hội thảo, trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày nay, sự phụ thuộc của các nền kinh tế là không tránh khỏi, nhất là Việt Nam lại quá gần với một nền kinh tế lớn như Trung Quốc. Trung Quốc đạt được nhiều lợi ích trong quan hệ với Việt Nam và Việt Nam cũng đạt được nhiều lợi ích trong quan hệ thương mại, nhất là xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc. Tuy nhiên, để nhiều ngành kinh tế lệ thuộc quá lớn, để nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp Trung Quốc thao túng nhiều ngành sản xuất, đặc biệt cơ khí ở Việt Nam… là điều rất rủi ro cho nền kinh tế một khi quan hệ giữa 2 nước đi theo chiều hướng xấu. Do đó, các chuyên gia đề nghị phải cẩn trọng, xem xét lại tất cả các mặt, cần thiết có những điều chỉnh nhất định trong chính sách, quan hệ kinh tế với Trung Quốc để giảm bớt rủi ro.
Mạnh Quân
(Thanh niên)

Quang Nguyễn - Thoát Trung là tìm một mô hình khác

Sức mạnh của Trung Quốc lan tỏa ra quốc tế và lấn án Việt Nam

Với sự kiện HD 981, những tiếng nói yêu cầu ‘thoát Trung’, dù đã vang lên từ lâu nhưng ít nhận được sự quan tâm đầy đủ, giờ đây trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết.

Những phê phán về ảo tưởng ‘đồng minh Ý thức hệ’ giữa Hà Nội và Bắc Kinh đã được nhiều người cảnh báo.
Tuy nhiên, sâu xa hơn, hệ lụy trực tiếp của “Đồng minh ý thức hệ’ không chỉ là những lơ là trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, điều đáng lo ngại là Việt Nam đang lệ thuộc lớn vào đối thủ nguy hiểm nhất của mình về Mô hình Phát triển, thứ tạo nên nền tảng quyết định tương lai lâu dài của dân tộc Việt Nam.

Những người Việt Nam quan tâm đến Trung Quốc, dù bị chi phối đến đâu bởi lòng tự tôn dân tộc, cũng không thể không nhận thấy những tương đồng căn bản giữa Việt Nam và Trung Quốc trong cả cấu trúc và tổ chức hệ thống chính trị, xã hội lẫn đường lối và chính sách phát triển kinh tế hay nói rộng ra là Mô hình Phát triển đất nước trong giai đoạn vừa qua.
Hướng về Bắc Kinh

Có thể giới lãnh đạo Việt Nam không ngây thơ tin tưởng quá mức vào những người ‘đồng chí’, nhưng không thể phủ nhận, Hà Nội vẫn đang nhìn về Bắc Kinh như nơi cung cấp chủ yếu những kinh nghiệm về phát triển đất nước.
Mục đích đến hai bên không mấy khác nhau: tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá nhằm bảo vệ tính chính danh và duy trì vị thế độc tôn chính trị của Đảng cầm quyền.

Hậu quả trước mắt đã rõ ràng, chủ quyền lãnh thổ đã và đang bị xâm hại và đe dọa; hàng hóa Trung Quốc đang tràn ngập thị trường Việt Nam và Hà Nội đang lo lắng chuyện bị Bắc Kinh trả đũa về kinh tế.

Và nhìn về tương lai lâu dài hơn, ít người dám lạc quan về việc Mô hình Phát triển hiện nay sẽ đưa Việt Nam đến đâu.

Những quan sát bước đầu có thể chỉ ra rất nhiều tương đồng ở những đặc trưng cốt lõi.

Thứ nhất, về tổ chức hệ thống chính trị, đó là mô hình một chính Đảng độc quyền lãnh đạo và kiểm soát tuyệt đối về mặt chính trị.

Cả hai Đảng Cộng Sản đều đang thực hiện chế độ dân chủ mang tính trình diễn: bầu cử theo chế độ phổ thông đầu phiếu; có hệ thống quyền lực nhà nước được tổ chức theo ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp mà họ gọi là ‘tam quyền’ không ‘phân lập’.

Chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo từ phía Đảng, các cơ quan tư pháp này hiếm khi giữ được vị thế độc lập đúng nghĩa để thực hiện chức năng tố tụng và giải thích pháp luật của mình.

Những quyền căn bản của công dân và quyền con người nói chung, do đó khó có điều kiện được bảo vệ trong hệ thống tư pháp này.

Việt Nam theo Trung Quốc về mô hình một chính Đảng độc quyền lãnh đạo

Khuôn mặt của khối tạm gọi là 'xã hội dân sự' tại hai nước cũng không có sự khác biệt đáng kể.

Các hội đoàn chính thức trong hệ thống chính trị- cánh tay nối dài của Đảng Cộng Sản là các tổ chức chính trị xã hội, được gọi là tổ chức quần chúng, hoạt động với ngân sách được cung cấp từ nhà nước.

Các tổ chức xã hội dân sự khác chưa có được vị trí pháp lý chính thức và vẫn là đối tượng nghi kỵ của chính quyền.

Hệ quả của mô hình chính trị và tổ chức nhà nước đó, như Đảng Cộng Sản hai nước đều thừa nhận là tính minh bạch thấp, tham nhũng tràn lan, và sự yếu kém của chính phủ cả ở cấp Trung ương và địa phương.

Hệ thống Chính trị Trung Quốc, như phân tích của nhà nghiên cứu Lý Thành (Cheng Li), lộ rõ những vấn đề nan giải: đó là nạn bè phái và chia rẽ trong hàng ngũ lãnh đạo cấp cao; Chính quyền với năng lực yếu kém trong lúc các nhóm lợi ích càng lúc càng lớn mạnh...

Dù mang những nét đặc trưng cơ bản giống nhau, Trung Quốc, xét một cách khách quan, đang thành công hơn Việt Nam rất nhiều trong việc theo đuổi Mô hình Phát triển kể trên.

Việc xây dựng mô hình Trung Quốc, như Đặng Tiểu Bình thừa nhận là là cách làm ‘dò đá qua sông’;

Việt Nam cũng tự nhận đang xây dựng một thứ “Chủ nghĩa Xã hội chưa có tiền lệ’; tuy nhiên đáng tiếc là dù đi sau, Việt Nam đã không thể làm tốt được như Trung Quốc, cả trong tầm nhìn, hoạch định lẫn thực thi chính sách phát triển.
Việt Nam đi sau xa

Những thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu… hiện đại và phát triển (xét về quy hoạch và năng lực quản lý) không thua kém các thành phố hàng đầu thế giới.

Trung Quốc cũng có những công ty, gồm cả tập đoàn kinh tế nhà nước Trung Quốc cũng như tư nhân đã vươn lên trở thành những tập đoàn cạnh tranh toàn cầu.

Vị trí của họ trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu đương nhiên cao hơn hẳn Việt Nam, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn, khả năng cạnh tranh cao nhờ năng lực công nghệ vượt trội Việt Nam.

Về Giáo dục, Trung Quốc có được những đại học nằm trong luôn nằm nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới, như Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, mức độ ảnh hưởng của các học giả và giới nghiên cứu Trung Quốc lên những người làm chính sách là khá đáng kể.

Điều đó cho thấy, dù cùng ở vị thế có quyền lực tuyệt đối trong hoạch định chính sách, giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn biết tôn trọng và tiếp thu có chọn lọc những đóng góp của các học giả và chuyên gia.

Tuy nhiên, giới nghiên cứu và phân tích cũng bày tỏ nhiều hoài nghi sâu sắc về tính bền vững của Mô hình Phát triển Trung Quốc.

Sau gần bốn thập kỷ cải cách, Trung Quốc đang đối mặt với những thử thách gay gắt.

Sự phân hóa thu nhập và chất lượng sống giữa các nhóm xã hội, vùng miền (Vành đai Duyên hải phía Đông và khu vực phía Tây) đang ngày càng sâu sắc; thu nhập của nông dân chậm cải thiện và chính quyền tùy tiện thu hồi đất nông nghiệp phục vụ đô thị hóa.

Những hạn chế của chế độ hộ khẩu và thách thức trong việc đưa hàng trăm triệu công nhân trở thành tầng lớp trung lưu mới; tình trạng ô nhiễm môi trường tồi tệ; xung đột dân tộc leo thang gay gắt ở các khu tự trị.

Nhìn vào mô hình Trung Quốc, nhiều ý kiến cho rằng Trung Quốc sẽ không thể thành công như các nước công nghiệp mới ở Đông Á để đứng vào hàng ngũ các quốc gia phát triển.

Để giải quyết những thách thức đó, Trung Quốc, ngay từ khi bắt đầu nhiệm kỳ mới của Tập Cận Bình đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ để đổi mới mô hình tăng trưởng của mình.

Nhưng cần chú ý rằng, những đổi mới đó, trước hết và chủ yếu tập trung vào vấn đề tăng trưởng kinh tế.

Không có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc sẽ đổi mới Mô hình Phát triển của họ, theo nghĩa bao gồm việc tiến hành những cải cách căn bản về chính trị và xã hội.

Nói cách khác, Đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn sẽ tìm mọi cách để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, né tránh những cải cách hướng tới dân chủ hóa đời sống xã hội.
Cuộc đua phát triển

Dù mang nặng tâm lý “bài Hoa’ đến đâu đi nữa, ít người dám phủ nhận được Việt Nam về đại thể gần như bản sao của mô hình Trung Quốc.

Và dù là người đi sau, Việt Nam lại hầu như không tránh được những vết xe đổ và sai lầm mà Trung Quốc gặp phải.

Nói cách khác, ‘phiên bản phát triển Việt Nam’ còn nhiều lỗi hơn ‘phiên bản gốc’ vốn dĩ đã rất nhiều vấn đề.

Các đô thị lớn của Trung Quốc đều hơn hẳn đô thị Việt Nam

Do đó, nếu hiện trạng này tiếp tục được duy trì, khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ ngày càng rộng hơn.

Khi đó, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với gã khổng lồ Phương Bắc, những thua thiệt của Việt Nam sẽ càng thể hiện rõ nét hơn.

Từ những quan sát và phân tích ở trên, có thể nói Việt Nam, một cách tỉnh táo và thực dụng hơn, thay vì nhìn Trung Quốc như ‘kẻ thù’, hãy nhìn họ như những đối thủ cạnh tranh trên con đường phát triển.

Bản chất bá quyền và bành trướng của họ đã lộ rõ, nhưng những ngôn ngữ mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa và kích động như ‘Trung Cộng’ hay ‘Bè lũ xâm lược Trung Nam Hải’ không phải là vũ khí hiệu quả giúp chúng ta tự vệ thành công.

Muốn vượt lên trên Trung Quốc, Việt Nam cần một mô hình phát triển vượt trội hơn.

Khó khăn rất nhiều, nhưng cơ hội vẫn còn đó, vì với quy mô dân số ít hơn nhiều và mức độ đồng nhất xã hội cao hơn, việc khởi động và chèo lái một cỗ máy phát triển như Việt Nam sẽ đi nhanh hơn là cỗ xe khổng lồ, phân mảnh và phức tạp như Trung Quốc.

Hơn thế nữa, việc một Trung Quốc đang bị cả thế giới soi xét với con mắt dè chừng đầy nghi kỵ cũng là lợi thế không nhỏ cho Việt Nam.

Trong giới hạn bài viết ngắn này, tác giả chưa tham vọng tham gia góp tiếng nói vào việc đề xuất những gợi ý cho một mô thức phát triển mới.

Tuy nhiên, tác giả hoàn toàn đồng ý với đề xuất của nhiều tiếng nói nghiên cứu độc lập (như Huỳnh Thế Du, Jonathan London, Lê Quang Bình, Lê Xuân Khoa … ), đây là thời điểm không thể tốt hơn để Việt Nam có thể đổi mới Mô hình Phát triển và thoát khỏi hoàn toàn quỹ đạo ảnh hưởng của Trung Quốc.

Một cuộc đổi mới toàn diện, tất nhiên sẽ không né tránh những đổi mới về chính trị, bởi hệ thống chính trị là cấu thành quan trọng nhất của mọi mô hình phát triển, quyết định sự thành bại của mô hình đó.

Nhưng đổi mới và dân chủ hóa hoàn toàn không nhất thiết đe dọa vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhất là khi Đảng Cộng Sản lĩnh xướng và làm chủ quá trình đó.


Đây là thời điểm tốt để Việt Nam thoát khỏi quỹ đạo TQ

Có thể nói, với Đảng Cộng Sản Việt Nam, đây cũng là thời điểm thích hợp và là cơ hội lớn để tái khẳng định tính chính danh và năng lực lãnh đạo của mình.

Nhìn vào tương quan các lực lượng chính trị hiện nay, vị thế cầm quyền của Đảng Cộng Sản vẫn là vững chắc.

Dù đánh mất đáng kể cảm tình của một bộ phận không nhỏ người dân, tại thời điểm này, không một lực lượng chính trị nào đủ điều kiện và có vị thế tốt hơn Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc lĩnh xướng ngọn cờ canh tân đất nước.

Vì vậy, không cần chờ đến Đại hội Đảng gần nhất vào năm 2016, ngay lúc này Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn có thể khởi xướng một cuộc thảo luận rộng rãi trong nội bộ Đảng và các nhóm xã hội về một MÔ THỨC PHÁT TRIỂN mới cho đất nước.

Một ‘hội nghị Diên Hồng’ lúc này, không phải để bàn về ‘Sát Thát’ mà bàn cách xây dựng một con đường, một Mô hình Phát triển vượt trội so với người láng giềng phương Bắc.

Cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn, điều Việt Nam cần không phải là một cuộc chiến tranh, đích đến của chúng ta nên là một quốc gia thịnh vượng về kinh tế và bền vững về xã hội và môi trường.

Nên nhớ, Trung Quốc không thể ‘bắt nạt’, cũng không dám gây chiến với Hàn Quốc hay Nhật Bản bởi những nước này tiến bộ hơn hẳn họ về mức độ phát triển.

Và với Đảng Cộng Sản Việt Nam, vị thế và tính chính danh của họ sẽ được duy trì, không phải bằng trấn áp các tiếng nói độc lập và đối lập mà là đưa Đất nước thành công trong cuộc canh tân.

Vì vậy, HD 981 không đơn thuần là mối họa, nó là đưa đến cơ hội lớn lao để khởi xướng một DIÊN HỒNG về con đường và Mô hình Phát triển mới cho Việt Nam, mở ra tương lai phát triển lâu dài cho đất nước.

Quang Nguyễn
Bài tham gia Diễn đàn BBC
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Quang Nguyễn từ Việt Nam.
(BBC)
 

Tình huống xấu nhất trong xung đột với TQ là gì?

nguyen-phu-trong-305.jpg
TBT Nguyễn Phú Trọng gặp Ủy Viên Quốc Vụ TQ Dương Khiết Trì tại Hà Nội chiều 18/6/2014.
AFP

Những tình huống xấu nhất cho tình hình xung đột hiện nay với Trung Quốc được các vị lãnh đạo Việt Nam lường trước và có phương cách ứng phó.

Những tình huống xấu nhất đó là gì và người dân nhận định về dự báo của các lãnh đạo và hành động của họ ra sao?
Lãnh đạo dự báo

Ngay sau kỳ họp quốc hội mà không có nghị quyết riêng về tình hình căng thẳng tại Biển Đông, các vị lãnh đạo Đảng và chính phủ đến các tỉnh, thành để gặp gỡ cử tri của họ.

Vấn đề Biển Đông suốt hơn hai tháng qua là chủ đề được cử tri nêu ra và các vị đại biểu quốc hội là lãnh đạo cao cấp của Đảng đã trả lời. Tại Hà Nội, ông tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sau khi được cử tri quận Tây Hồ - Hà Nội hỏi, ông này cũng lặp lại là kịch liệt lên án hành vi sai trái của Trung Quốc, nhất định không nhân nhượng. Ông này nói rằng Việt Nam không mong chiến tranh, nhưng nếu có chiến tranh, Việt Nam luôn sẵn sàng chuẩn bị mọi phản ứng.

Tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sau khi nhắc lại những điều mà ông cũng như các vị khác nói đến lâu nay, ông nói Việt Nam kiên quyết nhất định không chấp nhận, không khuất phục một sự đe dọa, một sự áp đặt, hay một sự lệ thuộc nào.
Lời phát biểu của ông tổng bí thư như vậy tôi hơi ngạc nhiên; bởi vì từ trước tới nay, đối với Trung Quốc ông thường giữ một thái độ ủy mị.  - Nguyễn Anh Dũng
Trưởng ban Nội chính Trung ương, Nguyễn Bá Thanh, cũng nói với cử tri tại thành phố Đà Nẵng là nhất định sẽ lấy lại tất cả những gì đã mất và sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xấu nhất có thể xảy ra.

Vào ngày 1 tháng 7, tại cuộc họp báo chính phủ, ông chủ nhiệm văn phòng chính phủ Nguyễn Văn Nên còn cho rằng tình huống xấu nhất là có thể chấm dứt quan hệ giữa hai nước.
Nhận định của người dân

Trước những phát biểu mới đó của các vị lãnh đạo Đảng và chính phủ Hà Nội, người dân có nhận định ra sao?

Ông Nguyễn Anh Dũng, một cựu chiến binh thời kỳ chiến tranh Việt Nam, hiện ở Hà Nội bày tỏ ngạc nhiên khi nghe các vị lãnh đạo đề cập đến tình huống xấu nhất là xảy ra chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc:

Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng (phải) và Ủy viên Quốc vụ Viện Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Hà Nội hôm 18/6/2014. AFP
Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng (phải) và Ủy viên Quốc vụ Viện Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Hà Nội hôm 18/6/2014. AFP
“Lời phát biểu của ông tổng bí thư như vậy tôi hơi ngạc nhiên; bởi vì từ trước tới nay, đối với Trung Quốc ông thường giữ một thái độ ủy mị và gần như là một người cam chịu sự lấn chiếm của Trung Quốc.

Cái tình huống xấu có thể xảy ra hay không thì chưa biết được, vì còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề lắm: vấn đề trong nước, vấn đề quốc tế. Đặc biệt là vấn đề trong nước vì dù muốn hay không đây là tình huống của Việt Nam, Việt Nam phải giải quyết. Thế thì khả năng xảy ra hay không chưa thể biết; nhưng nếu có xảy ra thì tôi e rằng đó là vấn đề khó cho Nhà nước Cộng sản này vì thực tế bây giờ người dân mất lòng tin vào đảng Cộng sản rồi , người ta không tin vào  đảng Cộng sản nữa.”

Một người từ Bình Dương, blogger Nguyễn Thiện Nhân, thì cho rằng có thể xảy ra khả năng bùng nổ chiến tranh, còn về mặt kinh tế thì không thể có chấm dứt quan hệ giữa hai phía:

“Về kinh tế hiện nay quan hệ  mậu dịch giữa hai nước đạt con số rất cao, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên 40 tỷ đô la/một năm nên rất khó cho việc dừng giao dịch giữa hai nước. Tuy nhiên theo tôi khả năng xảy ra chiến tranh ở Biển Đông có thể xảy ra vì hai nước không có tiếng nói chung; nước nào cũng bảo chủ quyền là của mình; như vậy tất yếu sẽ xảy ra chiến tranh thôi.”
Hành động của họ

Hẳn nhiên khi có biến không chỉ quân đội và các lực lượng bán vũ trang được huy động để chiến đấu, mà những thành phần nam giới cũng được động viên tham gia.

Cựu chiến binh Nguyễn Anh Dũng thẳng thừng nói rõ lần này ông sẽ không cầm súng chiến đấu như trước đây nữa vì lúc đó ông bị lừa, và nay không thể chiến đấu để bảo vệ quyền lợi cho riêng Đảng:

“Tôi từng tham chiến ở miền nam, nhưng việc tham chiến đó không phải chúng tôi tự nguyện, mà vì chúng tôi bị lừa bịp: họ nói rằng chúng tôi đi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đánh cho Mỹ cút- đánh cho Ngụy nhào. Thời đó chúng tôi là những thanh niên nghe tuyên truyền một đàng, còn bây giờ chúng tôi tham chiến để làm gì?  Chúng tôi bảo vệ tổ quốc chứ không bảo vệ Nhà nước này.”

Blogger Nguyễn Thiện Nhân thì tham gia theo lệnh chung, nhưng anh thấy việc cầm súng hiện nay trong tương quan lực lượng với Trung Quốc là không hiệu quả:

“Tổng động viên thì tôi đi thôi; nhưng việc cầm súng đối với tôi là một người chưa được đào tạo chiến đấu, chưa qua đào tạo tác chiến trên biển, việc tôi cầm súng ra Hoàng Sa hay Trường Sa, tác động không lớn. Chiến tranh hiện nay đâu phải là sức người đâu!”
Đường hướng cần có
000_Hkg9950036-250.jpg
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh (phải) tiếp Ủy viên Quốc vụ viện TQ Dương Khiết Trì tại nhà khách chính phủ ở Hà Nội ngày 18 tháng 6 năm 2014. AFP PHOTO / POOL / LƯƠNG THÁI LINH.
Cựu chiến binh Nguyễn Anh Dũng nêu ra một thực tế là vừa qua, một số người dân đi biểu tình để chống Trung Quốc gây hấn với Việt Nam và đã bị cơ quan chức năng bắt bớ, trấn dẹp với lý do đã có Đảng và Nhà Nước lo; nên lần này họ cũng để cho Nhà Nước lo. Theo ông này Đảng và Nhà Nước nay không thể lo được nữa mà phải có thay đổi thì mới mong bảo vệ được chủ quyền đất nước. Ông phát biểu:

“Những điều mà các vị gọi là lãnh đạo Nhà nước nói hay, rất là hay; nhưng từ lời nói đến việc làm có một khoảng cách quá xa. Người ta vẫn nói một câu mà ông Nguyễn Văn Thiệu nói, theo tôi, rất đúng ‘ Chớ nghe Cộng sản nói, hãy xem Cộng sản làm’.”

Blogger Nguyễn Thiện Nhân thì nêu rõ trở ngại trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo và thoát khỏi sự lệ thuộc kinh tế quá lớn vào Trung Quốc lâu nay:

“Việt Nam hiện nay theo chủ nghĩa xã hội về mặt chính trị, chủ nghĩa này bế tắc về mặt lý luận và cả trên thực tiễn; tức chủ nghĩa không khả thi về mặt thực tế cho nên bộ máy chính trị Việt Nam phải nhân nhượng Trung Quốc để tồn tại trong một ý thức hệ chung, do đó Việt Nam sẽ nhường nhịn Trung Quốc; nhưng nhường nhịn trên những nguyên tắc, chứ không thể nhường nhịn chủ quyền cho họ.

Khó là khó trong tư tưởng của người lãnh đạo, vì quyền lợi của họ, vì lợi ích chính trị, vì tư tưởng giữ quyền lực nên họ không có sự quyết liệt trong việc thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Myanmar đã từng làm được, Myan mar từng bị ảnh hưởng nặng nề bởi Trung Quốc. Từ một nước nghèo như vậy mà người ta vẫn thoát khoải được ảnh hưởng của Trung Quốc, tại sao Việt Nam không làm được? Việt Nam có những điều kiện còn hơn Myanmar nữa; do vậy Việt Nam chỉ cần quyết tâm là làm được; vấn đề khó là ở chỗ tư tưởng của mấy ông lãnh đạo, còn nếu quyết tâm sẽ làm được thôi.

Tôi nghĩ sắp đến chính phủ cũng phải có những bước đi phù hợp để mà thoát khỏi bàn tay của Trung Quốc mà thôi!”

Blogger Trần Kinh Nghị có bài viết ‘Vài suy nghĩ nhân phát biểu của Tổng bí thư’, kết luận rằng “Muộn còn hơn không, xin chân thành khuyên Tổng bí thư cùng Bộ Chính trị hãy nhìn vấn đề một cách thực tế linh hoạt trên cơ sở cầu thị lắng nghe lòng dân và ý kiến của bạn bè quốc tế để kịp thời thay đổi chính mình may ra vẫn còn cơ hội để cứu nước.
Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2014-07-03

Cơ hội cho Dân tộc Việt Nam và Diển biến hòa bình Việt Nam Trung quốc

Trước việc Trung Quốc lấy cớ từng giúp Việt Nam trong quá khứ để gây hấn ở biển Đông, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định, Việt Nam mang ơn thì có cách trả ơn, chứ Trung Quốc không được áp đặt...Xin thưa rằng về vấn đề này thực ra chỉ là việc gói gọn trong mối quan hệ giửa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung quốc mà thôi dân tộc Việt Nam hoàn toàn không có sự liên quan.

Cái khó của Việt Nam là nếu đánh với Trung quốc trên Biển thì quá dể rồi... ngoài Biển Đông thực tế đó chỉ là liệu pháp tạo cớ, một kiểu câu nhử của Trung quốc về mặt sách lược... song song còn mặt trận trên đất liền...đây mới là vấn đề chính..chúng ta ai dại gì mời Giặc vào phá nhà và gây tang tóc đau thương cho Dân tộc mình...Việt Nam chần chừ và trân mình chịu đựng là như vậy...đấu tranh Chính trị lúc này là hoàn toàn hợp lý vì Việt Nam chúng ta đang ở vào thế yếu rất nhiều mặt...bình tỉnh cái khó sẽ ló cái khôn vì đây là vấn đề Đại cục...Iraq và Taliban là minh chứng cụ thể nhất trong thời gian qua...thách thức mời Mỹ gây chiến và cả 2 đều bị Mỹ đánh cho tan tác...Trong tình huống này chúng ta chỉ giải được Bài toán Trung quốc trong trường hợp Việt Nam có nhiều Đồng minh hoặc giã là có vũ khí Hạt nhân mà thôi…

Việt Nam trong thực tế cho đến thời điểm này vẩn chưa tham gia vào bất kỳ Hiệp ước Liên minh Quân sự với một quốc gia nào, để có được sức mạnh tổng hợp nhằm răn đe chiến tranh xâm lược của Trung quốc và Việt Nam hiện nay chưa đủ sức làm cho Trung quốc phải trả giá đắt,thời gian qua Việt Nam chỉ phản ứng Trung quốc ở mức độ thụ động và thuần Chính trị...Kế hoạch thiết lập các mối quan hệ đồng minh với Nhật Bản-Ấn Độ, Nhật Bản-Úc, Nhật Bản-Philipines,Indonesia, Philipines–Việt Nam, Philippin–Hoa kỳ … là cốt lỏi để Việt Nam tạo ra được một nền hòa bình chủ động trước Trung Quốc .Thực tế Philippin–Hoa kỳ đã và chứng minh được tính hiệu quà ở mối quan hệ đó…Vị trí địa lý Việt Nam có lợi thế về nhiều mặt trên trường Quốc tế ở trên bộ, trên không và trên biển, Việt Nam là tiền đồn án ngữ,là tâm điểm giao thương với Quốc tế tại sao chúng ta không tận dụng khai thác lấy thế mạnh này mà cứ mãi theo kiểu song phương với Trung quốc và luôn ở vào thế bị Trung quốc chèn ép từ năm 1949 đến giờ, Việt Nam là tuyến đầu ngăn chặn hiệu quả bước đường Trung quốc xâm lược về phương Nam...trãi qua hơn 4000 năm Lịch sử,Việt Nam đã minh chứng điều đó và đồng thời các quốc gia lân bang cũng được hưởng lợi hòa bình,phát triển từ Việt Nam…Còn hiểu ngược lại về phương Bắc thì Việt Nam hết sức quan trong về mặt chiến lược cho Trung quốc, Việt Nam là thành trì vững chắc bảo vệ cho Trung hoa đại lục trước các thế lực thù địch với Trung quốc từ bên trong lẩn bên ngoài,thấy rỏ được điều này kể từ năm 1949 với tầm nhìn của nhà đương cục Trung quốc, thấy được Việt Nam vừa là tuyến đầu phòng thủ vừa là lá chắn vững chắc cho sự ổn định và phát triển của Trung quốc các thế lực gọi là thù địch với Trung quốc không bao giờ bén mảng đến gần được Trung quốc chính là nhờ vị trí Địa lý chiến lược của Việt Nam...qua các thời kỳ Trung quốc mới có điều kiện yên ổn, thuận lợi trong cách giải quyết thù trong lẩn giặc ngoài và phát triển được đất nước Trung quốc như hiện nay...Trung quốc từ lâu đã thấy quá rỏ ưu thế và tầm quan trọng của Việt Nam đối với Trung quốc là như vậy…tại sao Việt Nam chúng ta bao nhiêu thập niên qua không phát huy thế thượng phong về mặt Chiến lược của mình để làm đối trọng không riêng gì với Trung quốc mà luôn cả với Thế giới….để rồi Trung quốc hôm nay ra mặt bành trướng xâm lược Việt Nam...mưu đồ trước tiên là độc chiếm Biển Đông làm cho Việt Nam chúng ta phải cuống cuồng lên trước sự trổi dậy của Trung quốc, bài toán Trung quốc xâm lược Việt Nam thực ra ở vào thời khắc này không có gì gọi là quá khó nếu lảnh đạo Việt Nam chúng ta có tầm nhìn sách lược...đánh giặc thì có nhiều cách để mà đánh…không hẳn là nước lớn nước bé, nước giàu nước nghèo… mà phải tự tin và nhận thức được rằng chúng ta đang ở đâu và chúng ta phải làm gì…Trung quốc giở trò xâm lược Việt Nam, Việt Nam phải tự đắc nhìn nhận rằng đây là cơ may và cũng là cơ hội tốt cho cả Quốc gia và Dân tộc Việt Nam thoát khỏi sự kềm chế và áp đặt và toan tính về nhiều mặt từ phía nhà cầm quyền Trung quốc…Lảnh đạo Việt Nam phải nhìn thấy được phần ưu và khuyết của Việt Nam để mà xây dựng cho bằng được một hướng đi mới, giải pháp mở rộng ngoại giao và thiết lập được nhiều mối quan hệ Đồng minh, cần thiết đối kháng luôn cả về ý thức hệ trước âm mưu độc chiếm Biển Đông của Trung quốc.

Một minh chứng giả định rất hùng hồn nếu Mỹ,Pháp,Đức,Ấn độ muốn đánh Trung quốc thì họ chỉ lảng vảng được ở khu vực gần Việt Nam thuộc Hải phận quốc tế...nếu Việt Nam mở cửa, đổi mới thiết lập được mối quan hệ tốt thậm chí có được Hiệp ước gọi là Đồng minh với các quốc gia này...tức khắc nhà đương cục Trung quốc sẽ không còn dám cao giọng nửa, cục diện khu vực Đông dương thậm chí Châu Á sẽ có thay đổi lớn bởi hành động sáng suốt của Việt Nam...vô hình chung một tiềm lực quân sự rất hùng mạnh sẽ ở ngay sát nách Trung Quốc từ phiá Bắc và phía Đông...một cánh cửa thông thương với Thế giới được mở ra theo kiểu bất chiến tự nhiên thành…làm được điều này trước tiên là Việt Nam sẽ đưa Trung quốc ở vào vị thế ngẩn ngơ ...Việt Nam tự khắc sẽ được cả thế giới hoan nghênh và ủng hộ và Quốc tế sẽ có những hành động thiết thực và tích cực hơn giúp đở Việt Nam trong công cuộc xây dựng ,bảo vệ cũng như phát triển đất nước…Lảnh đạo Việt Nam hảy cố gắng tận dụng lấy cơ hộị này,Cách mạng thoát Trung giải pháp về mặt lý thuyết không thuần túy cho Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà cho luôn cả 1,4 tỉ người dân Trung quốc thoát khỏi ách Cộng sản,một cánh cửa mới được mở ra từ phương Nam giúp nhân dân Trung quốc có cơ hội đấu tranh vì một thể chế mới và nội tình Trung quốc sẽ có nhiều biến chuyển theo hiệu ứng dây chuyền từ cách mạng Dân tộc và Dân chủ ở Việt Nam. Trên biển Hoa Đông giữa Trung Quốc với Nhật Bản hay trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc tình hình ngày càng trở nên căng thẳng hơn khi những lời kêu gọi gây chiến không chỉ đến từ các cấp lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc, mà còn bởi một bộ phận người Trung Quốc thiếu hiểu biết, mang tư tưởng chủ nghĩa dân tộc "Đại Hán" cực đoan, luôn cổ vũ cho những hành động mang tính chất ngang ngược vô đạo đức đối với các nước láng giềng,đây là một sai lầm rất lớn từ phía nhà cầm quyền Trung quốc,thời khắc này chính là cơ hội ngàn vàng cho Việt Nam,cho đất nước và cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi sự kềm chế bởi Trung quốc, Việt Namthật sự hòa nhập được với Thế giới kể từ sau năm 1945 ,với quy mô dân số ít hơn nhiều so với Trung quốc, tính đồng nhất về mặt xã hội của Việt Nam cao hơn,khởi động và chèo lái cuộc cách mạng độc lập dân tộc,dân chủ với cỗ máy phát triển theo kiểu như Việt Nam chúng ta sẽ được rất nhiều lợi thế, an toàn và đi nhanh hơn là cỗ xe phân mảnh và phức tạp như Trung Quốc.Hiện tại Trung Quốc đang bị cả thế giới soi xét với ánh mắt dè chừng đầy nghi kỵ lợi thế cho Việt Nam là ở điểm này.

Về mặt sách lược với Trung quốc,Việt Nam đang ở vào vị thế cực kỳ mong manh và hoàn toàn bị động, đầu tiên là sự tồn vong của Chế độ,tiếp theo sự lệ thuộc quá nhiều về Kinh tế từ Trung quốc cùng sự vươn ra các nước khác trong khu vực như Thái Lan,Campuchia và Lào và ngay lúc này là ở Biển Đông có thể nói ở nhà đương cục Trung quốc đã có sự toan tính rất hoàn hảo trong sách lược và chiến lược đối với Việt Nam và họ không bao giờ bỏ qua cơ hội này…

Hàng ngàn người Việt Nam trong lẫn ngoài nước đã lần lượt xuống đường phản đối Trung Quốc xâm lược và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi Biển Đảo Việt Nam.Chính quyền đã một bước cố gắng bày tỏ thái độ trước Nhân dân rằng họ không bị lệ thuộc vào Trung Quốc và khuyến khích Nhân dân biểu tình ôn hòa nhằm xoa dịu sự bất mãn và lòng tin của nhân dân.Thoát khỏi quĩ đạo Trung ,phát triển được tốt mối quan hệ Đồng minh tức là chúng ta chủ động kiến tạo được nền hòa bình vững chắc trong tình hình Trung Quốc đang ngày càng trắng trợn, hung hăng thôn tính Biển Đông như hiện nay.

Việt Nam chúng ta là quốc gia duy nhất trên thế giới đã phải hứng chịu nhiều thập niên chiến tranh,từ cuộc chiến tranh chống Pháp, Nhật,Trung Quốc và Mỹ,với tinh thần dũng cảm và ý chí quật cường Việt Nam đã thắng tất cả kẻ thù xâm lược..Thay vì tiếp tục lo sợ... gây mất lòng tin với nhân dân Việt Nam hay thiệt hại giữa mối quan hệ hai nước Việt–Trung, lãnh đạo Việt Nam cần suy nghĩ nhiều hơn cho danh dự của Quốc gia và cho dân tộc,chuẩn bị thật kỹ lưỡng mọi tình huống bởi một khi đã không còn nữa cái gọi là tình Đồng đội, Đồng chí trước tham vọng bá quyền của Trung Quốc ngày càng khó kiểm soát...Giải pháp cáo chung với Chủ thuyết Cộng sản là cứu nguy cho Quốc gia và Dân tộc,là cứu cánh cho Việt Nam ở vào thời khắc này…Lảnh đạo Việt Nam phải hành xử một cách quyết liệt hơn vì rõ ràng đây là hành vi xâm lược trắng trợn từ phía nhà cầm quyền Trung quốc… Cáo chung với Chủ thuyết Cộng sản là một giải pháp tuyệt vời,tự thân Việt Nam là nhân tố quyết định thay đổi bộ mặt của Châu Á chứ không phải là Trung quốc theo như giới cầm quyền Trung quốc lầm tưởng...

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Lê Trung từ TP Hồ Chí Minh, Việt Nam
Lê Trung
TP Hồ Chí Minh

Đã Đến Lúc Hoa Kỳ Phải Cứng Rắn với Việt Nam

Bắt tay cũng đủ rồi, giờ là lúc hành động.

Tối Hậu Thư Cho Những Thay Đổi Cần Thiết
Quan hệ của Hoa Kỳ với Việt Nam nhìn chung là một thất bại. Hà Nội tiếp tục lợi dụng mối quan hệ với Hoa Kỳ, nhưng lại không làm gì để đáp lại. Đây là lúc Hoa Kỳ cần làm rõ xem Hà Nội muốn quan hệ kiểu nào với Washington.
Trước hết cần nói rõ là bài này nhằm vào chính quyền cộng sản hiện nay ở Hà Nội chứ không phải là đất nước Việt Nam. Sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu đánh đồng hai khái niệm này.
Tuy nhiên, đi vào cụ thể thì không hề đơn giản. Nói gì thì nói, chính quyền cộng sản vẫn nắm quyền lực ở Việt Nam, và nếu Hoa Kỳ muốn thiết lập bất kỳ hình thức quan hệ đối tác chiến lược nào với Việt Nam, trước tiên Washington phải nói chuyện với Hà Nội. Thật không may cho Hoa Kỳ, Hà Nội là một chính quyền tham nhũng và thường xuyên vi phạm nhân quyền.
Thực ra thì Hoa Kỳ cũng đã từng phải quan hệ với nhiều chính phủ tham nhũng và độc tài trước đây, ví dụ như chế độ Shah ở Iran, chế độ Saddam Hussein trong cuộc chiến Iran-Iraq, hay chính phủ Pinochet của Chile. Nhưng ít nhất là các chính phủ đó còn có lợi cho Hoa Kỳ. Những người cộng sản ở Việt Nam hiện chẳng mang lại lợi ích gì cho Hoa Kỳ cả.
Khuyến nghị này không nhằm kêu gọi sự thay thế cái chính thể tham nhũng, độc tài hiện nay ở Việt Nam bằng một chính quyền khác thích hợp hơn với quyền lợi của Hoa Kỳ . Thay vào đó, dựa trên những hiểu biết và sự tôn trọng những nguyện vọng của người dân Việt Nam, khuyến nghị này kêu gọi Washington hãy ngừng chơi ván cờ của Hà Nội, và phải đòi hỏi mạnh mẽ hơn, không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà còn cho chính lợi ích của Washington.
Hà Nội không phải là một đối tác của Bắc Kinh và không có nhiều ảnh hưởng với Trung Quốc. Tuy nhiên, với mong muốn quay trở lại vùng châu Á-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, Washington đã bắt đầu xem Hà Nội không chỉ là một đối tác kinh tế mà còn là một đối tác chiến lược trong khu vực.
Sự làm mới và cải thiện trong quan hệ giữa hai nước đã được khẳng định qua việc công bố mối quan hệ đối tác toàn diện của tổng thống Barack Obama và chủ tịch Trương Tấn Sang vào 07/2013. Sự hợp tác toàn diện này được mong đợi sẽ làm gia tăng đầu tư của Hoa Kỳ trong việc hỗ trợ hàng hải, kinh tế, môi trường, giáo dục và nhân quyền. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng được mong đợi là sẽ giúp mở đường cho Việt Nam gia nhập một hiệp định tự do thương mại đầy tham vọng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tức quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Mặc cho những nỗ lực của Hoa Kỳ trong việc hỗ trợ Việt Nam, Washington đã có được những gì từ Việt Nam? Nhiều người đã hy vọng rằng qua việc giúp Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Hà Nội sẽ tôn trọng các yêu cầu của Washington trong việc nới lỏng quyền tự do ngôn luận. Còn lâu, Hà Nội vẫn tiếp tục đàn áp một cách có hệ thống các nhà bất đồng chính kiến ​​và những người hoạt động cho nhân quyền.
Hoặc Phải Thay Đổi, hoặc Không Có Gì Hết
Washington đang nắm trong tay các quân bài, chứ không phải Hà Nội. Sẽ là cường điệu về khả năng của Hà Nội khi nói rằng các nhà lãnh đạo của Việt Nam có thể chơi ngang hàng và bình đẳng với Bắc Kinh. Washington cần hiểu rằng chế độ hiện hành tại Hà Nội là một trở ngại không cần thiết cho các mục tiêu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở châu Á-Thái Bình Dương. Đi cùng một con đường với chính quyền cộng sản Việt Nam sẽ mang lại ít hiệu quả thực tế nhất.
Mặc cho sự đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam và việc ủng hộ nước này gia nhập WTO, chưa nói đến sự hỗ trợ đang được mong đợi của Hoa Kỳ để Việt Nam gia nhập TPP, Việt Nam đã cho thấy họ thờ ơ với các mối quan tâm của Hoa Kỳ. Hà Nội đã được hưởng lợi từ mối quan hệ gần gũi hơn với Washington, nhưng lại không cho lại bất cứ điều gì. Một mối quan hệ như vậy cần phải được chấm dứt.
Hoa Kỳ cần phải yêu cầu Việt Nam làm rõ một lần ý định của mình. Tất nhiên, một quyết định như vậy không phải là điều dễ dàng cho Việt Nam. Theo đúng nghĩa đen, Trung Quốc luôn phủ bóng trong các quyết định như vậy ở Việt Nam.
Mặc dù Hoa Kỳ và Việt Nam thống nhất quan điểm trong mối quan ngại với sự quyết đoán ngày càng gia tăng của Trung Quốc, Hà Nội dường như thoả mãn trong mối quan hệ như hiện nay với hai tay chơi lớn. Không muốn ngả hẳn về Hoa Kỳ hay Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã chọn cách đi dây trong hai mối quan hệ này. Hà Nội đã luôn cẩn thận trong việc chọn các mặt trận, và cũng không vội vã gì để chọn theo bên nào.
Tuy nhiên, bây giờ là lúc mà chính quyền Việt Nam phải chọn một bên. Chứ không phải cứ đứng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc và làm cho cả hai đều khó chịu, Hà Nội phải quyết định nhanh chóng là sẽ ngả theo phe nào. Tất nhiên, Hà Nội có thể chọn đi một mình, nhưng ngay cả trong trường hợp đó Hoa Kỳ sẽ không có lý do gì để tiếp tục hỗ trợ cho Việt Nam, điều có thể ảnh hưởng đến việc gia nhập TPP của nước này.
Cũng có những lo lắng là một tối hậu thư như vậy sẽ làm các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam lo sợ và ngả hẳn về phe của Trung Quốc. Tuy nhiên, cần nhớ là nếu Hà Nội tìm cách làm vừa lòng Bắc Kinh như vậy, họ sẽ lộ ra trong con mắt của người dân Việt Nam như những kẻ phản bội bán nước. Một chế độ như vậy sẽ không tồn tại lâu ở Việt Nam.
Hoa Kỳ sẽ mất rất ít khi đưa ra một tối hậu thư như vậy. Những thiệt hại về kinh tế hay chiến lược nếu có trong trường hợp Hà Nội quay lưng lại với Hoa Kỳ có thể được thay thế bằng Indonesia, Singapore, Malaysia, Philippines và/hoặc Thái Lan. Trong trường hợp đó, Hoa Kỳ sẽ mất một đối tác nằm ngay sát Trung Quốc, nhưng duy trì nguyên trạng mối qua hệ như hiện nay với một chính quyền Việt Nam không dám ngả theo Hoa Kỳ thì cũng chẳng có lợi gì cho Hoa Kỳ cả.
Nếu Việt Nam về phe Hoa Kỳ thì các điều khoản với Hà Nội phải được đặt ra một cách rõ ràng: Việt Nam phải trải qua cải cách chính trị và dân chủ, và Washington sẽ chỉ tiếp tục mối quan hệ khi Hà Nội cho thấy các nỗ lực mạnh mẽ để cải cách thể chế. Đây có thể chỉ là một giả định cực đoan, nhưng giờ là lúc Washington nên chấm dứt sự nhầm lẫn là Hà Nội đang nắm trong tay tất cả các quân bài.
Khanh Vu Duc
Liêm Nguyễn lược dịch theo Asia Sentinel 
  (Blog Liem Nguyen ) 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét