Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, ngày 19 tháng 6 năm 2014

Tin thứ Năm, 19-06-2014 - Năm nhận định về quan hệ Việt-Trung

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
- Bí thư Đà Nẵng: “Giữ tàu cá bị Trung Quốc đâm chìm làm bằng chứng” (BizLive). – Bí thư Đà Nẵng: ‘Ngư dân kiện Trung Quốc phải chặt chẽ’ (VNE). – Ngư dân được vay vốn lãi suất thấp đóng tàu sắt (VNE). – Thủ tướng chỉ đạo tạo điểu kiện tối đa để ngư dân đóng tàu vỏ sắt (PLTP). – “Đóng tàu vỏ sắt phải lấy ý kiến ngư dân” – Thủ tướng lưu ý (MTG). – Ảnh: Ngư dân Lý Sơn rẽ sóng vươn khơi bám biển (TTXVN/ VTC).
- Tuyên dương tàu cá ra khơi gìn giữ chủ quyền (VNE). – Vương Quốc Lừa…! (Sống News). “Ở xứ người ta gặp cảnh can qua, nhà nước đưa dân lành tránh xa vùng lửa đạn, nhưng với kách mệnh chuyện lại khác, làm Hai tui nhớ lại hồi xưa lúc Hai tui còn cầm súng, mấy ‘ổng’ lùa dân đi trước đỡ đạn!!! Những máu sông xương núi, sẽ đầy thêm và cao thêm, khi những ngư dân chất phát bị đẩy vào con đường chết, cho tròn tấn kịch giữa hai thầy trò 4 tốt!
- Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc (TTXVN). “Tổng Bí thư khẳng định lập trường về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên Biển Đông là không thay đổi và không thể thay đổi; đề nghị khẩn trương trao đổi để có các giải pháp sớm ổn định tình hình…“. – ‘Lập trường về chủ quyền VN với Hoàng Sa không thể thay đổi’ (VNN). – Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc (TT). – Tổng Bí thư: Chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông không thể thay đổi (VNE).
- Thủ tướng tiếp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì (VTV). – Thủ tướng VN: ‘TQ xâm phạm chủ quyền (BBC). “Ông Dũng nói trong cuộc gặp tại Hà Nội rằng hành động của Trung Quốc đã ‘vi phạm những thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, vi phạm luật pháp quốc tế’ cũng như ‘gây bất bình và làm tổn thương tình cảm của nhân dân Việt Nam, tác động tiêu cực đến quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước’.” – Thủ tướng: Việt Nam kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền (VOV). – Tiếp ông Dương Khiết Trì, Thủ tướng yêu cầu TQ rút giàn khoan (NĐT). – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Cần kiểm soát tình hình, không để xảy ra xung đột Biển Đông (DT). – Thảo luận Việt-Trung về giàn khoan không đạt tiến bộ (VOA).
H4
- Hội đàm với ông Dương Khiết Trì, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh yêu cầu: Trung Quốc phải rút giàn khoan và tàu ra khỏi vùng biển của Việt Nam (TN). – Hội đàm Dương Khiết Trì – Phạm Bình Minh không đạt tiến bộ nào (RFI). – Hội đàm Việt – Trung ‘không đột phá’ (BBC). “Phóng viên của Reuters ghi nhận cảnh ông Dương và ông Minh bắt tay trước các phóng viên nhưng không mỉm cười“. Bức ảnh độc mà Reuters đã chụp được =>
- Không có tiến triển nào trong các cuộc đàm phán về giàn khoan giữa VN và TQ: Vietnam, China make no progress in oil rig talks (AP/ Charlotte Observer‎). – Bế tắc trong các cuộc đàm phán Việt – Trung: Deadlock at China-Vietnam talks (BBC). – TQ trách mắng VN kích động vụ giàn khoan trên Biển Đông: China scolds Vietnam for ‘hyping up‘ South China Sea oil rig row (Reuters/ Star). – Bắc Kinh bảo Hà Nội ngưng ‘thổi phồng’ tranh chấp trên biển: Beijing tells Hanoi to stop ‘hyping up’ sea dispute (Rappler).
- Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tổ chức cuộc hội đàm Chủ tịch Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Trung-Việt (CRI). “Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cho biết, Việt Nam sẵn sàng tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo hai nước về xử lý thoả đáng các vấn đề nhạy cảm trong quan hệ hai nước, tránh để cho các vấn đề này quấy nhiễu toàn cục của quan hệ hai Đảng và hai nước…”. Đây là quan hệ giữa 2 nước trên cơ sở bình đẳng, không phải cấp dưới nói chuyện với cấp trên mà “tuân thủ”! Không rõ PTT Phạm Bình Minh có dùng cụm từ “Việt Nam sẵn sàng tuân thủ” không, hay đó là cụm từ của CRI đặt vào miệng ông Phạm Bình Minh?
- TQ nói gì về gặp gỡ Việt – Trung (BBC). Tân Hoa Xã: “Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cho biết, Việt Nam sẵn sàng tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo hai nước về xử lý thoả đáng các vấn đề nhạy cảm trong quan hệ hai nước, tránh để cho các vấn đề này quấy nhiễu toàn cục của quan hệ hai Đảng và hai nước“. – ‘TQ chưa bao giờ thay đổi phương châm hữu nghị’ dỏm (VNN). – Dương Khiết Trì và cái bánh “Song Phương” bốc mùi “đại cục” (DLB). – Ông Dương Khiết Trì: Nhất trí kiềm chế không để xung đột (VNN). – SO SÁNH CÁCH ĐƯA TIN CUỘC GẶP GIỮA TA VÀ LÃO TRÌ (Nguyễn Quang Vinh).
- Tân Hoa Xã lại trắng trợn vu khống, đe dọa Việt Nam (VTC). “Bốn không được” mà THX đưa ra dọa VN: “Thứ nhất, không được đánh giá thấp quyết tâm và năng lực bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc với các đảo trên Nam Hải (Biển Đông); Thứ hai, không được sử dụng các tư liệu mà Việt Nam tự nhận là “tư liệu lịch sử” để gây hiểu lầm cho cộng đồng quốc tế và dư luận Việt Nam về chủ quyền ở Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa); Thứ ba, không được lôi kéo các nước khác can thiệp vào Nam Hải; Cuối cùng là không được phá bỏ mối quan hệ Việt Trung sau 20 năm bình thường hóa quan hệ“. – 4 TỐT KHÔNG ĐƯỢC THÌ “4 KHÔNG” (Nguyễn Quang Vinh).
- Chuyến đi của Dương Khiết Trì: Chỉ tốn tiền! (FB Tuan Nguyen). “Nói tóm lại, mạnh ai nấy nói. Chẳng ai đếm xỉa hay đề cập một cách đầy đủ những gì phía bên kia nói. Đó cũng là một nét văn hóa tiêu biểu của người Tàu (và Việt Nam), tức là không có cái mà tiếng Anh gọi là ‘give and take’… Nếu những diễn giải này đúng thì chuyến đi của DKT chẳng đem đến kết quả nào. Chỉ tốn tiền (chắc cả $100K) cho đoàn của ông ấy bay đến VN, ăn uống, và đi chơi mấy ngày ở Hà Nội“.
- Quan chức Bộ Ngoại giao Trung Quốc: Đa số các cuộc trao đổi giữa Trung Quốc và Việt Nam là do Trung Quốc chủ động đề xuất (CRI). Nếu vậy thì đã sao? Nhà của người ta, thằng láng giềng nhào vô cướp, chẳng lẽ bên bị cướp mở miệng đề nghị trao đổi? Có gì trao đổi ở đây mà “đề xuất” với “đề nghị”?
- Lý Khắc Cường: Bành trướng không có trong gen của người Trung Quốc?! (GDVN). Đúng vậy, máu xâm lược không có trong gen, chỉ có trong đầu của người TQ thôi! – Trung Quốc tự mâu thuẫn về lập luận chủ quyền Biển Đông (LĐ). - Tướng Thái Lan: Đường 9 đoạn của Trung Quốc thiếu cơ sở pháp lý (TTXVN). – Trung Quốc phải tôn trọng các hiệp định đã ký kết (QĐND).
- Manila muốn tòa sớm xử vụ kiện TQ (BBC). – Philippines hối thúc tòa quốc tế ra phán quyết vụ kiện Trung Quốc (VOV). – Philippines “thúc” tòa quốc tế phán quyết về Biển Đông (24h).
- Trung Quốc trỗi dậy và chiến lược hai trục của Mỹ tại biển Đông (NCQT). – Mỹ tăng gấp đôi vùng bảo vệ biển ở Thái Bình Dương (VNN). – Mỹ kêu gọi Australia tăng cường kiểm soát vùng biển có tranh chấp (VOA). – Trung Quốc không đủ sức không chiến với Mỹ (NLĐ).
- Người được đề cử Đại sứ Mỹ muốn bỏ cấm vận vũ khí Việt Nam (RFI). “Hai lý do khiến ông cho rằng « đã đến lúc » gỡ bỏ cấm vận : (1) Mong muốn của Việt Nam tham gia khối tự do thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương do Mỹ đề xướng ; (2) « tình thế chiến lược » do Trung Quốc gây ra mà Việt Nam đang phải đối phó“.
- Nga thắt chặt quan hệ với Việt Nam (Stratfort/ TCPT).
- Chiến lược độc đáo của Việt Nam trong tranh chấp Biển Đông (NCBĐ).
H8- Trung Quốc đưa thêm giàn khoan dầu ra Biển Đông (VNE). – Trung Quốc kéo giàn khoan thứ hai vào biển Đông (NLĐ). - Trung Quốc đưa giàn khoan thứ 2 xuống biển Đông (TN). “Giàn khoan này được cho là đưa ra khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, theo ifeng.com, trang thông tin của Đài truyền hình Phượng Hoàng (Hồng Kông) ngày 18.6“. Thông tin về giàn khoan thứ 2 trên báo Phượng Hoàng. — Ngày 20.6, Trung Quốc hạ đặt giàn khoan thứ 2 ngay cửa nam Vịnh Bắc Bộ? (MTG).
- Bắc Kinh đưa đảo có tranh chấp ở Biển Đông vào hệ thống quản lý đất đai (RFI). – Thêm một bước leo thang mới: Báo Trung Quốc: Bắc Kinh sẽ cho đăng ký quyền sử dụng đất ở Hoàng Sa và Trường Sa (TN). “Các nguồn tin còn xác nhận bất kỳ người dân hay doanh nghiệp Trung Quốc nào cũng có thể đăng ký quyền sở hữu và sử dụng đất, nhà ở, vùng biển ở những đảo và quần đảo trên biển Đông, bao gồm các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam“.
- Ý kiến chuyên gia Trung Quốc: Việt Nam cần phải tôn trọng công hàm Phạm Văn Đồng (Biển Đông). – Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam: Chủ Nghĩa Cộng Sản và cái công hàm Phạm Văn Đồng ký tên! (DLB). “Chỉ khi nào một thể chế mới không còn là chế độ độc tài cộng sản thay thế đảng cộng sản hiện nay tại Việt Nam thì chúng ta mới có cơ may đánh đuổi bọn xâm lược Tàu ra khỏi bờ cỏi, ra khỏi Hoàng Sa và Trường Sa“. – Vô hiệu hóa Công Hàm bán nước (DLB). – Công hàm bỗng chốc hoá ra cong hàm! (DLB). – Chuyện bát Nước (DLB).
- Phỏng vấn bà Yun Sun, chuyên gia nghiên cứu thuộc chương trình Đông Á của Trung Tâm Stimson, Washington DC: Ý kiến chuyên gia: TQ sẽ không nhượng bộ vấn đề biển Đông (RFA). “Chính sách của Trung Quốc rất rõ ràng. Có hai mặt trận. Thứ nhất là về hành động gọi là gây hấn của Trung Quốc dù là quân sự hay bán quân sự hay thương mại thì Trung Quốc cũng không lùi bước. Nhưng mặt khác trên lĩnh vực ngoại giao, Trung Quốc cũng cố gắng cho mọi người thấy một hình ảnh là Trung Quốc đang cố gắng nói chuyện và đàm phán“.
- GS Carl Thayer: Biển Đông : Không nên để Trung Quốc tự do lợi dụng Liên Hiệp Quốc (RFI). “Không được để cho Trung Quốc theo đuổi cuộc chiến tranh thông tin với mục đích thu lợi cả hai đầu – cho lưu hành một bản tuyên bố lập trường tại Liên Hiệp Quốc để chứng minh tính chất nghiêm túc của họ trong cuộc tranh chấp với Việt Nam, và lại từ chối đề nghị trọng tài của Liên Hiệp Quốc“. – Nhà báo Đức: Trung Quốc đang từng bước chiếm đoạt Biển Đông (TTXVN).
- Thoát khỏi áp lực TQ trên Biển Đông bằng cách nào? (RFA). LS. Vũ Đức Khanh: “Chính sách đối ngoại của VN muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới đã phá sản trong giai đoạn hiện nay, vì thế giới đang có xu hướng trở về lưỡng cực giữa hai nhóm đại diện cho quyền lợi của Mỹ-EU và một nhóm đại diện cho quyền lợi của Nga-Trung”.
H3- Jonathan D. London và Vũ Quang Việt – Ba biện pháp Việt Nam nên tiến hành để đáp ứng với giàn khoan dầu của Trung Quốc (FB Lê Quốc Tuấn/ Dân Luận). “Thứ nhất, Hà Nội nên tìm kiếm một phán quyết từ tòa án trọng tài theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển… Thứ hai, trong khi bắt đầu cuộc khiếu kiện của riêng mình, Việt Nam nên tìm cách tham gia với trường hợp khiếu kiện của Philippines đối với Trung Quốc… Thứ ba, Hà Nội nên ưu tiên giải quyết sớm của tất cả các tranh chấp tồn đọng với Philippines, Malaysia và tham gia vào những thỏa thuận với các nguyên đơn khiếu kiện khác trong ASEAN“.
- TS. Hoàng Chí Hiếu Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế: VỤ GIÀN KHOAN HD 981: NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CÓ ĐẤU TRANH NHẦM ĐỐI TƯỢNG? (BVN). “Tại sao Trung Quốc lại không chịu rút giàn khoan HD 981 ? Phải chăng Trung Quốc bất chấp sự phản đối của dư luận hay sự phản ứng của Việt Nam là chưa đủ mạnh? Trong trường hợp này, theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng sở dĩ Trung Quốc vẫn chưa chịu rút giàn khoan bởi một lẽ đơn giản, Việt Nam đã nhầm đối tượng đấu tranh“.
- Năm nhận định về quan hệ Việt-Trung (1) (pro&contra). “Mỹ có đối đầu Tàu vì Việt Nam không? Không! Người hùng giờ thấm mệt, thích chăm việc nhà và việc gần hơn lo việc thiên hạ quá xa. Tàu có đánh Việt Nam không? Đánh làm gì khi Tàu gần như đã có những gì họ muốn: một chế độ ngoan như tay sai, một lãnh thổ họ tha hồ tung hoành và đang từng bước trở thành thuộc quốc. Đảng có cứu nước không? Làm gì có, vì có quá nhiều dấu hiệu cho thấy Đảng đang hành xử như tay sai mẫn cán của Tàu, lo giữ ghế hơn lo giữ nước. Chỉ còn lại dân? Đúng! Khi dân là những người tự do, không sợ hãi, không bị ngoại bang bịt miệng trói tay. Họ đang đẩy dân vào thế bất tuân dân sự? Vâng! Và đây sẽ là cuộc đấu tranh: ngoài chống giặc ngoại xâm, trong chống bọn bán nước, giành lại cho dân quyền lực chính đáng của mình“.
- NIỀM TIN (FB Nguyễn Hưng Quốc). “Chừng nào đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam chưa trả lời rõ ràng về công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 cũng như các thỏa thuận giữa họ với nhà cầm quyền Trung Quốc trong hội nghị Thành Đô năm 1990, dân chúng hoàn toàn có quyền nghi ngờ họ đã ngấm ngầm đầu hàng giặc“. – Đáp số của những sự im lặng (RFA). – Trần Gia Phụng: Đã đến lúc phải dứt khoát (DLB). “Đã đến lúc nhân dân Việt Nam phải dứt khoát hành động! Nếu không, thời kỳ bắc thuộc đen tối đang chờ đợi Việt Nam“.
- Tô Văn Trường: HÔN NHÂN Ý THỨC HỆ QUÀ TẶNG TRỚ TRÊU CỦA SỐ PHẬN (BS). “Về bản chất Trung Quốc và Việt nam hiện tại đã vứt bỏ toàn bộ những cái tốt đẹp, mơ mộng và ảo tưởng của Chủ nghĩa xã hội để lộ rõ nguyên hình mô hình phát triển ‘tư bản đỏ’, bất chấp tất cả, vì lợi nhuận và quyền lực thống trị“.
- Biển Đông đã mất? (Phạm Hồng Sơn). “… lại nghe thấy ‘Thoát Trung’, những người Trung Hoa dân tộc chủ nghĩa không thể không nộ khí: ‘Chúng mày đang bị chính chúng mày trói chân, trói cả tay cả đầu, thế mà vẫn còn hùng hổ ‘Thoát Trung’. Ai cho thoát? Thoát đi đâu? Ngàn đời còn khổ các con ạ!’. Đó có thể là tưởng tượng phóng đại, quá khích, ác khẩu. Nhưng không thể lấy một chủ nghĩa dân tộc mù quáng để chống lại một chủ nghĩa dân tộc (lớn hơn nhiều) cũng mù quáng. Không thể tìm kiếm công lý, an bình cho dân tộc mình bằng sự trí trá, chà đạp một công lý khác“.- Việt Hoàng – “Thoát Trung” là thoát cái gì và thoát như thế nào? (Dân Luận).
- TUYÊN BỐ LÊN ÁN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC LÃNH THỔ VIỆT NAM & YÊU CẦU NHÀ NƯỚC VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TÒA ÁN QUỐC TẾ (BS). “Cực lực lên án những hành vi có tính toán của Trung Quốc đang từng bước xâm lược lãnh thổ Việt Nam và thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông. Yêu cầu Nhà Nước Việt Nam khẩn trương khởi kiện Trung Quốc ra tòa án Quốc tế về những vi phạm chủ quyền nghiêm trọng của họ tại Biển Đông, đặc biệt là kết hợp cùng Philippines đấu tranh pháp lý quốc tế để xóa bỏ đường 9 đoạn (lưỡi bò) phi pháp và phi lý của Trung Quốc“.

- Tư liệu chủ quyền Trường Sa – Hoàng Sa – Bài 11: Những người ‘phản tỉnh’ ở Trung Quốc (TVN). – Hội thảo quốc tế “Hoàng Sa – Trường Sa: Sự thật lịch sử” tại Đà Nẵng (LĐ).
- Người Việt tại Nhật Bản tuần hành phản đối Trung Quốc (DT). – Tuần hành chống Trung Quốc tại Nhật gây tiếng vang lớn (LĐ). – Biểu tình phản đối TQ ở London (BBC).
- Về cuộc triển lãm “Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông và Hoàng Sa – Trường Sa”: THÔNG BÁO CỦA TÒA TỔNG GIÁM MỤC SÀI GÒN (Tễu). – Hoãn cuộc triển lãm bản đồ “Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông” (RFA).
- Sự hung hăng của TQ cảnh tỉnh các nhà hoạch định chính sách VN (MTG). – Giảm nhập nguyên liệu Trung Quốc (NLĐ).
- Hacker sẽ tấn công hai DN dầu khí lớn của VN (TBKTSG). “Bộ Công Thương vừa có công văn chỉ đạo hai doanh nghiệp dầu khí lớn của Việt Nam trực thuộc bộ sẵn sàng ứng phó với nguy cơ bị tấn công mạng có thể vào ngày vào 20-6 tới“. Hacker đến từ “nước lạ”?
- Đôi lời gửi vài bạn “xã hội dân sự” (Nhóm thân hữu THDCĐN) (Thông Luận). “Chúng ta cùng chung một số phận và chia sẻ chung một tương lai. Hãy bớt những thời gian vô bổ để trau dồi nhiều hơn kiến thức chính trị. Hãy mở rộng trái tim và khối óc để bình tĩnh trao đổi và góp ý thẳng thắn với nhau. Và hãy ưu tư tìm kiếm và hỗ trợ những tổ chức chính trị đứng đắn để đóng góp sức lực nhỏ bé của mình cho một cuộc đổi đời vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam“.
- Chuyến thăm LS. Lê Quốc Quân ở trại giam An Điềm (RFA). - Thư Trần Huỳnh Duy Thức viết trong trại giam Xuyên Mộc ra ngày 28/05/2014 (Dân Luận). “Việt Nam mình ra sức ca ngợi Nga sát nhập Crime. Nhưng khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam thì nước Nga không một lời bảo vệ mà còn gây bất lợi cho mình. Những nước anh em như Lào, CPC, Cuba cũng chẳng thấy tăm hơi đâu“.
- Phải làm cho ta khác địch (FB LS Lê Đức Minh). “Phải mất 40 năm những người cộng sản mới nhìn thấy được cái “trí tuệ” trong những ngôn từ mà nền hành chánh ưu việt của VNCH đã dùng. Có nghĩa đã mất 40 năm cho đảng và chế độ tiến lên được cái mức của năm 1975 ở miền Nam. Đó là hình thức. Còn nội dung thì không biết đến bao giờ mới bò lên được cái mức mà VNCH đạt được vào thời điểm năm 1963, chứ chưa nói đến vào thời điểm 1975“.
H7- Tranh cãi luật biểu tình dựa trên tiêu thức nào ? (TS).
<- Hàng ngàn Dân oan các nơi lại kéo đến Tràng thi, TW MTTQ để đòi đất, đòi người (Lê Hiền Đức).
- Cuối năm tiếp tục lấy phiếu tín nhiệm (TP). – Người có phiếu tín nhiệm quá thấp có thể bị bãi miễn ngay (TBKTSG). – Lấy-bỏ, bỏ – lấy… Nghị quyết 35 của QH và Hiến Pháp (FB Nguyễn Vạn Phú/ QC). – Phỏng vấn ông Vũ Mão, cựu Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội: “Ai vì xã tắc, ai vì cái ghế của mình, dân biết cả đấy” (GDVN). Đúng vậy, ai yêu nước, ai bán nước cũng không thể qua mặt được dân!
- VN có thêm thứ trưởng ngoại giao (BBC). – Bộ Ngoại giao có thêm Thứ trưởng (VNN). – Bộ Ngoại giao có Thứ trưởng mới (TT).
- Thứ trưởng không phải người phiên dịch (NLĐ). “Bộ Nội vụ đưa ra quy định như vậy thì lấy đâu ra thứ trưởng. Thứ trưởng của ta đa số từ cấp vụ trưởng và các giám đốc sở từ tỉnh được bổ nhiệm lên thì lấy đâu ra ngoại ngữ giỏi”.
- ‘Yêu cầu cao nhất của người làm báo là đạo đức nghề nghiệp’ (VNN). Thứ trưởng Bộ TT&TT Trương Minh Tuấn: “Nhiều nhà báo vì lý do này, lý do khác vẫn phạm phải những sai phạm rất đáng tiếc. Những sai phạm đó là gì? Tung tin thất thiệt, đưa tin gây ảnh hưởng, phương hại đến tổ chức, cá nhân“.
- Tạm đình chỉ Phó TGĐ Vinalines Vũ Khắc Từ (VNN). – Đình chỉ Phó tổng giám đốc Vinalines để giải trình vụ tham ô (NĐT).
- Ăn chặn tiền phu trầm, lãnh đạo công an bị tố ra tòa (MTG). Quá tội cho người dân, hết bọn xã hội đen, tới đám xã hội đỏ thay phiên trấn lột!
- Cảnh sát hình sự bắn thủng bụng một thanh niên (PLTP). – Bị bắn vì hình dáng giống tội phạm (TN).
- Ngư dân VN bị tòa Philippines phạt tù (BBC).
- Nhật nới lỏng visa cho du khách Việt Nam (RFI).
- Hồ Bạch Thảo: Cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (2) (Diễn Đàn).
- Tập Cận Bình nhấn mạnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối của ĐCS Trung Quốc đối với Lực lượng không quân (Kichbu). Còn hải quân, lục quân thì ĐCS TQ không lãnh đạo “tuyệt đối”?
- Luật sư Trung Quốc sẽ bị phạt nếu có hành vi “không thích hợp” trên mạng (RFI).
- Tỉ phú Trung Quốc mời 1.000 người nghèo Mỹ ăn trưa (TT). Lại tên Trần Quang Tiêu chơi trội, người nghèo, vô gia cư ở Trung Quốc đông lắm, sao không mời họ ăn, giúp đỡ cho họ? Người dân Mỹ cho dù ở tận cùng dưới đáy XH Mỹ, họ vẫn có cuộc sống khá hơn nhiều người nghèo ở TQ.
- Điện thoại Trung Quốc có phần mềm gián điệp (NLĐ).
- Cuộc chiến chưa kết thúc giữa hai miền Triều Tiên (VNN).

- Đại biểu giục Quốc hội ra nghị quyết về Biển đông (VNE). - Đại biểu Trương Trọng Nghĩa tha thiết đề nghị QH ra Nghị quyết về Biển Đông (NLĐ). – Ông Trương Trọng Nghĩa đề nghị Quốc hội ra tuyên bố về biển Đông (TT). “Trong chương trình nghị sự còn lại của kỳ họp này không có mục thảo luận về biển Đông. Cho đến nay chỉ có thảo luận tổ và thảo luận ở hội trường riêng, nhưng không hề có một dự định nào để ra một nghị quyết hoặc tuyên bố chính thức về biển Đông”.
- Phan Nhật Nam: Không thể đòi lại những gì đã bán mất! (Sống News). “Trường Chinh đã một lần hân hoan tuyên bố khi nghe tin hải quân Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH năm 1974: Ta giao cho Trung quốc giữ còn hơn là để Mỹ-Ngụy giữ...! .. Thế nên Hà Nội không thể đòi lại những gì mà mà họ đã thuận lòng bán đứt cho Bắc Kinh: Đấy là lãnh thổ, lãnh hải của Tổ Quốc Việt Nam“. – Sao ông Trọng cứ dấm dớ còn hơn cả ếch ngồi đáy giếng mãi thế? (BĐX). – Họ sợ nhất cái gì? (Dân News).
- Từ 4 tốt đến 4…không được (HiệuMinh). “Nhiều nhân sỹ yêu nước lên tiếng, cảnh tỉnh chính quyền, nhưng họ bị hỏi thăm, an ninh theo dõi, bị bắt, bị tù đầy chỉ vì sợ ảnh hưởng đến…4 tốt. Biểu tình chống Trung Quốc bị đàn áp, báo chí cấm không được nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa. An ninh Việt Nam hết lòng vì phương Bắc, sẵn sàng trấn áp mạnh tay. Sự cúi đầu trước thiên triều ấy chẳng giúp được gì trong quan hệ Trung Việt. Biển Đông nổi sóng, cuộc chiến Việt Trung có thể xảy ra bất kỳ lúc nào“.
- Người được đề cử làm đại sứ Mỹ ở Việt Nam nói gì về biển Đông? (VOA). “Chúng ta có trách nhiệm lớn phải đảm bảo rằng các tranh chấp về lãnh hải và lãnh thổ tại biển Đông được giải quyết theo luật lệ quốc tế và không phải bằng việc ép buộc hay đe dọa. Thật đáng tiếc, gần đây chúng ta thấy một chuối các bước đi đơn phương của Trung Quốc nhằm thúc đẩy các tuyên bố về lãnh hải và lãnh thổ”. – “Đến lúc Mỹ bỏ lệnh cấm vũ khí sát thương với Việt Nam” (LĐ)
- Trước tình hình nghiệm trọng của đất nước, chúng tôi có 4 câu hỏi đặt ra (DLB). – Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách (DLB). – TIN NÓNG: No U HÀ NỘI THÔNG BÁO BIỂU TÌNH PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC (Tễu). “Vào hồi: 16h30 ngày Thứ 5 – 19/6/2014; Tại: Tượng đài Lý Thái Tổ – Hồ Gươm – Hà Nội“.
- Hồng Trung: Hãy trả lại sự thật cho lịch sử! (ĐVD). “Môn lịch sử không phải là bộ môn giáo dục tuyên truyền chính trị mà là môn học giáo dục cho mọi người biết về cội nguồn dân tộc, lòng tri ân đối với cha ông và lòng yêu nước, nhưng đã bị Đảng lạm dụng và biến nó trở thành công cụ tuyên truyền cho mục đích riêng của CNCS. Vì bảo thủ chính trị, môn sử được biên soạn trong sự định hướng của tuyên huấn đã làm nhòa đi hàng ngàn năm vẻ vang hào hùng của dân tộc VN trong cuộc chống giặc Tàu thay vào đó là ca ngợi Đảng, Bác và chủ nghĩa anh hùng cách mạng… “
- Lấy nhà của dân, sao lại “xem xét bồi thường”? (VnEconomy). “… trong trường hợp nhà nước phá dỡ nhà ở, trưng mua, trưng dụng vào một số mục đích thì thay vì quy định ‘được nhà nước xem xét bồi thường’ thì luật cần phải quy định người chủ sở hữu nhà ở ‘được quyền yêu cầu để bồi thường’.”
- Ảnh chụp trước cổng Quận ủy quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng: Lỗi nghiêm trọng trên biển chào mừng sinh nhật Bác ở Hải Phòng (KT).
- Tại Sao Trung Quốc Có Nhiều Người Tử Vong Do Tai Nạn Giao Thông Nhất Thế Giới? (ĐKN). “Buôn bán bằng lái xe/ Phớt lờ luật giao thông/ Quản lý giao thông yếu kém/ Mức phạt vi phạm giao thông nhẹ“.
KINH TẾ
- Toàn cảnh kinh tế Việt Nam 18-6-2014 (VietFin). – Vào chợ mỗi ngày TTCK 18-6-2014
- Nâng tỷ giá lên 1% từ ngày 19-6 (TT). – NHNN điều chỉnh tỷ giá 1% nhằm “hỗ trợ xuất khẩu” (TBKTSG). – Lãi suất giảm mạnh có thể là “con dao hai lưỡi” (VnEconomy).
- Trần tỷ giá USD/VND tăng thêm 1% (DT).
- Vật liệu xây dựng vẫn khó vì bất động sản trì trệ (TBKTSG).
- Phân bón giả đổ dồn về ĐBSCL (TBKTSG).
- Samsung muốn xây thêm nhà máy tỷ đô ở Bắc Ninh (VNE).
- Thương lái Trung Quốc đổ xô mua vải thiều Bắc Giang (TP). – Hàng nghìn xe chở vải làm ùn tắc quốc lộ (Zing). – Vải thiều “chất đầy” Lục Ngạn (VOV).
- Đầu tư vào Trung Quốc giảm (NLĐ).
- Trung Quốc ứng 25 tỷ đô la cho Nga làm đường ống khí đốt (RFI).
- Hiệp định TPP đang tiến đến giai đoạn đàm phán then chốt (TTXVN).

VĂN HÓA-THỂ THAO
- CHUYỆN XƯA – NAY MỚI NÓI : Hội nghị lý luận phê bình VĂN HỌC – Kỳ 5 (Nhật Tuấn).
- Trịnh Cung: Huyền Thoại Cây Sồi Già (Blog VOA).
- Ân tình với nhà văn Bùi Ngọc Tấn (Quê Choa). – Tiếc thương nghệ sĩ Xuân Phát (VN).
- Núi Đoạn Sông Lìa – phần 51 (Da Màu). – Câu chuyện của Nàng và lũ ve sầu
H6- Tình hình lí luận văn học Việt Nam hiện nay (Trần Đình Sử).
- THẢO LUẬN VỀ DỊCH THUẬT (3): Dịch ở khắp nơi (Văn Việt).
- VĂN HÓA VIỆT NAM TRƯỚC 1945: Bộ Hình Ảnh Và Những “Tiếng Rao Hà Nội” Thuở Xưa (Phần 1) (Sơn Trung). =>
- Mai Huy Bích – Vì sao người ta phải thoát Khổng? (Dân Luận).
- Đừng làm cho cuộc sống thêm tồi tệ (THĐP).
- Sách của NXB Giáo dục bị in lậu quá nhiều (PLTP). – NXB Giáo dục kêu cứu: Tràn lan sách in lậu (LĐ). – Sách lậu nhái cả tem chống giả (TN).
- Tổng thống Đức Joachim Gauck: “Tôi rất vui mừng trước Cúp bóng đá thế giới 2014, nhưng…” (Tia Sáng).
- World Cup Brazil 2014 ngày thứ 7 (RFA). – Lịch thi đấu & Kết quả các trận (bảng đầy đủ) (BBC). – ‘Anh không sợ Uruguay’ (BBC). – Ngày phán quyết cho Tây Ban Nha (BBC). – Croatia ‘nghiền nát’ Cameroon 4-0 (NV).

- Tuấn Khanh: Khi nào bầy cừu biết xấu hổ? (Dân News).
- Nguyễn Hưng Quốc: World Cup, chủ nghĩa quốc gia và toàn cầu hoá (Blog VOA).
GIÁO DỤC-KHOA HỌC
- Nguyễn Trần Sâm: Phải thế nào thì mới có thể hy vọng có một nền giáo dục tử tế? (Đào Hiếu).
- “Tỉ lệ tốt nghiệp phản ánh sát chất lượng dạy và học” (VNN). – Thứ trưởng GD-ĐT: Thi tốt nghiệp THPT chưa sát với chất lượng thật (VOV). – Đổi mới thi tốt nghiệp THPT để tránh tốn kém, lãng phí (HQ). – Kỳ thi tốt nghiệp đi đúng hướng đổi mới giáo dục (Zing). - Sẽ có kỳ thi chung sau 2016 (PLTP).
- Giáo viên thở phào khi dạy thêm được cởi trói (VNN).
- Thế giới công nhận chất lượng, trình độ học sinh Việt Nam (GDTĐ).
- Vào ĐH Yale để bảo vệ biển, đảo Việt Nam (PLTP).
- Phụ huynh “chạy sô” luyện thi (DT).
- TP.HCM “siết” quy định về hộ khẩu, KT3 để giảm “chạy trường” (SM).

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG
- Virus H7N9 có thể tấn công Việt Nam và một số nước châu Á (PLTP). – Cúm H7N9 : Năm nước Châu Á và Trung Quốc có nguy cơ lây nhiễm cao (RFI).
- Khám sàng lọc ung thư vú cho 1.000 phụ nữ (PLTP).
- Ngộ độc do ăn bọ xít đen, hơn 20 người phải đi cấp cứu (TTXVN).
- Dân mạng hoang mang với ‘đá nửa ngày không tan’ (Zing). – Đá không tan nguy hiểm như thế nào? (SKĐS).
- Đặc biệt từ Nhật: Chàng sinh viên bại liệt khiến cô giáo Việt ‘thấy mình bé nhỏ’ (Tiin).
- Buôn lậu 3,2kg sừng tê giác: 2 năm án treo! (TT).
- Nhật Bản cấm sở hữu khiêu dâm trẻ em (BBC). - Nhật Bản hình sự hóa việc sở hữu các tài liệu ấu dâm (VOA).
- Chuyện cá độ bóng đá (RFA).
- Xem World Cup cũng bị đánh bom khiến 14 người chết (SM).

QUỐC TẾ
- TT Ukraine đề nghị một cuộc ngưng bắn đơn phương ở miền đông (VOA). – Ukraine tạm ngừng chiến dịch trấn áp miền đông (VNE). – Tổng thống Ukraina sẽ đơn phương ra lệnh ngưng bắn ở miền đông (RFI).
- Mỹ đột kích vào Libya, bắt được nghi can vụ tấn công lãnh sự Mỹ (RFI). – Mỹ bắt ‘kẻ chủ mưu’ vụ tấn công Benghazi (BBC). – Phản ứng về vụ bắt giữ nghi can Benghazi (VOA).
- TS. Vũ Lê Thái Hoàng: Sức mạnh thông minh, thế kỷ Thái Bình Dương và học thuyết đối ngoại Obama (NCQT). – So sánh chế độ tài phiệt tập quyền ở Nga, Ukraine và Mỹ (phần 1) (BHC).
- Trung Quốc dòm ngó Bắc Cực, Nga lo lắng (NLĐ).
- Nhật Bản: Từ giải thích hiến pháp đến sửa hiến pháp (VNN).
- Tây Ban Nha tưng bừng chuẩn bị cho lễ đăng quang của Thái tử Felipe (RFI).
- Đông Nam Á lại trở thành điểm nóng của hải tặc (RFI).
- Công nhân Campuchia tiếp tục bỏ chạy khỏi Thái Lan (VOA).
- Hiệu trưởng mất chức vì vụ chìm phà Sewol (VNE).
- Hỗn loạn bao trùm thủ đô Paris (VNN).
- Trung Quốc: Ít nhất 17 binh sĩ thiệt mạng do nổ kho vũ khí (LĐ).

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Thánh Chiến và Lịch Sử (Dainamax).
* RFA: + Sáng 18-06-2014; + Tối 18-06-2014
* RFI: 18-06-2014

2356. HÔN NHÂN Ý THỨC HỆ QUÀ TẶNG TRỚ TRÊU CỦA SỐ PHẬN

Tô Văn Trường
18-06-2014
Thiên hạ đồn rằng lãnh đạo Nhà nước Việt Nam sắp có cuộc bàn luận quan trọng về việc kiện hay không kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế thì có tin chính thức ông Bộ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì sang thăm Việt Nam
Kinh nghiệm thực tế chỉ ra rằng là từ Thành Đô (1990) đến nay, cứ mỗi lần ta chịu thỏa hiệp một chút để cầu hòa, thì được xả hơi một chút để có sức đón nhận từ phía Trung Quốc một đòn lệ thuộc mới hay một cú chèn ép mới. Lần này chắc cũng thế!
Sau khi tôi viết liền 2 bài: ”Phải kiện nhưng kiện cái gì như thế nào và khi nào” và “Luận bàn về nếu Trung Quốc ly thân hay ly dị Việt Nam” nhiều ý kiến phản hồi nên bổ sung phân tích về cuộc hôn nhân, mối tình “môi hở – răng lạnh” Trung- Việt để thấy được toàn cảnh trớ trêu của số phận.
Hôn nhân tự nhiên về mặt địa lý.
Việt Nam-Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông Điều này có lẽ là thiên định. Việt Nam không thể “chuyển nhà” và cũng không thể bắt Trung Quốc rời chuyển đi chỗ khác ! (theo kiểu tuyên bố khùng của Fidel đại ý nếu Mỹ không thích Cuba thì Mỹ có thể chuyển đi chỗ khác !). Đây là cuộc hôn hôn nhân tự nhiên về mặt địa lý là cuộc hôn nhân định mệnh trớ trêu của tạo hóa.
Hôn nhân về ý thức hệ.
Đây là điều đáng nói và đáng bàn. Trong suốt quá trình phát triển lịch sử mấy ngàn năm, cũng như Nhật Bản và Hàn Quốc, Việt Nam bị ảnh hưởng văn hóa và tư tưởng của Trung Quốc nhưng chưa bao giờ dân tộc Việt  bị đồng hóa và luôn giữ gìn truyền thống dân tộc và luôn tìm cách phát triển riêng và độc lâp của mình. Chủ nghĩa cộng sản và Chủ nghĩa xã hội ra đời và tìm được đất để phát triển tại những nước lạc hậu, dân trí thấp như Nga, Trung Quốc, Cuba, Triều tiên và Việt Nam.
Nói Việt Nam bị ảnh hưởng là quá nhẹ, phải nói là Việt Nam là nô lệ có lẽ chính xác hơn. Có thật Việt Nam chưa bị đồng hóa không? Theo các nhà Việt Nam học, thì hình như là không. Việt Nam luôn tìm cách phát triển riêng, và độc lập thì có lẽ đúng. Nhưng tiếc thay, những cố gắng của Việt Nam thì chưa thành công. Trong lịch sử, những lần Việt Nam chiến thắng Trung Quốc thì chỉ là chiến thắng trong các cuộc chiến, nhưng sau đó thì lại trở thành nô lệ về chính trị, và văn hóa.
Trung Quốc và Việt Nam xây dựng cuộc hôn nhân của mình trên nền tảng ý thức hệ mơ hồ và ảo tưởng này chủ yếu là để cai trị và củng cố quyền lực của giới thống trị. Ở thế kỷ 21 này, với trình độ dân trí và phát triển hội nhập thì điều này trở nên “Xưa rồi Diễm ơi!”. Về bản chất Trung Quốc và Việt nam hiện tại đã vứt bỏ toàn bộ những cái tốt đẹp, mơ mộng và ảo tưởng của Chủ nghĩa xã hội để lộ rõ nguyên hình mô hình phát triển “tư bản đỏ”, bất chấp tất cả, vì lợi nhuận và quyền lực thống trị.
Phải thoát ra khỏi chính mình
Con đường duy nhất của VN lúc này là phải kiên định, dũng cảm nhìn lại mình và vượt lên chính mình để cải tổ thể chế, đoàn kết và hòa giải dân tôc, và dân chủ hóa để đưa đất nước hòa nhập với cộng đồng văn minh của thế giới, đưa đất nước phát triển, thêm bạn bè tốt và tránh xa kẻ xấu.
Nếu đã nhìn rõ, nhìn đúng được bản chất thực sự của Trung Quốc thì ta sẽ có được hướng đi rõ ràng hơn. Trước đây, giới lãnh đạo và nhân dân còn mơ hồ. Giới lãnh đạo mơ hồ vì họ còn quyền lợi. Nhưng người dân thì không phải vì quyền lợi (đúng ra là quyền lợi bị xâm phạm) mà vì người dân vẫn còn mê muội từ thời xưa do bị tuyên truyền, nhồi sọ. Và chính người dân, và những người lãnh đạo có nhận thức tốt, cũng chưa ý thức được cuộc chiến nó sẽ cam go như thế nào.
Đây là cuộc chiến “hai trong một”. Có lẽ giờ đây chính là lúc cuộc chiến cam go nhất trong lịch sử Việt Nam. Thứ nhất là cuộc chiến giải phóng dân tộc. Chưa bao giờ Việt Nam thoát ra khỏi cái bóng, khỏi sự nô dịch của Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên có cơ hội để thoát ra. Thứ hai, đây là cuộc chiến giải phóng con người. Đây không phải là cuộc chiến ý thức hệ Xã hội chủ nghĩa/Tư bản chủ nghĩa vì thực ra làm gì có XHCN ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, không thể tồn tại cái cuộc chiến ý thức hệ nữa. Bây giờ là cuộc chiến giải phóng con người. Cuộc chiến giành quyền con người. .
Lần này, Dương Khiết Trì sang Việt Nam cũng có thể là ve vãn mà cũng có thể là dọa dẫm và lôi kéo. Trung Quốc rất sợ Việt Nam chuyển hướng cải tổ thể chế, dân chủ để hóa tiếp cận với nền văn minh của thế giới. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới Trung Quốc, đặc biệt tới phong trào dân chủ tại đây. Sẽ không bao giờ Trung Quốc muốn có một Việt Nam phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Singapore ở ngay cạnh mình. Việt Nam thống nhất và phát triển theo hướng hòa nhập với cộng đồng văn minh của thế giới  là một cản trở rất lớn cho giấc mộng bá quyền Trung Hoa.
Sự kiện Biển Đông là cơ hội lớn cho sự phát triển này. Đừng làm hời hợt nửa vời. Điều đó sẽ tổn hại tới Đất nước và sự phát triển bền vững của Dân tộc Việt. Nhân dân Trung Quốc chắc chắn cũng sẽ cám ơn Việt Nam vì điều này! 
Người bạn từ Hà Nội chia sẻ quan điểm là muốn thoát Trung thì phải thoát ra khỏi chính mình đã. Và nếu làm được từ trên xuống sẽ tránh được đổ máu. Hôm nay ông Yang Jiechi và ông Phạm Bình Minh bài của ai người ấy đọc nhưng lại vẫn cứ gọi nhau là đồng chí. Rõ chán!
Viết đến đây, tôi lại nhớ bài hát của Nhạc sỹ Trần Tiến “Chim sẻ tóc xù” phỏng thơ của Lưu Quang Vũ “Phố ta” những năm đầu 70 của thế kỷ trước:
“Đừng nghe em nhé đừng nghe!
Mà nghe em nhé, đừng tin”
Khôn nhà dại chợ
Cái khó là ở chỗ đã quyết định “ra đòn” là phải dứt khoát, không thể ngập ngừng! Cái đáng lo nhất là phải “thoát lú” vì e rằng các chính khách của ta đã quá  quen với ứng xử kiểu “khôn nhà, dại chợ”, và “cả vú lấp miệng em” khi hành xử đối nội. Có rất nhiều việc thuộc về quốc sự mà ở ta thì lại  ngẩn ngơ “trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã tường” – hết sức kỳ lạ!
Đó là chưa kể tới việc có khả năng còn có cả những éo le trong “thâm cung bí sử” như cỗ xe tứ mã có đủ ngựa nhưng được đóng vào xe lại không cùng một hướng thì sẽ tự phanh hãm !
Thay cho lời kết
Giới thạo tin cho rằng chuyến đi của Dương Khiết Trì nhằm đe dọa đồng thời vuốt ve Việt Nam nhằm mục đích là ngăn không cho Việt Nam gần gũi với Mỹ – Nhật đồng thời, không kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Họ Dương có thể đưa ra củ carot này nọ để câu giờ và tạo thế cho cánh thân Tàu chiếm ưu thế trong Đại hội 12 tới nhưng nếu nhìn vấn đề tận bản chất thì sự xâm lược ở Biển Đông là quá lộ liễu, trắng trợn (họ đang biến Gạc Ma và Bãi Chữ Thập thành căn cứ quân sự khủng) cho nên nếu xoa dịu bằng cách rút dàn khoan đi mà Việt Nam đã vội OK không kiện nữa thì đúng là ăn quả LỪA nữa rồi.
Thế của Việt Nam bây giờ tuy yếu hơn họ, đánh nhau thì có thể thua trong ngắn hạn nhưng Trung Quốc khó nuôi cuộc chiến này lâu vì cả trong và ngoài nước không thuận. Đó là chưa tính đến việc Mỹ, Nhật, Hàn, Ấn Độ, Úc vv…đời nào chịu để Trung Quốc nắm con đường huyết mạch giao thương.
Bởi vậy thái độ cương quyết nhưng mềm dẻo về đối ngoại kết hợp với hành động cải cách thể chế chính trị, kinh tế- xã hội trong nước lúc này chính là áp dụng bài học ” lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy chí Nhân mà thắng bạo tàn” mà Cha Ông ta để lại.

2357. Năm nhận định về quan hệ Việt-Trung (1)

Pro&Contra
Từ Linh
18-06-2014
Giữa những ngày giàn khoan 981 nghênh ngang thách thức chủ quyền Việt Nam và gây không ít hoang mang, bài này xin được góp một số ý nghĩ về bốn bên liên quan: Mỹ, Tàu, Đảng và dân. Có ý sẽ làm người lạc quan phật lòng, có ý sẽ làm người bi quan bất đồng, có ý có thể chủ quan, nhưng xin chép cả vào đây, như góp một cái nhìn tham khảo. Bài chia làm năm phần, tương ứng với năm câu hỏi-đáp, xin tóm gọn như sau:
1. Mỹ có đối đầu Tàu vì Việt Nam không? Không! Người hùng giờ thấm mệt, thích chăm việc nhà và việc gần hơn lo việc thiên hạ quá xa.
2. Tàu có đánh Việt Nam không? Đánh làm gì khi Tàu gần như đã có những gì họ muốn: một chế độ ngoan như tay sai, một lãnh thổ họ tha hồ tung hoành và đang từng bước trở thành thuộc quốc.
3. Đảng có cứu nước không? Làm gì có, vì có quá nhiều dấu hiệu cho thấy Đảng đang hành xử như tay sai mẫn cán của Tàu, lo giữ ghế hơn lo giữ nước.
4. Chỉ còn lại dân? Đúng! Khi dân là những người tự do, không sợ hãi, không bị ngoại bang bịt miệng trói tay.
5. Họ đang đẩy dân vào thế bất tuân dân sự? Vâng! Và đây sẽ là cuộc đấu tranh: ngoài chống giặc ngoại xâm, trong chống bọn bán nước, giành lại cho dân quyền lực chính đáng của mình.

I. MỸ CÓ ĐỐI ĐẦU TÀU VÌ VIỆT NAM KHÔNG?
Nhiều người muốn Mỹ vào cuộc ở Biển Đông, như ông cảnh sát trưởng toàn cầu duy nhất có thể rút súng chặn đứng giang hồ Tàu tràn xuống biển làm cướp. Nhưng, mấy năm nay, giới quan sát thế giới than rằng Mỹ đang là siêu cường thấm mệt.
“Globocop” đâu rồi?
Đồng minh của Mỹ đang lo. Trong khi Nga ngênh ngang thò tay tóm lãnh thổ nước bạn, Tàu nghênh ngang giở thói côn đồ ăn hiếp hàng xóm, Syria ngang nhiên giết hại dân mình, thì câu hỏi được đặt ra là: “Globocop”, cảnh sát toàn cầu, đâu rồi? Bài “The decline of deterrence” (Bước lùi của chính sách ngăn chặn), đăng trên The Economist ngày 3/5/14 đã mở đầu như thế. Bài báo còn nêu những điểm sau, xin tóm vài ý liên quan:
H5
- Mỹ có sẵn sàng lâm chiến với Tàu không? Ai cũng biết Tàu muốn làm số một, cũng như Mỹ chẳng muốn làm số hai. Tuy vậy, nhiều nước Châu Á hoài nghi việc Mỹ muốn gây chiến với Tàu. Tiền lệ là năm 2012, Mỹ đã im lặng khi Tàu chiếm bãi cạn Scarborough của Philippines, rồi năm 2013 lại im lặng khi Tàu đe dọa máy bay Mỹ bay qua không phận đảo Senkaku của Nhật. Chẳng lạ gì, khi đồng minh của Mỹ từ Âu sang Á đang mua thêm vũ khí tự vệ. Nhật Bản cũng không còn đặt hết lòng tin vào chiếc ô dù an ninh thủng nhiều lỗ của Mỹ.
- Mỹ sẽ vẫn phản ứng mạnh, nhưng chỉ khi dân Mỹ sôi sục, chỉ trong trường hợp các đồng minh NATO bị đe dọa nghiêm trọng, hay Israel bị đánh lớn, hay khi những quốc gia Mỹ đóng nhiều quân như Nam Hàn, Nhật Bản bị xâm hại, còn ngoài những điểm nóng đó, đội ngũ của Obama được cho là sẽ “sẵn lòng mặc kệ, một sự sẵn lòng đến rợn người” (a creeping willingess to let things go). Obama còn được cho là thường “rất năng nổ tìm đủ mọi đường, nhưng cuối cùng lại thấy đứng im là hay nhất.”
- Một vụ va chạm xảy ra quanh đảo Senkaku chẳng hạn sẽ khiến Mỹ có một số phản ứng nào đó, như gửi máy bay do thám và tàu chiến đến nơi. Nhưng, theo nhận định của một chuyên gia giàu kinh nghiệm, công chúng Mỹ “sẽ chẳng hứng thú gì với việc tham chiến chỉ vì mấy bãi đá”.
- Dù cam kết chính thức này kia với các nước, nhưng dường như Obama đang nhìn thế giới như một khu rừng hoang đầy thú dữ quấy phá, gây ra những khủng hoảng liên tục mà Mỹ không xử lý được.
Chẳng lạ gì khi bài báo ví von: sói đang xơi tái cừu nhưng anh chăn cừu lại chẳng thấy đến cứu!
Thực vậy, ngay cả trước khi Tàu cắm giàn khoan xâm phạm biển Việt Nam, các nước trên thế giới đã thấy quá nhiều dấu hiệu về việc siêu cường Mỹ đang đánh mất ý chí chiến đấu: Các nước Châu Á, khi thấy Nga nuốt chửng Crimea nhưng Mỹ gần như mặc kệ, đã không thể quên rằng vào năm 1994, để từ bỏ vũ khí hạt nhân Ukraine đã được Nga, Mỹ và Anh đảm bảo hẳn hòi rằng biên giới của họ sẽ không bị xâm phạm. Các nước Baltic cũng không thể quên việc chính quyền độc tài Assad tại Syria ngang nhiên vượt qua “lằn ranh đỏ” (là dùng vũ khí hóa học giết dân) nhưng Mỹ đã không phản ứng mạnh như từng tuyên bố, trong khi số người chết trong cuộc chiến hiện nay dưới chế độ Assad đã lên tới 150.000. Các đại gia dầu hỏa Ả Rập và đại sứ Trung Quốc cũng không thể không chú ý đến hiện tượng nhiều thượng nghị sĩ Mỹ đang chủ hòa. Tất cả khiến bạn của Mỹ âu lo, lo rằng đến khi hữu sự, người hùng không xuất hiện.[1]
Nhạt nhẽo ở West Point
Diễn văn tại West Point của Obama vừa qua cũng được dư luận quốc tế cho là nhạt nhẽo, thiếu lửa, rất khác với ấn tượng “Mỹ không ngồi im để Trung Quốc lộng hành” mà nhiều đài Việt ngữ từ RFA, RFI, đến BBC và báo đài trong nước tạo ra khi trích đoạn và diễn dịch bài diễn văn.
Trong diễn văn, Obama nhắc đến khủng bố 17 lần, nhưng không nhắc gì đến Crimea, chỉ nhắc đến Trung Quốc 2 lần lướt qua, cũng không nói gì đến việc chuyển trục về Châu Á (khiến không ít các nước trong vùng lo ngại, và họ đã nhắc lại điều này trong Hội nghị G7 gần đây).
Không những không nhắc, Obama còn than thở không đúng chỗ rằng Mỹ không thể làm gì đáng kể cho an ninh Biển Đông, dù các tướng lĩnh khuyến cáo, vì Thượng viện Mỹ chưa thông qua được Quy ước Luật biển.[2]
Siêu cường thích làm vườn?
Trong luận văn rất đáng chú ý “Superpower don’t get to retire” (siêu cường không được về vườn), (đăng trên The New Republic, 26/5/14), sử gia Robert Kagan còn cảnh báo rằng Mỹ đang muốn “trở về trạng thái bình thường”, không muốn “làm người hùng” cứu thế giới nữa, dù sức vẫn còn. Xin tóm tắt vài ý như sau:
- Mỹ muốn “làm người thường” vì nhiều lý do, trong số có thể kể: Thế hệ trẻ đông đảo ở Mỹ xem Thế Chiến II như đã xa, Chiến tranh Lạnh cũng lạ. Thế hệ lớn hơn thì mệt mỏi với vai trò của Mỹ như thần Atlas “bị đày” cứ phải vác đá leo ngược núi. Chủ nghĩa cộng sản, kẻ thù lớn nhất của Mỹ thời Chiến tranh Lạnh, xem như đã thất bại. Cuộc chiến Iraq và Afghanistan, được cả thế hệ trẻ lẫn già biết đến, lại quá tốn kém, trong khi Mỹ vừa trải qua khủng hoảng 2008… Tất cả những điều đó khiến Mỹ đang đi theo chiều “hướng nội”. Cuộc thăm dò Pew mùa thu năm ngoái cho thấy có tới trên 50% dân Mỹ, tỉ lệ cao nhất trong 50 năm qua, muốn Mỹ quay về “lo việc nhà” thay vì lăng xăng ngoài ngõ, và dân Mỹ cũng muốn “các nước khác phải biết tự lo việc của họ cách tốt nhất có thể.”
- Đây không là lần đầu Mỹ hướng nội. Điều tương tự từng diễn ra vào thập niên 20, 30 thế kỷ trước. Năm 1939, khi Đức Quốc xã chiếm Ba Lan phía Đông, rồi năm 1940 chiếm Paris phía Tây và ném bom London thì Mỹ vẫn chưa động tĩnh gì. Có ý kiến trong chính giới Mỹ còn cho rằng Mỹ vẫn có thể buôn bán như thường với Châu Âu thuộc Đức Phát-xít, y như từng buôn bán với Anh và Pháp, vì “hàng vừa ý” là được, không cần “bạn vừa ý”! Mãi cho đến khi quân phiệt Nhật tấn công căn cứ Mỹ tại Trân Châu Cảng năm 1941 thì Mỹ mới bừng tỉnh tuyên chiến với Đức và Nhật, vì lợi ích ruột thịt của mình.
- Kagan cũng nói tới một thực tế lạnh lùng khác, đó là loài người và các quốc gia hiện nay nhìn chung không văn minh hay ôn hòa hơn thời man rợ. Nếu có ‘ngoan’, có chơi đúng luật, có không dám trở thành côn đồ thì chỉ vì có một ông cảnh sát đầy uy lực sẵn sàng thổi còi và trừng phạt nếu họ vi phạm.
- Và thực ra thì thế giới này mới chỉ biết đến tự do, dân chủ, pháp trị, nhân quyền trong khoảng 200 năm qua, còn hàng ngàn năm trước vẫn là cuộc chiến đấu liên tục của ánh sáng chống lại tối ám độc tài, toàn trị, của sự thật chống lại dối trá và nắm đấm. Dù sự thật luôn thắng, nhưng dối trá không chết hẳn mà sẽ nổi dậy và cần phải được khống chế, bằng sức mạnh. Tổng thống Roosevelt của Mỹ từng nói “Hòa bình phải được giữ gìn bằng sức mạnh, không còn cách nào khác.” Vâng, “sức mạnh” chứ không bằng luật lệ, đối thoại hay tình hữu nghị.
Thực ra, khi Mỹ đứng ra cáng đáng an ninh toàn cầu, nhiều nước chỉ “ăn theo”. Châu Âu được khuyến cáo là cần phải gánh bớt gánh nặng cho Mỹ vì an ninh của chính Châu Âu! Nhật có vẻ cũng đang theo chiều hướng này, trở thành một thế lực chủ động hơn trong khu vực (dù điều này làm không ít chính phủ e ngại khi nhớ đến đội quân Nhật mạnh đến đáng sợ thời Thế Chiến II.)
Côn đồ như ruồi
Những điều kể trên có nghĩa gì? Phải chăng nó có nghĩa là khi ông cảnh sát uy quyền bỗng thích về hưu non, thích làm vườn sau nhà hơn lo việc thiên hạ, thì côn đồ lập tức nổi lên, như ruồi?
Syria sẽ tiếp tục lộng hành giết dân. Rồi với sự hỗ trợ của Syria, quân khủng bố Hồi giáo nổi lên đánh chiếm các thành phố ở Iraq như đang diễn ra trong những ngày vừa qua. Putin sẽ còn thêm nhiều trò mới với các lân bang. Và ở Biển Đông, trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục lộng hành. Không chỉ 981, mà sẽ còn giàn khoan 982, 983 rồi nhiều thứ khác như phi trường và căn cứ quân sự ở Gạc Ma sẽ lại được cắm phập vào biển Việt Nam và biển các nước khác. Sao lại không, thế giới có làm gì đáng kể đâu mà côn đồ phải sợ!? Và đó là điều hết sức đáng sợ! (Trừ khi các nước khu vực, Nhật, Hàn, Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore, Miến, Ấn, Úc… liên kết lại, thành một khối chống Trung Quốc, và Mỹ bừng tỉnh, hỗ trợ tích cực để tiếp tục duy trì trật tự thế giới.)
Điều này dẫn đến câu hỏi kế tiếp: Trong tình hình đó, liệu Tàu có cướp thời cơ đánh Việt Nam không?
II. TÀU CÓ ĐÁNH VIỆT NAM KHÔNG?
Để trả lời câu này, xin nhắc lại điều được gọi là “Bài học Việt Nam”.
Không ngẫu nhiên khi cựu Tổng thống Mỹ Richard Nixon đặt tên cuốn sách, xuất bản năm 1987, nói về kinh nghiệm Mỹ tham chiến ở Việt Nam là No More Vietnams (Không thêm một Việt Nam nào nữa). Cũng không phải tình cờ mà cố vấn đối ngoại cao cấp nhất của Liên Xô năm 1986, ông Anatoli Chernyaev, đã phải nhắc nhở Tổng Bí thư Mikhail Gorbachev rằng vụ Liên Xô chiếm đóng Afghanistan, (kéo dài từ 1979 đến 1989), chính là một “Bài học Việt Nam khác.”[3]
Bài học Việt Nam
Là người đi sau Đặng Tiểu Bình, người xua quân đánh Việt Nam năm 1979, đi sau Gorbachev và Nixon, chắc hẳn Tập Cận Bình không thể không biết nỗi cay đắng của Mỹ khi rút khỏi Việt Nam năm 1975, sau khi tốn hao xương máu của trên dưới 50.000 binh sĩ và bao nhiêu tiền của, hoặc sự ê chề của Liên Xô khi rút khỏi Afghanistan sau 10 năm chiếm đóng, cũng mất trên dưới 50.000 quân, với bao nhiêu tiền của cùng cả triệu lượt quân tham gia đã trở thành những cựu chiến binh vất vưởng thời hậu chiến với chấn thương tâm lý.
Không chỉ mất uy tín trước các nước lớn nhỏ trên thế giới, cuộc rút quân của Mỹ khỏi Việt Nam năm 1975 và của Liên Xô khỏi Afghanistan năm 1989 còn đánh dấu sự suy nhược ý chí và năng lực cường quốc, mở màn cho một thời kỳ suy thoái địa chính trị. Với Mỹ, đó là cuộc nổi dậy của hàng loạt những chế độ thân cộng sản ở Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh. Với Liên Xô thì chủ trương không đưa quân vào nước khác sau Afghanistan đã lập tức mở đường cho cuộc vùng lên của các nước Đông Âu, dẫn đến sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Đông Âu bắt đầu từ 1989, và cuối cùng ở chính Liên Xô năm 1991.
Rất có thể nếu chiếm đóng Việt Nam, Tàu sẽ gặp một kịch bản tương tự.
Hãy thử tưởng tượng:
Dù ban đầu chần chừ không muốn động binh nhưng vì chế độ bù nhìn có nguy cơ sụp đổ, Tập Cận Bình có thể bị cuốn vào thế phải xua quân chiếm đóng Việt Nam. Từ đó cuộc chiến tiêu hao dai dẳng diễn ra, du kích quân Việt Nam lúc ẩn lúc hiện khiến quân Tàu xâm lược không biết đâu mà lần, chiếm được hết nhưng không giữ được gì, thắng trận đánh nhưng lại thua cuộc chiến, trong khi số thương vong cứ thế tăng dần, từ 5.000, 15.000, lên 30.000, 50.000. Nuốt không trôi, nhả không xuôi, Bắc Kinh cứ thể phải đổ hàng chục, hàng trăm tỉ nhân dân tệ vào cuộc chiếm đóng như đổ vào túi không đáy… Xuất huyết cạn kiệt, uy tín xuống thấp, nội bộ nhiễu loạn, quyền lực cá nhân Tập bị thách thức, mặt trận trong nước trở nên quan trọng hơn, cuối cùng Bắc Kinh buộc phải quyết định rút quân, trong ô nhục, (dù sẽ vẫn tuyên bố chiến thắng hoặc ra đi trong danh dự, như Mỹ đã làm khi rút khỏi Việt Nam, như Liên Xô đã làm khi rút khỏi Afghanistan). Nhưng đó không phải là kết thúc, mà là lúc khủng hoảng lớn bắt đầu. Ngay khi thấy Tàu thất bại ê chề tại Việt Nam thì lập tức các dân tộc đang bị Tàu thống trị như Tây Tạng, Nội Mông, Duy Ngô Nhĩ, Hồi Ngột… bèn đồng loạt nổi dậy mạnh mẽ, vượt qua sức phản ứng của Bắc Kinh (y như như dân Đông Âu đã nổi dậy, và Moscow không còn đủ sức hay ý chí để đưa quân trấn áp.) Và thế là đế quốc Trung Quốc cộng sản sụp đổ, Tây Tạng cùng các nước bị lệ thuộc khác giành được độc lập. Ngay sau đó, Trung Quốc lại trở về một tình trạng khủng hoảng hậu Việt Nam, hậu Tây Tạng, mộng bá quyền tan hoang, mèo trắng mèo đen bị những “chú tí” sát nách cắn chảy máu đỏ, phải cong đuôi vừa chạy vừa gào. Rồi từ từ, lại một “Putin Tàu” xuất hiện, và con quay cứ thế xoay…
Diễn biến hòa bình
Dĩ nhiên, “Bài học Việt Nam” của Nixon và Gorbachev – cũng như của các thế lực từng xâm chiến Việt Nam như Pháp hoặc các nhà Tống, Nguyên, Minh, Thanh… hoặc các thế lực từng xâm chiến Afghanistan như Anh và các Nga hoàng trước đó – đã được Tập Cận Bình và tập đoàn nghiên cứu kỹ. Có lẽ vì vậy mà Tàu cộng sẽ chẳng dại gì xua quân xâm chiếm Việt Nam để phải lâm vào cảnh “xuất huyết trường kỳ” như Mỹ và Liên Xô cũ, để cuối cùng mất cả chì lẫn chài, mất cả uy tín lẫn ảnh hưởng, mất cả ghế và có thể làm sụp đổ cả chế độ tại mẫu quốc.
Nhưng, có lẽ cũng vì vậy mà Tàu đã dùng một con đường khác để thôn tính Việt Nam, một tuyệt chiêu hơn hẳn kẻ đi trước.
Phải gọi tuyệt chiêu đó là gì cho đúng?
Đó là không đánh Việt Nam bằng sức mạnh cứng từ ngoài đánh vào, mà bằng sức mạnh mềm từ trong ruột đánh ra. Là từng bước biến Việt Nam thành thuộc địa, thuộc quốc, thành khu tự trị, thành tỉnh lỵ… mà không cần phải bắn phát súng nào, mà có được cả một chính quyền tay sai ngoan ngoãn, nói gì nghe nấy, bất chiến tự nhiên thành.
Tên gọi chính thức của nó đích thị là “diễn biến hòa bình”, và “thế lực thù địch” trần trụi hiện nguyên hình là Trung Cộng. Lâu nay Đảng tìm cách bẻ ngược kim la bàn về phương Tây, nhưng thực ra kim la bàn chỉ kẻ thù luôn hướng về phương Bắc!
Điều vừa rồi dẫn đến câu hỏi thứ ba. Hãy thử xem Đảng đã và đang làm gì, có thực sự chống giặc, hay giặc đang đứng sau lưng Đảng, và cả hai đang đối đầu dân Việt?
III. ĐẢNG CÓ CỨU NƯỚC KHÔNG?
Cứ nhìn cách Ban Tuyên giáo của Đảng chỉ đạo “mặt trận” dư luận nội địa trên báo đài trong những ngày qua thì thấy sự thật không phải là điều đang được tôn trọng, và họ đang cho hạ nhiệt vấn đề Tàu xâm lược:
Ngày 2/5, khi Cục Hải sự Trung Quốc công bố giàn khoan 981 bắt đầu khoan từ ngày 1/5, thì liên tục một tuần sau đó báo đài Việt Nam đồng loạt đưa tin phản đối khí thế, làm dậy sóng dư luận.
Đến ngày 10/5 báo Tuổi Trẻ tại TPHCM còn in và tặng kèm độc giả cả một poster khổ lớn đòi Trung Quốc rút ngay giàn khoan để nguời dân mang xuống đường biểu tình vào chủ nhật 11/5.
Nhưng ngay sau vụ bạo động 12/5 và 13/5 thì ba ngày liên tiếp sau đó trên trang nhất báo Tuổi Trẻ chỉ thấy những gương mặt cười, người dân vui cười khi hồ hởi quyên góp cho biển đảo, nhưng nhìn qua, nhất là khi những cặp mắt Tàu cộng không biết tiếng Việt nhìn qua, thì sẽ rất dễ có ấn tượng là đất nước Việt Nam đang rộn rã một niềm vui lớn!
Những ngày sau đó vẫn còn tin về biển đảo nhưng hạ nhiệt dần, rồi những ngày tuần đầu và giữa tháng 6/2014, tin về ngoại xâm lui vào trang trong, nhường gần hết trang nhất cho những tin hiền lành như mùa thi, sức khỏe, bảng chỉ dẫn lưu thông…
Thực ra, những tờ báo đông người đọc như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Tiền Phong, Lao Động, Pháp Luật, Người Lao Động, Phụ Nữ… , vẫn là một “nhà hát” sáng đèn liên tục và có lượng khán giả khá lớn, xem “hát” xong, khán giả vẫn oang oang trong đầu những gì được nghe, và về kể lại cho người khác. Đó vẫn là những hàn thử biểu để phần nào đo được nước cờ trái-phải, đóng-mở, bóp-nhả của Đảng, và điều quần chúng đang bị mớm để tin.
Phân vai và hai tay
Đang diễn ra điều gì vậy? Sự thật là gì vậy? Sao có quá nhiều dấu hiệu trái chiều, từ những vị cao nhất trở xuống? Thay vì được quyền biết mọi sự thật thì dân không biết ngay cả ai là bạn, ai là thù!
Phải chăng, ở “trển”, các vị đã được phân vai? Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải cứng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phải im, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phải lảm nhảm chuyện nhỏ ở chỗ nhỏ, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh phải mềm như bún Tàu, còn những người khác như Nguyễn Chí Vịnh thì lúc cứng lúc mềm như quan hoạn?
Kìa, cứ nhìn cách Đảng đưa Phùng đến Shangri-la ca ngợi quan hệ “vẫn phát triển tốt đẹp” giữa ta và Tàu là thấy Tàu với “ta” là một. Phùng đại tướng chẳng khác gì một ông bác sĩ lâu ngày không đụng đến ống nghe, nhưng cứ ong ỏng bảo rằng bệnh nhân vẫn khỏe, dù bệnh nhân vừa bị đâm một nhát ngay mạng sườn, máu chảy không cầm được, hoặc cứ kiên quyết khẳng định rằng quan hệ vẫn trong sáng dù cô em vừa bị thằng đểu cáng hiếp dâm.
Hay là Phùng nói đúng, cô em không bị hiếp dâm mà tự dâng hiến? Chắc là vậy thật, họ đã dâng đất nước này cho giặc từ mật nghị Thành Đô?
Hay là họ đang bắt chước chính sách “hai tay” của Tập Cận Bình[4], tay búa tay tiền, nửa Mao nửa Mít (Mao Trạch Đông & Adam Smith): tay trái cứng vừa đè bẹp giới bất đồng chính kiến, vừa thổi chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vừa bành trướng bá quyền, trong khi tay phải mềm cố tỏ ra thân thiện, chống tham nhũng, mở kinh tế thị trường, đem Khổng Tử ra trang trí?
Qua mặt dân
Vì sao Ban Tuyên giáo mở trói cho báo đài và nghệ sĩ nói về Tàu xâm lược, nói về hòa bình, Trường Sa, Hoàng Sa nhưng lại đồng loạt vừa rút tin bài về thảm sát Thiên An Môn, vừa bai bải chối làm gì có rút?
Thủ tướng tuyên bố không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông và sẵn sàng để kiện Tàu, nhưng sao Bộ Chính trị vẫn trì hoãn kiện?
Đó là chưa kể những gì đã diễn ra trong những năm qua: Bộ Chính trị im khi Tàu chiếm Hoàng Sa năm 1974, im từ đó đế nay về cuộc chiến 1979, im khi Tàu chiếm Gạc Ma 1988, cho Tàu trúng thầu hầu hết dự án trọng điểm, mở cửa cho dân Tàu vào làm ăn trái phép, lập mật khu bất khả xâm phạm, mướn rừng đầu nguồn, mướn nhiều chục năm đất và vùng biển chiến lược, khai thác boxit Tây Nguyên dù lỗ lớn vẫn lì lợm làm, rồi chính quyền lại không mệt mỏi đàn áp người biểu tình chống Tàu, đánh đập, ngược đãi, kết án, bỏ tù ngày càng nhiều năm bao nhiêu người yêu nước…
Sự thật là gì vậy? Điều gì đang diễn ra trong quan hệ Việt-Tàu? Sao không lên tiếng trình bày cho dân rõ mọi chuyện? Chỉ cần nhìn cái cách họ khinh dân trong những ngày này là thấy họ không do dân bầu ra, không màng tới phản ứng của dân, và chỉ xem dân như một đám dân thuộc địa hạng tồi, cần cai trị, chứ không cần lắng nghe hay đối thoại.
Ông Đỗ Mười, ông Lê Khả Phiêu, cùng tất cả các ông các bà có tên tuổi và có trách nhiệm khác, sao không nói gì vậy? Các ông các bà đứng về phía nào, phía dân hay phía giặc?
Im lặng nhiều lúc là vàng. Nhưng khi 16 chữ vàng đã thối thì im lặng là đồng lõa!
Câu hỏi tối hậu
Sự im lặng của các vị làm người dân không thể không đặt ra các câu hỏi tối hậu như sau:
Có phải chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay chỉ là chính quyền tay sai, đang ngồi cai trị dân dưới sự hỗ trợ và chỉ đạo của Bắc Kinh?
Có phải vì là bù nhìn tay sai nên khi giàn khoan 981 xuất hiện họ làm động tác giả lớn tiếng chống đối ầm ào, rồi lại bày trò đốt phá nhà máy khu công nghiệp để lấy cớ trấn áp người dân biểu tình?
Có phải Đảng đang diễn một vở kịch dối trá và ô nhục với Bắc Kinh, một vở “Kinh Kịch” ai nấy tô vẽ mặt mình rõ dầy không cho thấy mặt thật, rồi cứ thế ra bộ, ấm ứ, ầm ừ, đánh trận giả?
Phải chăng một chính quyền tay sai cho ngoại bang, một lực lượng chiếm đóng nhận lệnh thẳng từ kẻ xâm lược, một chính quyền thực dân tuân lời mẫu quốc cũng chỉ có thể làm những điều tương tự như Đảng và chính phủ đang làm, không thể hơn?
Và một câu hỏi đau đớn nữa rất nhiều người muốn đặt ra, đó là:
Có phải Việt Nam đang hoặc đã trở thành thuộc địa, thuộc quốc của Tàu từ hội nghị bí mật Thành Đô 1990, từ khi bình thường hóa quan hệ Việt-Tàu năm 1991, và từ biết bao nhiêu cam kết, thỏa thuận, hiệp ước trong những năm sau đó?
“Đám cưới” Thành Đô
Đọc lại những thông tin ít ỏi về mật nghị Thành Đô vẫn có thể rút ra một vài điều trớ trêu và đau đớn:
Vào đúng dịp kỷ niệm 45 năm ngày tuyên bố độc lập, 2/9/1945- 2/9/1990 thì bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng lại chuẩn bị khăn gói qua họp kín với Giang Trạch Dân, Lý Bằng tại khách sạn Kim Ngưu ở Thành Đô, Tứ Xuyên, vào ngày 3-4/9/1990.
Ngoài mấy điểm về giải pháp Campuchia, những thỏa thuận về bình thường hóa quan hệ Việt-Tàu không được tiết lộ ra ngoài. Chỉ biết rằng sau khi ký kết “Kỷ yếu hội đàm”, Giang Trạch Dân đã mượn một câu thơ của Giang Vĩnh đời Thanh (có bản nói là của Lỗ Tấn) để tặng Nguyễn Văn Linh. Thơ như sau:
Độ tận kiếp ba huynh đệ tại
Tương kiến nhất tiếu mân ân cừu
Nghĩa là:
Qua hết sóng gió anh em vẫn còn
Gặp nhau cười một cái là quên ân oán
Để tỏ lòng trung, Nguyễn Văn Linh đáp lại bằng bốn câu thơ:
Huynh đệ chi giao số đại truyền
Oán hận khoảnh khắc hóa vân yên
Tái tương phùng thời tiếu nhan khai
Thiên tải tình nghị hựu trùng kiến
Nghĩa là:
Anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ
Trong khoảnh khắc oán hận biến thành mây khói
Gặp lại nhau cười rạng rỡ
Tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại [5]
Và thế là cuộc mật nghị Thành Đô có đủ hương vị của một “đám cưới” trăng mật, có đủ cả câu đối và lời hứa “em muốn sống bên anh trọn đời”. “Chú rể” Giang Trạch Dân quen thói giang hồ thì mượn thơ của người khác qua loa như tán gái cho xong chuyện, còn “cô dâu” Nguyễn Văn Linh thì rút ruột thề thốt, nào là “mấy thế hệ”, nào là “tình nghĩa ngàn năm”.
Ly dị chăng?
Thực ra thì có hứa trăm năm hay ngàn năm đi nữa thì khi hôn nhân bất thành, tên chồng vũ phu, bạo hành, đàn áp, khinh bỉ, cướp của, làm nhục, xem vợ như nô lệ… thì vợ luôn có quyền hủy hôn ước, ly dị, đưa chồng ra tòa vì tội bạo hành gia đình, đòi lại tự do và công bằng. Đó là cách ứng xử bình đẳng của người văn minh và có nhân phẩm, hoàn toàn khác với lập luận “gia đình lục đục là chuyện thường” theo nếp nghĩ phong kiến “chồng chúa vợ tôi”, chồng muốn làm gì thì làm vì chồng luôn đúng, vợ phải cắn răng chịu đựng vì vợ luôn sai, theo kiểu lý sự cùn, vô tâm, vô tình, vô tích sự và cực kỳ lạc hậu của Phùng đại tướng.
Nhưng, đòi lại sự tôn trọng tối thiểu giữa hai người bình đẳng trong một quan hệ bình đẳng là điều Đảng đã không làm! Vì sao thế?
Sáu sao
Nhân tiện xin được hỏi luôn, vì sao khi lãnh đạo Tàu qua Việt Nam thì thiếu nhi Việt Nam đã được giao cho phất những lá cờ Tàu sáu sao (năm nhỏ chầu quanh một lớn), thay vì cờ Tàu vốn chỉ có năm sao (bốn nhỏ chầu quanh một lớn)?
Có lẽ chỉ có thể lý giải rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang hành xử như tay sai mẫn cán của Tàu, họ đang bán nước để giữ ghế, và Việt Nam đã được xem như một thuộc quốc của Tàu. Ý nghĩa gốc cờ năm sao của Tàu như sau: Sao to là Đảng ở giữa, bốn sao nhỏ là bốn giai cấp: công, nông, tiểu tư sản thành thị, và tư sản dân tộc. Còn trong đối ngoại thì cờ sáu sao như Việt Nam đã dùng có lẽ chỉ có thể hiểu theo nghĩa: Tàu là sao to Hán tộc ở giữa, năm sao nhỏ chầu quanh là năm dân tộc lệ thuộc: Tạng, Mông, Hồi, Ngô, Việt (hay Thanh, Mông, Hồi, Tạng, Việt)!
Thật không? Thế thì mất nước rồi sao? Phải làm gì bây giờ?
Điều này dẫn đến câu hỏi thứ tư.
(Còn 1 kì)
Hình: Cartoon của Sacrava
© 2014 Từ Linh & pro&contra

[1] The Economist, “What would America fight for?” (Mỹ chiến đấu vì điều gì?), số ra ngày 3/5/14
[2] Xem Thomas Wright, “Four Disappointments in Obama’s West Point Speech” (Bốn thất vọng trong diễn văn tại West Point của Obama), Brookings, 28/5/2014
[3] Victor Sebestyen, Revolution 1989, The Fall of the Soviet Empire (Cách mạng 1989, Đế quốc Xô-viết sụp đổ), Pantheons Books, New York 2009, Chương “Gorbachev’s Vietnam” (bài học Việt Nam của Gorbachev), trang 200
[4] Xem bài “Mao and Forever” của Peter Martin và David Cohen, đăng trên Foreign Affairs ngày 3/6/14.
[5] Xem “Tài liệu của Trung Quốc về cuộc gặp bí mật Thành Đô, 3-4/9/1990”, bản dịch của Lý Nguyên. Nguồn: Hà Bắc tân văn võng, talawas 30/10/2007.

2319. Những cải cách độc đoán của Tập Cận Bình: theo kiểu Mao và mãi mãi theo kiểu Mao

Foreign Affair
Tác giả: Peter MartinDavid Cohen
Người dịch: Huỳnh Phan
03-06-2014
H7
Một năm rưỡi sau khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (TCB) cầm quyền, ông là ai và ông muốn gì vẫn còn là một bí ẩn. Đôi khi ông có vẻ như là một nhà cải cách theo khuôn mẫu của Đặng Tiểu Bình; một trong những hành động đầu tiên của TCB khi nắm quyền là diễn lại chuyến “Nam du” của nhà cải cách vĩ đại đó, khởi động cho cải cách thị trường sau vụ thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989.Có lúc ông lại có vẻ như luyến tiếc chủ nghĩa xã hội cách mạng của Mao Trạch Đông. Vài tháng sau chuyến nam du, TCB đã có chuyến thăm tới Tây Bách Pha (Xibaibo), chỗ đóng cuối cùng của Bộ Tư lệnh Quân đội Giải phóng Nhân dân TQ trong cuộc nội chiến Trung Quốc và một địa điểm thiêng liêng cho phe cánh tả của Mao.
Chính sách của TCB cũng mâu thuẫn như hình ảnh của ông. Ông ta đã đưa ra các lực đẩy mạnh để khuyến khích doanh nghiệp tư nhân và ngăn chặn tham nhũng. Nhưng ông lại kèm chúng với cam kết giữ doanh nghiệp nhà nước như là “cốt lõi” của nền kinh tế và đàn áp sâu rộng giới bất đồng chính kiến. Vì vậy, liệu TCB có ý định mở ra một kỷ nguyên mới cho cải cách đưa Trung Quốc vào thế giới hiện đại trọn vẹn, hay có ý định tăng gấp đôi nền cai trị độc đoán tập quyền và làm sống lại chủ nghĩa Mác dân tuý theo kiểu Mao?

Nói tóm lại, tất cả các điều bên trên, cải cách kinh tế của TCB và xu hướng chính trị theo chủ nghĩa Mao của ông đều là các chiến thuật trong một chiến lược với ý nghĩa là giữ nguyên hệ thống độc đảng qua việc cải cách nó. Phương pháp của ông minh chứng sự thừa nhận của ông về vấn đề lớn nhất hiện nay của Trung Quốc: tham nhũng tràn lan, hệ thống chính trị xơ cứng, và mô hình kinh tế đang nhanh chóng mất hết lực đẩy. Để giải quyết những điều đó mà không huỷ bỏ hệ thống đã đưa cho ông lên quyền lực, TCB hứa hẹn hòa giải các công ty nhà nước kiểu Mao và sự thống trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc với một nền kinh tế năng động và cởi mở. Ông sẽ làm điều đó bằng cách thực hiện điều mà ông gọi là “hai tay”, nhà nước và thị trường, cùng nhau làm việc và tạo cảm hứng cho đảng tin vào chính mình và sứ mệnh phục vụ người dân Trung Quốc.
BÀN TAY CỦA TCB
Trong thập kỷ qua, TCB đã tham dự vào một cuộc tranh luận dữ dội về vai trò của nhà nước và thị trường ở cấp cao nhất của đảng. Một bên là những người cho rằng tinh thần cải cách được hình thành dưới thời Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân, Tổng Bí thư đảng từ năm 1989 đến năm 2002, đã bị mất đi do bế tắc chính trị và các nhóm lợi ích có thế lực không chấp nhận cải cách thêm nữa. Bên khác là những người cho rằng việc theo đuổi hấp tấp thị trường hóa đã khiến đảng mất cảm giác về mục đích và tạo ra mức độ bất bình đẳng và tham nhũng không kham nổi.
TCB tìm ra một cách để tách rời sự khác biệt này. Ông lập luận rằng nhà nước và thị trường không buộc phải đối chọi nhau. Ông nói “bàn tay vô hình” của thị trường và “bàn tay hữu hình” của nhà nước có thể củng cố lẫn nhau. Như ông giải thích trong cột báo thường xuyên trên tờ Chiết Giang Hàng ngày, bàn tay thị trường nên “điều chỉnh” nền kinh tế, phát huy hiệu quả, và hướng dẫn việc phát triển đô thị, trong khi bàn tay nhà nước nên tập trung vào quản lý xã hội, dịch vụ công cộng, công bằng và phát triển nông thôn. Lý thuyết này cho phép ông tự định vị mình vừa là một nhà cổ vũ cho khu vực nhà nước, vừa là một đồ đệ của Adam Smith: “Khái niệm về thị trường hóa được giải thích rất rõ ràng trong quyển Wealth of Nations của Adam Smith mà ông đưa ra lý thuyết về hai bàn tay ở đó”, TCB nói với CCTV, đài truyền hình chính của Trung Quốc, vào năm 2006.
TCB đưa mô hình của mình vào thực hiện ở Chiết Giang, nơi ông là bí thư từ năm 2002 đến năm 2007. Tại tỉnh đó, ông nhắm tới việc hậu thuẫn doanh nghiệp tư nhân, gồm cả việc giảm bớt rất nhiều thói quan liêu hành chính (danh sách các thứ đòi hỏi chính phủ phê duyệt đã giảm từ 3.000 xuống chỉ còn 800). Đồng thời, ông cố hết sức để trấn an công chúng, quan chức rằng doanh nghiệp nhà nước vẫn sẽ là quan trọng. Ông bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vốn bị phe tự do kinh tế xem như tội lỗi nhất trong mô hình nhà nước đầu tư quá mức không kham nổi của Trung Quốc. Ông giải thích rằng việc chính phủ hậu thuẫn nhiều hơn cho các công ty tư nhân có thể cải thiện khu vực nhà nước qua việc làm cho nó có tính cạnh tranh. Rồi thì doanh nghiệp nhà nước cũng có thể được hưởng lợi nhờ đầu tư tư nhân nhiều hơn, và chính phủ sẽ có được thuế doanh thu nhiều hơn.
Kinh nghiệm của TCB ở Chiết Giang dường như biện minh cho mô hình của ông. TCB tự hào rằng, trong các năm 1978-2004, 71,4 % tăng trưởng GDP của Chiết Giang là từ các doanh nghiệp tư nhân, ngay cả khi tổng kích cỡ tài sản nhà nước của nó đã tăng lên 42 lần.
Mô hình TCB cũng đã tỏ ra hữu hiệu cho ông ta. Trong giai đoạn làm bí thư ở Chiết Giang, TCB chắt lọc công trình về kinh tế thành hai cuốn sách, được xuất bản trong tháng 12 năm 2006 và tháng 8 năm 2007: Làm việc với những thứ thật, bước đi ở vị trí hàng đầuNhững Suy tư từ sông Dương Tử. Cả hai đều góp phần giúp ông ta giành chiến thắng một trong những cuộc bầu cử bí ẩn nhất thế giới – chọn ra người đứng đầu chính phủ lần đầu thực hiện bởi “ban lãnh đạo tập thể” của Trung Quốc trong những năm dẫn đến việc chuyển giao quyền lực năm 2012. Hai người tiền nhiệm của ông, Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân, đều được Đặng Tiểu Bình chọn ra. Trước khi nghỉ hưu và cuối cùng mất năm 1997, Đặng Tiểu Bình thiết lập một hệ thống – mờ đục và khó hiểu với người ngoài đảng – cho tầng lớp chủ chốt đảng đồng ý về một nhà lãnh đạo tối cao mà không có sự hướng dẫn của các thế hệ cách mạng ban đầu. Hệ thống đó có nghĩa là TCB phải giành chiến thắng trên một nhóm chủ chốt đông đảo để được lựa chọn. Trong một chừng mức nào đó, quan hệ gia đình, đỡ đầu chính trị, thông đồng, liên minh, và những người ủng hộ giúp làm công việc đó. Nhưng TCB cũng phải chứng tỏ rằng ông có thể tin cậy được với một trong những mục tiêu mà tất cả mọi người đã thống nhất: giữ cho đảng được tiếp tục nắm quyền. Và ở đó, lý thuyết của ông cho thấy là có tính thuyết phục.
Sau khi giành được quyền lực đất nước, TCB được ủy nhiệm để thực hiện chiến lược “hai tay” trên một quy mô lớn hơn. Là chủ tịch Trung Quốc, ông đã cố hậu thuẫn thị trường bằng cách bãi bỏ việc phê duyệt của chính phủ đối với nhiều loại hoạt động kinh tế và kinh doanh; cải cách khu vực tài chính, bao gồm cả việc cho phép ngân hàng tư nhân; tạo dễ dàng cho việc thiết lập các công ty mới; và đưa nhiều khu vực kinh tế hơn vào môi trường cạnh tranh. Ông cũng đã cố gắng áp đặt kỷ luật tài chính lên doanh nghiệp nhà nước bằng cách đưa chúng vào môi trường cạnh tranh lớn hơn và khuyến khích đầu tư tư nhân trong khu vực nhà nước. Như TCB nói tại Quốc hội hồi tháng Ba, ông hy vọng những cải cách này “không những không làm suy yếu mà còn tăng cường” doanh nghiệp nhà nước. Do đó hai tay đã trở thành phương cách trung tâm mà chính quyền TCB tóm tắt cách tiếp cận nền kinh tế. Ngày 27/05, TCB chủ trì một “buổi nghiên cứu tập thể” của Bộ Chính trị, trong đó nêu cụ thể rằng “hai tay” cần làm việc với nhau theo cách “thống nhất, bổ sung và phối hợp lẫn nhau”. Cơ quan ngôn luận của đảng, tờ Nhân Dân Nhật báo, đã gọi sự kiện hai tay như “mệnh đề cốt lõi của quá trình cải cách”.
TCB cũng đã đưa lý thuyết kinh tế của mình vào lĩnh vực xã hội. Ông lập luận rằng, giống như thị trường có thể hậu thuẫn một nền kinh tế tập quyền thì xã hội dân sự cũng có thể làm việc với một nhà nước áp bức để hậu thuẫn trật tự xã hội. Ở nước Trung Quốc của TCB, người dân có thể đóng góp như những “lực lượng xã hội tích cực”. TCB đã thúc đẩy ban hành các quy định mới làm cho việc đăng ký các tổ chức phi chính phủ dễ dàng hơn và cho các tổ chức phi chính phủ phối hợp với chính quyền địa phương cung cấp các dịch vụ xã hội. Ông cũng đã hạn chế hoặc bãi bỏ các thói lạm dụng công khai, chẳng hạn như cải tạo lao động. Nhưng đồng thời, chính phủ của ông đã tăng cường đàn áp. Ông không thay đổi ý kiến về tự do bày tỏ hoặc lập hội, và ông đã ban hành luật mới chống các tội mơ hồ như “lan truyền tin đồn”.
TRỞ LẠI TƯƠNG LAI CỦA MAO
Trong những năm tới, TCB sẽ phải đối mặt với những gì ông và các tiền nhiệm đã mô tả như là một mối đe doạ huỷ diệt tiềm tàng cho tính chính đáng của đảng: tham nhũng. Ông sẽ phải tìm ra cách để kiểm soát sự lạm dụng quyền lực thường ngày vốn kích động sự phẫn nộ và phản đối của công chúng- hối lộ, phá bỏ cưỡng bức, và sự thờ ơ cố ý đến sức khỏe và an toàn công cộng. Các chiến dịch do các tiền nhiệm TCB phát động thử nghiệm và thất bại trong việc giải quyết những vấn đề này, vì các quan chức địa phương chỉ đơn giản là từ chối thay đổi thói quen của họ, tin tưởng rằng “núi thì cao còn hoàng đế thì ở xa.” Tuy nhiên, lần này TCB đã hướng về Mao để tìm câu trả lời.
Mao biết cách để thu được sự chú ý của người dân: động viên và khủng bố tư tưởng. Ông có thể truyền cảm hứng cho hàng triệu người Trung Quốc đấu tranh cho sự thay đổi, ngay cả khi thay đổi đó là các mưu đồ chỉ có ý nghĩa với chính ông ta và dẫn đến chết chóc hàng loạt và đau khổ. Bây giờ, phải đối mặt với hàng triệu cán bộ miễn cưỡng chấp nhận cải cách, TCB hy vọng sẽ khai thác loại sức mạnh đó để làm trong sạch nội bộ đảng. TCB từng là một người ủng hộ việc tự phê bình kiểu Mao kể từ năm 2004 và đường lối quần chúng ít nhất là từ năm 2006. Từ lâu, ông là người ủng hộ một lập trường cứng rắn của đảng về tham nhũng.
Từ khi trở thành chủ tịch nước, TCB đã yêu cầu các quan chức nghiên cứu chủ nghĩa Mao, đặc biệt là “đường lối quần chúng” của Mao cho rằng đảng phải vừa là một bộ phận của nhân dân vừa có khả năng lãnh đạo họ. Tới lượt mình, TCB đã đặt ra giới hạn cho các tiệc tùng chính thức, tặng quà, và sử dụng xe công, và đã khuyến khích các quan chức đối thoại với công chúng. Ông đã xuất hiện tại các nhà hàng ở Bắc Kinh, ở các phố xá mua bán sầm uất, và cùng với các thành viên trong ban lãnh đạo, ông cũng đã chỉ thị nhiều phiên “tự phê bình”, trong đó cán bộ đảng công khai đánh giá thành công của họ trong việc kết nối với người dân.
TCB đã yêu cầu các quan chức dưới quyền ông từ bỏ nhiều đặc quyền chức vụ. Ông nói, nguyên tắc đó là sự sống còn của đảng. Một chiến dịch giáo dục dựa trên “Tài liệu số 9″ nổi tiếng đã thúc đẩy điều mà lý thuyết đảng gọi là “cảm nhận mối nguy” về nỗi đe dọa sụp đổ của đảng do lật đổ nội bộ và nỗ lực phá hoại của nước ngoài. Đối với nhiều quan chức, điều đó quá đủ: các quan chức địa phương than phiền về sự sụt giảm đáng kể quà tặng chính thức trên cả nước, và khu vực sang trọng cuối cùng cũng đã bị ảnh hưởng nặng.
Đối với những ai không chấp nhận theo dự án của TCB, thì ông phát động cuộc thanh trừng lớn nhất trong nhiều thập kỷ. Vũ khí chọn lựa của ông là Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, tổ chức chống tham nhũng của đảng, mà TCB đã tăng cường rất nhiều dưới sự lãnh đạo của người bạn lâu dài và đồng minh Vương Kỳ Sơn. Ông Sơn đã chủ trì việc tạm giữ hàng trăm quan chức trong đảng, chính phủ, ngành công nghiệp, và giới học thuật. Những ai bị điều tra đều hoàn toàn biến mất và phải chịu nỗi kinh hoàng. Một người sống sót gần đây mô tả với hãng tin AP là “địa ngục trần gian.
Dù vậy, việc TCB sử dụng nền chính trị kiểu Mao là có giới hạn. Không giống như Mao, TCB đã nỗ lực để giữ cho các chiến dịch chính trị và đàn áp trong vòng kiểm soát. Mao yêu cầu công chúng tham gia vào cuộc thanh trừng, tạo nên sự hỗn loạn trong Cách mạng Văn hóa. Ngược lại, các chiến dịch chính trị và thanh trừng của TCB được các cơ quan trung ương của đảng tổ chức và được ông và các uỷ viên Bộ Chính trị lãnh đạo. Họ có ý định tăng cường các tổ chức đảng hơn là phá huỷ chúng – vừa làm cho quyền lực của “bàn tay hữu hình” bảo đảm đủ trung thực để được chấp nhận vừa tranh thủ các quan chức cấp thấp thực hiện những thay đổi kinh tế mà TCB kêu gọi.
TẦM NHÌN TRONG ĐƯỜNG HẦM?

Ngay cả khi TCB cố khắc phục tham nhũng, ông cũng phải tìm mọi cách để kết thúc bế tắc chính trị. Trong nhiều năm qua, phương thức kiểm tra và cân bằng được Đặng Tiểu Bình đề ra để ngăn chặn việc xuất hiện lại nền độc tài kiểu Mao rốt cuộc tạo nên quy tắc thiếu quyết đoán của ban thường vụ. Đồng thời, đối tượng hưởng lợi của cải cách trước đây đã đứng lên chống lại thay đổi thêm nữa. Để bắt đầu chỉnh sửa chính trị, TCB đã rà soát toàn bộ bộ máy ra quyết định của đảng, nâng cao vị thế của nó để vượt qua bế tắc. Không ngạc nhiên, ông cũng đã tự dành cho mình rất nhiều khoảng trống để dẫn ở phía trước.
Trong hơn một thập kỷ, TCB đã lập luận rằng Trung Quốc cần một lãnh đạo mạnh mẽ và có tầm nhìn. Ở Chiết Giang vào năm 2003, ông đã viết rất nhiều về vai trò của nhân vật “số một” trong hệ thống lãnh đạo tập thể. Ông cho biết, bí thư phải là “hiện thân của cấp ủy Đảng và chính quyền” và vai trò của ông ta sẽ là dùng các tiếng nói khác nhau trong ban lãnh đạo và “biến chúng thành một bài hát.” Đổi lại, các nhà lãnh đạo khác phải luôn luôn “chú tâm đến việc nâng cao quyền hạn của Bí thư Đảng”.
Cố gắng ngoi lên trong một hệ thống quyền lực tập trung đầy ám muội, TCB phải cẩn thận khi bàn luận về những ý tưởng này. Và ông đã tránh nói trực tiếp về việc lãnh đạo quốc gia mà chỉ dùng các tiểu luận về chính quyền địa phương để giải thích kế hoạch của mình. Ông cũng cam chịu đau đớn để nhấn mạnh cam kết của ông với các nguyên tắc cơ bản của lãnh đạo tập thể. Ông viết nhân vật số một phải “không được hơn là một ngón tay, nhiều nhất là ngón tay cái” trong bàn tay của lãnh đạo.
Dù vậy, kể từ khi nắm quyền, TCB đã tập trung quyền hành vào các lãnh đạo chóp bu của đảng, đặc biệt là vào chính mình. Đáng chú ý nhất, ông đã tạo ra một loạt các nhóm lãnh đạo nhỏ và các ủy ban về cải cách kinh tế, an ninh quốc gia, an ninh mạng, và cải cách quân sự. Các tổ chức này không phụ thuộc vào chính phủ và do TCB chủ trì. Các nhóm này đặt ông ở trung tâm của hầu hết các hoạch định chính sách và tạo cho ông một nền tảng vững để ra quyết định mà không thể bị các nhóm lợi ích trong bộ máy quan liêu của Trung Quốc cản trở.
TCB cũng đã triển khai một vũ khí mà kể từ khi kết thúc Cách mạng Văn hóa và bỏ việc sùng bái cá nhân Mao Trạch Đông đã làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc khó chịu: tầm nhìn. Chỉ vài ngày sau khi nắm quyền, ông đưa Ban Thường vụ mới tới cuộc triển lãm “Con đường hồi sinh” tại Bảo tàng quốc gia của Trung Quốc. Đứng trong phòng triển lãm, ông hỏi “giấc mơ Trung Quốc là gì?” và sau đó đã đưa ra câu trả lời: “Tôi tin rằng thực hiện việc trẻ hóa đất nước Trung Quốc là ước mơ lớn nhất của đất nước hiện nay.” Ngoài ra, không giống các tiền nhiệm mà các bài phát biểu của họ đầy các thuật ngữ chỉ những người trong đảng mới hiểu được, TCB đã dùng dáng vẻ bề ngoài của mình để nói với người dân, khai thác chủ nghĩa dân tộc được dân chúng quan tâm và trình bày những cải cách của mình như là chìa khóa cho sự trỗi dậy của Trung Quốc. Lời lẽ của ông ngầm tô vẽ các đối thủ của ông là không yêu nước.
Nhóm chủ chốt những người đã chọn TCB dường như đã thừa nhận ý tưởng của ông về ban lãnh đạo mạnh mẽ. Ông chắc chắn được giao cho các công cụ sắc bén hơn để thúc đẩy chương trình của mình mà những người tiền nhiệm của ông chưa từng có được. Ông thừa kế một Ban Thường vụ Bộ Chính trị đã được sắp xếp – cơ quan đầu não ra quyết định của đảng – đã được giảm xuống còn bảy thành viên ngay trước khi ông tiếp nhận. Ông cũng đã gần như được trao ngay lập tức các vị trí đứng đầu trong đảng, quân đội, chính phủ, mà người tiền nhiệm của ông đã phải chờ đợi nhiều năm mới nắm được. Tuy nhiên, cán cân quyền lực thực tế trong các tổ chức bí mật này là không rõ ràng với bên ngoài. Điều chắc chắn là để sử dụng hai tay cân bằng lại nền kinh tế, TCB đã thu tóm rất nhiều quyền lực. Can thiệp vào cán cân quyền lực trong các hệ thống độc đoán luôn luôn là điều nguy hiểm, vì vậy ông phải tìm những cách để làm điều đó mà không làm những đảng viên lão thành và các đồng nghiệp thù ghét.
NÂNG LÊN VÀ SAN BẰNG
TCB tin rằng cuộc tranh luận lớn về hệ thống chính trị của Trung Quốc đã kết thúc. Như ông nói với cử toạ châu Âu hồi tháng Ba, Trung Quốc đã “thử nghiệm chế độ quân chủ lập hiến, phục hồi đế chế, chế độ đại nghị, hệ thống đa đảng và chính phủ với tổng thống, nhưng không có thứ gì thực sự được việc. Cuối cùng, Trung Quốc đã đi trên con đường của chủ nghĩa xã hội”. Mặc dù có một số va vấp trên đường đi, “Sự độc đáo trong truyền thống văn hóa của Trung Quốc, lịch sử và hoàn cảnh quy định rằng Trung Quốc cần phải theo một con đường phát triển phù hợp với thực tế của riêng mình. Thực tế là chúng tôi đã tìm thấy một con đường như vậy và đã đạt được thành công trên con đường này”.
TCB đã thuyết phục Đảng Cộng sản Trung Quốc rằng ông biết cách bước đi tiếp. Ông đã được trao quyền rộng rãi để thực hiện nền kinh tế “hai tay” và nền chính trị theo chủ nghĩa Mao mới, thống nhất bởi ban lãnh đạo mạnh mẽ và chủ nghĩa dân tộc có uy lực. Để kéo dài chế độ đảng trị, chính phủ của ông đã hứa sẽ chỉnh sửa nó. Điều này có nghĩa là tạo ra những cải tiến thực sự cho cuộc sống của người dân qua việc cải cách nền kinh tế và ngăn chặn các quan chức nhỏ tranh thủ cướp đi. Nhưng một khu vực nhà nước mạnh mẽ và một bộ máy đàn áp mạnh mẽ cũng nằm ở trung tâm tầm nhìn của ông.
Cách tiếp cận “tất cả các thứ bên trên” của TCB được giữ với nhau bằng một ý tưởng đơn giản: giữ đảng ở vị trí cầm quyền. Nhưng để làm điều đó ông đang áp đặt những cải cách đau đớn, đưa các ngành công nghiệp nhà nước vào trong môi trường cạnh tranh, tấn công vào nhiều đặc quyền của đảng viên, và thay đổi cán cân quyền lực ở cấp chóp bu. Nếu dự án này mất niềm tin của giới chủ chốt Trung Quốc, nó có thể phá vỡ sự cân bằng quyền lực vốn giữ hệ thống lại với nhau và kích động một cuộc khủng hoảng. Trong lịch sử Liên Xô, hai nhà lãnh đạo đã cố gắng để thực hiện cải cách rộng lớn như vậy để hồi sinh một hệ thống trì trệ. Người thứ nhất, Nikita Khruschev, tạo ra một làn sóng các cuộc nổi dậy khắp Đông Âu và gần như bắt đầu một cuộc chiến tranh hạt nhân. Người thứ hai, Mikhail Gorbachev, đem tới sự tan rã của nhà nước-đảng Liên Xô. Cải cách một hệ thống độc tài là trò đánh bạc to vốn. Dự án này được vạch ra nhằm bảo đảm sự sống còn của hệ thống chính trị của Trung Quốc trong thế kỷ 21 – nhưng nếu nó không thành công, nó có thể gây đổ vỡ mọi thứ.
PETER MARTIN là Phó Giám đốc APCO Worldwide. DAVID COHEN là biên tập viên của tạp chí trực tuyến The Jamestown Foundation China Brief.

Nội tình cuộc gặp gỡ Thành Đô của các nhà lãnh đạo Trung - Việt: Nguyễn Văn Linh bỏ qua Nguyễn Cơ Thạch gặp Giang Trạch Dân

Lý Nguyên dịch
 
Bài viết này cho biết một số chi tiết dẫn đến bước ngoặt trong quan hệ Việt – Trung nửa cuối thập niên 80, sau hơn một thập kỉ đối đầu. Đây là cái nhìn từ phía Trung Quốc, công bố trên báo chí Trung Quốc. Chúng tôi xin giới thiệu tới độc giả như một luồng thông tin tham khảo.
talawas
Sau khi hai nước Trung - Việt đối lập 13 năm, một cuộc gặp gỡ có tính lịch sử - cuộc gặp gỡ Thành Đô - đã phá vỡ tảng băng cứng ngoại giao, tiến một bước chắc chắn thực hiện bình thường hóa quan hệ hai nước.


Thay đổi chính quyền, quan hệ Trung - Việt xuất hiện ánh bình minh

Năm 1975, sau khi chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam kết thúc, Lê Duẩn và một số người lãnh đạo Việt Nam lúc đó không kịp thời chữa chạy vết thương do chiến tranh mang lại mà đã triệt để xa rời đường lối của Hồ Chí Minh; đối nội cưỡng bức thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa quá tả tại miền Nam, đối ngoại cậy vào sự giúp đỡ của Liên Xô, thực hiện chủ nghĩa bá quyền khu vực. Dưới dự dẫn dắt của đường lối đó, một mặt Việt Nam chống Trung Quốc, một mặt tăng cường khống chế Lào rồi phát động xâm lược vũ trang Cămpuchia. Những việc làm của họ đã đưa nền kinh tế Việt Nam đến bên bờ của sự tan vỡ, hoàn cảnh quốc tế bị cô lập chưa bao giờ có.

Tháng 7 năm 1986, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) lâm bệnh qua đời. Tháng 12 cùng năm, Nguyễn Văn Linh được Đại hội lần thứ sáu ĐCSVN bầu làm Tổng Bí thư. Trong những năm 60 thời kỳ chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam, Nguyễn Văn Linh là thành viên của Trung ương Cục miền Nam của ĐCSVN, đã từng nhiều lần bí mật sang thăm Trung Quốc; Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cho rằng ông là người kế thừa có hy vọng nhất của Việt Nam. Sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, Nguyễn Văn Linh không tán thành đường lối đối nội, đối ngoại sai lầm của người lãnh đạo lúc đó, đã từng bị chèn ép. Khi giữ chức Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh nhanh chóng uốn nắn toàn bộ cách làm sai lầm của người tiền nhiệm, đề xuất khẩu hiệu “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”. Ông cho rằng, đối với Việt Nam, hai nhiệm vụ cấp bách đương thời là phải rút quân đội khỏi Cămpuchia và cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Thế nhưng do thân tín của Tổng Bí thư khóa trước, ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch nắm quyền tại Bộ Ngoại giao, tiếp tục làm việc theo tư duy của Lê Duẩn, trăm phương ngàn kế quấy rối và ngăn cản bố trí chiến lược của Nguyễn Văn Linh. Còn Nguyễn Văn Linh với tư cách là người lãnh đạo mới lên nắm quyền, trong tầng nấc quyết sách trung ương còn chưa có gốc rễ sâu chắc, một số ý tưởng của ông cũng chưa được nhiều người lãnh đạo hiểu biết và ủng hộ. Trong tình hình đó, làm thế nào thực hiện được mục tiêu nói trên là một vấn đề hắc búa và đau đầu mà lại cần phải giải quyết.

Kaysone thăm dò đường, Nguyễn Văn Linh gặp Trương Đức Duy

Tháng 10 năm 1989, Kaysone Phomvihane, Tổng Bí thư Đảng Cách mạng Nhân dân Lào kiêm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Lào thăm Trung Quốc. Trước yêu cầu nhiều lần của ông, Trung Quốc bàn luận quyết định mời Đặng Tiểu Bình hội kiến ngắn, có tính lễ tân. Không ngờ hai nhà lãnh đạo đã có cuộc nói chuyện dài bốn mươi phút, hơn nữa còn bàn tới những vấn đề thực chất vô cùng quan trọng.

Kaysone thành khẩn thừa nhận, hơn mười năm qua quan hệ Lào với Trung Quốc ở vào trạng thái không bình thường, là do chịu “ảnh hưởng bên ngoài”, lần thăm Trung Quốc này là tiêu chí hoàn toàn bình thường hóa quan hệ hai đảng, hai nước. Đồng thời Kaysone còn chuyển lời hỏi thăm Đặng Tiểu Bình của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, nói Việt Nam đã có nhận thức mới đối với tình hình Trung Quốc, thái độ đối với Trung Quốc cũng có thay đổi, còn nói Nguyễn Văn Linh hy vọng mời ông thăm Trung Quốc.

Đặng Tiểu Bình cũng nhờ Kaysone chuyển lời hỏi thăm của ông tới Nguyễn Văn Linh đồng thời nói, hy vọng trước khi ông nghỉ hưu hoặc nghỉ hưu không lâu vấn đề Cămpuchia có thể được giải quyết, quan hệ Trung - Việt được khôi phục bình thường. Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh, Việt Nam phải rút hết, rút triệt để quân đội khỏi Cămpuchia. Ông đề nghi Kaysone chuyển những ý kiến đó tới Nguyễn Văn Linh. Ngoài ra Đặng Tiểu Bình còn nói một câu ý vị sâu xa: “Nguyễn Cơ Thạch, con người này thích giở trò vặt.”

Trên đường về nước Kaysone dừng lại thời gian ngắn tại Việt Nam, chuyển tới Nguyễn Văn Linh những lời của Đặng Tiểu Bình. Nghe xong, Nguyễn Văn Linh càng có thể hội thiết thân về việc “giở trò vặt” của Nguyễn Cơ Thạch. Ông ý thức được, dù Đặng Tiểu Bình chỉ chuyển lời, nhưng vẫn chưa đưa ra lời mời ông thăm Trung Quốc. Trong tình hình đó làm thế nào để thực hiện thăm Trung Quốc là vấn đề ông phải giải quyết gấp. Ngày 5 tháng 6 năm 1990, dưới sự cố gắng của nhiều phía, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã hội kiến Trương Đức Duy, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, tại phòng khách Trung ương ĐCSVN. Khi hội kiến, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng có mặt, nhưng nội dung nói chuyện hoàn toàn không giống luận điệu cũ chống Trung Quốc của Nguyễn Cơ Thạch. Dự đoán dụng ý để Nguyễn Cơ Thạch tháp tùng hội kiến rất có khả năng là để ông ta trực tiếp nghe xem rốt cuộc Tổng Bí thư đã nói những gì, cũng có thể lúc đó đối với ông ta vẫn còn một tia hy vọng, để cho ông ta có một cơ hội thay đổi cách làm. Tuy nhiên do có mặt Nguyễn Cơ Thạch nên Nguyễn Văn Linh cũng không nói hết ý.

Sau khi kết thúc hội kiến, Trương Đức Duy lập tức báo cáo tỉ mỉ nội dung nói chuyện của Nguyễn Văn Linh về Trung Quốc, nhanh chóng nhận được trả lời, vẫn là yêu cầu Việt Nam phải nhanh chóng rút quân khỏi Cămpuchia, đồng thời giải quyết tốt vấn đề liên hiệp sau khi rút quân, hai bên đối lập Cămpuchia, tức chính quyền Phnom Penh với lực lượng ba phái chống đối, sau đó sẽ dần dần từng bước và sắp xếp rõ ràng rành mạch cuộc gặp gỡ người lãnh đạo hai nước.

Nhân sĩ bí mật xuất hiện trước sứ quán đưa mật thư

Sáng ngày 16 tháng 8 năm 1990, một quan chức Viện Khoa học Xã hội Việt Nam họ Hoàng (con trai Hoàng Văn Hoan) đến Đại sứ quán Trung Quốc gặp Trương Đức Duy và đưa một mật thư, rồi tiện thể nhắn thư miệng của Nguyễn Văn Linh: ông quyết bỏ qua Nguyễn Cơ Thạch, trực tiếp gặp người lãnh đạo Trung Quốc.

Tối ngày 19 tháng 8, sứ quán nhận được trả lời từ trong nước. Trong nước chỉ thị Trương Đức Duy tìm cách tránh Bộ Ngoại giao Việt Nam, gặp người đáng tin cậy bên cạnh Nguyễn Văn Linh, đề xuất đại sứ muốn một ngày gần đây một mình gặp Nguyễn Văn Linh để trực tiếp hiểu được ý đồ chân thực của Nguyễn, lập tức báo cáo kết quả về Bộ.

Thế là Trương Đức Duy quyết định thông qua kênh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Lê Đức Anh thử xem sao. 8 giờ sáng ngày 21, Trương Đức Duy ngồi trên một chiếc ôtô du lịch không cắm quốc kỳ đến Bộ Quốc phòng Việt Nam. Trương Đức Duy đi thẳng vào vấn đề, nói vắn tắt những điểm chính lời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh mà hôm kia Hoàng Nhật Tân đã chuyển tới ông ta, biểu thị bản thân mình rất muốn trực tiếp nghe ý kiến của Tổng Bí thư, mong Lê Đức Anh giúp đỡ liên hệ. Lê biểu thị sẽ lập tức làm ngay. Ngay chiều hôm đó, Vũ Xuân Vinh, Cục trưởng Cục đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam khẩn cấp nói với tùy viên quân sự Trung Quốc tại Việt Nam là Triệu Nhuệ rằng: 7 giờ rưỡi sáng ngày 22, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ hội kiến Trương Đức Duy tại Nhà khách Bộ Quốc phong, cả hai bên đều không mang phiên dịch, kiến nghị Trương Đức Duy đổi ngồi một xe khác, không cắm quốc kỳ. Sau khi trở về sứ quán, tùy viên quân sự Triệu lập tức báo cáo với Trương Đức Duy.

Cuộc gặp gỡ bí mật Thành Đô

Sau khi biết được ý đồ chân thực của Nguyễn Văn Linh, Trương Đức Duy lập tức báo cáo nội dung nói chuyện của ông về trong nước. Chiều ngày 28 tháng 8, sứ quán nhận được chỉ thị của trong nước, đề nghị Trương Đức Duy chuyển lời tới Nguyễn Văn Linh: Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười thăm nội bộ Trung Quốc từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9 năm 1990, cũng hoan nghênh Cố vấn Trung ương ĐCSVN Phạm Văn Đồng cùng đi. Do Á vận Hội sắp cử hành ở Bắc Kinh, để tiện bảo mật, nên sắp xếp địa điểm hội đàm tại Thành Đô, Tứ Xuyên.

Qua sự sắp xếp của Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN, 4 giờ chiều ngày 29, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười đã hội kiến Trương Đức Duy tại Nhà khách Trung ương ĐCSVN. Trương Đức Duy chuyển lời mời thăm nội bộ Trung Quốc của Giang Trạch Dân và Lý Bằng tới Nguyễn và Đỗ. Nguyễn và Đỗ biểu thị tiếp nhận lời mời, đồng ý thời gian và địa điểm do phía Trung Quốc đề xuất, đồng thời nói sẽ báo ngay với Bộ Chính trị Trung ương ĐCSVN, nhanh chóng xác định họ tên những người cùng đi, bắt tay chuẩn bị công việc.

Ngày 30, Trung Quốc thông báo cho đại sứ quán sắp xếp đại thể chương trình làm việc, tức sáng ngày 3 tháng 9 chuyên cơ Việt Nam rời Hà Nội, 1 giờ chiều đến Thành Đô, buổi chiều người lãnh đạo hai bên hội đàm, buổi tối phía Trung Quốc mời tiệc. Sáng ngày 4 tháng 9 tiếp tục hội đàm, buổi chiều chuyên cơ Việt Nam rời Thành Đô về nước. Qua thỉnh thị và được đồng ý, Trương Đức Duy sẽ tháp tùng chuyên cơ Việt Nam đến Thành Đô, tham dự hội đàm.

Sau khi từ Thành Đô trở về, Trương Đức Duy nói, lãnh đạo hai nước trong gặp gỡ chủ yếu thảo luận vấn đề giải quyết chính trị xung đột Cămpuchia như thế nào và vấn đề khôi phục quan hệ bình thường Trung - Việt. Về vấn đề Cămpuchia, hai bên chú trọng bàn sau khi Việt Nam rút quân, tổ chức thành lập Ủy ban Tối cao Quyền lực Lâm thời Cămpuchia, tức phương án phân phối quyền lực. Phía Trung Quốc đề xuất Ủy ban này do 13 đại biểu tổ thành, ngoài hoàng thân Sihanouk ra, chính quyền Phnom Penh có 6 đại biểu, phía lực lượng chống đối do Dân chủ Cămpuchia (Khmer Đỏ), Rananit và Son Sann, ba phái mỗi phái hai đại biểu, cộng là 6 đại biểu. Nguyễn Văn Linh biểu thị có thể tiếp thu phương án này của phía Trung Quốc; Đỗ Mười cho rằng bản thân hoàng thân Sihanouk cũng thuộc về lực lượng chống đối, như thế là tỷ lệ đại biểu hai bên là 6 trên 7, lực lượng chống đối nhiều hơn một ghế, dự đoán phía Phnom Penh tiếp nhận sẽ có khó khăn; Phạm Văn Đồng nói phương án của phía Trung Quốc vừa không công bằng cũng vừa không hợp lý. Cuối cùng phía Việt Nam đồng ý theo phương án do phía Trung Quốc đề xuất làm công tác thuyết phục phía Phnom Penh.

Về quan hệ Trung - Việt, hai bên đều giữ thái độ hướng về phía trước, không lật lại nợ cũ. Sau khi kết thúc gặp gỡ, những người lãnh đạo hai nước ký “Kỷ yếu hội đàm”. Với suy nghĩ sâu xa, Giang Trạch Dân trích dẫn hai câu thơ của nhà thơ Giang Vĩnh đời nhà Thanh: “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại; tương kiến nhất tiếu mân ân cừu” (dịch nghĩa: qua hết sóng gió anh em vẫn còn; gặp nhau cười một cái [là] quên ân oán). Tối hôm đó Nguyễn Văn Linh cũng xúc động viết bốn câu thơ: “Huynh đệ chi giao số đại truyền; oán hận khoảnh khắc hóa vân yên; tái tương phùng thời tiếu nhan khai; thiên tải tình nghị hựu trùng kiến” (tạm dịch nghĩa -vì không có nguyên bản: anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ, trong khoảnh khắc oán hận biến thành mây khói; gặp lại nhau cười rạng rỡ, tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại).

Một năm sau gặp gỡ Thành Đô, tháng 11 năm 1991, Tổng Bí thư mới của ĐCSVN Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng mới Võ Văn Kiệt thăm Trung Quốc. Người lãnh đạo hai nước công bố tuyên bố chung, tuyên bố quan hệ Trung - Việt bình thường hóa. Tháng 2 năm 1999, người lãnh đạo Trung Việt công bố “Tuyên bố chung”, xác định khuôn khổ phát triển quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, nói ngắn gọn là 16 chữ “ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu hảo, hợp tác toàn diện”.

Bản tiếng Việt © 2008 talawas
Nguồn: Hà Bắc tân văn võng ngày 30/10/ 2007 (theo báo Cuộc sống người già) và www.singtaonet.com

2358. Tranh cãi luật biểu tình dựa trên tiêu thức nào ?

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
18-06-2014
Thế giới ngày nay hầu như không còn nước nào bàn cãi về quyền biểu tình cả vốn là một khái niệm phổ quát có nội hàm: Quyền „đồng tình“ tập hợp „nơi công cộng“ (ngày nay được bổ sung thêm: „trên mạng“) để „biểu đạt“ chính kiến tư tưởng tình cảm của họ ủng hộ hay phản đối trước chính sách hay sự kiện nào đó, mà họ muốn xã hội, nhà nước, thậm chí thế giới (như biểu tình phản đối Trung Quốc) quan tâm giải quyết. Từ đó, nó có 6 dấu hiệu đặc trưng (xem thêm bài Cần sớm có luật biểu tình): – Nhằm thể hiện mong muốn được xã hội, nhà nước quan tâm giải quyết, nên biểu tình không bao giờ do nhà nước tổ chức cả (1.1). – Mà do cá nhân hoặc hội đoàn độc lập tổ chức hoặc 1 nhóm người tự tập hợp lại, nói cách khác người dân tự liên kết với nhau, thuộc phạm trù xã hội dân sự (1.2). – Biểu tình là hình thức biểu đạt chính kiến tư tưởng tình cảm đối với một chính sách hay trước một sự kiện nào đó, vì vậy nó phải nhằm vào đối tượng cụ thể đó, không thể chung chung nhưng cũng không được phạm vào quyền riêng tư, cá nhân ai (1.3). – Là một „tập hợp“ cùng „đồng tình“, biểu tình mang tính mở không giới hạn số lượng, tập hợp bất cứ ai tự nguyện. Vì vậy, cơ cấu, hoạt động không theo nguyên tắc hành chính mệnh lệnh, mà chỉ là sự thoả thuận phân công công việc, tự nguyện thực hiện, và không ai được phép mua chuộc hay cưỡng bức ai tham gia (1.4). – Do nhằm biểu đạt ý kiến, nên biểu tình chỉ tổ chức nơi công cộng, không được diễn ra trong trụ sở công quyền, hay nơi cần bảo vệ tránh đông người, doanh nghiệp, nhà dân (1.5). – Khác với bạo lực đường phố thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hình sự, hay cách mạng bạo lực thuộc phạm trù chính trị, biểu tình được mặc định là ôn hoà vì vậy không được sử dụng bạo lực, và không có khái niệm biểu tình bạo động (1.6).
Các dấu hiệu trên chính là những tiêu thức dùng để phân biệt đối tượng điều chỉnh của luật biểu tình, thiếu nó không thể tranh cãi, bởi theo logic học chỉ có thể tranh cãi khi cùng tiêu thức, nếu không kết qủa chẳng đến đâu, bởi „ông nói gà bà nói vịt“ hay „thày bói xem voi“. Vấn đề nóng bỏng xã hội hiện nay nằm ở câu hỏi, luật biểu tình là „cần“ hay „phải“ có? Và nếu chưa có thì nhà nước phải hành xử như thế nào ? Trả lời câu hỏi này không thể không bắt đầu từ định đề: Biểu tình là quyền tạo hoá (2).
Đã là „tạo hoá“ thì „không ai chối cãi được“. Nhưng vì lợi ích, nên nhiều quyền tạo hoá ngay cả khi được thừa nhận, như trường hợp đã được ghi vào Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Cách mạng Pháp năm 1791, nhà nước thực dân Pháp vẫn „mang lá cờ bình đẳng bác ái (thừa nhận quyền tạo hoá) tới cướp đất nước ta áp bức đồng bào ta (chống lại quyền tạo hoá của dân bản xứ, vì lợi ích của nhà nước Pháp)“. Vì vậy quyền tạo hoá chỉ được bảo đảm khi và chỉ khi hiến pháp và luật chế tài được nhà nước phải phục vụ cho mục đích đó, chứ không phải ngược lại như luật của thực dân Pháp sinh ra để chế tài đồng bào ta phục vụ chế độ thực dân của chúng. Theo luật học, đó chính là bản chất nhà nước pháp quyền (mà nước ta đang đeo đuổi), dựa trên nguyên lý bất di bất dịch: “nhà nước chỉ được làm những gì luật (tức văn bản lập hiến và lập pháp) cho phép, và người dân được làm tất cả chỉ trừ những gì luật cấm“ (3). Chứ không phải ngược lại, người dân bị cấm tất cả trừ khi có luật cho phép (4).
Ở nước ta, quyền biểu tình được mặc định trong trong Hiến pháp 1946 (nghĩa là không có điều khoản biểu tình nhưng cũng không có điều khoản cấm nó), được hiến định trong Hiến pháp năm 1959, tại Điều 25: “Công dân nước VNDCCH có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”. Tới Hiến pháp 1980, được hiến định tại Điều 67, với giới hạn “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân…”. Tương tự, đến Hiến pháp 1992, Điều 69 giới hạn, “biểu tình theo quy định của pháp luật”. Tiếp tới Hiến pháp 2013, Điều 25 cũng giới hạn: „Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Điều 2 Hiến pháp 2013 hiến định nước ta là “nhà nước pháp quyền“, tức tuân theo tiêu thức (3), chứ không thể (4). Vì vậy giới hạn quyền biểu tình quy định tại Điều 25, Hiến pháp 2013 không mang nghiã “chừng nào chưa có luật biểu tình thì chừng đó người dân không có quyền biểu tình“, (đã là quyền tạo hoá thì tương tự như trong luật giao thông đường bộ, không người dân nào phải ngồi ở nhà chờ cho tới khi có luật ban hành mới ra đường cả, hay tự do hôn nhân chẳng ai phải chờ có luật mới cưới cả), mà đặt ra một trách nhiệm hiến định cấp bách cho nhà nước phải ban hành luật biểu tình, để xác định nhà nước được phép làm những gì đối với hoạt động biểu tình và người dân khi biểu tình phải tránh những gì bị cấm, nếu không nhà nước „bó tay“ bởi đơn giản thiếu luật chế tài, đưa ra những thước đo chuẩn mực quy tắc xử sự, buộc cả hai bên phải tuân thủ. Có thể tham khảo Hiến pháp CHLB Đức ban hành năm 1949, Điều 8 quy định quyền biểu tình phần nào tương tự ta: “(1) Tất cả người Đức có quyền tập họp ôn hoà không có vũ khí, không cần báo trước hay xin phép. (2) Tập họp ôn hoà ngoài trời có thể bị giới hạn bởi 1 văn bản lập pháp“. Tới 4 năm sau, ngày 24.7.1953, họ mới có luật biểu tình. Trong khoảng 4 năm đó, người dân bất cần đến luật biểu tình, biểu tình hoàn toàn tự do; nhà chức trách chỉ được phép can thiệp khi có hành vi hình sự và do toà án phán quyết, chứ không phải nhà nước muốn làm gì thì làm. Mặt khác, dù hiến pháp cho phép Luật biểu tình Đức đưa ra giới hạn nhưng hoàn toàn không có nghĩa muốn giới hạn thế nào và tới đâu cũng được, mà phải tuân theo các tiêu thức (1) và (2) được hiến định tại Điều 19: “Khi giới hạn quyền cơ bản không bao giờ được phép vi phạm bản chất quyền đó“ (5). Nếu không quyền tạo hoá chỉ hữu danh vô thực, giống như câu chuyện tiếu lâm của trạng Quỳnh cho phép quyền „ỉa“ nhưng cấm „đái“ để phủ định ngay quyền trước đó.
Có thể tham khảo những Điều khoản chung Luật biểu tình Đức để thấy ngưỡng giới hạn ở họ đáp ứng tiêu thức (5) như thế nào: “Điều §1 (1) Ai cũng có quyền tổ chức tập họp và tham gia biểu tình. (2) Không có quyền đó, gồm những: 1- Ai chống lại quyều cơ bản về tự do biểu tình được ghi tại điều 8 Hiến pháp. 2- Ai ủng hộ mục đích của những đảng bị toà án hiến pháp tuyên phán vi phạm hiến pháp… Điều § 2 (1) Ai công khai mời gọi tham gia tập họp, người đó là người tổ chức và phải nêu rõ tên khi mời. (2) Khi tổ chức tụ họp mỗi người đều có thể cấm những gây rối cản trở cuộc biểu tình tổ chức đúng luật này. (3) Không ai được phép mang theo vũ khí hoặc đồ vật có thể gây thương tích hoặc hư hỏng đồ vật mà không được phép của cơ quan chính quyền. Cùng cấm tương tự như vậy khi mang theo trên đường đi tới chỗ biểu tình để chuẩn bị hoặc phân phát cho biểu tình. Điều § 3 (1) Cấm sử dụng sắc phục để thể hiện quan điểm chính trị. (2) Hội đoàn thanh thiếu niên mang đồng phục phải đệ đơn xin giấy phép miễn cấm ở điều (1). Thẩm quyền quyết định bởi Bộ nội vụ Liên bang hoặc Thủ hiến tiểu bang, và công bố trên công báo“.  
*Những tranh cãi cần được hoá giải
Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhiệm kỳ 13 chiều 28/9/2011, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề xuất xây dựng Luật Biểu tình để điều chỉnh vấn đề thực tế đang đòi hỏi. Thủ tướng đã giao Bộ Công an soạn thảo luật này.
Ba năm sau, chiều 30.5.2014, Quốc hội biểu quyết thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015, trong đó có Luật biểu tình, với 424/436 (85,14%) phiếu thuận. Theo đó, Luật biểu tình sẽ cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9, và thông qua tại kỳ họp thứ 10.
Như vậy sau tới 3 năm khởi sự tính từ khi Thủ tướng đề xuất, có tới 14,86% Đại biểu không cần luật biểu tình; quy tượng trưng ra số cử tri do họ đại diện chừng 12 triệu người. Câu hỏi được đặt ra, liệu có chắc chắn luật biểu tình sẽ được thông qua tại kỳ họp thứ 10, và luật đó có chưá đựng đầy đủ các dấu hiệu (1.1) – (1.6) ? Khi mà phiá không cần luật biểu tình dựa trên những tiêu thức sau đây:
- „Nhu cầu cuộc sống là có nhưng bộ phận soạn thảo Luật Biểu tình chưa sẵn sàng“. Vô hình dung lấy năng lực của bộ phận soạn thảo vốn là công bộc của chủ nhân người dân làm thước đo quyết định ban hành luật biểu tình hay không, chứ không lấy tiêu thức (2),(3), (4) để đối chiếu.
- „Có Luật Biểu tình thì ở mức cao hơn nhưng cũng không ngoài nội dung bảo vệ trật tự nơi công cộng“. Hoàn toàn sai với tiêu thức (1), trật tự công cộng là đối tượng điều chỉnh của luật hình sự, giao thông, không phải đối tượng của luật biểu tình.
- nước ta hiện nay luật này chưa cần thiết. Nếu như có Luật Biểu tình thì không phải chỉ có Bình Dương, Vũng Áng mà sẽ còn nhiều nơi biểu tình. Trong khi chúng ta chỉ có một đảng duy nhất“. Mâu thuẫn với tiêu thức (1) và (2), lấy biểu tình vốn là quyền tạo hoá không phụ thuốc thể chế chính trị, đồng nhất với chế độ đa đảng vốn cũng chỉ là một hình thức thể chế.
- “Luật Biểu tình được đề xuất rất nhiều nhưng trong tình hình hiện nay không nên đưa ra vì nó rất nhạy cảm“. Vi phạm tiêu thức (2). Chế độ thực dân tước đoạt quyền tạo hóa dân thuộc điạ nên luôn phải đối phó với đấu tranh chống bất công, mà vẫn thừa nhận quyền biểu tình, không hề coi nó là nhạy cảm để không ban hành, thì không lý do gì khi chúng ta đã giành chính quyền về tay nhân dân lại coi quyền tạo hoá của dân là nhạy cảm cả.
- “Biểu tình quy định trên giấy tờ là đi đứng thế nào, biểu ngữ ra sao… nhưng khi ra đấy biểu ngữ trong người họ đưa ra, rồi lời nói ra, ai kiểm soát được”. Giao thông nước ta năm 2013 gây ra 29.385
vụ tai nạn, làm chết 9.369 người, nhưng chắc không ai lấy đó làm tiêu thức tai nạn không „kiểm soát được“ để đòi hủy luật giao thông hay cấm giao thông cả. Ở đây còn thuộc lĩnh vự tư tưởng, mà Mác từng bác bỏ: „Đừng vì chậu nước bẩn mà hắt luôn cả đứa bé đang ngồi tắm trong đó“.
Đại biểu quốc hội là nơi người dân gửi gắm niềm tin nơi là phiếu. Nếu qủa thực có chừng 14 triệu người dân cho rằng không cần luật biểu tình dưạ theo những tiêu thức sai trên, thì một vấn đề nền tảng khác rất cấp bách cần đặt ra cả về trách nhiệm lẫn thẩm quyền theo đúng hiến pháp 2013 là cần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và định hướng của truyền thông để thay đổi nhận thức sai trên đối với quy luật xã hội về quyền tạo hoá và nghĩa vụ nhà nước phải bảo đảm quyền đó. Nếu tiêu thức sai trên là do nhận thức chủ quan của những đại biểu quốc hội đó, thì như bất kỳ nghị sỹ nào ở các quốc gia tiên tiến (họ đều không phải thánh, hay toàn năng) cần được Quốc hội tạo điều kiện để họ đón bắt được ý nguyện người dân, ra sức tiếp cận với khoa học thông qua „đặt hàng“ nghiên cứu tại các cơ quan khoa học, có bộ máy giúp việc trình độ đại học hỗ trợ. Nếu không, không chỉ mục tiêu luật biểu tình thông qua 2015 chưa chắc đã đạt, mà nhiều cải cách, chủ trương, chính sách trọng đại khác cũng chịu rủi ro do chính nhận thức chủ quan của đại biểu; vốn theo luật định, ở quốc gia nào cũng vậy cả, họ không chịu trách nhiệm pháp lý với biểu quyết của mình, nhưng lại quyết định cả số phận từng người dân lẫn tiền đồ vận mệnh cả đất nước, dân tộc.
Nguồn: Tia Sáng

2359. TUYÊN BỐ LÊN ÁN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC LÃNH THỔ VIỆT NAM & YÊU CẦU NHÀ NƯỚC VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TÒA ÁN QUỐC TẾ

TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 6 năm 2014
TUYÊN BỐ LÊN ÁN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC LÃNH THỔ VIỆT NAM & YÊU CẦU NHÀ NƯỚC VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TÒA ÁN QUỐC TẾ
Từ đầu tháng 5/2014 vừa qua, Trung Quốc đã cho hạ đặt giàn khoan HYSY 981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam. Việc hạ đặt giàn khoan này nối tiếp các hoạt động có tính toán từ trước nhằm xâm chiếm lãnh thổ của Việt Nam, đặc biệt là việc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa năm 1974, và đánh chiếm một phần quần đảo Trường Sa năm 1988.
Tất cả hành vi vừa nêu của Trung Quốc có thể gọi đúng tên là hành vi xâm lược, vi phạm nghiêm trọng Điều 2(4) của Hiến Chương LHQ, Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960, Nghị quyết 26/25 năm 1970, Nghị quyết số 3314-XXXIX ngày 14.12.1974 của LHQ.
Vì vậy, chúng tôi, những người Việt Nam trong nước và đang sống ở nước ngoài đồng lòng ký tên vào bản tuyên bố này nhằm:
- Cực lực lên án những hành vi có tính toán của Trung Quốc đang từng bước xâm lược lãnh thổ Việt Nam và thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông;
- Yêu cầu Nhà Nước Việt Nam khẩn trương khởi kiện Trung Quốc ra tòa án Quốc tế về những vi phạm chủ quyền nghiêm trọng của họ tại Biển Đông, đặc biệt là kết hợp cùng Philippines đấu tranh pháp lý quốc tế để xóa bỏ đường 9 đoạn (lưỡi bò) phi pháp và phi lý của Trung Quốc.
———
STATEMENT OF CONDEMNATION AGAINST CHINESE AGGRESSION OF VIETNAM’S TERRITORY
&
REQUEST TO THE VIETNAMESE GOVERNMENT TO TAKE CHINA TO INTERNATIONAL COURTS
Since early May this year, China has illegally installed in the oil rig HYSY 981 in Vietnam’s exclusive economic zone (EEZ) and continental shelf of Vietnam. This is part of a pre-planned series of aggressive actions aimed at invading Vietnam’s territory, most notably the use of force to occupy the entire Paracel Islands in 1974, and again to occupy part of the Spratly Islands in 1988.
All of the afore-mentioned actions by China can be rightly called acts of aggression, seriously violating Article 2 (4) of the UN Charter, Resolution 1514 dated 14.12.1960, Resolution 26/25 in 1970, and Resolution No. 3314 UN-XXXIX dated 12.14.1974.
Therefore, we, patriotic citizens of Vietnam worldwide, unanimously signed this statement to:
- Strongly condemn the aggressive behaviors of China which have been calculated to gradually invade the territory of Vietnam and realize their scheme to monopolize the South China Sea;
- Urgently request the government of Vietnam to take China to international courts for their serious violations of Vietnam’s sovereignty in the South China Sea, and to join hands with the Philippines in the legal battle against China’s unjustified and illegal cow’s tongue line (nine-dashed line).
Signatories:
Những người ký tên:
1. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
2. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (trước 1975), Đại biểu Quốc hội khóa 6, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP HCM
3. Lê Công Giàu, nguyên Tổng Thư ký Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn 1966, nguyên Phó Bí thư thường trực Thành đoàn Thanh niên Cộng sản TP HCM, nguyên Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư (ITPC), TP HCM
4. Trần Quốc Thuận, Luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn Phòng Quốc Hội
5. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước TP HCM
6. Bùi Tiến An, đảng viên hưu trí, nguyên CB Ban Dân vận Thành ủy tp HCM
7. Hồ An, nhà báo, TP HCM
8. Vũ Thị Phương Anh, Tiến sĩ giáo dục, nghiên cứu và dịch thuật tự do, hiện sống ở TP HCM
9. Đặng Thị Châu, cụ bà 92 tuổi, TP HCM
10. Huỳnh Kim Dũng, cử nhân phong trào sinh viên học sinh trước 1975
11. Hồ Hiếu, nhà giáo Sài Gòn, phong trào Tranh thủ Dân chủ Đà Lạt 1966, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Thành Ủy TP HCM
12. Ngô Kim Hoa, nhà báo tự do, Sài Gòn
13. Tô Hòa, nguyên Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
14. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
15. Hà Thúc Huy, PGS. TS. hóa học, giảng dạy đại học, TP HCM
16. Hoàng Hưng, nhà Thơ nhà báo Tự do, TP HCM
17. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), nguyên Thư ký của đc Mai Chí Thọ, TP HCM
18. Võ Văn Thôn, nguyên Giám Đốc Sở Tư Pháp TPHCM
19. Lê Anh Tuấn, Cán bộ hưu trí
20. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành Ủy Đà lạt
21. Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu Biển Đông, TP HCM
22. Giang Thị Hồng, vợ Luật gia Lê Hiếu Đằng
23. Lê Phú Khải, nguyên phóng viên thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại miền Nam, TP HCM
24. Trần Hữu Kham, thương binh mù, cựu tù chính trị Côn đảo, TP HCM.
25. Trần Hữu Khánh, hưu trí, TP.HCM
26. Cao Lập, hưu trí, cựu tù chính trị Côn Đảo
27. Võ Thị Lan, nguyên cán bộ công an TP HCM
28. Nguyễn Văn Lê, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Thành ủy TP HCM
29. Trần Văn Long, nguyên Tổng thư ký Ủy ban vận động cải thiện chế độ lao tù miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist).
30. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TPHCM
31. GBt. Huỳnh Công Minh, linh mục Giáo phận Sài Gòn
32. Tăng Thị Nga, cựu sinh viên luật phong trào sinh viên trước 1975
33. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
34. Hạ Đình Nguyên, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (trước 1975), cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
35. Hồ Ngọc Nhuận, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam TP Hồ chí Minh, nguyên chủ bút nhật báo Tin Sáng Saigon
36. Hà Sĩ Phu, TS, nhà văn tự do, Đà Lạt
37. Trần Minh Quốc, nguyên hội viên CLB những người kháng chiến cũ thời cụ Nguyễn Hộ 1990, TP HCM
38. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên Tập Báo Lao Động
39. Nguyễn Thế Thanh, nhà báo, TPHCM
40. Nguyễn Kiến Phước, nhà báo, nguyên Đại diện báo Nhân Dân ở phía Nam
41. Bùi Minh Quốc, Nhà thơ, nhà báo, nguyên chủ tịch hội Văn Nghệ, tổng biên tập tạp chí Lang Biang, Đà Lạt, Lâm Đồng
42. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM
43. Trần Công Thạch, nhà giáo nghỉ hưu, TP HCM
44. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
45. Huỳnh Kim Thanh Thảo, doanh nhân, TP HCM
46. JM. Lê Quốc Thăng, linh mục Giáo phận Sài Gòn
47. Lê Thân, Hưu trí , TPHCM
48. Nguyễn Bá Thuận, Thầy giáo về hưu, Đan Mạch
49. Phan Văn Thuận, Giám đốc công ty Phú An Định, TP HCM
50. Nguyễn Thị Khánh Trâm, Nghiên cứu viên văn hóa, hiện sống ở Tp HCM
51. Phạm Đình Trọng, Nhà văn, Sài Gòn
52. Huỳnh Kim Tú, cử nhân phong trào sinh viên học sinh trước 1975
53. Lê Anh Tuấn, CB hưu trí, TP HCM
54. Lưu Trọng Văn, nhà báo, TP HCM
55. Nguyễn Đắc Xuân, nhà Văn, nhà nghiên cứu lịch sử Văn hoá Huế, hiện sống tại Huế
56. Võ Thị Bạch Tuyết, nguyên Giám Đốc Sở Lao động Thương binh xã hội TPHCM
57. Huỳnh Thị Minh Nguyệt, cán bộ hưu trí, TP HCM
58. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, giảng viên đại học, TPHCM
59. Nguyễn Minh Tấn, kiến trúc sư, Sài Gòn
60. Nguyễn Hồng Khoái, chuyên viên tư vấn tài chính, Hà Nội
61. Hoàng thị Nhật Lệ, CB hưu trí Bình Thạnh, TP. HCM
62. Phạm Gia Minh TS Kinh tế , hiện sống tại Hà Nội
63. Trần Minh Thảo, Viết văn, Bảo lộc Lâm đồng
Ký tên đợt 2
64. Huy Đức, nhà báo độc lập, TP HCM
65. Phạm Khiêm Ích, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin khoa học xã hội. Hà Nội
66. André Menras Hồ Cương Quyết, nhà gíao, cựu tù chính trị chế độ cũ
67. Pham xuan Phuong: Dai ta Cuu chien binh-Ha Noi-Viet Nam
68. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, Sài Gòn
69. Lê Văn Tâm, Nguyên chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nhật Bản
70. Hoàng Lại Giang, nhà văn, TP HCM
71. Tạ Duy Anh, nhà văn, công tác tại nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội
72. Phạm Thị Minh Đức, nhân viên Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, Hà Nội
73. Giáng Vân, nhà báo, nhà thơ, Hà Nội
74. Nguyễn Quang A, kỹ sư, Hà Nội
75. Uông Đình Đức, Kỹ sư cơ khí (đã nghỉ hưu), t/p HCM
76. Trần Tiến Đức, nhà báo, đạo diễn truyền hình, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục-Truyền thông, UBQG Dân số và KHH Gia đình, Hà Nội
77. Nguyễn Văn Binh, cựu Dân biểu Quốc hội VNCH
78. Đoàn Khắc Xuyên, nhà báo, TPHCM
79. Vũ Thư Hiên, nhà văn, Paris, Pháp
80. Tô Nhuận Vỹ,nhà văn,Huế
81. Phùng Hoài Ngọc, thạc sỹ, nguyên giảng viên đại học, tỉnh An Giang
82. Phan Tấn Hải, nhà văn, California, Hoa Kỳ
83. Nguyễn Quang Nhàn Cán bộ công đoàn hưu trí, Đà Lạt
84. Nguyễn Duy Toàn, Giảng viên, đại học Nha trang, Khánh hòa
85. Hoàng Dũng, PGS TS, trường Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM
86. Nguyễn Thu Lan, dược sỹ, hưu trí, TPHCM
87. Ngô Thị Kim Cúc, Nhà văn, Nhà báo, TP HCM
88. Phùng Liên Đoàn, chuyên viên nguyên tử, Oak Ridge, TN 37830, USA
89. Văn Ngọc Tâm, Nhà báo tự do, Thành phố Sài Gòn
90. Ngô Văn Phước, sinh viên trường Đại học Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh
91. Bùi Phạm Hoàng Lượng, đảng viên hưu trí, nguyên Chủ tịch UBMTTQVN quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
92. Lê Thăng Long, kỹ sư – doanh nhân, Sài Gòn
93. Phạm Toàn, nhà giáo nghỉ hưu, Hà Nội
94. Bùi Ngọc Tấn, Nhà văn, tp Hải Phòng
95. Lê Minh Hà, nhà văn, sống tại Đức
96. Nguyễn Văn Dũng. Nhà giáo, nhà văn, TP Huế.
97. Nguyễn Tường Thụy, Cựu chiến binh, Blogger, Hà Nội
98. đỗ trung quân – nhà thơ – tp HCM
99. Đào Thanh Thuỷ, Nghề nghiệp: cán bộ hưu trí
100. Nguyễn Duy, nhà thơ, TP. Hồ Chí Minh.
101. Bui Trong Kien, TS. Toan hoc, Vien Toan hoc, Vien Han Lam  Khoa hoc va Cong nghe Viet Nam, Ha Noi
102. Nguyễn Trí Nghiệp, Giám Đốc Cty Nông Trang Island, Vĩnh Long
103. NGUYỄN CÔNG HỆ ,THUYỀN  TRƯỞNG VIỄN DƯƠNG,  TP HỒ CHÍ MINH
104. Đinh Đức Long, Tiến sĩ, bác sĩ, TP.HCM
105. Dương Tường, nhà thơ – dịch giả, Hà Nội
106. Nguyễn Lộc, Giảng dạy Đại học, TP Hồ Chí Minh
107. Ý Nhi, nhà thơ, TP Hồ Chí Minh
108. Lê Khánh Luận, TS Toán, nhà thơ, nguyên giảng viên trường ĐH Kinh Tế Tp.HCM
109. Dr. Trương Thanh Đạm, hưu trí, Hà Lan
110. Nguyễn Huệ Chi, GS, Hà Nội
111. Nguyễn Thế Hùng, GS TS ngành Thủy lợi, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, TP Đà Nẵng
112. Nguyễn Phương Chi, biên tập viên chính, nguyên Phó phòng Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học, Hà Nội
113. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội
114. Nguyễn Đình Nguyên, TS, Australia
115. Phan Thị Hoàng Oanh, TS, TP HCM
116. Nguyễn văn An, cán bộ hưu trí, TP.HCM
117. Hoàng Tụy, giáo sư, Viện Toán Học, Viện Hàn Lâm KH và CN Việt Nam, Hà Nội.
118. NGUYỄN TRỌNG HUẤN, Kiến trúc sư – Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Kiến trúc & Đời sống, TP HCM

2360. Chuyến đi của Dương Khiết Trì: Chỉ tốn tiền!

Nguyễn Văn Tuấn
19-06-2014
Có lẽ chúng ta không bao giờ biết chính xác những bàn thảo giữa Dương Khiết Trì (DKT) và các quan chức cao cấp VN. Đọc báo VN thì thấy cái điểm nổi trội là các quan chức VN (từ tổng bí thư, thủ tướng đến bộ trưởng ngoại giao) đều khẳng định chủ quyền VN ở Biển Đông và yêu cầu Tàu cộng rút giàn khoan. Tuy nhiên, không thấy báo VN tường thuật DKT trả lời ra sao, nhưng báo Tàu thì nói có vẻ ngược lại. Họ nói rằng DKT đã báo cho phía VN biết phải ngưng quấy rối ngoài Biển Đông và phía VN nói rằng sẵn sàng tuân thủ. Rất có thể đó là một bản tin nói láo vì tôi nghĩ quan chức VN khó mà hạ mình nói “tuân thủ” được. Tóm lại, với hệ thống báo chí bị kiểm soát này thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết hết sự thật đằng sau những buổi nói chuyện giữa DKT và các quan chức VN.
Đài CRI của Tàu cộng bằng một văn phong xấc xược viết về buổi hội kiến như sau: “Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cho biết, Việt Nam sẵn sàng tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo hai nước về xử lý thoả đáng các vấn đề nhạy cảm trong quan hệ hai nước, tránh để cho các vấn đề này quấy nhiễu toàn cục của quan hệ hai Đảng và hai nước…” (1).
Chẳng biết ông Phạm Bình Minh có nói “sẵn sàng tuân thủ” hay là đó là cách CRI nhét chữ vào miệng ông ấy. Nếu không thì một lời đính chính xem ra rất thích hợp ở đây. Đài BBC cũng lặp lại chữ này của CRI nhưng cho biết thêm rằng DKT có đề cập đến vụ bạo loạn ở Bình Dương (3): “Điều bức xúc nhất hiện nay là Việt Nam cần phải đình chỉ quấy nhiễu đối với sự tác nghiệp của Trung Quốc, đình chỉ thổi phồng bất đồng, gây ra tranh chấp mới, xử lý và khắc phục tốt hậu quả vụ bạo lực đánh đập, cướp bóc và thiêu đốt xảy ra tại Việt Nam cách đây không lâu, đồng thời bảo đảm an toàn cho các cơ quan, doanh nghiệp và nhân viên Trung Quốc tại Việt Nam.”
Nói gì thì nói, báo chí Tàu có vẻ rất khinh VN và quan chức VN. Nếu không khinh thì sao chúng dùng chữ “tuân thủ”, cứ như là cấp dưới phải tuân thủ cấp trên. Trong lúc DKT còn ở Hà Nội, Tân Hoa Xã còn công bố một bài “4 không” (không được xem thường quyết tâm của Tàu; không sử dụng tư liệu lịch sử để gây hiểu lầm; không lôi kéo các nước khác; và không phá bỏ mối quan hệ Việt-Trung). Bài báo còn lên giọng dạy dỗ rằng “kẻ biết thời thế mới là tuấn kiệt.” Tàu quả là khinh thường VN.
Còn báo VN thì có vẻ “hùng hổ” hơn, nhưng cũng chỉ là loại … một chiều. Thông tấn xã VN dưới tựa đề “Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc” cho biết “Tổng Bí thư khẳng định lập trường về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên Biển Đông là không thay đổi và không thể thay đổi; đề nghị khẩn trương trao đổi để có các giải pháp sớm ổn định tình hình…” (4)
Báo Thanh Niên thì cho biết Ngoại trưởng Phạm Bình Minh nói dứt khoát và mạnh mẽ hơn với DKT, rằng: “Trung Quốc phải rút giàn khoan và tàu ra khỏi vùng biển của Việt Nam, kiểm soát tình hình không để xảy ra xung đột”. Không thấy Thanh Niên viết DKT trả lời ra sao, nhưng có đoạn viết chung chung kiểu phải đạo “Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì khẳng định Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị với Việt Nam, nhất trí hai bên cần sớm ổn định tình hình trên biển, kiềm chế không để xảy ra xung đột, không để quan hệ hai nước xấu đi, cùng nhau nỗ lực thúc đẩy các mặt hợp tác giữa hai nước có những bước phát triển sâu rộng và thực chất hơn nữa, đồng thời nhắc lại lập trường của Trung Quốc về biển Đông.” (5)
Nói tóm lại, mạnh ai nấy nói. Chẳng ai đếm xỉa hay đề cập một cách đầy đủ những gì phía bên kia nói. Đó cũng là một nét văn hóa tiêu biểu của người Tàu (và Việt Nam), tức là không có cái mà tiếng Anh gọi là “give and take”. Nhưng nếu những tin tức trên là tín hiệu thì tôi nghĩ chúng ta cũng có đủ tín hiệu để đoán phía Tàu: (a) phàn nàn VN quấy nhiễu giàn khoan của họ; (b) đề cập đến vụ bạo loạn ở Bình Dương; (c) khẳng định chủ quyền của họ ở Biển Đông và giàn khoan của họ nằm trong vùng biển của họ. Còn phía VN có thể nói: (i) sự hiện diện của giàn khoan nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của VN là một vi phạm chủ quyền; (ii) khẳng định chủ quyền ở Biển Đông; và (iii) yêu cầu Tàu rút giàn khoan. Nếu những diễn giải này đúng thì chuyến đi của DKT chẳng đem đến kết quả nào. Chỉ tốn tiền (chắc cả $100K) cho đoàn của ông ấy bay đến VN, ăn uống, và đi chơi mấy ngày ở Hà Nội.
Nguồn: FB Nguyen Tuan
—–
(1) http://vietnamese.cri.cn/421/2014/06/18/1s199892.htm
(2) http://www.vietnamplus.vn/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tiep-uy-vien-quoc-vu-trung-quoc/266151.vnp
(3) http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/06/140618_china_media_vietnam_talks.shtml
(4) http://www.vietnamplus.vn/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tiep-uy-vien-quoc-vu-trung-quoc/266151.vnp
(5) http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140618/trung-quoc-phai-rut-gian-khoan-va-tau-ra-khoi-vung-bien-cua-viet-nam.aspx

Hai trí thức, hai bài viết và hai tâm thế trái ngược

Lê Anh Hùng
Sau những lời lẽ hùng hồn trong cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên quốc tế ở Philippines mới đây như “không chấp nhận đánh đổi chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc”, đ/c X của chúng ta lại khiến dư luận một phen ồn ỹ.
Tuần vừa rồi lại xuất hiện thêm hai bài viết trên báo chí “phi chính thống” với nội dung gần như hoàn toàn đối chọi nhau mà cả hai đều thu hút được sự quan tâm của nhiều người. Đó là bài “Thoát Trung, nhưng coi chừng một sai lầm bi đát!” của ông Nguyễn Gia Kiểng, một trí thức Việt Nam ở hải ngoại được nhiều người biết đến, và bài “Thượng cấp Tầu Cộng đã ra chỉ lệnh, Thủ tướng hãy cẩn thận” của nhà văn Phạm Thành (blogger Bà Đầm Xoè), một trí thức Việt Nam khá nổi tiếng trong nước.
Tác giả Nguyễn Gia Kiểng đã thẳng thắn chỉ ra bản chất đích thực của đ/c X đằng sau những lời lẽ hùng hồn mà rỗng tuếch của ông ta:
…Điều chắc chắn là ông Dũng đã góp phần quyết định đưa Việt Nam đi sâu vào thế lệ thuộc Trung Quốc. Lệ thuộc Trung Quốc là chọn lựa chiến lược của ĐCSVN từ giữa năm 1984 và là trách nhiệm chung của các bộ chính trị từ đó. Nhưng cũng có những điều chủ yếu thuộc trách nhiệm của hành pháp, nghĩa là thủ tướng. Như cho Trung Quốc thuê dài hạn rừng đầu nguồn; cho Trung Quốc thuê những vùng biển rộng lớn để khai thác hải sản; cho các doanh nghiệp Trung Quốc đưa công nhân ồ ạt sang Việt Nam và tổ chức như những khu riêng của người Hoa; cho người và hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam không kiểm soát; xuất khẩu hàng hóa Trung Quốc mang nhãn made in Vietnam sang Hoa Kỳ và Châu Âu đưa thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc lên 24 tỷ USD; cho Trung Quốc trúng thầu gần hết các dự án và sau đó thi công một cách bê bối v.v. Cũng đừng quên Nguyễn Tấn Dũng là người bảo vệ dự án Bô-xit Tây Nguyên một cách quả quyết nhất, tuyên bố “dự án này phải tiếp tục vì là một chủ trương lớn của Đảng”.
… Bởi vì Trung Quốc không thể tìm được một đồng minh lý tưởng hơn ông Dũng, ông vừa hợp tác tận tình với Trung Quốc vừa thẳng tay đàn áp những người chống Trung Quốc. Ai cũng phải thấy là vụ giàn khoan HD-981 đã chỉ có lợi cho Nguyễn Tấn Dũng.
…Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn “thoát Trung” mà lại “phò Dũng” là rất sai, sai một cách bi đát.
…Tóm lại Nguyễn Tấn Dũng là một người rất thiếu kiến thức và khả năng, rất tham nhũng, rất tận tình với Trung Quốc và rất hung bạo đối với những người dân chủ và những người chống chính sách lệ thuộc vào Bắc Kinh. Hơn nữa còn là người đã gây thiệt hại lớn nhất – về mọi mặt kinh tế, xã hội, đạo đức và môi trường – cho đất nước từ hơn mười năm nay. Người ta có thể không dám đả kích ông Dũng vì ông là người đầy quyền lực và rất hung bạo, nhưng ủng hộ và ca tụng ông là chuyện khác.
Ở thái cực ngược lại, nhà văn Phạm Thành lại không chỉ ủng hộ đ/c X một cách nhiệt thành và gần như… vô điều kiện (chỉ qua những lời nói suông của ông ta) mà còn dễ dàng đặt niềm tin vào những gì báo chí Tàu Cộng viết:
Báo chí – tờ Tuần báo Bắc Kinh của Tầu Cộng hôm nay đã chính thức tấn công vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bằng chỉ lệnh “ hữu nghị” và “đặt lợi ích quốc gia lên trên tất cả mọi thứ khác”. (Nguyên văn: “trong khi những người ủng hộ Trung Quốc nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ hữu nghị Việt – Trung thì một số lãnh đạo cấp cao mà đại diện là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng” lại “đặt lợi ích quốc gia lên trên tất cả mọi thứ khác”.)
…Tôi thật sự toát mồ hôi khi đọc mấy dòng này trên tờ Tuần báo Bắc Kinh. Tôi sợ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ bị bọn chúng hành thích.
…Với những diễn biến xâm lược ngày một leo thang của Tầu Cộng, với một thái độ rõ ràng trong bảo vệ lãnh thổ, chỉ trích tình hữu nghị “viễn vông” chỉ biến đất nước từng bước thành con mồi cho Tầu Cộng, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị Tầu Cộng đưa vào đích ngắm hạ sát là điều ai cũng có thể hiểu được.
Rõ ràng, trong khi ông Nguyễn Gia Kiểng thể hiện phẩm chất điển hình của một trí thức tự do chủ nghĩa – đó là thái độ ngờ vực quyền lực (với ý thức rằng quyền lực luôn có xu hướng tự tha hoá, quyền lực tuyệt đối thì tha hoá tuyệt đối như sử gia người Anh Lord Acton từng nói), thì nhà văn Phạm Thành lại thể hiện tâm thế tôn phù, đặt niềm tin vô điều kiện vào quyền lực, chưa kể đây lại là quyền lực trong hệ thống độc tài cộng sản (cụ thể là đ/c X).
Người Việt Nam vẫn thường nói “thâm như Tàu”; giả sử như Tàu Cộng thực sự có ý định ám sát vị thủ tướng mà nhà văn Phạm Thành cho là đang gánh vác sứ mệnh “cứu nhân độ thế” kia thì liệu họ có nên la lối lên như thế hay không nhỉ?! (Thiết tưởng không cần phải nhắc lại rằng “giương đông kích tây” là một trong những kế sách quen thuộc xưa nay của người Tàu. Nếu như nhận định của ông Nguyễn Gia Kiểng – “không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông [Nguyễn Tấn Dũng]” – là đúng thì chẳng phải vụ giàn khoan HD981 kia là mưu đồ hoàn hảo của Trung Quốc hòng đánh bóng “tên tuổi” đ/c X và góp phần quyết định để đặt đ/c ấy vào chiếc ghế Tổng Bí thư trong kỳ Đại hội Đảng sắp tới, đồng thời sắp xếp đ/c PTT Hán tặc Hoàng Trung Hải – người bị tố cáo là đã gài bẫy và khống chế đ/c X suốt nhiều năm nay – vào vị trí Thủ tướng hay sao? Thôn tính Việt Nam theo kiểu đó mới đích thị là “diệu kế” của hậu duệ Tào Tháo, chứ mấy trò “điều binh khiển tướng” ở biên giới kia chủ yếu là để hù doạ những kẻ yếu tim thôi, thưa tất cả những “ủng hộ viên” nhiệt thành của đ/c X.)

Đáng tiếc hơn, quan điểm và tâm thế như của nhà văn Phạm Thành lại không phải là cá biệt trong giới trí thức Việt Nam. Ông Nguyễn Gia Kiểng còn nhận xét:
Cũng đáng ngạc nhiên và thất vọng không kém là thái độ của nhiều trí thức Việt Nam. Họ chống ách lệ thuộc Bắc Kinh và muốn “thoát Trung” nhưng lại ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng. Đối với họ Nguyễn Tấn Dũng là người tiến bộ, thân phương Tây và dám đối đầu với Bắc Kinh. Lý do là vì ông đã gửi con đi du học Mỹ, đã gửi thông điệp đầu năm nói tới “đổi mới thể chế” và “xây dựng dân chủ” và mới đây đã công khai phản đối việc Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sau đó lại tuyên bố không chấp nhận quan hệ lệ thuộc.
Với những ai còn nghi nghi hoặc hoặc, thời gian rồi sẽ trả lời nhận định của ông Nguyễn Gia Kiểng hay của nhà văn Phạm Thành về đ/c X là đúng. Tuy nhiên, điều mà người ta có thể khẳng định dứt khoát ngay bây giờ là chừng nào giới trí thức, tinh hoa của giống nòi, còn mang nặng tâm thế tôn phù, dễ dàng đặt niềm tin vô điều kiện vào quyền lực như nhà văn Phạm Thành, chừng đó nước nhà còn chưa thể trở thành một quốc gia tự do - dân chủ hầu mong thoát ra khỏi vị thế nhược tiểu, luôn bị người láng giềng khổng lồ phương Bắc uy hiếp và đe doạ thôn tính./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét